1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SÁCH HƯỚNG DẪN HỌC TẬP AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP

108 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sách Hướng Dẫn Học Tập An Toàn Lao Động Và Môi Trường Công Nghiệp
Tác giả ThS. Bùi Thành Tâm
Trường học Trường Đại Học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành An Toàn Lao Động Và Môi Trường Công Nghiệp
Thể loại sách hướng dẫn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT SÁCH HƯỚNG DẪN HỌC TẬP AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP NGƯỜI BIÊN SOẠN ThS BÙI THÀNH TÂM BÌNH DƯƠNG, 08 2017 AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

SÁCH HƯỚNG DẪN HỌC TẬP

AN TOÀN LAO ĐỘNG

VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP

NGƯỜI BIÊN SOẠN: ThS BÙI THÀNH TÂM

BÌNH DƯƠNG, 08 / 2017

Trang 2

ThS Bùi Thành Tâm 1

LỜI GIỚI THIỆU

Lĩnh vực an toàn lao động và môi trường công nghiệp là lĩnh vực tổng hợp, liên quan dến các ngành khoa học – kỹ thuật – công nghệ, y tế, quản lý, luật pháp,…

và thể hiện quan điểm nhân bản – tất cả cho con người, tất cả vì con người của Đảng

và Nhà nước Hiến pháp 1946 đã quy định quyền làm việc, quyền được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội của người lao động Trong quá trình xây dựng đất nước, qua các thời

kỳ, Đảng và Nhà nước ta đều quan tâm xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật, chế

độ chính sách về bảo hộ lao động, an toàn lao động và vệ sinh lao động Nhiều văn bản dưới luật đã cụ thể hóa những công tác này Mặt khác, Nhà nước cũng thành lập các cơ quan nghiên cứu, thanh tra về an toàn và bảo hộ lao động Đặc biệt, Bộ giáo dục và Đào tạo cùng Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội,… đã xây dựng chương trình giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề về an toàn lao động và môi trường công nghiệp

Bảo hộ lao động là công tác rất quan trọng nhằm tăng năng suất lao động, phòng tránh tai nạn rủi ro, mang lại hạnh phúc cho người lao động Trong tất cả các lãnh vực sản xuất, an toàn lao động là trách nhiệm hàng đầu cho mọi hoạt động của các xí nghiệp, công trường, đơn vị sản xuất,… Trong các điều kiện làm việc, nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, phát sinh bệnh nghề nghiệp luôn luôn có thể xảy ra nên việc đảm bảo vệ sinh, an toàn lao động luôn phải được chú trọng

Theo định hướng của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực an toàn lao động, Ngành Quản lý Công nghiệp đã biên soạn tài liệu học tập An toàn lao động và Môi trường Công nghiệp Nội dung biên soại được xây dựng trên các giáo trình đã được giảng dạy tại các trường đại học, trung học chuyên nghiệp Bên cạnh đó, tài liệu cung cấp đến sinh viên những vấn đề về khoa học Bảo hộ lao động, vệ sinh lao động, nguồn gốc sự ô nhiễm, phương pháp an toàn lao động – bảo vệ sức khỏe,…

Nội dung của tài liệu như sau

Chương 1 - Những vấn đề chung về khoa học bảo hộ lao động

Chương 2 - Kỹ thuật an toàn điện

Chương 3 - An toàn xây dựng

Chương 4 - Kỹ thuật an toàn khi thiết kế và sử dụng máy móc thiết bị

Chương 5 - Tiếng ồn và chấn động trong sản xuất

Chương 6 - An toàn hóa chất

Chương 7 - Phòng chống bụi trong sản xuất

Chương 8 - Kỹ thuật phòng cháy chữa cháy

Trang 3

ThS Bùi Thành Tâm 2

Chương 9 - Chiếu sáng trong sản xuất - thông gió công nghiệp

Chương 10 - Ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất

Chương 11 - Hệ thống quản lý môi trường, an toàn và sức khỏe nghề nghiệp

Trang 4

ThS Bùi Thành Tâm 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHOA HỌC BẢO HỘ LAO ĐỘNG

Mục tiêu

Sau khi học chương 1, sinh viên sẽ đạt được những kiến thức sau

- Trình bày được mục đích, ý nghĩa, tính chất, đối tượng và nội dung nghiên cứu của công tác bảo hộ lao động;

- Nhận biết được những yếu tố gây nguy hiểm - tai nạn lao động và những biện pháp phòng ngừa;

- Mô tả được tình hình công tác bảo hộ lao động tại nước ta

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

Lao động của con người là sự cố gắng về tinh thần lẫn thể chất để tạo nên

những sản phẩm tinh thần, những động lực và những giá trị vật chất cho cuộc sống con người

Quá trình lao động được thực hiện trong hệ thống lao động

Hệ thống lao động là một mô hình lao động bao gồm người lao động và các

trang thiết bị cần thiết để hoàn thành những nhiệm vụ nhất định

An toàn là trạng thái hoạt động đảm bảo sức khỏe và sinh mạng con người với

một xác suất nhất định

Bảo hộ lao động là các hoạt động đồng bộ trên các lĩnh vực pháp luật, tổ chức

hành chính, khinh tế - xã hội, khoa học kỹ thuật nhằm cải thiện điều kiện làm việc, ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp để đảm bảo an toàn - bảo vệ sức khỏe cho người lao động

Hoạt động là hình thức đặc biệt của mối quan hệ tích cực của con người đối với

thế giới xung quanh, hướng đến sự thay đổi và biến chuyển nó trên cơ sở của các quá trình sinh học Con người trong quá trình hoạt động có sự tác động tương hổ đối với môi trường xung quanh và kết quả có thể gây thiệt hại hoặc cải thiện nó

Hiểm họa là khái niệm trung tâm của BHLĐ và có biểu hiện là các sự kiện, quá

trình, đối tượng có khả năng gây hậu quả không mong muốn trong những điều kiện xác định (tức là gây thiệt hại cho sức khỏe hoặc mạng sống con người) Hiểm họa được phân loại theo lĩnh vực tự nhiên, công nghệ, nhân chúng, sinh thái, sinh học, xã hội

Trang 5

ThS Bùi Thành Tâm 4

Phòng chống hiểm họa là vấn đề nhân đạo và kinh tế - xã hội thiết thực Các hiểm họa có 4 thuộc tính xác suất (bất ngờ), tiềm ẩn (dấu kín), liên tục (thường trực)

và tổng thể (chung)

Tai nạn lao động là tai nạn không may xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền

với việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ lao động làm tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của người lao động, hoặc gây tử vong Nhiễm độc đột ngột cũng

là tai nạn lao động

Những tiêu chuẩn đặc trưng cho tai nạn lao động

- Sự cố gây tổn thương và tác động từ bên ngoài

- Sự cố đột ngột

- Sự cố không bình thường

- Hoạt động an toàn

Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do tác động của điều kiện lao động có

hại đối với người lao động được Bệnh nghề nghiệp làm suy yếu sức khoẻ một cách dần dần và lâu dài

Điều kiện lao động là tập hợp tổng thể các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế xã

hội được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động, trình độ công nghệ, môi trường lao động, và sự sắp xếp bố trí cũng như các tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với con người tạo nên những điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động Điều kiện lao động có ảnh hưởng đến sức khoẻ và tính mạng con người

Những công cụ và phương tiện lao động có tiện nghi, thuận lợi hay gây khó khăn nguy hiểm cho người lao động, đối tượng lao động cũng ảnh hưởng đến người lao động rất đa dạng như dòng điện, chất nổ, phóng xạ, Những ảnh hưởng đó còn phụ thuộc quy trình công nghệ, trình độ sản xuất (thô sơ hay hiện đại, lạc hậu hay tiên tiến), môi trường lao động rất đa dạng, có nhiều yếu tố tiện nghi, thuận lợi hay ngược lại rất khắc nghiệt, độc hại, đều tác động lớn đến sức khoẻ của người lao động

* Vùng nguy hiểm

Vùng nguy hiểm là khoảng không gian có hiển diện các nhân tố gây nguy hiểm

đến sự sống và sức khỏe của người lao động, tác dụng một cách thường xuyên, theo chu kỳ hoặc bất ngờ

Phân loại vùng nguy hiểm

- Vùng nguy hiểm ở các cơ cấu truyền động: là vùng nguy hiểm xuất hiện ở các

cơ cấu truyền động Khoảng không gian làm việc của bộ truyền bánh răng, dây đai, xích, các bộ phận quay với tốc độ cao như mâm cặp máy tiện, mâm từ, máy mài,…

Trang 6

ThS Bùi Thành Tâm 5

các bộ phận chuyển động tịnh tiến như đầu máy bào, máy cắt, búa máy, đều hình thành những vùng nguy hiểm cho người lao động

- Vùng nguy hiểm do mảnh vụn hoặc vật liệu gia công văng ra: Khi gia công các

chi tiết trên các máy công cụ (tiện, phay, bào, ), khi gò, tán các vật liệu dòn hoặc trong một số quy trình công nghệ khác, tại vùng làm việc thường bắn ra các mẩu vật liệu, có khi cả chi tiết gia công Các mảnh vật liệu, dụng cụ nói trên thường có động năng lớn, có cạnh sắc, nhọn, đôi khi kèm theo cả nhiệt độ cao (phoi tiện, bào, …) dễ gây chấn thương cho người

