1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐẢO VIỆT NAM Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

61 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng Quan Về Biển Đảo Việt Nam Ở Miền Đông Nam Bộ
Tác giả Nguyễn Văn Hiệp, Phạm Ngọc Trâm
Trường học Bình Dương
Thể loại tập
Năm xuất bản 2017
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN VĂN HIỆP – PHẠM NGỌC TRÂM (Chủ biên) TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐẢO VIỆT NAM Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ (TẬP 1) Bình Dương, 8 2017 MỤC LỤC Chuyên đề 1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN BIỂN ĐẢO VIỆT NAM Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 1 1.

Trang 1

NGUYỄN VĂN HIỆP – PHẠM NGỌC TRÂM

(Chủ biên)

TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐẢO VIỆT NAM Ở MIỀN

ĐÔNG NAM BỘ

(TẬP 1)

Bình Dương, 8-2017

Trang 2

MỤC LỤC

Chuyên đề 1 : ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN BIỂN ĐẢO VIỆT NAM Ở MIỀN ĐÔNG

NAM BỘ 1

1.1 Mở đầu 1

1.2 Đặc điểm tự nhiên biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ 2

1.3 Tiểu kết luận chuyên đề 23

Chuyên đề 2 : ĐẶC ĐIỂM HÀNH CHÍNH VÀ CƯ DÂN BIỂN ĐẢO VIỆT NAM Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 24

2.1 Sự thay đổi địa lý hành chính 24

2.2 Dân cư 30

Chuyên đề 3: TIỀM NĂNG VỊ THẾ BIỂN ĐẢO VIỆT NAM Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 45

3.1 Tiềm năng vị thế biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ 45

3.2 Phát huy tiềm năng vị thế biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ trong tiến trình Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá và hội nhập 51

3.3 Tiểu kết luận chuyên đề 58

Chuyên đề 4 : CƠ SỞ HẠ TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG BIỂN ĐẢO VIỆT NAM Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 59

4.1 Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ 59

4.2 Cảng biển 62

4.3 Cảng cá, bến cá 64

4.4 Cơ sở hạ tầng phục vụ khai thác thủy – hải sản 66

4.5 Tiểu kết luận chuyên đề 71

Trang 3

Chuyên đề 5 : VĂN HÓA VÀ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG CỦA CƯ DÂN

BIỂN ĐẢO VIỆT NAM Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 72

5.1 Mở đầu 72

5.2 Văn hóa truyền thống của cư dân biển Đông Nam Bộ 73

5.3 Làng nghề truyền thống của cư dân ven biển ở Đông Nam Bộ 96

Chuyên đề 6: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC BIỂN ĐẢO VIỆT NAM Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ TRƯỚC THẾ KỶ XX 105

6.1 Tình hình quản lý và khai thác biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ (thế kỷ XVII – XVIII) 105

6.2 Tình hình quản lý và khai thác biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ trong nửa đầu thế kỷ XIX 109

6.3 Côn Đảo – dưới sự thống trị của thực dân Pháp từ 1861 đén đầu thế kỷ XX 120

6.4 Xây dựng và phát triển cảng biển Sài Gòn từ 1860 đến đầu thế kỷ XX 123

6.5 Xây dựng hệ thống phòng thủ tuyến biển Đông Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX 131

TÀI LIỆU THAM KHẢO 135

Trang 4

1

Chuyên đề 1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN BIỂN ĐẢO VIỆT NAM

Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

1.1 Mở đầu

Nghiên cứu về biển đảo Đông Nam Bộ là chủ đề được nhiều nhà khoa học trong

và ngoài nước quan tâm vì đây là vấn đề không chỉ có giá trị trong phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế mà còn bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Chiến lược biển Việt Nam năm 2007 xác định: “khai thác mọi nguồn lực

để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường biển trên tinh thần chủ động, tích cực

mở cửa, phát huy đầy đủ và có hiệu quả các nguồn lực bên trong; tranh thủ hợp tác quốc

tế, thu hút mạnh các nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước… phấn đấu đến năm

2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53 - 55% tổng GDP của cả nước”1

Để nghiên cứu biển đảo Đông Nam Bộ thao tác quan trọng đầu tiên là phải nghiên

cứu điều kiện tự nhiên vùng biển đảo Đông Nam Bộ Đã có khá nhiều tác phẩm đề cập

đến Điều kiện tự nhiên vùng biển đảo Đông Nam Bộ như: Viện Đông Nam Á (1996),

Biển với người Việt cổ, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Viện Khoa học Công nghệ Việt

Nam (2009), Biển Đông, Nxb Khoa học Tự nhiên Công nghệ , Hà Nội Bên cạnh đó cũng có một số sử sách đề cập đến vấn đề này như: Chân Lạp phong thổ ký (1296) của Châu Đạt Quan, Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quý Đôn, Thanh thư về tàu thuyền cận

duyên miền Nam Việt Nam của Viện Battelle Memorial, Đặc khảo về Hoàng sa và Trường sa…

Phần lớn các công trình nêu trên giúp cho người đọc có cái nhìn tổng thể về biển

đảo Việt Nam nói chung, biển đảo Đông Nam Bộ nói riêng Trong tác phẩm Trường sa –

Hoàng sa lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế, của Nguyễn Q Thắng, do Nhà

xuất bản Trí thức xuất bản năm 2008 cũng đề cập đến những vấn đề như khí hậu, lịch sử hành chính, giao thông hàng hải và vị thế biển đảo Việt Nam và biển đảo Đông Nam Bộ;

là một trong những nguồn tài liệu có giá trị cho các công trình nghiên cứu về điều kiện tự

nhiên biển đảo Đông Nam Bộ

1 Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/2/2007 “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”

Trang 5

2

Nhìn chung, những công trình trên cho ta cái nhìn toàn diện, cung cấp nhiều tư

liệu quý giá về điều kiện tự nhiên vùng biển đảo Đông Nam Bộ

1.2 Đặc điểm tự nhiên biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ

1.2.1 Vị trí địa lý biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ

Vùng Đông Nam Bộ gồm 6 tỉnh, thành phố là: Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu Phía Bắc - Tây Bắc giáp Campuchia, phía Nam giáp Biển Đông, phía Tây - Tây Nam giáp Campuchia và Đồng bằng sông Cửu Long, phía Đông - Đông Nam giáp Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ Đông Nam Bộ có diện tích tự nhiên 23.605 km2, chiếm 7,1% diện tích cả nước Trong số 6 tỉnh, thành Đông Nam Bộ có 2 tỉnh, thành tiếp giáp với Biển Đông là

Bà Rịa – Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh

Vị trí địa lý Đông Nam Bộ, cực Bắc 12017B tại xã Bù Gia Mập, huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước; điểm cực Nam (trên đất liền) là 10019B ở phường 1, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.; điểm cực Tây là 105048 Đ ở xã Tân Bình huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh; điểm cực Đông (trên đất liền) là 107035Đ ở xã Bình Châu huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Bờ biển Đông Nam Bộ2 dài 127 km, được tính từ ranh giới giữa huyện Xuyên Mộc (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) và huyện Hàm Tân (tỉnh Bình Thuận) đến ranh giới huyện Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh) và huyện Gò Công Đông3 (tỉnh Tiền Giang) (Hình 1)

Vùng biển Đông Nam Bộ thuộc vùng biển ấm, ngư trường rộng, hải sản phong phú có điều kiện phát triển ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản; lại gần tuyến đường biển quốc tế có khả năng phát triển giao thông vận tải biển; thềm lục địa nông rộng giàu tiềm năng dầu khí Khu vực ven biển này có nhiều bãi biển đẹp, nhiều khu sinh thái…đã trở thành nơi nơi nghỉ mát, du lịch nổi tiếng như: Vũng Tàu, Cần Giờ

Từ cuối thế kỷ 18, cửa biển Cần Giờ là đồn trấn giữ quan trọng bậc nhất về mặt quân sự và thương mại vào Gia Định, Sài Gòn, Gò Công, Mỹ Tho Các hải cảng nhỏ sớm được định hình trong quá trình di dân của người Việt như cảng Cần Giờ, Cần Giuộc, Nhà Bè…

2 Trong đó, bờ biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu dài 114 km, bờ biển TP.Hồ Chí Minh dài 13 km

3 Lấy sông Vàm Cỏ làm ranh giới

Trang 6

3

Vị trí các tỉnh, thành Đông Nam Bộ trong vùng Nam Bộ

Nguồn: google.com/maps

Đông Nam Bộ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế -

xã hội của cả nước; hội tụ phần lớn các điều kiện và lợi thế nổi trội để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa; đặc biệt là phát triển kinh tế biển, công nghiệp dầu khí và sản phẩm hóa dầu; phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du lịch…

Vùng ven biển Đông Nam Bộ là khu vực phát triển kinh tế năng động với mức tăng trưởng cao, nơi tập trung nhiều trung tâm kinh tế, công nghiệp thương mại, dịch vụ, khoa học - kỹ thuật, đầu mối giao thông và giao lưu quốc tế, có lực lượng lao động dồi dào, tay nghề cao, có nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ; có hệ thống