- Vùng nguy hiểm nhiệt: xuất hiện ở các khu vực đúc, rèn, lò nung, buồng lạnh,

Kim loại đang nóng chảy, tiếp xúc đột ngột với nước, hơi ẩm, vật thể có nhiệt độ thấp, sẽ gây nổ, bắn tung kim loại gây nguy hiểm hoặc khi đúc theo phương pháp ly tâm, áp lực có thể xảy ra sự bắn tung kim loại ; khi rót kim loại quá nhiều sẽ phun kim loại ra ở các mặt phân khuôn không kín Các mẩu, vẩy kim loại nóng văng ra gây bỏng hoặc chấn thương Ở những nơi, khu vực có nhiệt độ thấp (dưới 0oC) cũng gây

ra bỏng và được gọi là bỏng lạnh

- Vùng nguy hiểm phóng xạ: Trong các lò cao tần, lò hồ quang, máy hàn, có các

vùng nguy hiểm do tác dụng của sóng ngắn, tia hồng ngoại, tử ngoại, X,, Tác hại

do tia phóng xạ gây ra cho con người ở hai dạng:

+ Nhiễm xạ mãn tính, gây ra hội chứng suy nhược thần kinh, cơ thể, ung thư da, ung thư xương,

+ Nhiễm xạ cấp tính, gây nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, khó ngủ, mệt mỏi Ở nơi tia phóng xạ chiếu quá mạnh, da bị bỏng hoặc tấy đỏ

- Các vùng nguy hiểm khác: Các khu vực dây điện trần có điện áp, khu vực có

chất độc, bụi, hơi độc, khoảng không gian dưới giàn cẩu, palăng, đều là những vùng nguy hiểm trong quá trình sản xuất

* Các yếu tố nguy hiểm và có hại

Trong một điều kiện lao động cụ thể, luôn xuất hiện các yếu tố vật chất có ảnh hưởng xấu, nguy hiểm, có nguy cơ gây tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao

động được gọi là các yếu tố nguy hiểm và có hại

- Các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, bức xạ, bụi,

- Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng, côn trùng, rắn,

- Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động, không tiện nghi do không gian nơi làm việc, nhà xưởng chật hẹp, mất vệ sinh

- Các yếu tố tâm lý không thuận lợi là những yếu tố nguy hiểm và có hại

Trang 7

ThS Bùi Thành Tâm 6

* Một số định lý về BHLĐ

- Tất cả các vật thể, quá trình, hiện tượng và hoạt động đều tiềm ẩn hiểm họa đối với con người

- Không có hoạt động nào là an toàn tuyệt đối

- Sự an toàn của một hệ thống bất kỳ đạt được một xác suất nhất định

1.2 MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA VÀ TÍNH CHẤT CỦA CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG

1.2.1 Mục đích, ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động

Mục đích của bảo hộ lao động là thông qua các biện pháp về khoa học kỹ thuật,

tổ chức, kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong quá trình sản xuất; tạo nên một điều kiện lao động thuận lợi và ngày càng được cải thiện

để ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau, giảm sút sức khoẻ, những thiệt hại khác đối với người lao động, nhằm bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe và tính mạng người lao động trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động

Bảo hộ lao động trước hết là phạm trù sản xuất, do yêu cầu của sản xuất và gắn liền với quá trình sản xuất nhằm bảo vệ yếu tố năng động, quan trọng nhất của lực lượng sản xuất là người lao động Mặt khác, việc chăm lo sức khoẻ của người lao động mang lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người Vì vậy, công tác bảo hộ lao động mang lại ý nghĩa nhân đạo

bảo hộ lao động là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước và mang ý nghĩa chinh trị, xã hội và kinh tế

- Chính trị: bảo hộ lao động phản ánh một phần bản chất của xã hội

- Xã hội: bảo hộ lao động luôn củng cố, hoàn thiện quan hệ xã hội bảo hộ lao động mang lại hạnh phúc cho bản thân và gia đình lao động, cho nên bảo hộ lao động amng ý nghĩa xã hội và nhân đạo sâu sắc

- Kinh tế: làm cho người lao động an tâm công tác, tăng năng suất lao động, làm giảm chi phí phục vụ hậu quả do tai nạn, ốm đau, xảy ra Làm tốt công tác an toàn lao động là đạo điều kiện sản xuất phát triển và đam lại hiệu quả kinh tế cao

1.2.2 Tính chất của công tác bảo hộ lao động

Bảo hộ lao động có 3 tính chất chủ yếu là: pháp lý, khoa học kỹ thuật và tính quần chúng

- Bảo hộ lao động mang tính chất pháp lý: Những quy định và nội dung về bảo

hộ lao động được thể chế hoá chúng thành những luật lệ, chế độ chính sách, tiêu chuẩn và được hướng dẫn cho mọi cấp mọi ngành mọi tổ chức và cá nhân nghiêm

Trang 8

- Bảo hộ lao động mang tính quần chúng: Bảo hộ lao động là hoạt động hướng

về cơ sở sản xuất và con người và trước hết là người trực tiếp lao động bảo hộ lao động là trách nhiệm riêng của người cán bộ quản lý sản xuất và trách nhiệm chung của toàn thể người lao động và toàn xã hội Trong đó, người lao động đóng vai trò hết sức quan trọng trong công tác bảo hộ lao động Bảo hộ lao động liên quan với quần chúng lao động, bảo vệ quyền lợi và hạnh phúc cho mọi người, mọi nhà, cho toàn xã hội Vì thế, bảo hộ lao động luôn mang tính quần chúng

Tóm lại: Ba tính chất trên đây của công tác bảo hộ lao động: tính pháp lý, tính

khoa học kỹ thuật và tính quần chúng có liên quan mật thiết với nhau và hỗ trợ lẫn

nhau

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

An toàn lao động là một môn học nghiên cứu những vấn đề lý thuyết và thực

nghiệm nhằm cải thiện điều kiện lao động và đảm bảo an toàn lao động mang tính khoa học kỹ thuật - khoa học xã hội

Phương pháp nghiên cứu của môn học chủ yếu tập trung vào điều kiện lao

động, các mối nguy hiểm có thể xảy ra trong quá trình sản xuất và các biện pháp phòng chống

Đối tượng nghiên cứu là quy trình công nghệ, cấu tạo và hình dáng của thiết bị,

đặc tính nguyên liệu thành phẩm và bán thành phẩm

Nhiệm vụ môn học là trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về pháp

luật bảo hộ lao động của Nhà nước; cách phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp,

Trang 9

ThS Bùi Thành Tâm 8

phòng chống cháy nổ; nghiên cứu hệ thống, điều kiện kỹ thuật quá tình lao động với mục đích đạt hiệu quả cao

Hình 1.1 - Sự liên quan của các ngành khoa học - kỹ thuật trong khoa học lao động

1.3.2 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục đích và thể hiện được ba tính chất (đã nêu trên), công tác BHLĐ bao gồm những nội dung chủ yếu sau

- Nội dung về khoa học kỹ thuật

- Nội dung xây dựng và thực hiện pháp luật, chế độ, chính sách về BHLĐ

- Nội dung về giáo dục, vận động quần chúng làm tốt công tác BHLĐ

* Nội dung khoa học kỹ thuật

Trong công tác bảo hộ lao động, nội dung khoa học kỹ thuật chiếm vị trí rất quan trọng, phần cốt lõi đễ loại trừ hoặc hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm

và có hại nhằm cải thiện điều kiện làm việc

Khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động là lĩnh vực khoa học rất tổng hợp và liên ngành, được hình thành và phát triển trên cơ sở kết hợp và sử dụng thành tựu của nhiều ngành khoa học khác nhau

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động rất tổng quát nhưng rất cụ thể gắn liền với điều kiện khí hậu, đặc điểm thiên nhiên, con người, điều kiện sản xuất và kinh tế mỗi khu vực Khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động gắn bó chặt chẽ với công việc điều tra, khảo sát, nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng

và triển khai

Trang 10

ThS Bùi Thành Tâm 9

Khoa học y học lao động: đi sâu khảo sát, đánh giá các yếu tố nguy hiểm có hại

phát sinh trong sản xuất, nghiên cứu ảnh hưởng của chúng đến cơ thể người lao động Khoa học y học lao động có nhiệm vụ đề ra các tiêu chuẩn giới hạn cho phép của các yếu tố có hại, theo dõi sức khỏe người lao động và đề ra các chế độ lao động - nghỉ ngơi

Khoa học kỹ thuật vệ sinh lao động (VSLĐ): là những khoa học kỹ thuật chuyên

ngành đi sâu nghiên cứu các giải pháp để loại trừ hoặc khắc phục các yếu tố có hại trong sản xuất, cải thiện môi trường lao động, bảo vệ môi trường xung quanh, phòng ngừa bệnh nghề nghiệp và nâng cao hiệu quả lao động cho người lao động

Nội dung của khoa học VSLĐ chủ yếu gồm

- Phát hiện, đo đạc, đánh giá các điều kiện lao động xung quanh

- Nghiên cứu, đánh giá các tác động chủ yếu của các yếu tố môi trường lao động tác động đến con người

- Đề suất các biện pháp bảo vệ cho người lao động

Đề phòng bệnh nghề nghiệp, tạo điều kiện tối ưu cho sức khỏe và tình trạng lành mạnh cho người lao động chính là mục đích của VSLĐ

Kỹ thuật an toàn: là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức và kỹ

thuật nhằm bảo vệ người lao động khỏi tác động của các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương trong sản xuất

Chủ động loại trừ các yếu tố nguy hiểm có hại ngay từ đầu đầu giai đoạn thiết

kế, thi công các công trình - máy móc là phương hướng mới tích cực để thực hiện chuyển từ "Kỹ thuật an toàn" sang "An toàn kỹ thuật"

Khoa học về phương tiện bảo vệ ngoài người lao động: có nhiệm vụ nghiên cứu,

thiết kế, chế tạo những phương tiện bảo vệ người lao động nhằm chống lại các yếu tố nguy hiểm và có hại

Egônômi với an toàn sức khỏe con người

Ecgônômi (Ecgonomics - tiếng Hy Lạp với ergon là lao động và nomos là quy luật) nghĩa là nghiên cứu và ứng dụng những quy luật chi phối con người và lao động

Ecgônômi (tiêu chuẩn Nhà nước Việt Nam) là môn khoa học liên ngành nghiên

cứu tổng hợp sự thích ứng giữa các phương tiện kỹ thuật và môi trường lao động với khả năng của con người về giải phẫu, sinh lý, tâm lý nhằm đảm bảo cho lao động có hiệu quả nhất, đồng thời bảo vệ sức khỏe, an toàn cho người

Mục tiêu chính của Ecgônômi trong quan hệ Người - Máy - Môi trường là tối ưu hóa các tác động tương hỗ

Trang 11

ThS Bùi Thành Tâm 10

- Tác động tương hỗ giữa người điều khiển và máy móc, thiết bị

- Tác động tương hỗ giữa người điều khiển và chỗ làm việc

- Tác động tương hỗ giữa người điều khiển với môi trường lao động

Hình 1.2 - Nhân trắc học của người lao động khi đứng và ngồi

Hình 1.3 - Nhân trắc học của người lao động khi làm việc với các tư thế khác nhau

Mục đích của nhân trắc học Ecgônômi là nghiên cứu những tương quan giữa người lao động và các phương tiện lao động để đảm bảo sự thuận tiện nhất cho người lao động để làm việc đạt được năng suất cao và vẫn đảm bảo sức khỏe

Trang 12

Giá trị thích hợp (mm)

Trang 13

ThS Bùi Thành Tâm 12

* Nội dung pháp luật, chế độ, chính sách về BHLĐ

Nghĩa vụ người sử dụng lao động

Người sử dụng lao động có nghĩa vụ tuân thủ tiêu chuẩn, vi phạm an toàn, chính sách chế độ, bảo đảm điều kiện làm việc an toàn - vệ sinh Người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm về tình trạng an toàn và sức khỏe người của người lao động Hàng năm, khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải lập kế hoạch, biện pháp an toàn lao động và cải thiện điền kiện làm việc

Trang bị đầy đủ các phương tiện cá nhân và thực hiện các chế độ khác về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với người lao động theo quy định của Nhà nước Phân công trách nhiệm và cử người giám sát thực hiện các quy định, nội quy biện pháp an toàn lao động, vệ sinh an toàn lao động trong doanh nghiệp, phối hợp với các công đoàn cơ sở tuyên truyền, giáo dục người lao động chấp hành quy định biện pháp làm việc an toàn, xây dựng và duy trì hoạt động mạng lưới an toàn lao động và vệ sinh viên

Xây dựng nội quy, quy trình an toàn lao động, vệ sinh lao động phù hợp với từng loại máy, thiết bị công nghiệp theo tiêu chuẩn của Nhà nước

Thiện hiện huấn luyện, hướng dẫn người lao động theo chế độ quy định

Chấp hành nghiêm chỉnh chế độ khai báo, điều tra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Định kỳ 6 tháng, hàng năm sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả tình hình thực hiện

an toàn - vệ sinh an toàn lao động, cải thiện điều kiện lao động và báo cáo với cơ quan thẩm quyền theo quy định của pháp luật

Quyền hạn người sử dụng lao động

Buộc người lao động phải tuân thủ các quy định nội quy các biện pháp an toàn -

vệ sinh lao động

Khen thưởng người chấp hành tốt và kỷ luật người vi phạm trong việc thực hiện

an toàn vệ sinh lao động

Khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quyết định của thanh tra lao động, nhưng phải chấp hành những quy định đó khi chưa có quyết định mới

Nghĩa vụ người lao động

Chấp hành các quy định nội quy về an toàn - vệ sinh lao động có liện quan đến công việc, nhiệm vụ được giao

Phải sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được trang cấp, các thiết bị an toàn - vệ sinh nơi làm việc, nếu làm mất hoặc hư hỏng thì phải bồi thường

Trang 14

ThS Bùi Thành Tâm 13

Phải báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi có phát hiện nguy cơ gây tai nạn lao động, gây độc hại hoặc sự cố nguy hiểm Tham gia cấp cứu và khắc phục hậu quả tai nạn, sự cố khi có lệnh của người sử dụng lao động

Quyền hạn của người lao động

Yêu cầu người sử dụng lao động đảm bảo điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh, cải thiện điều kiện lao động, tranh cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân, huấn luyện, hướng dẫn biện pháp an toàn - vệ sinh lao động

Từ chối làm công việc hoặc tự rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của mình và phải báo cáo ngay với người có phụ trách trực tiếp, từ chối trở lại làm việc nếu những nguy cơ đó chưa được khắc phục Khiến nại hoặc tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng lao động vi phạm quy định của Nhà nước hoặc không thực hiện giao kết về an toàn - vệ sinh lao động trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể

1.4 KỸ THUẬT VỆ SINH LAO ĐỘNG (VSLĐ)

1.4.1 Đối tượng nhiệm vụ và nội dung của VSLĐ

Vệ sinh lao động là môn khoa học dự phòng, nghiên cứu điều kiện thiên nhiên,

điều kiện sản xuất, sức khỏe con người, ngưỡng sinh lý cho phép và những ảnh hưởng của điều kiện lao động, quá trình lao động, gây ra tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Trong đó VSLĐ chủ yếu nghiên cứu tác hại nghề nghiệp và những biện pháp phòng ngửa các tác nhân có hại một cách hiệu quả

Nội dung VSLĐ gồm

- Nghiên cứu đặc điểm vệ sinh của các quá trình sản xuất

- Nghiên cứu các biến đổi sinh lý, sinh hóa của cơ thể con người

- Nghiên cứu việc tổ chức lao động và nghỉ ngơi hợp lý

- Nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa tình trạng mệt mỏi trong lao động, hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố tác hại nghề nghiệp trong sản xuất, đánh giá hiệu quả của các biện pháp đó

Trang 15

- Đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các biện pháp vệ sinh an toàn lao động trong sản xuất

1.4.2 Các tác hại nghề nghiệp

Các tác hại nghề nghiệp đối với người lao động có thể do các yếu tố vi khí hậu, tiếng ồn - rung động, bụi, phóng xạ, điện từ trường, chiếu sáng gây ra

Các tác hại nghề nghiệp có thể phân ra

- Tác hại liên quan đến quá trình sản xuất như yếu tố vật lý, hóa học, sinh vật xuất hiện trong quá trình sản xuất

- Tác hại liên quan đến tổ chức lao động như chế độ làm việc, nghỉ ngơi không hợp lý, cường độ làm việc quá cao, thời gian làm việc quá dài

- Tác hai liên quan đền điều kiện, vệ sinh an toàn như thiếu các thiết bị, thông gió, chống bụi, chống nóng, chống tiếp ồn, thiếu trang bị phòng hộ lao động, không thực hiện đúng và triệt để vệ sinh và an toàn lao động

* Vi khí hậu

Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp

gồm các yếu tố nhiệt độ không khí, độ ẩm tương đối của không khí, vận tốc chuyển động không khí và bức xạ nhiệt Điều kiện vi khí hậu trong sản xuất phụ thuộc vào tính chất của quá trình công nghệ và khí hậu địa phương

Về mặt vệ sinh, vi khí hậu có ảnh hưởng đến sức khỏe, bệnh tật của người lao động Làm việc lâu trong điều kiện vi khí hậu lạnh và ẩm, có thể mắc bệnh thấp lhớp, viêm đường hô hấp trên, viêm phổi và làm cho bệnh lao nặng thêm Vi khí hậu lạnh

và khô làm cho rối loạn vận mạch thêm trầm trọng, gây khô niêm mạc, nứt nẻ da Vi khí hậu nóng ẩm làm giảm khả năng bay hơi mồ hôi, gây rối loạn thăng bằng nhiệt, làm mệt mỏi xuất hiện sớm, tạo điều kiện cho vi sinh vật phất triển, gây các bệnh ngoài da

* Tiếng ồn và rung động

Tiếng ồn là những âm thanh gây khó chịu, quấy rối sự làm việc và nghỉ ngơi của

con người

Trang 16

ThS Bùi Thành Tâm 15

Rung động là dao động cơ học của vật thể đàn hồi sinh ra khi trọng tâm hoặc

trục đối xứng của chúng dịch chuyển trong không gian hoặc do sự thay đổi có tính chu kỳ hình dạng mà chúng có ở tại trạng thái tĩnh

Tiếng ồn tác động đến hệ thần kinh trung ương, hệ thống tim mạch và nhiều cơ quan khác Tác hại của tiếng ồn chủ yếu phụ thuộc vào tiếng ồn

Tần số lặp lại của tiếng ồn ảnh hưởng lớn đến con người Tiếng ồn gây tác dụng khó chịu ít hơn tiếng ồn gián tiếp Tiếng ồn có các thành phần tần số cao khó chịu hơn tiếng ồn có tần số thấp Khó chịu nhất là tiếng ồn thay đổi tần số và cường độ Ảnh hưởng của tiếng ồn với cơ thể phụ thuộc vào hướng của năng lượng âm thanh tới, thời gian tác dụng và trạng thái cơ thể của người lao động