đô thị phát triển, các khu công nghiệp phát triển mạnh trở thành trung tâm và đầu mối giao lưu của các tỉnh phía Nam với cả nước và quốc tế, được gắn kết bởi đường bộ, đường biển, đường hàng không, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội Vùng cũng như mở rộng các quan hệ kinh tế liên vùng và quốc tế

Trang 7

4

1.2.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ

Đông Nam Bộ nằm trên vùng đồng bằng và bình nguyên rộng, chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung Bộ đến đồng bằng sông Cửu Long

Địa hình Đông Nam Bộ tương đối bằng phẳng, có độ cao trung bình so với mặt nước biển chuyển dịch trong biên độ từ 20 đến 200m theo hướng từ Tây Nam lên Đông Bắc Cấu trúc địa chất cơ bản của Đông Nam Bộ gồm ba tầng Tầng trên cùng là đá ba zan trẻ, dày khoảng 100 m bị phong hóa tạo thành lớp đất đỏ ba zan Tầng tiếp theo là lớp phù sa cổ Dưới cùng là đá gốc cát kết, đá phiến

Toàn bộ bề mặt địa hình Đông Nam Bộ có thể chia thành 4 vùng chính, bao gồm đất đỏ bazan phía Đông Bắc (Bắc Bà Rịa, Long Khánh, Bình Long, Phước Long); vùng đất phù sa cổ thuộc khu vực trung du (các tỉnh Biên Hòa, Bình Dương, Tây Ninh); vùng đất phù sa mới gồm rẻo phía Nam (tỉnh lỵ các tỉnh Biên Hòa, Bình Dương hắt về phía biển); và vùng đồng bằng trũng thấp Đồng Tháp Mười

Trên bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng các núi đá xâm nhập granit xuất hiện trên mặt bình nguyên đất đỏ dưới các dạng núi đơn độc vươn cao trên đồng bằng Cao nhất là núi Bà Đen (Tây Ninh, 986m) đến các núi Chứa Chan (Đồng Nai, 818m), Bà Rá (Bình Phước, 733mm), Mây Tàu (Bà Rịa, 716m), Thị Vải (Bà Rịa, 446m)… Ngoài ra còn rất nhiều núi khác như núi Cậu, núi Lớn, núi Nhỏ, núi Nứa, Minh Đạm, Bửu Long, Châu Diên, Châu Thới, núi Ông Trịnh, núi Dinh, núi Thị…

Vùng biển Đông Nam Bộ có diện tích vùng đặc quyền kinh tế khoảng 300.000

km2 Địa hình bờ biển Đông Nam Bộ chủ yếu là dạng bồi tụ cửa sông tạo nên các bãi bồi

và bãi triều rộng lớn, phù sa màu mỡ là môi trường thuận lợi cho rừng ngập mặn phát triển nhất ở nước ta Bờ biển ở miền Đông Nam bộ có độ dài sát mép nước trên 130 km, gồm hai đoạn cao và thấp khác nhau Lấy điểm phân định mũi bán đảo Bãi Trước (Vũng Tàu) hắt về phía đông qua Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc, bờ biển cao gồm những giồng, đụn, bãi cát trải dài Phía ngược lại là đoạn trũng sình lầy và vô số các cửa rạch ăn sâu vào Rừng Sác Đặc biệt ở thềm lục địa phía Nam - thuộc vùng biển Đông Nam Bộ -

đã xác định được các bể trầm tích Tân sinh có trử lượng dầu khí lớn

Trên vùng biển Đông Nam Bộ ở độ sâu 50 m nước cách bờ 40-60 hải lý, nền đáy bằng phẳng, ít dốc Chất đáy phổ biến là bùn, cát, vỏ sò, trong đó đáy bùn chiếm khoảng 50% diện tích Về phía Tây Bắc Côn Đảo, đáy biển có các hố trũng sâu, các hố này có lien quan đến các khe nứt kiến tạo do núi lửa cổ và theo thời gian được các dòng chảy qua các eo biển mài mòn theo thời gian

Trang 8

5

1.2.3 Đặc điểm khí hậu, thủy văn biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ

Nằm trong miền khi hậu phía Nam, vùng biển đảo Đông Nam Bộ có đặc điểm một vùng khí hậu cận xích đạo với nền nhiệt độ cao và phân hoá sâu sắc theo mùa, với lượng mưa dồi dào trung bình hàng năm khoảng 1.500 - 2.000 mm

Mùa khô tháng 6, thường bị hạn, ít mưa Trên vùng đất thấp, mưa dưới 2.000 mm

Từ vùng Bà Rịa – Vũng Tàu đến cửa sông Đồng Nai lượng mưa dưới 1.500mm, mua khô kéo dài 5- 6 tháng trong năm

Nhìn chung, khí hậu của vùng tương đối điều hoà, ít có thiên tai Những diễn biến bất thường từ năm này qua năm khác rất nhỏ, không gặp thời tiết quá lạnh, ảnh hưởng của bão hạn chế

Tuy vậy, trong những năm gần đây do tác động của biến đổi khí hậu nên lượng mưa thay đổi, lưu lượng nước tăng vào mùa mưa và suy giảm vào mùa khô, gây trượt lở đất, sụt lún, xói mòn, hoang hóa đất, gia tăng lũ quét, hạn hán làm thiệt hại tới đời sống kinh tế của địa phương

Vùng biển Đông Nam Bộ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí tượng thủy văn đại dương, hơi thiên về khí hậu xích đạo chủ yếu chịu ảnh hưởng của 2 loại gió mùa Đông Bắc (tốc độ trung bình 1-5m/s) và Tây Nam (tốc độ trung bình 3-4m/s) Ngoài ra còn có gió Chướng (tốc độ trung bình 4-5m/s) Cường độ gió không cao, cực đại đạt 30 m/s Dông nhiều, tháng 5 có nhiều dông nhất (có 20 ngày dông), trung bình 100 - 140 ngày dông/năm Ít có bão xảy ra (tần suất 4,2%/năm), khi có bão thường đi kèm hiện tượng nước biển dâng cao 2 - 3 m, có hại tới các công trình ven biển Hàng năm cho phép các tàu thuyền đánh cá hoạt động khoảng 250 ngày

Nhiệt độ trung bình trong đất liền là 270C (ở Côn Đảo 26,90C), nhiệt độ thấp nhất hàng năm là 180C Tổng số ngày mưa 120 - 140 ngày/năm Độ ẩm trong đất liền trung bình khoảng 82% (Côn Đảo 80%) và thấp nhất có thể đến 48% Độ bốc hơi trung bình năm thấp hơn lượng mưa

Nhiệt độ nước biển thay đổi theo mùa và theo độ sâu Tuy nhiên nhìn chung nhiệt

độ trung bình tầng mặt nước ít thay đổi, quanh năm nhiệt độ dao động khoảng 24 - 290C, nhiệt độ tầng đáy khoảng 26,5 - 270C

Độ ẩm trung bình dao động từ 77,42 - 79,3% và tương đối ổn định, chênh lệch giữa tháng có độ ẩm cao nhất với tháng thấp nhất khoảng 5%

Trang 9

6

Ở Đông Nam Bộ có các hệ thống sông Đồng Nai, Sài Gòn, và hệ thống các lưu vực sông nhỏ khác nằm ở vùng ven biển Mật độ sông ngòi tương đối thưa, dưới 0,5 km/km2 Hệ thống sông Đồng Nai là hệ thống sông lớn thứ 3 Việt Nam

Chế độ dòng chảy của các sông trong vùng Đông Nam Bộ được phân chia thành 2 mùa rõ rệt – mùa khô và mùa mưa (mùa lũ) Hàng năm, mùa lũ kéo dài 6 tháng, bắt đầu

từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 11, tuy nhiên, thời gian này không đều ở từng vùng Đỉnh lũ thường rơi vào tháng 10, lưu lượng dòng chảy vẫn còn lớn cho đến tháng 11 Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 - 4 năm sau, mực nước trên các sông suối xuống thấp, gần như khô kiệt Do cấu trúc địa hình và phân bố dòng chảy nên vào mùa mưa lũ thường gây ra hiện tượng ngập úng cục bộ tại các khu vực có địa hình thấp, ven các sông suối Vào mùa khô lại có nguy cơ thiếu nước tại một số khu vực

Phần thượng lưu và trung lưu của lưu vực hệ thống sông Đồng Nai không bị ảnh hưởng bởi chế độ triều, chế độ dòng chảy ảnh hưởng lớn bởi việc điều tiết của các hệ thống công trình hồ chứa lớn Phần hạ lưu chịu tác động của triều, xâm nhập mặn (chế

độ triều của khu vực cửa sông vùng Đông Nam Bộ mang tính chất bán nhật triều không đều với biên độ triều vào loại lớn của Việt Nam) Do đó, chế độ thuỷ văn ở hạ lưu chịu

sự chi phối với các mức độ khác nhau của các yếu tố như chế độ dòng chảy từ thượng lưu về; chế độ triều biển Đông và các hoạt động khai thác có liên quan đến dòng chảy và hoạt động của dòng sông ngay tại hạ lưu. 4