* Bụi

Bụi là tập hợp nhiều hạt có kích thườc lớn nhỏ khác nhau, tồn tại lên trong

không khí dưới dạng bụi bay hoặc lắng vào các hệ khí dung nhiều pha như hơi, khói,

mù Bụi phát sinh tự nhiên do gió, bão, động đất, núi lửa và trong sản xuất của con người (như quá trình gia công, vận chuyển nhiên liện, vận chuyển nguyên vật liệu rắn, )

Bụi gây nhiều tác hại cho con người như các bệnh về đường hô hấp, bệnh ngoài

da, bệnh tiêu hóa,

* Chiếu sáng

Chiếu sáng hợp lý không những góp phần làm tăng năng suất lao động mà còn hạn chế các tác tai nạn lao động, giảm các bệnh về mắt

* Phóng xạ

Nguyên tố phóng xạ là những nguyên tố có hạt nhân nguyên tử phát ra các tia có

khả năng ion hóa chất, các tia đó gọi là tia phóng xạ

Hạt nhân nguyên tử của các nguyên tố phóng xạ có thể phát ra những tia phóng

xạ như , , , tia Ronghen, tia notoron, Mắt thường không thể nhìn thấy những tia này Chúng được phát ra do sự biến đổi bên trong hạt nhân nguyên tử

Làm việc với các chất phóng xạ có thể bị nhiễm xạ Nhiễm xạ cấp tính thường xảy ra sau vài giờ hoặc vài ngày khu toàn thân nhiễm xạ một liều lượng nhất định (trên 200Rem) Khi bị nhiễm xạ cấp tính thường có những triệu chứng như

- Da bị bỏng, tấy đỏ ở chỗ phóng xạ nhiễm vào

- Chức năng thần kinh trung ương bị rối loạn

- Gầy, sút cân, chất dần chết mòn trong tình trạng suy nhược

Trang 17

ThS Bùi Thành Tâm 16

Trường hợp bị nhiễm xạ cấp tính xảy ra khi liều lượng ít hơn (nhỏ hơn 200Rem) nhưng trong thời gian dài thường có các triệu chứng

- Thần kinh bị suy nhược

- Rối loạn các chức năng tạo máu

- Hiện tượng đục nhân mắt, ung thư da, ung thư xương

Các cơ quan cảm giác của người không thể phát hiện được các tác động của phóng xạ lên cơ thể

1.5 CÁC YẾU TỐ NGUY HIỂM GÂY CHẤN THƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA

1.5.1 Các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương sản xuất

Các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương sản xuất chủ yếu do cơ cấu, đặc trưng quá trình công nghệ của các dây chuyền sản xuất gây ra như

- Cơ cấu chuyển động, khớp nối

- Chi tiết, vật liệu gia công văng bắn ra (cắt, mài, đập, nghiền, )

- Điện giật

- Yếu tố về nhiệt: kim loại nóng cháy, vật liệu nung nóng, nước nóng

- Chất độc công nghiệp, các chất lỏng hoạt tính (axit, kiềm, )

- Bụi

- Nguy hiểm về cháy nổ, áp suất cao

- Làm việc trên cao, vật rơi từ trên cao xuống

1.5.2 Nguyên nhân gây chấn thương

* Nhóm nguyên nhân kỹ thuật

- Quá trình công nghệ chứa đựng các yếu tố nguy hiểm, có hại: tác động của bộ phận chuyển động, bụi, tiếng ồn,

- Thiết kế, kết cấu không đảm bảo, không thích hợp với đặc điểm sinh lý của người sử dụng, độ bền kém, thiếu các tín hiệu, cơ cấu báo hiệu, ngăn ngừa quá tải (van an toàn, phanh hãm, ), chiếu sáng không thích hợp; tiếng ồn, rung động vượt mức cho phép,

- Không cơ khí hóa, tự động hóa những khâu lao động nặng nhọc, nguy hiểm

- Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy tắc kỹ thuật an toàn như các thiết bị chịu áp lực không được kiểm nghiệm trước khi đưa vào sử dụng, thiếu hoặc sử dụng không đúng các phương tiện bảo vệ cá nhân,

Trang 18

ThS Bùi Thành Tâm 17

* Nhóm các nguyên nhân về quản lý, tổ chức

- Tổ chức, sắp xếp nơi làm việc không hợp lý, tư thế thao tác khó khăn

- Tổ chức, tuyển dụng, phân công, huấn luyện, giáo dục không đúng, không đạt yêu cầu

1.5.3 Các biện pháp và phương tiện kỹ thuật an toàn cơ bản

* Biện pháp an toàn đối với bản thân người lao động

- Thực hiện thao tác, tư thế lao động phù hợp, đúng nguyên tác an toàn, tránh các tư thế cúi đầu gập người, tư thế gây chấn thương cột sống, thoái vị đĩa đệm,

- Bảo đảm không gian vận chuyển, thao tác tối ưu, sự thích nghi giữa người và máy móc

- Đảm bảo các điều kiện lao động thị giác, thính giác, xúc giác,

- Đảm bảo tâm lý phù hợp, tránh quá tải, căng thẳng hoặc đơn điệu

* Thực hiện các biện pháp che chắn an toàn

Mục đích của thiết bị che chắn an toàn là cách li cách vùng nguy hiểm đối với

người lao động như các vùng có điện áp cao, có các chi tiết chuyển động, những nơi người có thể bị rơi, ngã

Yêu cầu đối với thiết bị che chắn

- Ngăn ngừa được các tác động xấu, nguy hiểm gây ra trong QTSX

- Không gây trở ngại, khó chịu cho người lao động

- Không gây ảnh hưởng đến năng suất lao động, công suất thiết bị

Phân loại các thiết bị che chắn

- Che chắn các bộ phận, cơ cấu chuyển động

- Che chắn các bộ phận dẫn điện

- Che chắn các nguồn bức xạ có hại

- Che chắn hào, hố, các vùng làm việc trên cao

- Che chắn cố định, che chắn tạm thời

* Sử dụng thiết bị và cơ cấu phòng ngừa

Mục đích sử dụng thiết bị và cơ cấu phòng ngừa là để ngăn chặn các tác động xấu do sự cố định của quá trình sản xuất gây ra, ngăn chặn, hạn chế sự cố lan rộng

Sự cố gây ra có thể gây ra bởi sự quá tải (về áp suất, nhiệt độ, điện áp, ) hoặc do các

hư hỏng ngẫu nhiên của các chi tiết, phần tử của thiết bị Nhiệm vụ của thiết bị và cơ

Trang 19

Phân loại thiết bị và cơ cấu phòng ngừa

- Hệ thống có thể tự phục hồi lại khả năng làm việc khi đối tượng phòng ngừa mức dưới giới hạn quy định như van an toàn, rơle nhiệt,

- Hệ thống phục hồi lại khả năng làm việc bằng cách thay thế cái mới như cầu chì, chốt cắm,

* Sử dụng các tín hiệu, dấu hiệu an toàn

- Độ tin cậy cao, ít nhầm lẫn

- Dễ thực hiện, phù hợp với tập quán, cơ sở khoa học kỹ thuật và yêu cầu của tiêu chuẩn hóa

* Đảm bảo khoảng cách và kích thước an toàn

Khoảng cách an toàn là khoảng không gian tối thiểu giữa người lao động và các

phương tiện, thiết bị hoặc khoảng cách nhỏ nhất giữa chúng với nhau để không bị tác động xấu của các yếu tố sản xuất như khoảng cách giữa đường dây dẫn điện đến người, khoảng cách an toàn khi nổ mìn, khoảng cách giữa các máy móc, khoảng cách trong chặt cây, khoảng cách an toàn về phóng xạ,

Trang 20

ThS Bùi Thành Tâm 19

Tùy thuộc vào quá trình công nghệ, đặc điểm của từng loại thiết bị mà quy định các khoảng cách an toàn khác nhau

* Thực hiện cơ khí hóa, tự động hóa và điều khiển từ xa

Đó là biện pháp nhằm giải phóng người lao động khỏi khu vực nguy hiểm, độc hại Các trang thiết bị cơ khí hóa, tự động hóa và điều khiển từ xa thay thế con người thực hiện các thao tác từ xa, trong điều kiện khí khăn, nguy hiểm, đồng thời nâng cao được năng suất lao động

* Trang bị các phương tiện bảo vệ cá nhân

Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân là biện pháp bảo vệ bổ sung, hỗ trợ nhưng

có vai trò rất quan trọng khi các biện pháp bảo vệ khác vẫn không đảm bảo an toàn cho người lao động, nhất là trong điều kiện thiết bị, công nghệ lạc hậu

Căn cứ yêu cầu bảo vệ các bộ phận trên cơ thể người sử dụng, ta có các loại phương tiện bảo vệ (PTBV)

Phương tiện bảo vệ đầu

PTBV đầu là mũ bảo hộ, thường dùng khi làm việc trong hầm mộ, trên cột cao,

trong các nhà máy công nghiệp,

Nhiều loại mũ bảo hộ lao động như mũ được làm từ lưới bao, vải mềm hoặc nhựa cứng

Thường xuyên giữ gìn mũ sạch sẽ, cất giữ ở nơi khô khi không sử dụng, tránh rơi vỡ, va đập

Trang 21

ThS Bùi Thành Tâm 20

Dây thắt lưng an toàn phòng chống ngã cao

Là PTBHCN được trang bị cho người lao động để bảo vệ phòng ngừa ngã cao khi người lao động làm việc trên cao

Thắt lưng an toàn phải đảm bảo chất lượng, được kiểm tra trước khi sử dụng, gồm thắt lưng an toàn thông thường và thắt lưng an toàn có cơ cấu bảo trợ

- Thắt lưng thông thường: kết cấu cơ bản gồm dây bụng, dây treo, khóa và móc

Kiểu thắt lưng này thường được dùng phổ biến ở nhiều công việc trên cao trong ngành xây dựng, viễn thông, điện lực, lắp ráp kết cấu, Thắt lưng có ưu điểm gọn, nhẹ, dễ sử dụng nhưng có nhược điểm là hạn chế tầm hoạt động

- Thắt lưng an toàn có kết cấu bảo trợ: Về cấu tạo, ngoài các bộ phận chính

giống loại thắt lưng an toàn thông thường, loại này có thêm cơ cấu khống chế chiều cao rơi và dây định vị Với kết cấu, người dùng có thể mở rộng được tầm hoạt động, làm việc được tại những nơi không có kết cấu móc dây an toàn

Khi sử dụng, việc đầu tiên là quan sát kỹ khu vực làm việc để tìm vị trí móc một đầu của thắt lưng an toàn Tiếp theo, cài thắt lưng vào người, cài móc của đầu thắt lưng kia vào các thanh giằng, lan can, Phải chắc chắn các vị trí móc thắt lưng là chắc chắn và đảm bảo khả năng chịu tải trọng của cơ thể

Khi không sử dụng, cần giữ gìn sạch sẽ, khô ráo, cách xa nguồn nhiệt

Phương tiện bảo vệ mắt và mặt

PTBV mắt và mặt là các phương tiện bảo vệ cá nhân ở dạng kính hoặc mặt nạ để

bải vệ người lao động trong môi trường có tia bức xạ ion, tia cực tím, tia hồng ngoại, tia laze, tia hồng ngoại, axit, Phải căn cứ vào công việc cụ thể để sử dụng phương tiện nào cho phù hợp và đem lại hiệu quả

Hình 1.5 – Mặt nạ và kính bảo hộ

Phương tiện bảo vệ thính giác

Người lao động sử dụng làm việc trong môi trường chịu sự tác động của tiếng

ồn Phương tiện thường được sử dụng là bao ốp tai, nút che tai, đôi khi ở dạng mũ

Trang 22

ThS Bùi Thành Tâm 21

Hình 1.6 – Bao ốp tai và nút tai

Nút tai thường được làm bằng chất dẻo, xốp hoặc bông Chúng có cấu tạo hình

trụ, đường kính khoảng 0,8cm đến 1cm, dài khoảng 4cm Chúng có khả năng giảm tiếng ồn thấp

Bao tai có cấu tạo gồm hai lớp, bên ngoài là lớp nhựa cứng, bên trong là một lớp

mút xốp Khi đeo vào tai, bao tai sẽ ốp chặt tai, ngăn ngừa sự ảnh hưởng của tiếng ồn tới người lao động Bao tai có khả năng giảm tiếng ồn tốt tại các giải tần số cao

Phương tiện bảo hộ hô hấp

PTBV hô hấp có thể là khẩu trang, mặt nạ để bảo vệ người lao động khi làm việc trong môi trường có bụi, chất độc, khí độc hoặc có vi trùng, virus nguy hiểm

Hình 1.7 – Khẩu trang bảo hộ

Hiện nay, trên thị trường có bán nhiều loại khẩu trang làm từ vải coton nên giá thành thấp nhưng khả năng lọc bụi thấp và không lọc được bụi có đường kính nhỏ hơn 5m - gây ra bệnh bụi phổi

Để lọc được các loại bụi nhỏ, cần phải dùng loại khẩu trang may bằng hai lớp vải, lớp bông tổng hợp hoặc bụi than hoạt tính ở giữa, có gọng nhôm kẹp để ngăn chặn bụi xâm nhập vào trong theo đường khe mũi

Trang 23

ThS Bùi Thành Tâm 22

Phương tiện bảo vệ tay

PTBV tay thường là các loại găng tay dùng để tránh nguy hiểm trực tiếp đôi tay khi gia công cơ khí, sản xuất công nghiệp, điều chế hóa học, Ngoài ra, PTBV tay bảo vệ tính mạng con người như găng tay cách điện, găng tay chống rung, găng tay chống sự ăn mòn axit, Đồng thời với tác dụng bảo đảm an toàn, găng tay còn đảm bảo các yêu cầu

- Không ảnh hưởng thao tác của người lao động

- Dễ sử dụng

- Dễ bảo quản và vệ sinh

Hình 1.8 – Găng tay bảo vệ

Phương tiện bảo vệ chân

PTBV chân là giày ủng hoặc lót ống nhằm bảo vệ ống chân, cổ chân, bàn chân của con người khi làm việc trong các khu hầm lò, sản xuất công nghiệp và bảo vệ tính mạng con người trong trường hợp làm việc với các thiệt bị điện

Có nhiều loại giày an toàn như giày chống xăng dầu mỡ, ủng cách điện, giày chống va đập, chống cứa rách, chống rung, Tùy thuộc vào tính chất,đặc điểm của từng công việc của người lao động và trang bị giày bảo hộ thích hợp, phù hợp về kích

cỡ cho người lao động

Trang 24

ThS Bùi Thành Tâm 23

Hình 1.9 – Lót ống chân và giày bảo hộ

Phương tiện bảo hộ thân thể

PTBV thân thể được dùng để bảo vệ thân thể cho công nhân khi làm trong môi

trường có nhiệt độ khắc nghiệt, bụi, các tia hồng ngoại, cực tím, chất độc,

Ngoài ra, các loại PTBVCN khác trang bị để bảo vệ người lao động khi làm việc tại các vị trí bất lợi như cứu sinh khi làm việc trên sông nước chống chế đuối, phương tiện các điện khi sửa chữa điện,

Hình 1.10 - Quần áo bảo hộ lao động

Trang thiết bị cá nhân phải được sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng nhà nước, việc cấp phát, sử dụng phải tuân theo quy định của pháp luật Người sử dụng lao động phải tiến hành kiểm tra chất lượng phương tiện bảo vệ cá nhân trước khi cấp phát và kiểm tra định kỳ theo tiêu chuẩn khi đưa vào sử dụng

1.6 TÌNH HÌNH CÔNG TÁC BHLĐ TẠI NƯỚC TA HIỆN NAY

1.6.1 Tình hình điều kiện lao động

Trình độ công nghệ và tổ chức lao động còn lạc hậu, lao động thủ công nặng nhọc chiếm tỷ lệ cao

- Nhà xưởng, máy móc thiết bị, công cụ lạo động đã sử dụng lâu năm (trên 20 -

30 năm) cũ kỹ, lạc hậu, có nguy cơ gây ra sự cố nguy hiểm và tai nạn lao động Một

số thiết bị mới nhập có nhịp điệu thao tác không phù hợp, thích nghi với đặc điểm và các chỉ tiêu nhân trắc, tâm sinh lý, Ecgônomi của người lao động Việt Nam nên không thuận tiện khi sử dụng

Trang 25

ThS Bùi Thành Tâm 24

- Nhiều cơ sở hầu như không có hệ thống kỹ thuật vệ sinh, thiết bị an toàn hoặc

có mà hư hỏng, không còn hoạt động nữa, phương tiện bảo vệ cá nhân còn thiếu và kém chất lượng

- Môi trường lao động bị ô nhiễm nghiêm trọng, các yếu tố nguy hiểm và có hại

có chỉ số rất cao, vượt giới hạn cho phép

Môi trường lao động bị ô nhiễm nghiêm trọng và các yếu tố độc hại này còn an tỏa ra ngoài - làm ô nhiễm khu dân cư, môi trường xung quanh

1.6.2 Tình hình tai nạn lao động (TNLĐ) và bệnh nghề nghiệp (BNN)

Chúng ta chưa có đủ số liệu thống kê về TNLĐ do các ngành, sở, địa phương, doanh nghiệp không thực hiện nghiêm chỉnh chế độ báo cáo TNLĐ Theo số liệu điều tra xã hội học của các đề tài cấp Nhà nước về BHLĐ trong năm 2014 trên 6700

vụ tai nạn và gần 6900 nạn nhân

Chúng ta chưa có đủ điều kiện để phát hiện và giám định số người bị bệnh nghề nghiệp ở nước ta Bệnh nghệ nghiệp chiếm tỉ lệ cao là bệnh bụi phổi silic, điếc nghề nghiệp, nhiễm độc chì Một số bệnh nghề nghiệp mới phát sinh nhưng chưa được nghiên cứu để bổ sung vào danh mục được Nhà nước bảo hiểm

1.6.3 Tình hình thực hiện các chính sách về BHLĐ

Qua những năm thực hiện Bộ luật Lao động, cùng với sự tiến bộ - phát triển của sản xuất - kinh doanh nên việc thực hiện các chính sách BHLĐ được nhiều cơ sở quan tâm thực hiện Tuy nhiên, các hiện tượng vẫn còn phổ biến, thậm chí còn phát sinh những vấn đề mới Nói chung việc thi hành pháp luật về BHLĐ vẫn chưa nghiêm, còn nhiều vi phạm và chưa được xử lý kịp thời

1.6.4 Tình hình quản lý công tác BHLĐ ở nước ta trong thời gian qua

Trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước và các cấp các ngành đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn về công tác BHLĐ, duy trì phong trào bảo đảm AT-VSLĐ, từng bước cải thiện điều kiện làm việc