Thủy triều trên địa bàn Đông Nam Bộ thuộc chế độ triều hỗn hợp, thiên về bán nhật triều không đều, một ngày lên xuống hai lần, biên độ triều dao động trung bình từ 2 – 3,5 m Biên độ triều cường đạt từ 3 – 4 m Ảnh hưởng của thủy triều sâu vào đất liền

170 km đối với hệ thống sông Đồng Nai Do đó, xâm nhập mặn là yếu tố cần quan tâm đối với vùng hạ lưu sông Đồng Nai - Sài Gòn Mức độ xâm nhập mặn chịu ảnh hưởng của lưu lượng dòng chảy ở thượng lưu về, xâm nhập mặn tăng dần vào cuối mùa lũ, đạt trị số cao nhất vào cuối mùa kiệt Các hồ chứa lớn như Trị An, Dầu Tiếng, Thác Mơ, được xây dựng và vận hành đã góp phần tăng lưu lượng dòng chảy cho hạ lưu vào các tháng mùa khô

Vùng biển Đông Nam Bộ chịu ảnh hưởng của hai dòng hải lưu (dòng hải lưu gió mùa Thái Bình Dương và dòng Keiroshio chảy qua eo biển Lugvon, có hướng chảy

4 Một số đặc trưng cơ bản của các hệ thống sông Đồng Nai (Nguồn: Hồ sơ tài nguyên nước Quốc gia, Bộ TN&MT, 2003; Báo cáo Tài nguyên nước, những vấn đề và giải pháp quản lý khai thác, sử dụng nước, Bộ TN&MT, 2009):

Trang 10

7

trùng với hướng gió mùa Do hoạt động của các dòng hải lưu nên dòng chảy ở biển Đông Nam Bộ có sự khác biệt giữa hai mùa Vào mùa hè, vùng biển có độ sâu từ 50 – 200m, các dòng chày cục bộ có hướng chảy trùng với các dòng hải lưu theo hướng Bắc – Nam Trong khi đó, ở phía Nam quần đảo Côn Sơn lại có hai dòng chảy diễn ra ngược chiều nhau

Độ mặn nước biển cũng có sự khác biệt giữa hai mùa cũng như giữa các vùng nước ven bờ với vùng nước ngoài khơi Vào mùa khô (từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau),

do lưu lượng nước sông đổ ra biển nhỏ, độ mặn của nước biển ở tầng nước mặt đến tầng đáy lớn hơn 32o/oo Vào mùa mưa (từ tháng 5 tới tháng 10) lượng nước ngọt của các sông

đổ ra biển mạnh xuất hiện hiện tượng phân tầng nước rỏ rệt Lớp bề mặt có độ muối thấp hơn 32o/oo, nồng độ muối ở ven bờ giảm từ 5 – 8% so với mùa khô

Trong vùng biển của Đông Nam Bộ còn có hiện tượng chuyển động thẳng dứng của nước biển, thường gọi là hiện tượng “nước trồi” Hiện tượng “nước trồi” có ý nghĩa rất lớn trong khoa học và kinh tế dòng “nước trồi” làm hòa tan các chất dinh dưỡng trầm tích dưới đáy biển và mang chúng lên phần mặt nước Nhờ các chất dinh dưỡng này đã thúc đẩy sự phát triển nhanh của các thực vật phù du Đây là nguồn thức ăn cho các động vật phù du khác Theo dây chuyền thực phẩm, chung là nguồn thức ăn cho các động vật khác Do vậy, vùng có “nước trồi” thường là vùng giàu có nhất về các loại hải sản, đặc biệt là loài cá

Trong vùng biển của Đông Nam Bộ có các vùng “nước trồi”, nơi đây đã hình thành 5 bãi cá chính (Bắc Cù Lao Thu, Nam Cù Lao Thu, Côn Sơn, Cửa Sông Cửu Long, Ngư trường cá nổi Vũng Tàu - Phan Thiết), 4 bãi tôm (Cù Lao Thu, Nam Vũng Tàu, cửa sông Cửu Long, Đông Nam mũi Cà Mau) và 3 bãi mực tập trung cao ở biển Phan Thiết và Vũng Tàu - Côn Đảo

1.2.4 Tài nguyên thiên nhiên

Vùng biển Đông Nam Bộ có diện tích vùng đặc quyền kinh tế khoảng 300.000

km2 Địa hình bờ biển Đông Nam Bộ chủ yếu là dạng bồi tụ cửa sông tạo nên các bãi bồi

và bãi triều rộng lớn, phù sa màu mỡ là môi trường thuận lợi cho rừng ngập mặn phát triển nhất ở nước ta Bờ biển ở miền Đông Nam bộ có độ dài sát mép nước trên 130 km, gồm hai đoạn cao và thấp khác nhau Lấy điểm phân định mũi bán đảo Bãi Trước (Vũng Tàu) hắt về phía đông qua Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc, bờ biển cao gồm những giồng, đụn, bãi cát trải dài Phía ngược lại là đoạn trũng sình lầy và vô số các cửa rạch ăn

Trang 11

8

sâu vào Rừng Sác Đặc biệt ở thềm lục địa phía Nam - thuộc vùng biển Đông Nam Bộ -

đã xác định được các bể trầm tích Tân sinh có trử lượng dầu khí lớn

1.2.4.1 Dầu khí

Đông Nam Bộ có nguồn tài nguyên thiên nhiên lớn nhất và rất quan trọng đối với

cả nước là dầu mỏ và khí đốt, trữ lượng dầu mỏ chiếm khoảng 93,3% trữ lượng dầu đã xác minh của cả nước; trữ lượng khí chiếm 16,2% trữ lượng khí cả nước5 Dầu mỏ và khí đốt là những mặt hàng xuất khẩu quan trọng hiện nay và là nguồn nguyên, nhiên liệu

cho công nghiệp hóa dầu, công nghiệp điện trong tương lai

Trữ lượng dầu mỏ trên vùng biển Đông Nam Bộ

Bộ

Đông Nam Bộ so

cả nước (%)

Trữ lượng tiềm năng

(quy đổi, triệu m3)

Nguồn: Tổng cục dầu khí Việt Nam

Dầu mỏ và khí thiên nhiên ở Đông Nam Bộ phân bố chủ yếu tại bể Cửu Long và

bể Nam Côn Sơn

Bể Cửu Long, là bể có điều kiện khai thác tốt nhất do nằm không xa bờ, trong vùng biển nông (độ sâu đáy  50 m), thuộc khu vực không có bão lớn Trữ lượng khai thác khoảng 170 triệu tấn dầu và 28-41 tỷ m3 khí Hiện nay có 12 mỏ đang khai thác như Bạch Hổ, Rồng, Đồi Mồi, Rạng Đông, Phương Đông, Hồng Ngọc, Pearl, Topaz, Sư Tử

5 Cục xúc tiến thương mại, tiem-nang-va-phat-trien-phan-1.html

Trang 12

http://www.vietrade.gov.vn/vung-kinh-te-trong-diem-phia-nam/2452-ba-ria-vung-tau-9

Đen, Sư Tử Vàng, Tê Giác Trắng, Cá Ngừ Vàng6 Theo nguồn thông tin từ Cục xúc tiến thương mại, mỏ Bạch Hổ có trữ lượng 100 triệu tấn dầu và 25-27 tỷ m3 khí và được khai thác thương mại từ giữa năm 1986; mỏ Rồng có trữ lượng 10 triệu tấn dầu và 2 tỷ m3

khí; mỏ Hồng Ngọc và Rạng Đông có trữ lượng 50-70 triệu tấn dầu và 10-15 tỷ m3 khí 7 Tính đến thời điểm 31/12/2011, tổng sản lượng của các mỏ dầu khí của Việt Nam đang khai thác là 440,64 triệu m3 quy dầu, trong đó sản lượng khai thác từ các mỏ dầu khí ở

bể Cửu Long chiếm trên 82%

Mỏ Bạch Hổ là mỏ dầu lớn nhất trên thềm lục địa nước ta và được khai thác thương mại từ giữa năm 1986 Sản lượng khai thác mỗi ngày khoảng 38.000 tấn dầu thô, chiếm đến 80% sản lượng dầu thô của Việt Nam

Mỏ Rồng - Đồi Mồi được đưa vào khai thác từ cuối năm 1994 Trữ lượng vào khoảng 178 triệu thùng dầu thô Trung bình mỗi ngày khai thác được 20.000 thùng Tính đến tháng 9 năm 2013, sản lượng khai thác là 1 triệu tấn dầu8

Mỏ Rạng Đông chính thức đưa vào khai thác vào tháng 8 năm 1998 Sản lượng khai thác trung bình khoảng 40.000 thùng/ ngày9