Bên cạnh đó còn nhiều thiếu sót và tồn tại

- Còn nhiều nhận thức lệch lạc, xem nhẹ trong nhận thức về công tác BHLĐ; thậm chí có thái độ vô trách nhiệm và đổ lỗ cho khách quan

- Hệ thống tổ chức quản lý về BHLĐ từ Trung ương đến doanh nghiệp chưa được củng cố, chưa thống nhất - phối hợp giữa các cấp các ngành; cán bộ BHLĐ ít được bồi dưỡng, tăng cường, thậm chí còn điều chuyển sang công việc khác

- Các văn bản pháp luật về BHLĐ thiếu nhiều văn bản hướng dẫn cụ thể kèm theo nên chưa hoàn chỉnh, lạc hậu và thiếu thống nhất Hệ thống thanh tra BHLĐ chưa củng cố ngang tầm nhiệm vụ và đạo đức nghề nghiệp

Trang 26

ThS Bùi Thành Tâm 25

* Câu hỏi ôn tập

1 Hãy trình bày mục đích, ý nghĩa, tính chất, đối tƣợng và nội dung nghiên cứu của công tác bảo hộ lao động

2 Hãy nêu những yếu tố gây nguy hiểm - tai nạn lao động trong thực tế và những biện pháp phòng ngừa những yếu tố trên

Trang 27

ThS Bùi Thành Tâm 26

CHƯƠNG 2

KỸ THUẬT AN TOÀN ĐIỆN

Mục tiêu

Sau khi học chương 2, sinh viên sẽ đạt được những kiến thức sau

- Phân tích những yếu tố của dòng điện tác động đến cơ thể con người;

- Nhận diện được những tai nạn điện có thể xảy ra;

- Vận dụng được những biện pháp an toàn điện vào thực tế;

- Áp dụng biện pháp chống sét vào đời sống;

- Nhận biết tác hại và vận dụng những biện pháp phòng chống trường điện từ tần

số cao;

- Vận dụng biện pháp cấp cứu người bị điện giật trong tai nạn lao động

2.1 TÁC DỤNG CỦA DÕNG ĐIỆN ĐỐI VỚI CƠ THỂ CON NGƯỜI

Người bị điện giật là do tiếp xúc với mạch điện có điện áp hoặc do có dòng điện

chạy qua cơ thể người Dòng điện chạy qua cơ thể người sẽ gây ra các tác dụng sau đây

- Tác dụng nhiệt: làm cháy bỏng thân thể, thần kinh, tim não và các cơ quan nội

tạng khác gây ra các rối loạn nghiêm trọng về chức năng

- Tác dụng điện phân: biểu hiện ở việc phân ly máu và các chất lỏng hữu cơ dẫn

đến phá huỷ thành phần hoá lý của máu và các tế bào

Tim ngừng đập là trường hợp nguy hiểm nhất và thường cứu sống nạn nhân hơn

là ngừng thở và sốc điện Tác dụng dòng điện đến cơ tim có thể gây ra ngừng tim

hoặc rung tim Rung tim là hiện tượng co rút nhanh và lộn xộn các sợi cơ tim làm cho

các mạch máu trong cơ thể bị ngừng hoạt động dẫn đến tim ngừng đập hoàn toàn Ngừng thở thường xảy ra nhiều hơn so với ngừng tim, người ta thấy bắt đầu khó thở do sự co rút do có dòng điện 20mA - 25mA tần số 50Hz chạy qua cơ thể Nếu dòng điện tác dụng lâu thì sự co rút các cơ lồng ngực mạnh thêm dẫn đến ngạt thở,

Trang 28

ThS Bùi Thành Tâm 27

dần dần nạn nhân mất ý thức, mất cảm giác rồi ngạt thở cuối cùng tim ngừng đập và chết lâm sàng

Sốc điện là phản ứng phản xạ thần kinh đặc biệt của cơ thể do sự hưng phấn

mạnh bởi tác dụng của dòng điện dẫn đến rối loạn nghiêm trọng tuần hoàn, hô hấp và quá trình trao đổi chất Tình trạng sốc điện kéo dài độ vài chục phút cho đến một ngày đêm, nếu nạn nhân được cứu chữa kịp thời thì có thể bình phục

Hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau trong việc xác định nguyên nhân đầu tiên

và quan trọng nhất dẫn đến chết người

- Ý kiến thứ nhất cho rằng đó là do tim ngừng đập song loại

- Ý kiến thứ hai lại cho rằng đó là do phổi ngừng thở vì theo họ trong nhiều trường hợp tai nạn điện giật thì nạn nhân đã được cứu sống chỉ đơn thuần bằng biện pháp hô hấp nhân tạo thôi

- Ý kiến thứ ba cho rằng khi có dòng điện qua người thì đầu tiên nó phá hoại hệ thống hô hấp sau đó nó làm ngừng trệ hoạt động tuần hoàn Do có nhiều quan điểm khác nhau như vậy nên hiện nay trong việc cứu chữa nạn nhân bị điện giật người ta khuyên nên áp dụng tất cả các biện pháp để vừa phục hồi hệ thống hô hấp (thực hiện

hô hấp nhân tạo) vừa phục hồi hệ thống tuần hoàn (xoa bóp tim)

2.2 NHỮNG YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÁC HẠI CỦA DÕNG ĐIỆN ĐỐI VỚI CƠ THỂ NGƯỜI

2.2.1 Điện trở cơ thể người

Thân thể người ta gồm có da thịt xương máu tạo thành và có một tổng trở nào

đó đối với dòng điện chạy qua người Lớp da có điện trở lớn nhất mà điện trở của da

là do điện trở của lớp sừng trên da quyết định Điện trở của người là một đại lượng rất không ổn định và không chỉ phụ thuộc vào trạng thái sức khoẻ của cơ thể người từng lúc mà còn phụ thuộc vào môi trường xung quanh, điều kiện tổn thương

Qua nghiên cứu rút ra một số kết luận cơ bản về giá trị điện trở cơ thể người như sau

- Điện trở cơ thể người là một đại lượng không thuần nhất Thí nghiệm cho thấy dòng điện đi qua người và điện áp đặt vào có sự lệch pha Sơ đồ thay của điện trở người có thể biểu diển bằng hình vẽ sau

trong đó R1: điện trở tác dụng của da

Trang 29

ThS Bùi Thành Tâm 28

R2: điện trở của tổng các bộ phận bên trong cơ thể người

C: điện dung của da và lớp thịt dưới da

Vì thành phần điện dung rất bé nên trong tính toán thường bỏ qua

- Điện trở của người luôn luôn thay đổi trong một phạm vi rất lớn từ 600Ω đến vài chục ngàn Ω Trong tính toán thường lấy giá trị trung bình là 1000Ω Khi da bị

ẩm hoặc khi tiếp xúc với nước hoặc do mồ hôi đều làm cho điện trở người giảm xuống

- Điện trở của người phụ thuộc vào áp lực và diện tích tiếp xúc Áp lực và diện tích tiếp xúc càng tăng thì điện trở người càng giảm

- Điện trở người giảm đi khi có dòng điện đi qua người, giảm tỉ lệ với thời gian tác dụng của dòng điện Điều này có thể giải thích vì da bị đốt nóng và có sự thay đổi

về điện phân

- Điện trở người phụ thuộc điện áp đặt vào vì ngoài hiện tượng điện phân còn có hiện tượng chọc thủng Khi điện áp đặt vào 250V lúc này lớp da ngoài cùng mất hết tác dụng nên điện trở người giảm xuống rất thấp

Bảng 2.1 - Điện trở của người phụ thuộc trạng thái của da

Điện áp

(V)

Điện trở của người (Ω)

Cường độ dòng điện (mA)

Điện trở của người (Ω)

Cường độ dòng điện (mA)

Trang 30

ThS Bùi Thành Tâm 29

2.2.2 Ảnh hưởng của trị số dòng điện giật đến tai nạn điện

Dòng điện là nhân tố vật lý trực tiếp gây tổn thương khi bị điện giật Cho tới nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về giá trị dòng điện có thể gây nguy hiểm chết người Trường hợp chung thì dòng điện 100mA xoay chiều gây nguy hiểm chết người Tuy vậy cũng có trường hợp dòng điện chỉ khoảng 5mA - 10mA đã làm chết người bởi vì còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa như điều kiện nơi xảy ra tai nạn, sức khoẻ trạng thái thần kinh của từng nạn nhân, đường đi của dòng điện

Trong tính toán thường lấy trị số dòng điện an toàn là 10mA đối với dòng điện xoay chiều và 50mA với dòng điện một chiều

Bảng 2.2 - Ảnh hưởng của trị số dòng điện đến cơ thể con người

2 - 3 Ngón tay tê rất mạnh Không có cảm giác gì

3 - 7 Bắp thịt co lại và rung Đau như kim châm cảm thấy

Cơ quan hô hấp bị tê liệt

Trang 31

ThS Bùi Thành Tâm 30

Hình 2.1 - Ảnh hưởng của trị số dòng điện đến cơ thể con người

Điện áp tiếp xúc càng cao càng nguy hiểm, dòng xoay chiều nguy hiểm hơn dòng một chiều Dòng xoay chiều có tần số 50Hz – 60Hz là nguy hiểm nhất, tần số càng cao hơn càng ít nguy hiểm, khi tần số 500000Hz sẽ không gây giật nhưng có thể

bị bỏng

Bảng 2.3 - Điện áp tiếp xúc lớn nhất cho phép theo thời gian

Điện áp xoay chiều (V) Điện áp một chiều (V) Thời gian tiếp xúc (s)

2.2.3 Đường đi của dòng điện giật ảnh hưởng đến tai nạn điện

Dòng điện trong cơ thể không đi theo một bộ phận nhất định của cơ thể mà phân nhánh theo nhiều bộ phận khác nhau tuỳ thuộc vào vị trí của người chạm với vật mang điện Tuy vậy có những đường đi cơ bản thường gặp là: dòng qua tay - chân, tay - tay, chân - chân Một vấn đề còn tranh cải là đường đi nào là nguy hiểm nhất

Trang 32

ThS Bùi Thành Tâm 31

Đa số các nhà nghiên cứu cho rằng đường đi nguy hiểm nhất phụ thuộc vào số phần trăm dòng điện tổng qua tim và phổi Theo quan điểm này thì dòng điện đi từ tay phải qua chân, đầu qua chân, đầu qua tay là những đường đi nguy hiểm nhất vì

- Dòng đi từ tay qua tay có 3,3% dòng điện tổng qua tim

- Dòng đi từ tay trái qua chân có 3,7% dòng điện tổng qua tim

- Dòng đi từ tay phải qua chân có 6,7% dòng điện tổng qua tim

- Dòng đi từ chân qua chân có 0,4% dòng điện tổng qua tim

- Dòng đi từ đầu qua tay có 7,0% dòng điện tổng qua tim

- Dòng đi từ đầu qua chân có 6,8% dòng điện tổng qua tim

2.2.4 Thời gian của dòng điện giật di chuyền qua người ảnh hưởng đến tai nạn điện

Yếu tố thời gian tác động của dòng điện vào cơ thể người rất quan trọng và biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau

- Thời gian tác dụng của dòng điện ảnh hưởng đến điện trở của người Thời gian tác dụng càng lâu, điện trở của người càng bị giảm xuống vì lớp da bị nóng dần và lớp sừng trên da bị chọc thủng càng nhiều

- Thời gian tác dụng của dòng điện càng lâu thì xác suất trùng hợp với thời điểm chạy qua tim với pha T (là pha dễ thương tổn nhất của chu trình tim) tăng lên Hay nói một cách khác trong mỗi chu kỳ của tim kéo dài độ một giây có 0,4giây tim nghỉ làm việc (giữa trạng thái co và giãn) ở thời điểm này tim rất nhạy cảm với dòng điện

t (giây) là thời gian dòng điện qua người

Diện tích tiếp xúc càng lớn thì cường độ dòng điện càng lớn Áp lực tiếp xúc càng lớn thì dòng điện cũng càng lớn

2.2.5 Tần số của dòng điện giật ảnh hưởng đến tai nạn điện

Theo lý luận thông thường thì khi tần số f tăng lên thì tổng trở cơ thể người giảm xuống vì điện kháng của da người do điện dung tạo ra, dẫn đến dòng điện tăng

Trang 33

ThS Bùi Thành Tâm 32

càng nguy hiểm Tuy nhiên qua thực tế và nghiên cứu người ta thấy rằng tần số nguy hiểm nhất là từ 50Hz - 60Hz Nếu tần số lớn hơn tần số này thì mức độ nguy hiểm giảm còn nếu tần số bé hơn thì mức độ nguy hiểm cũng giảm

Có thể giải thích như sau: Lúc đặt dòng điện một chiều vào tế bào, các phần tử trong tế bào bị phân thành những ion khác dấu và bị hút ra màng tế bào Như vậy phân tử bị phân cực hoá, các chức năng sinh vật hoá học của tế bào bị phá hoại đến mức độ nhất định Bây giờ nếu nguồn điện là mguồn điện xoay chiều vào thì ion chạy theo hai chiều khác nhau ra phía ngoài của màng tế bào Nhưng khi dòng điện đổi chiều thì chuyển động của ion cũng ngược lại Với tần số nào đó của dòng điện, tốc

độ của ion đủ lớn để trong một chu kỳ chạy được hai lần bề rộng của tế bào thì trường hợp này mức độ kích thích lớn nhất, chức năng sinh vật - hoá học của tế bào

bị phá hoại nhiều nhất Nếu dòng điện có tần số cao thì khi dòng điện đổi chiều thì ion chưa kịp đập vào màng tế bào

Khi nghiên cứu tác hại của dòng điện một chiều đối với con người điện trở của con người khi bị dòng điện 1 chiều tác động lớn hơn điện trở của con người khi bị dòng điện xoay chiều tác động Nghiên cứu thấy rằng khi dòng điện một chiều lớn hơn 80mA mới ảnh hưởng đến tim và cơ quan hô hấp của con người

2.2.6 Điện áp tiếp xúc và điện áp bước

* Dòng điện đi vào trong đất

Khi cách điện của thiết bị hư hỏng, nếu vỏ thiết bị được nối đất sẽ có dòng điện

đi vào trong đất và tạo nên xung quanh điện cực nối đất một vùng có dòng điện rò và điện áp phân bố trong đất

Xét dòng điện đi vào một điện cực hình bán cầu đặt trong đất có tính chất thuần nhất và điện trở suất là ρ, dòng điện sẽ phân bố đều trong đất theo mọi hướng tức là mật độ dòng điện tại những điểm cách đều điểm chạm đất là như nhau Hay nói cách khác, vùng đất xung quanh điểm dây chạm đất sẽ xuất hiện các mặt đẳng thế, trên mặt đất có các vòng đẳng thế

Mật độ dòng điện tại điểm cách tâm bán cầu một khoảng x

trong đó Id là dòng điện đi vào trong đất

2..x2 là diện tích của bán cầu có bán kính là x

Xét một lớp đất có độ dầy là dx, theo hình mặt cầu bán kính x thì trên đó có một điện áp là

Trang 34

ThS Bùi Thành Tâm 33

Điện áp tại mỗi điểm quanh điện cực nối đất càng xa thì điểm nối đất điện áp càng giảm

Bằng thực nghiệm có 68% điện áp rơi trong phạm vi 1 m

24% điện áp rơi trong khoảng (1 - 10)m

Cách xa hơn 20m, điện áp coi như bằng 0

Điện trở nối đất chính là điện trở của khối đất nửa bán cầu có bán kính là 20m Nếu có điện áp đặt lên thiết bị nối đất Rđ là Ud thì dòng điện đi vào trong đất Id

được xác định

Hình 2.2 - Phân bố điện áp tiếp xúc và điện áp bước

khi dòng điện gặp sự cố chạy vào trong đất

* Điện áp tiếp xúc

Trong quá trình tiếp xúc với thiết bị điện, nếu có mạch điện khép kín qua người, điện áp giáng lên người lớn hay nhỏ là tuỳ thuộc vào điện trở khác mắc nối tiếp với người

Điện áp đặt vào người (tay - chân) khi người chạm phải vật có mang điện áp (hoặc điện áp giữa tay người khi chạm vào vật có mang điện áp và đất nơi người

đứng) gọi là điện áp tiếp xúc

Vì chúng ta nghiên cứu an toàn trong điều kiện chạm vào một pha là chủ yếu cho nên có thể xem điện áp tiếp xúc là thế giữa hai điểm trên đường dòng điện đi mà người có thể chạm phải

Trang 35

ThS Bùi Thành Tâm 34

Hình 2.3 - Phân bố điện áp tiếp xúc

Hai thiết bị điện (động cơ, máy sản xuất ) được nối với vật nối đất có điện trở đất là Rd Giả sử cách điện của một pha của thiết bị 1 bị chọc thủng và có dòng điên chạm đất đi từ vỏ thiết bị vào đất qua vật nối đất Lúc này, vật nối đất cũng như vỏ các thiết bị có nối đất đều mang điện áp đối với đất là

Tay người chạm vào thiết bị nào cũng đều có điện áp là Uđ trong lúc đó điện áp của chân người Ux lại phụ thuộc người đứng tức là phụ thuộc vào khoảng cách từ chỗ đứng đến vật nối đất Kết quả là người bị tác động của hiệu số điện áp đặt vào tay và chân, đó là điện áp tiếp xúc

trong đó Id là dòng điện đi vào trong đất,

Rd là điện trở nối đất

Ux là điện áp tại điểm cách cực nối đất một khoảng là x

Từ biểu thức, điện áp tiếp xúc càng lớn khi người đứng càng xa cực tiếp đất Nếu người đứng cách xa vật 20m thì Ux = 0, do đó điện áp tiếp xúc bằng với điện áp của cực tiếp đất Ud

* Điện áp bước

Sự phân bố thế của các điểm trên mặt đất lúc có pha chạm đất (do dây dẫn 1 pha rớt chạm đất hay cách điện một pha của thiết bị điện bị chọc thủng )

Ta biết điện áp đối với đất ở chỗ trực tiếp chạm đất là

- Điện áp của các điểm trên mặt đất đối với đất ở cách xa chổ chạm đất từ 20m trở lên có thể xem bằng không

- Những vòng tròn đồng tâm (với tâm điểm là chỗ chạm đất chính) thì đẳng thế

Trang 36

ThS Bùi Thành Tâm 35

- Khi người đứng trên mặt đất thường 2 chân ở 2 vị trí khác nhau, nên người sẽ phải chịu sự chênh lệch giữa hai điện thế khác nhau Ux và Ux+a và sẽ có dòng điện qua người Điện áp đặt lên người phụ thuộc vào khoảng cách bước chân nên được gọi

là điện áp bước

( )

trong đó a là độ dài của bước chân 0,4m ÷ 0,8m

x là khoảng cách đến chỗ chạm đất

Hình 2.4 – Minh họa điện áp bước

Điện áp bước bằng 0 khi đứng ở khoảng cách xa hơn 20m hoặc 2 chân cùng đứng trên vòng tròn đẳng thế