Mỏ Sư Tử Trắng được phát hiện từ năm 2003 Trữ lượng của mỏ này đạt khoảng

300 triệu thùng dầu thô và 3-4 tỷ m3 hơi đốt Sư Tử Trắng được khai thác vào cuối năm

2012

Sư Tử Vàng được phát hiện vào năm 2001 và được đưa vào khai thác vào gần cuối năm 2008 Đây là mỏ dầu lớn thứ 4 ở Việt Nam với sản lượng khai thác dự kiến là 65.000 thùng dầu/ngày

Mỏ Sư Tử Đen được phát hiện vào năm 2000 và được đưa vào khai thác từ cuối năm 2003 Ước tính sản lượng khai thác ban đầu vào khoảng 60.000 thùng dầu/ngày

Mỏ Sư Tử Nâu được phát hiện vào năm 2010 với trữ lượng 560 triệu thùng dầu thô Sản lượng khai thác mỗi ngày khoảng 90.000 thùng10

Bể Nam Côn Sơn: trong 60 cấu tạo đã phát hiện, có nhiều cấu tạo đã khoan thăm

dò và có dấu hiệu dầu như: Dừa, Mùa (lô 08), Đại Hùng, Thanh Long (các lô 05; 11; 12;

9 Năng lượng Việt Nam, http:// congnghedaukhi.com/dau-khi-trong-nuoc/pvep-tang-so-huu-tai-mo-rang-dong/#

10 Phương Linh, http:// congnghedaukhi.com/dau-khi-trong-nuoc/3460/

Trang 13

Mỏ Đại Hùng được phát hiện vào năm 1988, đưa vào khai thác từ tháng 10 năm

1994, trữ lượng khai thác khoảng 50 triệu tấn dầu, 8-10 tỷ m3 khí đồng hành và 0,19 triệu tấn condensate

Mỏ khí Lan Đỏ được phát hiện vào cuối năm 1992 và được đưa vào khai thác vào cuối năm 2012 Trữ lượng khí ở mỏ Lan Đỏ 14 tỷ m3 Sản lượng khai thác trung bình 5 triệu m3/ngày, hàng năm có thể cung cấp cho thị trường 2 tỷ m3 khí11

Mỏ Lan Tây được phát hiện năm 1993 và đưa vài khai thác năm 2002 với trữ lượng là 37 tỷ m3 và 13 triệu thùng condensate Sản lượng khai thác trung bình 16 triệu

m3/ngày và có khả năng cung cấp trong vòng 15 năm12

11 Tạp chí tài chính, khi-dau-tien-tu-mo-Lan-Do/14708.tctc

http://tapchitaichinh.vn/Tai-chinh-Kinh-doanh/Cong-ty-Dau-khi-TNK-Viet-Nam-don-dong-12 Năng lượng Việt Nam, va-don-dong-khi-dau-tien-tu-mo-lan-do.html

http://nangluongvietnam.vn/news/vn/dau-khi-viet-nam/10-nam-khai-thac-an-toan-lo-061-Sơ đồ vị trí Bể Cửu Long và Nam Côn http://nangluongvietnam.vn/news/vn/dau-khi-viet-nam/10-nam-khai-thac-an-toan-lo-061-Sơn

Nguồn: http://www.idm.gov.vn/nguon_luc/Xuat_ban/2007

Trang 14

11

Các mỏ khác như Thanh Long, Mộc Tinh, các cấu tạo 12B, 12C, Rồng Bay đến nay được đánh giá trữ lượng là nhỏ, chưa có hiệu quả khai thác thương mại

Chất lượng dầu thô các mỏ đang khai thác như Bạch Hổ, Rồng và Đại Hùng có

ưu điểm hàm lượng lưu huỳnh thấp, song nhược điểm là hàm lượng paraphin cao Một

số mỏ đang và sẽ bị giảm trữ lượng khai thác trong vài năm tới Tuy nhiên, khả năng khai thác khí rất lớn nhưng sản lượng khai thác còn tuỳ thuộc vào quy mô thị trường Khả năng khai thác các bể được đánh giá như sau: Bể Cửu Long từ 1,5-2,2 tỷ m3/năm;

Bể Nam Côn Sơn khoảng 2,7-6,5 tỷ m3/năm Do vậy việc phát triển các hộ tiêu thụ khí

sẽ có ảnh hưởng quyết định đến sản lượng khí khai thác trong 10-15 năm tới

Mặc dù sản phẩm dầu có trữ lượng lớn, nhưng các mỏ hiện nay chỉ có thể khai thác tối đa khoảng 20 triệu tấn/năm Do vậy, muốn tăng sản lượng khai thác trong những năm tới cần phải đẩy mạnh thăm dò, xác minh trữ lượng để huy động vào khai thác

Quặng bôxit trữ lượng khoảng 420 triệu tấn phân bố ở Bình Phước, Bình Dương Các khoáng sản khác như đá ốp lát (chiếm 27% giá trị khoáng sản trên đất liền) phân bố ở Tánh Linh (Bình Thuận), Phú Túc (Đồng Nai), cao lanh trữ lượng xấp xỉ 130 triệu tấn phân bố ở Bình Dương, Bình Phước; mỏ cát thuỷ tinh phân bố ở Bình Châu (Bà Rịa - Vũng Tàu) cung cấp nguyên liệu cho nhà máy thuỷ tinh Biên Hoà và cho xuất khẩu

1.2.4.2 Tài nguyên phục vụ phát triển du lịch

Đông Nam Bộ có bờ biển dài 327 km13, trong đó bờ biển ở hair đảo dài khoảng

200 km Bờ biển ở đất liền dài 127 km, trong đó hơn 150 km có bãi cát thoai thoải, nước trong xanh Biển Đông Nam Bộ có đặc tính nắng ấm quanh năm, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26 đến 29oC, có thể dùng làm bãi tắm quanh năm14 Một số bãi tắm đẹp như Chí Linh, Thùy Vân, Bãi Dứa, Bãi Trước, Bãi Sau, Bãi Dâu (thành phố Vũng Tàu), Thùy Dương (Long Hải), Hồ Tràm, Hồ Cốc (huyện Xuyên Mộc), Đất Dốc, Bãi Cạnh, Bãi Đầm Trâu, Bãi Hòn Tre, Bãi Hòn Cau (Côn Đảo) Theo Viện Kỹ thuật biển (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), bãi biển từ mũi Nghinh Phong (thành phố Vũng Tàu) đến xã Bình Châu (Xuyên Mộc) có tới 90% là bờ cát, rất phù hợp cho hoạt động du lịch tắm biển và nghỉ dưởng Bên cạnh những bãi cát dài và đẹp, Đông Nam Bộ còn có

13 Trong đó bờ biển đất liền 127 km, bờ biển hải đảo 200 km

14 Cục xúc tiến thương mại, tiem-nang-va-phat-trien-phan-2.html

Trang 15

để phát triển du lịch biển và khai thác hải sản

Với vị trí nằm liền kề đồng bằng sông Cửu Long – vựa lúa lớn nhất cả nước, cửa ngõ phía tây nối với các nước Campuchia, Thái Lan, Malaysia thông qua mạng đường

bộ xuyên Á, cửa ngõ phía đông có hệ thống cảng biển Sài Gòn, Bà Rịa - Vũng Tàu, Thị Vải, khu vực Đông Nam Bộ giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, đặc biệt là du lịch Đông Nam Bộ hội tụ đầy đủ các điều kiện tự nhiên và nhân văn

để phát triển các loại hình du lịch về nguồn, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch biển…

Đến Đông Nam Bộ, du khách có dịp tham quan Thành phố Hồ Chí Minh được ví như “Hòn ngọc Viễn Đông” với lịch sử hơn 300 năm, nơi có nhiều di tích cách mạng, công trình kiến trúc cổ như bến cảng nhà Rồng, địa đạo Củ Chi, dinh Độc Lập, đền Quốc

Tổ, dinh Xã Tây, Nhà hát lớn, Bưu điện thành phố hay hệ thống các ngôi chùa cổ: Giác Lâm, Bà Thiên Hậu, Tổ Đình Giác Viên ; các nhà thờ Đức Bà, Huyện Sỹ, Thông Tây Hội, Thủ Đức ; các bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, Phụ nữ Nam Bộ, Hồ Chí Minh,

Mỹ thuật, Lịch sử Việt Nam Thành phố cũng đầu tư nhiều khu du lịch như Vàm Sát – Cần Giờ, Thanh Đa, Bình Quới, Một thoáng Việt Nam; nhiều khu vui chơi giải trí như Đầm Sen, Kỳ Hòa, công viên Nước, Suối Tiên, Thảo Cầm Viên thu hút rất đông du khách trong và ngoài nước

Với sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên, kiến trúc đô thị và công trình văn hóa, các tỉnh còn lại của Đông Nam Bộ cũng tập trung nhiều điểm du lịch đặc sắc và

ấn tượng như: núi Bà Đen - khu du lịch với hệ thống cáp treo đầu tiên ở Việt Nam, vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát – nơi có hệ động thực vật phong phú, đặc biệt là hệ chim nước quý hiếm, hồ Dầu Tiếng – một trong những hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á (Tây Ninh); núi Châu Thới, vườn cây ăn trái Lái Thiêu (Bình Dương); thác

Mơ, núi Bà Rá, trảng cỏ Bàu Lạch (Bình Phước); núi Dinh, Côn Đảo, bãi tắm Long Hải, bãi Sau, bãi Dứa, suối khoáng nóng Bình Châu (Bà Rịa – Vũng Tàu); vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai) - một trong 8 khu dự trữ sinh quyển của Việt Nam được UNESCO công nhận, nơi lưu trữ một trong 5 khu đất ngập nước Ramsar của Việt Nam (Bàu Sấu)…

Trang 16

13

Bên cạnh đó, các di tích lịch sử, văn hóa cũng là một nét hấp dẫn thu hút du khách đến Đông Nam Bộ, điển hình như tượng chúa Jesus, Bạch Dinh (Bà Rịa – Vũng Tàu); chùa Bà, chùa Hội Khánh (Bình Dương); di tích Bù Đăng, Bù Đốp, Sóc Bom Bo, căn cứ

Tà Thiết (Bình Phước); khu mộ cổ Hàng Gòn, di chỉ khảo cổ Óc Eo (Đồng Nai); tòa thánh cao đài Tây Ninh, di tích cách mạng Trung ương Cục miền Nam (Tây Ninh); Bà Rịa Vũng Tàu nổi tiếng là thành phố du lịch biển của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam bởi sự ưu đãi về thiên nhiên lẫn các di tích nhân văn kỳ thú

Với tiềm năng du lịch phong phú, đặc sắc, Đông Nam Bộ sẽ góp phần đáng kể vào sự phát triển của du lịch cả nước

Rừng Đông Nam Bộ có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp gỗ dân dụng, phòng hộ cho cây công nghiệp, giữ nước, cân bằng sinh thái cho toàn vùng Đặc biệt rừng quốc gia Cát Tiên là một cơ sở cho nghiên cứu lâm sinh và thắng cảnh

Vườn quốc gia Côn Đảo trải dài 14 hòn đảo nằm trong quần đảo Côn Lôn, được bao bọc bởi đường hành lang biển rộng 4 km Vườn có 3 hệ sinh thái chính gồm rừng nhiệt đới quanh năm xanh tốt, rừng đồi cát khô, rừng đước và rừng sau đước Theo kết quả khảo sát sơ bộ, vườn có khoảng 361 loài cây thuộc về 22 lớp, 71 họ, 191 giống đại diện cho vùng khu hậu Việt Nam, trong đó có 26 loại cây lấy gỗ (với nhiều loại cây gỗ qúi như lát, quăng, sao, giáng hương ) và có 76 loại cây thuốc dân tộc Khu rừng còn có

100 loài chim và thú lưỡng cư thuộc 50 họ và 22 lớp : 18 loại động vật có vú; 62 loài chim; 19 loài bò sát; 6 loài ếch và 150 loại động vật thân mềm Động vật qúi có Sac đen, Sac da đỏ, Sac bay, khỉ vàng, đại bàng biển, trăn Vùng biển quanh đảo còn có những bãi Hải Sâm lớn Những bãi biển của hòn Bảy Cạnh, hòn Tre Lớn là nơi sinh đẻ của Voọch và đồi mồi Nhiều hang, vách đá của hòn Cau, hòn Tre Nhỏ, vịnh Đầm Tre là

Trang 17

14

nơi trú ngụ của chim yến Gần đây, những di tích lịch sử văn hoá cổ còn được phát hiện Côn Đảo có đầy tiềm năng để phát triển thành một trong những trung tâm du lịch thiên nhiên hấp dẫn nhất vùng Đông Nam Á

Rừng Sác - Khu dự trữ sinh quyển rừng mặn Cần Giờ là một quần thể gồm các loài động, thực vật rừng trên cạn và thuỷ sinh, được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Nai, Sài Gòn và Vàm được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới

Tổng diện tích khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ là 75.740 ha, trong

đó, vùng lõi 4.721 ha, vùng đệm 41.139 ha, và vùng chuyển tiếp 29.880 ha15 Đây là một khu rừng mà theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài là được khôi phục, chăm sóc, bảo vệ thuộc loại tốt nhất ở Việt Nam và toàn thế giới Đây cũng là địa điểm lý tưởng phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái

Rừng ngập mặn Cần Giờ đã trở thành “lá phổi” đồng thời là “quả thận” có chức năng làm sạch không khí và nước thải từ các thành phố công nghiệp khu vực Đông Nam

Trang 18

15

Vườn quốc gia Cát Tiên là một khu bảo tồn thiên nhiên, có tổng diện tích là 70.548ha, trong đó phần diện tích thuộc Đồng Nai: 39.108ha; phần diện tích thuộc tỉnh Lâm Đồng: 26.969ha; phần diện tích thuộc tỉnh Bình Phước: 4.469ha

Cát Tiên không những có cảnh quan ngoạn mục, lại nằm trong khu vực chuyển tiếp của khí hậu miền núi và đồng bằng nên Cát Tiên có khí hậu độc đáo Địa hình có sông suối bao bọc làm cho khu rừng già vừa được giữ nguyên vẹn, vừa trở thành nơi qui

tụ hầu hết các kiểu rừng đồng bằng Nam Bộ Ðây là khu rừng nguyên sinh tiêu biểu cho

hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới vùng thấp Rừng có nhiều cây cổ thụ như bằng lăng, gỗ

đỏ Hệ thực vật có hơn 1.362 loài thực vật bậc cao, hơn 440 loài cây gỗ quý, hàng trăm loại cây dược liệu, 133 loài hoa phong lan Về động vật có 62 loài thú, 121 loài chim,

có những loài chim quý hiếm như trĩ lông đỏ, cò quắm xanh, tê giác một sừng, voi 16

Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu khá đa dạng về thành phần thực vật, gồm 750 loài thuộc 123 họ, trong đó có 732 loài đã được định danh, với nhiều loài quý hiếm như cẩm lai Bà Rịa, gõ đỏ, gõ mật, giáng hương, bình linh nghệ, dầu cát , riêng loài dầu cát được xem là loài cây đặc hữu của khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu Theo kết quả điều tra về tài nguyên động vật rừng đã xác định có 205 loài

có xương sống thuộc các lớp ếch nhái, bò sát, chim và thú (chiếm khoảng 91% các loài động vật trong toàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu), một số loài quý hiếm có tên trong sách đỏ thế giới và Việt Nam như khỉ đuôi dài, khỉ đuôi lợn, gà lôi hông tía, cu li nhỏ, rùa núi

vàng Khu bảo tồn còn có khoảng 43 km sông, hồ, suối thường có nước quanh năm và

khoảng 17 km bờ biển, mực nước thoai thoải, bãi cát sạch, mịn, bằng phẳng, là nơi lý tưởng hình thành các loại hình du lịch sinh thái

1.2.4.4 Tài nguyên nước

Tài nguyên nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá và là nguồn năng lượng quan trọng trong hoạt động sống của con người và sinh vật Hầu hết tất cả các hoạt động sống của con người trong các lĩnh vực: nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, giải trí, môi trường…đều gắn liền với tài nguyên nước Nguồn nước mặt vùng Đông Nam Bộ khá đa dạng, đáng kể nhất là hệ thống sông Đồng Nai, Sài Gòn và sông Thị Vải Lượng nước mưa trung bình trong vùng 1.500 - 2.000 mm tương ứng với 183 tỷ m3

16 http://www.vietnamtourism.com/index.php/tourism/items/1343

Trang 19

16

Lưu vực sông Đồng Nai có tổng diện tích 40.000 km2, tổng lượng dòng chảy năm

37 tỉ m3 Sông Đồng Nai có một nguồn thủy năng phong phú, với nhiều bậc thang thuỷ điện và nguồn nước dồi dào là nguồn cấp nước cho toàn bộ khu kinh tế trọng điểm phía Nam

Tuy nhiên, tổng lượng nước mặt của Đông Nam Bộ phân bố không đều giữa các mùa một phần là do lượng mưa phân bố không đồng đều cả về thời gian và không gian, gây nên lũ lụt thường xuyên và khô hạn trong thời gian dài Lượng mưa thay đổi theo mùa và thời điểm mùa mưa, mùa khô ở các vùng là khác nhau Mùa khô ở Đông Nam

Bộ kéo dài từ 6 đến 9 tháng và khắc nghiệt, lượng nước trong thời gian này chỉ bằng khoảng 20 - 30% lượng nước của cả năm Vào thời điểm này, thường bị thiếu nước - bất thường hoặc cục bộ

Để khắc phục việc thiếu nước, trên hệ thống sông Đồng Nai đã xây dựng các hồ chứa Dầu Tiếng, Trị An, Thác Mơ, Đơn Dương, Hàm Thuận - Đa Mi - Cầu Đơn, Đại Ninh, Đồng Nai 2, Đồng Nai 3, Đồng Nai 4, Srok Phu Miêng và Phước Hòa Ngoài ra còn có một số hồ ở phía Đông, tổng dung tích khoảng 300 triệu m3 Với lượng nước mặt này đủ cung cấp nước cho vùng bao gồm cả cho phát triển công nghiệp

Sông Sài Gòn bắt nguồn từ lưu vực Hớn Quản, tỉnh Bình Phước chảy qua địa phận tỉnh Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh, rồi đổ vào sông Đồng Nai ở mũi Đèn

Đỏ thuộc huyện Nhà Bè và gọi là sông Nhà Bè (tức là dòng hợp lưu của hai sông Đồng Nai và Sài Gòn)

Sông Sài Gòn dài 256 km, bắt nguồn từ lưu vực hồ Dầu Tiếng đến ngã ba sông Đồng Nai, chảy qua tỉnh Tây Ninh, tỉnh Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh, có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m3/s, bề rộng khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu có chỗ tới 20 m, diện tích lưu vực trên 5.000 km2

Sông Sài Gòn không chỉ là nguồn cấp nước thô cho các nhà máy cấp nước (Nhà máy Nước Tân Hiệp, công suất 300.000 m3/ngày, đêm) phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt

và công nghiệp trên lưu vực mà còn có vai trò quan trọng trong phát triển giao thông vận tải, du lịch, phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và công nghiệp trên lưu vực

Sông Thị Vải nằm trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, có lưu vực hơn 700 km2

với chiều dài khoảng 32 km Tuy sông Thị Vải không dài và rộng nhưng sâu và có dòng chảy mạnh, mang nhiều phù sa tạo cho vùng ven vịnh Gành Rái một vùng đầm lầy rộng lớn, là nơi sinh trưởng lý tưởng của thảm động thực vật nước mặn Ngoài ra, sông Thị Vải có tính chất của một vũng biển, kín gió, không bị bồi lắng, gần bờ biển quốc tế nên

Trang 20

17

có ý nghĩa rất lớn về giao thông đường thuỷ, đặc biệt là một số vị trí có thể xây dựng cảng nước sâu cho phép các tàu có trọng tải từ 50.000 tới 80.000 tấn có thể ra vào dễ dàng

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu còn có rất nhiều hồ chứa, đập thủy lợi như hồ Đá Đen (diện tích 487 ha với dung tích khoảng 33 triệu m3), hồ Suối Dao - Châu Đức (dung tích khoảng 1 triệu m3), hồ Đá Bàng (dung tích 11,35 triệu m3), hồ Bút Thiềng - Long Điền (dung tích 2,4 triệu m3), hồ Sông Ray, hồ Xuyên Mộc (Xuyên Mộc);

hồ Châu Pha, hồ Gia Kèo (Tân Thành)… hàng năm cung cấp một lượng nước khá lớn cho địa phương

Nước ngầm tàng trử trong lòng đất cũng là một bộ phận quan trọng của nguồn tài

nguyên nước ở Đông Nam Bộ Nguồn nước ngầm ở Đông Nam Bộ có trữ lượng khá lớn, mực nước sâu từ 50 - 200 mét, phân bố chủ yếu khu vực Biên Hoà, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu

Nguồn nước ngầm vùng ven biển Đông Nam Bộ cũng khá phong phú, tổng trữ lượng có thể khai thác là 70.000 m3/ngày đêm, tập trung vào ba khu vực chính là: Bà Rịa – Long Điền 20.000 m3/ngày đêm; Phú Mỹ - Mỹ Xuân 25.000 m3/ngày đêm; Long Đất – Long Điền 15.000 m3/ngày đêm Ngoài ba vùng trên, khả năng khai thác nước ngầm rải rác khoảng 10.000 m3/ngày đêm

Nước ngầm khu vực Đông Nam Bộ nằm ở độ sâu 60 - 90 m, có dung lượng dòng chảy trung bình từ 10 - 20 m3/s nên khai thác tương đối dễ dàng Các nguồn nước ngầm

có thể cho phép khai thác tối đa 500.000 m3/ngày đêm, bảo đảm cung cấp đủ nước cho nông nghiệp, công nghiệp và cho sinh hoạt

Hiện nay tại một số vùng việc khai thác nước ngầm diễn ra khá mạnh mẽ, mực nước ngầm có xu hướng giảm dần như ở Đông Hưng Thuận; Thạnh Lộc; Tân Chánh Hiệp (Thành phố Hồ Chí Minh)

Trang 21

% khai thác so với tiềm năng

ra nhiều hệ luy như hạ thấp mực nước, sụt lún, ô nhiễm nguồn nước và xâm nhập mặn gia tăng ở các tỉnh, thành phố ven biển Đông Nam Bộ

Nước khoáng - nước nóng

Theo thống kê chưa đầy đủ thì ở Việt Nam có khoảng 350 nguồn nước khoáng và nước nóng, trong đó nhóm chứa Carbonic tập trung ở Nam Trung bộ, Đông Nam bộ và Nam Tây nguyên

Phần lớn các nguồn nước khoáng ở Đông Nam Bộ đang khai thác đều là nước nóng, có tác dụng chữa bệnh, giải khát và nhiều công dụng khác Tính đến cuối năm

2015, tại Đông Nam Bộ đã khảo sát được có 13 điểm nước khoáng - nước nóng Trong

đó tập trung nhiều nhất là ở Bà Rịa – Vũng Tàu, 8 điểm: Bình Châu, Phước Tỉnh, Phước

Lễ, Láng Dài, Long Hương, Suối Nghệ, Tóc Tiên, Ngãi Giao; còn lại các điểm Ninh Điền (Tây Ninh), Đồng Phú (Bình Phước), Suối Nho, Phú Hiệp (Đồng Nai), Bình Lợi (Thành phố Hồ Chí Minh)

Trong số 13 điểm nước khoáng – nước nóng nêu trên, chỉ 3 điểm được Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản Nhà nước phê duyệt là có khả năng khai thác: Bình Châu, Phước Lễ, Suối Nghệ (Bà Rịa – Vũng Tàu)

17 Nguồn điều tra của đề tài KC.08.06/11-15 do Cục Quản lý Tài nguyên nước cung cấp

Trang 22

19

Nguồn Suối Nghệ xã Suối Nghệ, huyện Châu Thành được phát hiện vào năm 1972 Năm 1996 được Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản Nhà nước phê duyệt khai thác

Nguồn Phước Lễ xã Phước Lễ, thành phố Bà Rịa, phát hiện năm 1993, năm 1994 khai thác đóng chai

Nguồn Bình Châu xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc Nằm giữa rừng nguyên sinh, suối nước nóng Bình Châu hảy ra trên một dải đất rộng 80 m dài 150m với hơn 70 điểm phun nước lộ thiên cùng lượng bùn khoáng dồi dào, là điểm nghỉ dưỡng hấp dẫn trong không gian xanh mát Đặc biệt, suối nước nóng Bình Châu đã được tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) bình chọn là một trong 65 khu du lịch sinh thái bền vững của 47 quốc gia trên toàn cầu

1.2.4.5 Tài nguyên đất

Nhìn chung, Đông Nam Bộ là vùng đất cao, có địa hình phân bậc và lượn sóng Tổng quỹ đất tự nhiên được chia thành 12 nhóm Quan trọng nhất là ba nhóm đất nâu đỏ trên nền bazan, đất nâu vàng trên nền bazan và đất trên nền phù sa cổ có diện tích lớn và chất lượng tốt Về cơ bản ba loại đất này đã được đưa vào sử dụng – chỉ có 0,5% chưa sử dụng

Loại đất chiếm diện tích lớn nhất trong vùng Đông Nam Bộ là đất xám bạc màu

và đất đỏ feralit màu nâu trên đá bazan Các loại đất đất đen, đất feralit đỏ vàng trên các

đá trầm tích, đất phù sa mới dọc bãi sông, đất mặn, đất cát biển… chiếm tỉ lệ ít hơn

Các loại đất phân bố tập trung thành những vùng lớn trên những vùng đồi thấp lượn sóng ở Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Đồng Nai thích hợp phát triển các cây công nghiệp dài ngày Đây là một trong những thế mạnh của vùng Đông Nam Bộ Trong tổng quỹ đất có 27,1% đang được sử dụng vào mục đích nông nghiệp Ba nhóm đất nâu

đỏ trên nền bazan, đất nâu vàng trên nền bazan, đất xám trên nền phù sa cổ rất thuận lợi cho nhiều loại cây trồng phát triển như cao su, cà phê, điều, lạc, mía, đỗ tương và cây lương thực Đất chưa sử dụng chiếm 22,7% diện tích đất tự nhiên (so với cả nước là 42,98%) Tỷ lệ đất sử dụng trong nông nghiệp, lâm nghiệp, đất chuyên dùng và đất thổ

cư khá cao so với mức trung bình của đất nước

1.2.4.6 Tài nguyên sinh vật biển

Bờ biển Đông Nam Bộ, có điểm mốc từ xã Bình Châu đến hết huyện Cần Giờ - Thành phố Hồ Chí Minh, giáp huyện Gò Công Đông tỉnh Tiền Giang và hòn đảo xa nhất thuộc Côn Đảo

Trang 23

20

Nguồn lợi cá tầng đáy

Số lượng họ, loài hải sản phân bố ở Đông Nam Bộ khá đa dạng và phong phú, có

639 loài thuộc 148 họ hải sản Nhóm cá đáy chiếm hơn 90% tổng số loài trong sản lượng điều tra, trong đó phải kể đến họ cá Lượng Nemipteridae, họ cá Mối Synodontidae, họ cá Khế Carangidae

Trữ lượng trung bình ước tính của nguồn lợi hải sản tầng đáy là 317.400 tấn, dao động từ 236.600 - 401.400 tấn Vùng diện tích có độ sâu trên 30 m chiếm phần lớn trữ lượng nguồn lợi của vùng biển Đông Nam Bộ Nhìn chung, trữ lượng nguồn lợi của vùng biển này có xu hướng giảm Biến động trữ lượng theo mùa cũng thể hiện khá rõ ràng, tuy nhiên, khuynh hướng của sự biến động theo mùa không thể hiện rõ nét

Nguồn lợi cá nổi nhỏ

Trên vùng biển Đông Nam Bộ có 10 họ, 35 giống và 50 loài cá nổi nhỏ Các loài

cá nổi nhỏ chiếm ưu thế trong sản lượng đánh bắt là cá Bò da Aluterus monoceros, cá Ngân Atule mate, cá Nục đỏ đuôi Decapterus kurroides, cá Nục sồ Decapterus maruadsi,

cá Nục thuôn Decapterus macrosoma, cá Bạc má Rastrelliger kanagurta, cá Chỉ vàng Selaroides leptolepis, cá Tráo mắt to Selar crumenophthalmus

Tổng trữ lượng cá nổi nhỏ trung bình ở vùng biển Đông Nam Bộ là 770.800 tấn

và khả năng khai thác là 308.300 tấn Vào mùa gió Đông Bắc, trữ lượng ước tính là 666.600 tấn với khả năng khai thác là 266.600 tấn; mùa gió Tây Nam, trữ lượng là 875.000 tấn và khả năng khai thác là 350.000 tấn Riêng thềm lục địa của Đông Nam Bộ

có khả năng khai thác tối đa hàng năm từ 150.000 – 170.000 tấn

Trang 24

Nguồn lợi cá nổi nhỏ

Nguồn lợi cá nổi

Trữ lượng (tấn)

Khả năng khai thác (tấn)

Trữ lượng (tấn)

Khả năng khai thác (tấn)

Trữ lượng (tấn)

Khả năng khai thác (tấn)

Trữ lượng (tấn)

Khả năng khai thác (tấn)

Nguồn: Viện Nghiên cứu Hải sản 2007

Cũng theo các tài liệu điều tra, biển Đông Nam Bộ có trên 600 loài cá, 35 loài tôm, 23 loài mực Khả năng cho phép khai thác hải sản các loại ở khu vực biển này lên đến 200.000 tấn năm18 Ngư trường Đông Nam Bộ gồm 5 bãi cá, 4 bãi tôm, 1 bãi mực

Riêng về bãi cá tập trung như sau:

Bãi cá Bắc Cù Lao Thu có độ sâu 50-200 m, chất đáy là bùn Diện tích có thể khai thác được khoảng 6.041 km2 Khả năng khai thác cho phép 9.120 tấn/năm

Bãi cá Nam Cù Lao Thu có diện tích 7.563 km2 Trữ lượng 53.000 tấn (44.070- 62.320 tấn), khả năng khai thác cho phép 15.960 tấn/năm Trữ lượng 14.000 tấn, khả năng khai thác 7.000 tấn/năm

Bãi cá quanh quần đảo Côn Sơn có diện tích 7.331 km2 Trữ lượng 28.620 tấn (15.284 – 41.986 tấn), khải năng khai thác cho phép 14.300 tấn/năm

Bãi cá cửa sông Cửu Long có diện tích khoảng 3.200 km2 Trữ lượng 14.000 tấn, khải năng khai thác 7.000 tấn/ năm

18 Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/cactinhvathanhpho/tinhbaria-vungtau/thongtintinhthanh?view=introduction&provinceId=1160

Trang 25

Riêng về bãi tôm bao gồm:

Bãi tôm Cù Lao Thu: phân bố rộng ở phía Đông Cù Lao Thu từ 8 - 12 độ vĩ độ Bắc và l08,50 kinh độ Đông, phạm vi tập trung khoảng 90 - 110 vĩ độ Bắc và 1090-1100

kinh độ Đông Độ sâu khai thác từ 70-600 m, trong đó khu có sản lượng cao ở độ sâu 150-250 m; sản lượng bình quân cao nhất có thể đạt 200-250 kg/h Đây là ngư trường tôm biển sâu có triển vọng nhất Việt Nam Các loại tôm khai thác có giá trị cao, nhất là tôm vỗ

Bãi tôm Nam Vũng Tàu: có diện tích khoảng 2.750 km2, độ sâu 5-35 m, chủ yếu

là 5- 32 m; năng suất khai thác bình quân từ 5-20 kg/h, cao nhất là 56 kg/h, thấp nhất là 2 kg/h Mật độ bình quân từ 63-98 kg/km2, nơi cao nhất đạt 1.250 kg/km2

Bãi tôm ở cửa sông Cửu Long: có diện tích khoảng 5.150 km2 Độ sâu từ 5 – 32

Ngoài việc đánh bắt hải sản trên biển, vùng Đông Nam Bộ có gần hàng ngàn

hec-ta diện tích nuôi trồng thủy hải sản các loại Đặc biệt, vùng biển Côn Đảo có thể nuôi cả

Trang 26

23

ngọc trai xuất khẩu Ở vùng nước lợ chủ yếu là nuôi tôm sú với hình thức quảng canh hoặc quảng canh cải tiến (thức ăn tự nhiện bổ sung thức ăn công nghiệp)

1.3 Tiểu kết luận chuyên đề

Đông Nam Bộ là một vùng có những điều kiện tự nhiên khá thuận lợi so với cả nước, có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế biển, đặc biệt là lĩnh vực khai thác dầu khí, thủy hải sản, du lịch và cảng biển Trên thềm lục địa Đông Nam Bộ có nguồn dầu mỏ và khí thiên nhiên có trữ lượng lớn nhất Việt Nam – đây là lợi thế to lớn của vùng cho việc phát triển công nghiệp khai thác dầu khí, dịch vụ dầu khí và các ngành công nghiệp có

sử dụng dầu khí làm nguyên liệu, nhiên liệu (điện, đạm, khí hoá lỏng, luyện cán thép )

Bờ biển Đông Nam Bộ dài, nhiều địa điểm kín và sâu Một số cửa sông, lòng sông rộng và sâu thuận lợi cho việc xây dựng một hệ thống cảng đa dạng về quy mô và công dụng, đây là lợi thế to lớn để phát triển vận tải, và các ngành kinh tế biển

Đông Nam Bộ có nhiều tiềm năng phát triển du lịch với nhiều bãi tắm nổi tiếng cùng các hệ thống các di tích lịch sử, văn hóa, khu dự trử sinh quyển thế giới, đặc biệt là

di tích lịch sử Côn Đảo

Đông Nam Bộ có thềm lục địa rộng là lợi thế vô cùng to lớn cho phát triển các ngành khai thác, đánh bắt hải sản Nơi đây khí hậu khá ôn hòa, hầu như không có gió bão lớn, thuận lợi cho phát triển các ngành dịch vụ, thương mại, sản xuất công nghiệp, nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản Có cơ sở vật chất kỹ thuật, và hệ thống hạ tầng tương đối đồng bộ

Tuy nhiên, do việc khai thác chưa hợp lý đã và đang làm cho môi trường, các loại tài nguyên, nguồn lợi của biển Đông Nam Bộ ngày càng suy giảm và biến đổi phức tạp Các hoạt động hàng hải trên hệ thống cảng; nước thải từ các khu công nghiệp, chế biến thủy sản; tốc độ đô thị hóa tạo ra hệ lụy là sự ô nhiễm môi trường nước và trầm tích tại các vùng ven biển, cửa sông Thêm vào đó, tình trạng chặt phá rừng ngập mặn ven biển

đã phá vỡ thế cân bằng tự nhiên Cùng với việc xây dựng nhiều công trình kiến trúc, du lịch, dịch vụ, sản xuất kinh doanh lấn biển không theo quy hoạch ở nhiều nơi đã gây ra

sự biến đổi địa hình, thay đổi dòng chảy và ngập nước, gây bồi lắng và xói lở vùng cửa sông, cửa biển ở nhiều nơi Hiện tượng mặn hóa, phèn hóa gây ô nhiễm hữu cơ cho nguồn nước làm cho hệ sinh thái ven biển bị phá vỡ cân bằng tự nhiên

Trang 27

24

Chuyên đề 2 ĐẶC ĐIỂM HÀNH CHÍNH VÀ CƯ DÂN BIỂN ĐẢO VIỆT NAM Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

2.1 Sự thay đổi địa lý hành chính

Các tỉnh, thành Đông Nam Bộ

Nguồn: google.map

Vùng Đông Nam Bộ gồm 6 tỉnh, thành phố là: Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu; có diện tích tự nhiên 23.605 km2, chiếm 7,1% diện tích cả nước Trong số 6 tỉnh, thành Đông Nam Bộ có 2 tỉnh, thành tiếp giáp với Biển Đông là Bà Rịa – Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 28

Bình Dương 2.694,4 Đồng Nai 5.907,2

Bà Rịa - Vũng Tàu 1.989,5 TP.Hồ Chí Minh 2.095,5

Nguồn: Số liệu thống kê năm 2014; Tổng cục Thống kê - https://www.gso.gov.vn

Từ thế kỷ XVII, cộng đồng cư dân Đông Nam Bộ mới dần hình thành, từ hai nguồn chủ yếu là cư dân bản địa và lưu dân từ phía Bắc Cư dân bản địa là đồng bào các dân tộc S’tiêng, Châu Ro và Mạ đã định cư trong nhiều thế kỷ Từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII, người Việt từ Đàng Ngoài, vì nhiều lý do đã lần lượt tới khai phá, làm chủ đất đai cả vùng Sài Gòn và lưu vực sông Đồng Nai Ngoài ra, có một bộ phận người Hoa chạy vào Đàng Trong để thoát khỏi áp bức của triều đình Mãn Thanh, tự nguyện gia nhập cộng đồng cư dân nước Việt

Lưu dân người Việt ở vùng đất Thuận - Quảng của Chúa Nguyễn đến Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai (Biên Hòa) khai khẩn đất hoang, lập ra những làng người Việt đầu tiên trên vùng đất Đông Nam Bộ

Năm 1620, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái của mình là Công chúa Ngọc Vạn cho Quốc vương Chân Lạp Chey Chettha II làm Hoàng hậu của Vương triều Chân Lạp, nhờ vậy cư dân Việt từ vùng Thuận - Quảng vào sinh sống làm ăn ở lưu vực sông Đồng Nai ngày một đông thêm Đây chính là cơ sở thuận lợi cho Chúa Nguyễn

Trang 29

hành chính vùng đất Đông Nam Bộ:“chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện

Phúc Long (nay thăng làm phủ) dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay), lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (nay thăng làm phủ), dựng dinh Phiên Trấn (tức dinh Gia Định ngày nay), mỗi dinh đều đặt các chức lưu thủ, cai bạ, ký lục và các cơ đội thuyền thủy bộ tinh binh và thuộc binh Mở rộng đất đai được nghìn dặm, được hơn 4 vạn hộ, bèn chiêu mộ những người dân xiêu bạt từ Bố Chính trở về Nam cho đến ở đông Thiết lập xã thôn, phường ấp, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương, định lệ thuế tô dung, làm sổ đinh điền Lại lấy người Thanh đến buôn bán ở Trấn Biên lập thành xã Thanh Hà, ở Phiên Trấn lập làm xã Minh Hương Từ đó người Thanh ở buôn bán đều thành dân hộ” 19

Như vậy, Chúa Nguyễn đã xác lập quyền quản lý về mặt nhà nước đối với các xứ Đồng Nai (huyện Phúc Long) – Sài Gòn (huyện Tân Bình), sáp nhập hẳn vào lãnh thổ Đàng Trong, tổ chức các đơn vị hành chính và bộ máy chính quyền từ cấp dinh trấn cho đến tận các thôn xã, thực thi quyền lực nhà nước trong việc quản lý đất đai, hộ khẩu, thu thuế và trưng thu các nguồn lợi tự nhiên và thu thuế qua việc trao đổi với thương nhân nước ngoài Đến đây, Sài Gòn – Gia Định đã trở thành trung tâm hành chính – chính trị Đông Nam Bộ

Vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi quan hệ khu vực có nhiều biến động, để quản lý chặt chẽ lãnh thổ, triều Nguyễn đã lập địa bạ trên toàn Lục tỉnh Nam Kỳ (1836); thiết lập, củng cố tổ chức hành chính, hoàn chỉnh bộ máy quản lý xã hội từ thôn (xã) đến tổng, huyện, phủ, tỉnh Lục tỉnh Nam Kỳ gồm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa (Đông Nam Bộ); Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên (Tây Nam Bộ)

Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam từ năm 1858 Năm 1862 chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ, năm 1867 chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ Năm 1874, với Hòa ước Giáp Tuất, triều đình nhà Nguyễn chính thức công nhận chủ quyền của Pháp trên toàn bộ Lục tỉnh Nam kỳ Sau khi chiếm được toàn bộ Nam kỳ, thực dân Pháp đã tổ chức bộ máy cai trị trên vùng đất này với chế độ thuộc địa

19 Quốc sử quán triều Nguyễn (1962), Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb Sử học, Hà Nội, tr.153

Trang 30

27

Ngày 14-8-1862, Đề đốc Bonard - Thống đốc quân sự đầu tiên – ban hành Quyết định số 145 quy định tổ chức hành chính tỉnh Gia Định, trong đó có Sài Gòn Bonard đã chia tỉnh Gia Định ra ba phủ, mỗi phủ có ba huyện, dưới huyện có tổng, dưới tổng có xã, thôn, lý, ấp Sài Gòn lúc bấy giờ vừa là tỉnh của Gia Định vừa là phủ lỵ của phủ Tân Bình là huyện lỵ huyện Bình Dương, còn Chợ Lớn là huyện lỵ của huyện Tân Long, cùng phủ Tân Bình

Trong thập niên 1860 và nửa đầu thập niên 1870, thành phố Sài Gòn vẫn nằm trong địa hạt hành chính tỉnh Gia Định Ngày 15-3-1874, Tổng thống Cộng hòa Pháp ký sắc lệnh chính thức thành lập thành phố Sài Gòn

Sau khi hoàn thành căn bản công cuộc võ trang xâm lược thực dân Pháp bắt đầu tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất Theo sắc lệnh ngày 17-10-1887, thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông Dương bao gồm có Bắc kỳ, Trung Kỳ, Nam kỳ

và Campuchia, trực thuộc Bộ Hải quân và Thuộc địa20, với các chế độ chính trị khác nhau; Nam kỳ là xứ thuộc địa, có tất cả có 20 địa hạt, do các viên tham biện cai trị Các địa hạt thuộc vùng Đông Nam Bộ gồm: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Sài Gòn, Chợ Lớn

Ngày 8-2-1880, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập Hội đồng thuộc địa Nam

kỳ – một cơ quan tư vấn về kinh tế Giúp việc cho Thống đốc Nam kỳ còn có Hội đồng

Tư vấn; Hội đồng Hình sự Nam kỳ được chia thành 20 tỉnh; trong đó Đông Nam Bộ có các tỉnh: Bà Rịa, Biên Hòa, Chợ Lớn, Gia Định, Tây Ninh, Thủ Dầu Một; có hai thành phố: Sài Gòn thành phố cấp I, Chợ Lớn thành phố cấp II

Đứng đầu các tỉnh là công sứ người Pháp; tỉnh nào lớn có thêm phó sứ Giúp việc cho Chánh, Phó sứ có Sở Tham biện và Hội đồng hàng tỉnh Đứng đầu thành phố có Chánh, Phó đốc lý với Tòa đốc lý và Hội đồng thành phố (cho thành phố cấp I) hoặc Uy ban nhân dân thành phố (cho thành phố cấp II) Tỉnh có một số trung tâm hành chính hoặc Sở Đại lý21 Ở cơ sở (làng, xã) thực dân Pháp vẫn giữ hệ thống chính quyền phong kiến, chức sắc có xã trưởng, hương trưởng và Hội đồng kỳ hào

Cách mạng tháng Tám – 1945 thành công, Đông Nam Bộ trở về với Việt Nam thống nhất: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Từ năm 1957, khu vực Đông Nam Bộ có tên Miền Đông Nam phần Chính quyền

Sài Gòn chia Miền Đông Nam phần thành 13 tỉnh thành: Đô thành Sài Gòn, Gia Định,

20 Ngày 20-3-1894, Bộ Thuộc địa được thành lập, Đông Dương trực thuộc Bộ Thuộc địa

21 Nhiều tác giả, 2005, Đại cương lịch sử Việt Nam, Giáo dục, Hà Nội, tr.568

Ngày đăng: 22/10/2022, 01:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ vị trí Bể Cửu Long và Nam Côn Sơn - TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐẢO VIỆT NAM Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
Sơ đồ v ị trí Bể Cửu Long và Nam Côn Sơn (Trang 13)
Sơ đồ vị trí các đảo trong quần đảo Côn Sơn - TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐẢO VIỆT NAM Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
Sơ đồ v ị trí các đảo trong quần đảo Côn Sơn (Trang 52)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w