Hình 2.5 – Phân bố điện áp bước

Trang 37

ThS Bùi Thành Tâm 36

2.2.7 Tính chất môi trường

Môi trường xung quanh như bụi, độ ẩm, nhiệt độ,… ảnh hưởng rất lớn đến tại nạn điện giật nên theo quy định an toàn điện nơi đặt thiết bị điện được chia ra

* Môi trường nguy hiểm: là nơi có một trong các yếu tố sau

- Ẩm (độ ẩm tương đối của không khí vượt quá 75% trong thời gian dài)

- Bụi dẫn điện (bụi dẫn điện bám vào dây dẫn, hoặc lọt vào trong thiết bị điện)

- Nền, sàn nhà dẫn điện (sàn bằng kim loại, đất, bê tông cốt thép hoặc gạch)

- Nhiệt độ cao (nhiệt độ vượt quá 35OC trong thời gian dài hơn 1 ngày đêm)

- Những nơi mà người đồng thời tiếp xúc với các kết cấu kim loại của nhà cửa, máy móc, thiết bị…đã được nối đất đối với vỏ kim loại của các thiết bị điện

* Môi trường đặc biệt nguy hiểm là nơi có 1 trong các yếu tố sau

- Rất ẩm: độ ẩm tương đối của không khí xấp xỉ 100% (trần, tường, sàn nhà và

đồ vật trong nhà có đọng sương)

- Môi trường có hoạt tính hoá học: thường xuyên hay trong thời gian dàichứa hơi, khí,chất lỏng có thể dẫn đến phá huỷ cách điện và các bộ phận mang điện của thiết bị điện

- Đồng thời có từ hai hoặc nhiều hơn các yếu tố của nơi nguy hiểm đã kể ở trên, (như vừa ẩm vừa có sàn nhà dẫn điện)

* Nơi it nguy hiểm: là nơi không thuộc 2 loại trên

2.2.8 Điện áp cho phép

Trị số dòng điện qua người là yếu tố quan trọng nhất gây ra tai nạn chết người nhưng dự đoán trị số dòng điện qua người trong nhiều trường hợp không thể làm được bởi vì ta biết rằng trị số đó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khó xác định được

Vì vậy, xác định giới hạn an toàn cho người không đưa ra khái niệm “dòng điện an toàn”, mà theo khái niệm “điện áp cho phép” Dùng “điện áp cho phép” rất thuận lợi

vì với mỗi mạng điện thường có một điện áp tương đối ổn định đã biết Cũng cần nhấn mạnh rằng “điện áp cho phép” ở đây cũng có tính chất tương đối, đừng nghĩ rằng “điện áp cho phép" là an toàn tuyệt đối với người vì thực tế đã xảy ra nhiều tai nạn điện nghiêm trọng ở các cấp điện áp rất thấp

Tùy theo mỗi bước mà điện áp cho phép qui định khác nhau

- Ba Lan, Thụy Sĩ, Tiệp Khắc: điện áp cho phép là 50V

- Hà Lan, Thụy Điển: điện áp cho phép là 24V

- Pháp: điện áp cho phép là là 24V

Trang 38

Tai nạn điện thường xảy ra trong những trường hợp sau

- Chạm trực tiếp vào vật mang điện

- Chạm vào các vật mang điện khi có sự cố về điện (chạm điện gián tiếp)

U là điện áp chạm phải

Rng là điện trở của người

Rcd là điện trở của thiết bị cách điện hoặc biện pháp cách ly

2.3.1 Mạng điện 1 pha

* Mạng điện 1 pha cách điện đối với đất

Xét mạng điện một pha cách điện đối với đất, trong mạng điện này mỗi pha ngoài điện trở cách điện (tác dụng) R1, R2 còn có điện dung đối với đất C1, C2

Hình 2.6 - Người chạm vào một dây của mạng điện một pha

Điện dẫn toàn phần của mỗi pha đối với đất

̇ ̇

Trang 39

̇ ̇

̇ ̇ ̇

̇ ̇ ̇ Trong mạng điên

̇ ̇ ̇

̇ ̇ Suy ra

̇ ̇ ̇

̇ hoặc dòng điện qua người Ing

̇ ̇

̇

* Mạng điện 1 pha có trung tính trực tiếp nối đất

Chạm vào một dây trong mạng một pha

Trang 40

ThS Bùi Thành Tâm 39

Ở trạng thái làm việc bình thường với tải Z t

Nếu người chạm vào pha cách điện đối với đất một cách gần đúng có thể xác định dòng qua người

̇

Nếu người chạm vào pha nối đất thì dòng qua người

̇

trong đó Zd là tổng trở đoạn dây từ người đến chỗ chạm

∆U là điện áp rơi trên đoạn từ nguồn đến chỗ người chạm vào dây

lZ là khoảng cách từ nguồn đến vị trí người chạm vào dây

ld là khoảng cách từ nguồn đến điểm ngắn mạch

2.3.2 An toàn điện trong mạch điện 3 pha

Ta xét mạng điện tổng quát là mạng điện 3 pha 4 dây có trung tính nối đất qua điện trở R0 và điện kháng Xl

Hình 2.8 - Mạng điện tổng quát 3 pha 4 dây

Ngày đăng: 22/10/2022, 01:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 - Sự liên quan của các ngành khoa học - kỹ thuật trong khoa học lao động - SÁCH HƯỚNG DẪN HỌC TẬP AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP
Hình 1.1 Sự liên quan của các ngành khoa học - kỹ thuật trong khoa học lao động (Trang 9)
Hình 1. 3- Nhân trắc học của ngƣời lao động khi làm việc với các tƣ thế khác nhau - SÁCH HƯỚNG DẪN HỌC TẬP AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP
Hình 1. 3- Nhân trắc học của ngƣời lao động khi làm việc với các tƣ thế khác nhau (Trang 11)
Hình 1. 2- Nhân trắc học của ngƣời lao động khi đứng và ngồi - SÁCH HƯỚNG DẪN HỌC TẬP AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP
Hình 1. 2- Nhân trắc học của ngƣời lao động khi đứng và ngồi (Trang 11)
Hình 1.9 – Lót ống chân và giày bảo hộ - SÁCH HƯỚNG DẪN HỌC TẬP AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP
Hình 1.9 – Lót ống chân và giày bảo hộ (Trang 24)
Bảng 2.1 - Điện trở của ngƣời phụ thuộc trạng thái của da - SÁCH HƯỚNG DẪN HỌC TẬP AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP
Bảng 2.1 Điện trở của ngƣời phụ thuộc trạng thái của da (Trang 29)
Bảng 2. 2- Ảnh hƣởng của trị số dòng điện đến cơ thể con ngƣời - SÁCH HƯỚNG DẪN HỌC TẬP AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP
Bảng 2. 2- Ảnh hƣởng của trị số dòng điện đến cơ thể con ngƣời (Trang 30)
Bảng 2. 3- Điện áp tiếp xúc lớn nhất cho phép theo thời gian - SÁCH HƯỚNG DẪN HỌC TẬP AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP
Bảng 2. 3- Điện áp tiếp xúc lớn nhất cho phép theo thời gian (Trang 31)
Hình 2.1 - Ảnh hƣởng của trị số dòng điện đến cơ thể con ngƣời - SÁCH HƯỚNG DẪN HỌC TẬP AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP
Hình 2.1 Ảnh hƣởng của trị số dòng điện đến cơ thể con ngƣời (Trang 31)
Hình 2. 2- Phân bố điện áp tiếp xúc và điện áp bƣớc - SÁCH HƯỚNG DẪN HỌC TẬP AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP
Hình 2. 2- Phân bố điện áp tiếp xúc và điện áp bƣớc (Trang 34)
Hình 2.4 – Minh họa điện áp bƣớc - SÁCH HƯỚNG DẪN HỌC TẬP AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP
Hình 2.4 – Minh họa điện áp bƣớc (Trang 36)
Hình 2.5 – Phân bố điện áp bƣớc - SÁCH HƯỚNG DẪN HỌC TẬP AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP
Hình 2.5 – Phân bố điện áp bƣớc (Trang 36)
Hình 2.7 - Ngƣời chạm vào một dây của mạng điện một pha có trung tính trực tiếp - SÁCH HƯỚNG DẪN HỌC TẬP AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP
Hình 2.7 Ngƣời chạm vào một dây của mạng điện một pha có trung tính trực tiếp (Trang 39)
Hình 2.11 - Chạm vào một pha trong khi pha khác chạm đất - SÁCH HƯỚNG DẪN HỌC TẬP AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP
Hình 2.11 Chạm vào một pha trong khi pha khác chạm đất (Trang 43)
AN TỒN LAO ĐỘNG VÀ MƠI TRƢỜNG CƠNG NGHIỆP - SÁCH HƯỚNG DẪN HỌC TẬP AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP
AN TỒN LAO ĐỘNG VÀ MƠI TRƢỜNG CƠNG NGHIỆP (Trang 45)
AN TỒN LAO ĐỘNG VÀ MƠI TRƢỜNG CƠNG NGHIỆP - SÁCH HƯỚNG DẪN HỌC TẬP AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP
AN TỒN LAO ĐỘNG VÀ MƠI TRƢỜNG CƠNG NGHIỆP (Trang 46)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm