1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chuyên đề 4 NGHỀ ĐÓNG THUYỀN VÀ ĐAN LƯỚI Ở BIỂN ĐẢO VIỆT NAM MIỀN ĐÔNG NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX

94 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghề Đóng Thuyền Và Đan Lưới Ở Biển Đảo Việt Nam Miền Đông Nam Bộ Đầu Thế Kỷ XX
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

53 Chuyên đề 4 NGHỀ ĐÓNG THUYỀN VÀ ĐAN LƯỚI Ở BIỂN ĐẢO VIỆT NAM MIỀN ĐÔNG NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX 4 1 Đặt vấn đề Đông Nam Bộ là một vùng có hệ thống sông ngòi chằng chịt nối liền với Biển Đông đi sâu vào.

Trang 1

Vì có những điều kiện tự nhiên thuận lợi ấy nên trong đời sống của cộng đồng

cư dân biển Đông Nam Bộ từ xa xưa hoạt động đánh bắt cá dường như là hoạt động quan trọng, chỉ xếp sau canh tác nông nghiệp Người nông dân sau công việc đồng áng, tìm mọi cách thức để đánh bắt cá, tôm làm thức ăn Bữa ăn hàng ngày của cư dân thường chỉ có cá kho, mắm cái làm thực phẩm chính, các loại thực phẩm khác từ chăn nuôi gia cầm thường chỉ được dùng trong những ngày lễ, tết hoặc ở những gia đình khá giả Thời xa xưa dân cư thưa thớt, thiên nhiên chưa bị tàn phá, rừng cây, nguồn nước dồi dào, sông hồ, ao đìa quanh năm có nước cho nên tôm cá sinh trưởng tự nhiên ở khắp các vùng nước, như người ta thường nói “có nước là có cá”

Thời kỳ đầu, việc đánh bắt tôm cá như một nhu cầu sinh tồn tự nhiên của mỗi người, mỗi gia đình, mang tính tự túc, tự cấp, chưa phải là một hoạt động sản xuất mang tính xã hội Ngư cụ đánh bắt thô sơ từ “mò cua bắt cá” bằng tay, thả lờ, đặt nơm, câu tay, cho đến dùng lưới bắt cá như lưới bén, quăng chài, kéo vó…để đánh bắt các loại thủy sản Tuy nhiên, ngư cụ và kỹ thuật khai thác còn thô sơ, chưa được cải tiến, nên năng suất và hiệu quả chưa cao Mặt dù vậy, các loại ngư cụ thủ công cổ truyền vẫn được sử dụng rộng rãi phổ biến ở các vùng nước nông và vùng nước nội địa như

ao, hồ, đầm, sông, ven biển Kết cấu và kỹ thuật khai thác của mỗi một loại ngư cụ truyền thống cũng khác nhau, không theo một tiêu chuẩn kỹ thuật nào mà phụ thuộc vào kinh nghiệm của người dân địa phương

Cùng với sự phát triển của nghề đánh bắt cá dẫn đến sự phát triển của nghề đan lưới, thì các hoạt động giao lưu buôn bán, đi lại… cũng tạo điều kiện thúc đẩy nghề đóng ghe thuyền phát triển Do đó, trước thế kỷ XX nghề đóng thuyền và đan lưới ở Đông Nam Bộ khá phát triển, đặc biệt là nghề đóng ghe thuyền

Trang 2

Như vậy, bên cạnh việc phục vụ đánh bắt hải sản, nhu cầu đi lại, giao thương buôn bán thì nghề đóng thuyền ở Đông Nam Bộ trước thế kỷ XX rất phát triển còn do được sử dụng nhiều làm chiến thuyền và bán ra nước ngoài Trên phương diện kỹ thuật, việc cư dân Đông Nam Bộ có thể đóng nhiều loại thuyền, trong đó có chiến thuyền, đã cho thấy truyền thống, khả năng đi biển, chinh phục và làm chủ biển khơi của người Việt Do có tri thức biển, thông hiểu kỹ thuật chế tác và có những nguồn gỗ quý (gỗ tếch, gỗ sao ) nên thuyền, không chỉ là phương tiện vận chuyển, đi lại, bảo vệ

an ninh mà thực sự còn là một loại hàng hóa

Các nguồn tư liệu trong nước, quốc tế cho thấy, trong từng không gian biển, cư dân Đông Nam Bộ đã biết chế tạo ra các loại thuyền đi biển phù hợp Cùng với các luồng di cư, truyền thống đóng thuyền của cư dân vùng biển đã được tiếp nối, phát

triển sáng tạo ở các trung tâm đóng tàu, thuyền nổi tiếng ở Đông Nam Bộ

4.2 Nghề đóng thuyền ở Đông Nam Bộ đầu thế kỷ XX

Đông Nam Bộ là địa bàn người Việt đến cư ngụ đầu tiên trong quá trình Nam tiến khai khẩn vùng đất phía Nam của ông cha ta Cuối thế kỷ XVII, người Việt đã định cư ở xứ này Mô Xoài, là vùng đất địa đầu, một thời nổi tiếng giàu có, gạo tốt

nước trong: “Cơm Nai-Rịa, cá Rí-Rang” như dân gian vẫn lưu truyền Liên tục trong

nhiều thế kỷ, những cư dân từ miền Trung đến Đông Nam Bộ, cùng đồng bào các dân tộc bản địa đoàn kết một lòng, dựng làng, mở cõi, tạo nên những cánh đồng rộng lớn, xóm làng trù phú, xanh tươi

Trong sách Phủ biên tạp lục (1776), Lê Qúy Đôn đã phản ánh về Đông Nam Bộ,

đặc biệt là Sài Gòn, Vũng Tàu, Đồng Nai đã là một đầu mối giao thông, nơi dừng chân của các thương thuyền, là đầu mối thông tin thương mại, giúp cho các thương nhân nắm được tình hình sản xuất và nhu cầu của vùng đất Nam Bộ

Sách Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn) cũng cho biết, từ đầu

đời Trung hưng (1788), chúa Nguyễn đã cho lập Phong hỏa đài (đài quan sát, truyền tin) ở núi Ngọa Ngưu ở Vũng Tàu (vị trí của Bạch Dinh bây giờ) để bảo vệ cửa biển và bán đảo quan trọng này

Từ vị thế địa lý và lịch sử mở đất Đàng Trong cho thấy nghề đóng thuyền ở Đông Nam Bộ vốn là nghề truyền thống của cộng đồng ngư dân miền Trung theo bước chân Nam tiến du nhập vào Những làng đóng thuyền ở đây đã tồn tại qua ít nhất ba thế

kỷ Từ khoảng thế kỷ XVIII, nơi này đã trở thành thương cảng lớn của xứ Đàng Trong

Trang 3

Khách buôn người Hoa, người Nhật, người Pháp đã đến tấp nập Các thương thuyền của người Bồ Đào Nha, người Hà Lan, Pháp, Anh cũng cập bến Sài Gòn, Vũng Tàu

Một số ghi chép của người ngoài về nghề đóng thuyền và những hoạt động đi lại, giao lưu buôn bán của Đông Nam Bộ và xứ Đàng Trong nói chung, trước thế kỷ

XX như sau: “Thuyền của người Đàng Trong tới đây (Singapore – TG chú thích) trên đường đi Bengal Thông tin này chúng tôi xác minh được từ người phiên dịch của một trong các thuyền, một người bản xứ Macao nói giỏi tiếng Bồ Đào Nha và Mã Lai… trên mỗi thuyền có 80 thuỷ thủ và 10 viên chức các cấp khác nhau bao gồm hai thuyền trưởng - một chịu trách nhiệm về thuyền, một về hàng hoá Họ quen với việc sử dụng

la bàn và có hải đồ của Anh… thuyền buồm của người Đàng Trong… mới đây được đóng và hạ thuỷ ở Đàng Trong, dưới sự hướng dẫn của một người Âu định cư ở đó Ông ta nói người Đàng Trong có 10 thuyền buồm vuông tất cả, một số trong đó được

sử dụng làm thuyền chiến hay là tuần dương hạm”.68 Hoặc thuyền của Đàng Trong cũng thường xuyên có mặt ở Macao: “Mới đây tại Macao, một chiến thuyền đo chừng

400 tấn69, dài khoảng 28 mét với xà dài 6m… Thân của con thuyền được đóng bằng gỗ tếch và hình như được ghép rất chặt Cột buồm được làm rất tốt mặc dù cột và dây buồm chưa có một tỷ lệ tốt Một lá cờ mang chữ “khâm sai triều đình” được treo ở đuôi thuyền.” 70 John White là một thương nhân người Mỹ tới Việt Nam măn 1820 Ông phê phán gần như mọi mặt của xã hội Việt Nam nhưng lại có một đánh giá cao khác thường về những con thuyền ông thấy: “Khoảng 50 thuyền buồm được đóng một phần theo kiểu châu Âu: đuôi của chúng hoàn toàn là châu Âu trong khi mũi là một sự pha trộn giữa châu Âu và kiểu dáng An Nam… Có lẽ Đàng Trong, trong tất cả các cường quốc ở châu Á, là thích ứng tốt nhất với cuộc phiêu lưu trên biển” 71

Trong tác phẩm Hạ Môn sử - Hạ Môn là thành phố ven biển của Trung Quốc

nhìn ra eo biển Đài Loan – đã chép lại hoạt động Đàng Trong qua tầm nhìn một người châu Âu năm 1833: “Vào buổi chiều, một thuyền của người Đàng Trong từ An Nam tiến vào sông, chất đầy muối và lúa gạo Thuyền có sức chứa khoảng 50 tấn 72, đóng theo kiểu châu Âu Ngoại trừ thuyền đánh cá của người Batavia, nó rõ rằng thích ứng

68 Biên niên Singapore, 25 tháng 3, 1830, số 157, tr 1 Dẫn theo Xưa và Nay, số 131, tháng 1/2003, tr 21-23

69 Đơn vị đo kích cỡ của một con thuyền (1 tấn = 30 mét khối)

70 “Quan hệ giữa Mỹ và Đàng Trong”, Chinese Repository, tập 5, tháng 4, 1837, số 4

71 John White, Hành trình tới Đàng Trong, (Kuala Lumpur: Oxford Univertity Press, 1972), tr 265

72 Đơn vị đo lượng hàng một con thuyền có thể chở (1 tấn = 12 mét khối)

Trang 4

nhất cho những chuyến đi nhanh so với mọi thuyền bản địa tôi từng nhìn thấy cho đến nay”73

Theo thống kê của J Barrow đến năm 1800 tổng số binh lính trong lực lượng hải quân của nhà Nguyễn lên tới 26.800 người gồm có: 800 người làm việc trong xưởng thuốc súng, 8.000 người là thủy thủ, 1.200 làm việc trên thuyền kiểu châu Âu, 1.600 người trên thuyền mành, 800 người trên 100 thuyền galê So với số quân trên bộ là 113.000 người, lực lượng lính thủy chiếm gần một phần tư tổng số quân lính của nhà Nguyễn74

“Tại Sài Gòn, hoạt động buôn bán trên bến dưới thuyền tấp nập:

Thuyền bắc nam lui tới,

Ghe đen mũi, ghe vàng mũi, ra vào coi lòa nước

Người đông, tây qua lại,

Tàu xanh mang, tàu đỏ mang, hàng hóa chất ngất trời

Người các nơi đến làm ăn buôn bán không chỉ là người Việt mà còn có người

Âu, Phi, An da đen và nhiều hơn cả là người Tàu:

Lũ Tây dương da trắng bạc,

Mồm giớn giác, miệng xếch xác, hình vóc khác,

Quân Ô rồ mặt đen thui

Thể lọ nồi, đâu quân riết, miệng trớt môi,

In thiên bồng, thiên tướng, thiên lôi”.75

Những thông tin nêu trên cho thấy nghề đóng tàu thuyền ở Đàng Trong phát triển rất mạnh trong những năm trước thế kỷ XX Vậy thuyền Đàng Trong được đóng ở đâu?

Để đóng được những thuyền lớn, số lượng nhiều như vậy đòi hỏi một lượng gỗ lớn Nguồn khai thác gỗ chủ yếu là vùng Quang Hoa và Tân Châu thuộc tỉnh Tây Ninh

và Bình Phước hiện nay Gỗ sẽ được vận chuyển dọc theo sông Vàm Cỏ Đông và sông Sài Gòn về khu vực cảng Sài Gòn, nơi nhà Nguyễn đã có một bến tàu chính xây từ cuối

73 Hạ Môn sử, tr.91 - Dẫn theo Xưa và Nay, số 131, tháng 1/2003, tr 21-23

74 John Barrow: A Voyage to Cochin China in the year 1792-1793 London: New-Street square Publisher, 1806,

pp 283

75 Nguyễn Đình Đầu (1987), "Địa lý lịch sử thành phố Hồ Chí Minh", Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh, tr.244-245

Trang 5

thế kỷ XVIII nằm dọc sông Sài Gòn tới sông Thị Nghè “Mọi loại thuyền được đóng và

đậu ở đây” 76

Điều này được phản ánh khá rõ trong ghi chép của John White, một người Mỹ

đã đến Đàng Trong vào năm 1820 Khi John White đến thăm một xưởng đóng tàu bên sống Sài Gòn, ông vẫn thấy các vật liệu dùng để đóng tàu, nhưng không thấy công việc đóng tàu được triển khai Ông viết “về phía Đông Bắc Sài Gòn, bên bờ một con sông sâu là công xưởng đóng tàu và khi vũ khí hải quân Nơi đây trong thời chiến người ta đóng những thuyền chiến lớn và với sự chỉ đạo của sĩ quan người Pháp, họ đã đóng hai chiếc thuyền chiến (frigate) kiểu châu Âu

Xưởng này làm tăng niềm tự hào của người An Nam so với những gì họ có trong

xứ Nó có thể cạnh tranh với những xưởng tốt nhất ở Châu Âu Khi chúng tôi tới đây thì không có một chiếc thuyền lớn nào chạy ra, cũng không có cái nào đang được đóng, nhưng có rất nhiều vật liệu tốt đủ để đóng tàu frigate Gỗ đóng tàu và vỏ tàu là những thứ rất đẹp mà tôi chưa từng thấy Tôi đo một miếng ván vỏ tàu dài 109 feet (khoảng 33m), dày 4 feet (11 cm) và rộng 2 feet (60 cm) Nó được cưa ra từ một thân cây gỗ tếch (teck) Tôi khó tin là người ta co thể kiếm đâu ra trên thế giới một cây vĩ đại đến như thế

Tôi đã thấy ở các xứ này một thân cây không có mấu mà người ta có thể làm cột buồm lớn cho tàu chạy đường trường Và người ta nói với tôi là cái đó cũng không hiếm lắm Có khoảng 150 chiến thuyền galê rất đẹp nằm dưới mái che Chúng dài từ 40 đến 100 feet (12 đến 30 cm) và chúng mang từ 4 đến 6 khẩu đại bác với đạn từ cỡ 4 đến 12 cân Tất cả đều được đúc bằng đồng rất đẹp Ngoài ra còn có 40 chiến thuyền đang được sửa soạn cho viên tổng trấn (Lê Văn Duyệt) khi ông ta trở lại từ Huế Phần lớn các thuyền được chạm trổ rồng phượng, được sơn son thiếp vàng, màu sắc sặc sỡ Quang cảnh thật là sống động Người An Nam thực quả là những kiến trúc sư đóng tàu thật khéo léo và tác phẩm của họ thật là tuyệt Tôi rất ấn tượng về cái ngành này trong nền kinh tế của họ và vì thế đã đi xem nhiều lần công xưởng này"77

76 Đai Nam Thực lục, I, tập 5, tr 80

77 John White: A Voyage to Cochin China, London: Longman, 1824, pp 234-235

Trang 6

Một loại thương thuyền linh hoạt do John White vẽ lại - Ảnh tư liệu

Một lý do thú vị khác làm cho nghề đóng thuyền ở Đông Nam Bộ phát triển mạnh là do giá thành thuyền đóng ở đây rẻ hơn nhiều nơi trên thế giới, nhất là ở Trung Quốc Do đó, ba mặt hàng chủ lực xuất khẩu từ Đông Nam Bộ sang Trung Quốc các nước Đông Nam Á là gạo, thuyền và các mặt hàng muối, mắm hải sản chế biến

Theo giới nhà buôn, thuần buôn bán lúa gạo sẽ rất ít lời lãi bởi giá vận chuyển cao, hàng hoá có kích thước lớn và giá trị thấp78 Thương nhân nhanh chóng khẳng định rõ rằng họ sẽ nhiệt tình hơn trong buôn bán lúa gạo với điều kiện được phép đóng thuyền ở nước ngoài và chở gạo về bằng thuyền mới đóng Bởi giá đóng thuyền ở Đàng Trong chỉ bằng một nửa số tiền họ có thể phải trả ở Trung Quốc, lời lãi trong viêc đóng thuyền đủ để trang trải chi phí trong buôn bán lúa gạo, khiến cho chuyến đi được bõ công Trên quan điểm này, buôn bán lúa gạo và đóng thuyền là hai anh em song sinh của ngoại thương Đông Nam Bộ

Thuyền nhỏ đóng ở Đồng Nai cũng nổi tiếng được thương nhân phương Tây có

cơ sở ở Macao và Manila thường xuyên mua để sử dụng Một thuyền trưởng Bồ Đào

Nha đưa ra năm 1798, người đã mua hàng nghìn cân cau từ Đàng Trong “Bởi mọi chỗ

78 Ng Chin-keong, Buôn bán và xã hội: mạng lưới Hạ Môn ven biển Trung Hoa, 1683-1735 (Singapore:

Singapore University Press, 1983), tr 60 Dẫn theo Xưa và Nay, số 131, tháng 1/2003, tr 21-23

Trang 7

trên thuyền đã chật, chúng tôi phải mua một tàu nhỏ để mang hàng trăm cân còn lại”79

Như vậy, Sài Gòn, Vũng Tàu, Đồng Nai những bến cảng quan trọng của Đông Nam Bộ đã sớm trở thành những thương cảng trong con đường tơ lụa Đông - Tây trên biển, nên nghề đóng và sửa chữa thuyền ở đây đã có cơ hội phát triển rực rỡ Qua hàng trăm năm các xưởng đóng thuyền nơi này đã từng hạ thủy những thuyền buôn lớn, kể

cả sửa chữa các chiến thuyền; tương truyền đã sửa chữa chiến thuyền cho Nguyễn Ánh trong những lần tiến công nhà Tây Sơn Các làng đóng thuyền Đông Nam Bộ trở thành một trong những “cái nôi” lan tỏa tinh hoa đóng thuyền của xứ Nam Bộ

Nếu như việc đóng những chiến thuyền tập trung ở Sài Gòn, thì những con thuyền khác còn lại được đóng tại các làng nghệ truyền thống ở Đông Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Thủ Dầu Một… Tổ tiên xa xưa của những người thợ đóng thuyền xưa, vốn

từ miền Trung Việt Nam vào định cư dọc theo các làng chài ven biển, bến sông Nghề đóng thuyền ở đây thường được truyền cho những người trong gia đình, họ tộc Trước Cách mạng tháng Tám 1945, nghề đóng thuyền chủ yếu làm bằng tay

Việc truyền nghề và học nghề là cả một thử thách Người mới học nghề chỉ được khuân vác gỗ, quét dọn dăm bào và nhóm củi uốn ván đóng thuyền Sau đó mới cầm tới cái cưa, cái đục, chập chững làm những việc nhỏ nhặt Trước năm 1954, đồ nghề làm việc rất thô sơ Hoàn toàn không có sự trợ giúp gì của máy móc, tất cả mực thước, tinh xảo, chính xác đều trông vào bàn tay con người

Do tính quan trọng của những con thuyền, thuyền nào mà không chở sinh mạng con người Không thể chấp nhận được những người đóng thuyền kém cỏi, cẩu thả nên việc học rèn luyền tay nghề rất khắc khe Khi được lên làm thợ chính, mới làm những việc quan trọng như dựng xỏ mũi thuyền, ghép be ván, đóng bánh lái Sau khi thuần thục ở vị trí thợ chính mới lên được “chức” thợ cả Thợ cả được chỉ huy nhóm thợ đóng từ đầu đến cuối chiếc thuyền

Những năm 1950, khi ngư dân và phần lớn thuyền buôn đều chưa có động cơ, những người thợ đóng thuyền ở Đông Nam Bộ vẫn đóng thủ công những ghe bầu truyền thống

79 Sưu tập lưu trữ nhà Thanh về Macao, giữ ở Torre do Tombo (Bồ Đào Nha), (Macao: Macau Foundation,

1999), tập I, trang 247 Dẫn theo Xưa và Nay, số 131, tháng 1/2003, tr 21-23

Trang 8

Một số nhà nghiên cứu cho rằng, ghe bầu là biến âm của của hai từ Mã Lai-Nam Đảo:”gay” và “pràu” “Gay” có nghĩa là ghe thuyền và “prau” là thuyền buồm Mã Lai.80 Gay đồng thời có thể là biến âm của ghe và pràu biến âm thành bàu.81

John Barrow trong tác phẩm A voyage to Cochinchina in the years 1792 and

1793 đã mô tả một loại ghe rất giống ghe bầu: “Nhiều kiểu: phần nhiều giống như các sampan của người Hoa có phên phủ có cái giống như các proas thông thường của người Mã Lai, về thân ghe lẫn chằng néo các cột buồm”.82

William Dampier (1652-1715) một nhà du hành người Anh, trong cuốn du ký

nổi tiếng của mình Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688, lúc vượt qua Mã

Lai để đến Đàng Ngoài, ông đã mô tả về một loại ghe gọi là Proes (rất giống với ghe

prao):”Họ có những kiểu ghe gọi là Proes được chạm trổ rất công phu và thật là gọn

gàng Chúng tôi gọi đó là những chiếc ghe bán nguyệt vì hai đầu nhô cao lên mặt nước trông giống một cung bán nguyệt mà hai sừng quay lên phía trên Chúng được giữ gìn rất cẩn thận, đi buồm rất tốt và được dùng nhiều trong chiến tranh”.83

Huỳnh Tịnh Của chép về ghe bầu:”Ghe bầu bụng, vác mũi, chính là ghe đi

biển”.84 Genibrel chú:” Ghe bầu là loại ghe biển rất lớn”.85 Địa chí Long An cho ta những thông tin chi tiết hơn về ghe bầu:”Loại ghe có tải trọng lớn, chạy buồm, có

nhiều chèo để đi sông và đi biển dài ngày Trước đây, những nhà buôn lớn thường dùng ghe bầu chở gạo thóc từ miền Trung và mua vải vóc, hàng hóa, lâm thổ sản từ miền Trung đưa vào Nam Bộ”.86

Ghe bầu là loại ghe đi biển chạy bằng buồm, chủ yếu dùng để vận chuyển hàng hóa Đây là loại ghe có nguồn gốc từ cư dân miền Trung

80 Nguyễn Bội Liên, Trần Văn An, Nguyễn Văn Phi, “Ghe bầu Hội An-xứ Quảng” trong Nhiều tác giả (1991),

Đô thị cổ Hội An, Kỷ yếu hội thảo quốc tế, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.141

81 Nguyễn Thanh Lợi, trong bài Ghe bầu miền Trung – Tlđd

82 Li Tana (1999), Xứ Đàng Trong lịch sử kinh tế-xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18, Nguyễn Nghị dịch, Nxb Trẻ,

TP Hồ Chí Minh, tr.200-201

83 William Dampier (2006), Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688, Hoàng Anh Tuấn dịch, chú thích và

viết tựa, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr.25

84 Huỳnh Tịnh Của (1895), Đại Nam quấc âm tự vị, tome I, Imprimerie Rey Curiol &Cie, p.351

85 J.F.M.Genibrel (1898), Dictionnaire Vietnamien Francais, Imprimerie de la Mission à Tân Định, Saigon,

p.250

86 Thạch Phương, Đoàn Tứ (chủ biên) (1990), Địa chí Long An, Nxb Long An-Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

tr.401

Trang 9

Tên gọi ghe bầu xuất phát từ cái dáng bụng bầu tròn và con mắt trên đầu thuyền, bụng phình ra rất to để chứa được nhiều hàng hóa Lái và mũi đều cơ động dễ dàng Ghe có ba cột với cánh buồm lớn giản dị, cuốn lại hoặc giương lên đều dễ

Ghe bầu thuộc thuyền có hai vỏ đầu nhọn, lô lái và lô mũi cong, dài, nhất là lô mũi Có long cốt hoặc đáy bằng nan, trên là ván be ghép với nhau bằng chốt và mộng Xảm bằng xơ tre trộn dầu rái Lực đẩy gồm 3 buồm Cột buồm lòng luôn nhỏ về phía mũi, có khi đến 2/3 chiều dài thân ghe Cột buồm nằm ở đầu ghe Cột buồm ưng dựng trên những cây đà ngang vững chắc nối liền hai mạn gọi là “then” Buồm hình tứ giác,

có cạnh sau gấp 3-4 lần cạnh trước và buồm tam giác, cả hai chằm bằng lá đệm không

có nẹp gỗ chạy ngang như kiểu buồm Trung Hoa Ghe bầu sử dụng lái lồi, bánh lái cong theo lô lái, sâu dưới long cốt, có trục bánh lái trượt trong lô lái khoét rãnh bằng chốt sắt Lòng ghe được phân thành từng khoang để chứa hàng Bên trên khoang có mui đậy, làm thành từng tấm bằng tre đan.87

Tuy có nhiều kiểu khác nhau, nhưng căn bản đây là loại thuyền hai đáy, vỏ nhọn, có mũi và lái cong, cao hoặc trục mũi và trục lái thẳng, dài khác thường Thuyền

có mui làm bằng sợi đan Điểm đặc biệt là bánh lái đặt ở khoang kế đuôi thuyền.88

Ghe bầu là phương tiện chuyên chở chủ yếu bằng đường biển nên cấu tạo của nó thường chắc chắn, nặng nề Thường ghe dài 12-15m, rộng 3m, sâu 2m Ghe bầu chạy bằng 3 buồm ngang và to Giữa là buồm lớn (buồm lòng), phía trước gần mũi là buồm mũi, phía sau lái bên hông là một buồm phụ-buồm ưng Hai cột buồm (mũi và lòng) đều có dây chằng từ đầu cột xuống đến hai be ghe, bằng mây song léo đôi, cột mũi chỉ

có hai dây Thân ghe bầu đóng bằng ván (be) chồng cao hai hoặc ba lớp (gọi là be đôi,

be ba), giữa ghe là đòn ganh, có trụ giữa không đưa tới đưa lui được Đòn ganh là tấm ván dày, dài gấp đôi chiều ngang của ghe, có dây chằng từ đầu cột buồm lòng xuống, giữa hai đầu đòn ganh Dưới be có một phần nằm trọn dưới nước là mê ghe, được đan bằng nan cật tre dày và lớn bản, trét dầu rái Hai đầu ghe bầu là hai sỏ lớn, dùng nguyên thân mù u, có chiều hơi cong, được khoét rỗng để tra lái ống (sỏ lái) và tra xa bác (sỏ mũi).89

87 Nguyễn Bội Liên, Trần Văn An, Nguyễn Văn Phi (1991), Sđd, tr.142

88 Thanh thư về tàu thuyền cận duyên miền Nam Việt Nam, Viện Battelle Memorial, Ohio, 1967, tr.12

89 Trần Xuân Liếng (2006), “Ghe bầu-thương thuyền xưa của thương nhân Bình Định”, Tạp chí Văn hóa Bình

Định xuân 2006

Trang 10

Một số nơi ngư dân lại dùng ghe bầu đáy nan, được thiết kế thành hai phần Phần trên là lườn ván, hai lộng dọc ngang với những cây chèo, dầm lớn nhỏ làm bằng

gỗ sao, chịu được nước mặn Phần dưới chỉ gồm mỗi đáy dài và hẹp, đan bằng nan tre rồi sơn trước khi trét lớp dầu chai đặc biệt Đây là chỗ đựng cá đánh bắt được, giữ cho

cá tươi cho đến khi vào bờ

Khi cần sử dụng ghe bầu, người ta đóng nọc trên bãi biển gác xà ngang rồi dùng dây nhợ treo phần trên của chiếc ghe lên trước Sau đó lấy phần đáy chiếc ghe ra, kê và ráp ngay ngắn miệng đáy vào khớp đã dành sẵn, cột xiết lại thật chặt bằng nhợ gai Phía trên ngư dân thả vài tấm ván lên mấy bậc thang ngang đóng sẵn để làm chỗ nằm nghỉ Tải trọng của ghe đáy bầu nan thường từ 2-14 tấn.90

Ghe bầu được đóng bằng gỗ kiền kiền, sao, chò, lim, giẻ; chèo làm từ gỗ bằng lăng Cột buồm dùng loại gỗ lông tía, re xanh, thôi ba, giẻ, táu để chế tạo.91

Phương thức đóng ghe bầu chủ yếu là lập thành các kíp thợ từ 10-20 người đi đóng ghe thuê Đôi khi có những kíp đứng ra lập thành trại ghe cố định Đóng mới một chiếc ghe bầu trung bình cần khoảng 300 công lao động Ghe đóng xong, được trét dầu rái trộn với cây chai mắm (xác máu) để chống rỉ nước Mủ cây chai mắm còn được ốp vào các chốt nêm bằng gỗ để chốt chặt không cho rỉ nước.92

Ghe bầu di chuyển bằng buồm nhờ sức gió Những lúc thiếu gió hay gió hơi ngược họ có kỹ thuật chạy “vát” hay chạy “ganh” rất độc đáo Tức là ghe bầu chạy ngược gió bằng cách kéo xiên xiên cánh buồm, nếu ghe nghiêng thì ganh được đưa hết bên trong, tùy theo độ nghiêng mà người bạn trong ghe chạy ra ngồi trên đòn ganh, nếu ghe nghiêng nhiều hơn thì cùng lúc hai, ba, bốn người chạy ra.93

Khi trời thuận gió, từ Phan Thiết vào Vũng Tàu, ghe bầu chạy chỉ mất một ngày đêm, trung bình 18km/giờ Gặp mùa gió ngược, khoảng đường đó đi mất ba ngày đêm Mỗi tháng ghe đi về được ba chuyến, mỗi chuyến bảy ngày Mỗi chiếc ghe bầu lớn thường do một thuyền trưởng điều khiển và giữ tay lái được gọi là “lái phụ”, cùng 13 lao động được chủ ghe trả lương cố định Một “tổng khậu” lo việc ăn uống, tiếp tế hàng

90 Lê Hữu Lễ (1994), “Ghe bầu nan”, Báo Sài Gòn giải phóng thứ bảy, ngày 15-1

91 Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Việt (1984), “Thuyền bè truyền thống Việt Nam (Đặt một số vấn đề dưới góc độ dân

tộc học)”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6, tr.51

92 Nhiều tác giả (2002), Văn hóa truyền thống đảo Lý Sơn, Sđd, tr.85-86, 145-147

93 Trần Xuân Liếng (2006), Bđd

Trang 11

ngày, số còn lại chia thành 6 phiên, mỗi phiên hai người làm đủ mọi việc để ghe luôn luôn xuôi buồm thuận gió.94

Khi trời thanh bể lặng, thuyền dong cả ba buồm rẽ sóng mà chạy Khi biển động thì cập bến trú ẩn Ngày xưa, tham gia vào những chuyến hải trình dài ngày trên biển là rất nguy hiểm, ranh giới giữa cái sống và cái chết nhiều khi chỉ tính bằng gang tấc

Do đáy ghe được đan bằng nan tre, sức va chạm kém, ghe thỉnh thoảng vẫn bị chìm Một “kẻ thù” của ghe bầu là loài chuột gặm nhắm, với hàm răng sắc nhọn có thể cắn thủng ghe như chơi Nên dân các lái thường kiêng cữ, chỉ dám gọi chúng là “tý”

Trong lịch sử, từ thế kỷ XVII-XVIII, ghe bầu đã góp phần trong việc đưa những lưu dân và cả những phương tiện, công cụ của “những dân có vật lực ở xứ Quảng Nam,

các phủ Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn” mà Lê Quý Đôn đã nhắc đến trong Phủ

biên tạp lục vào khai phá đất Gia Định, Bà Rịa, Vũng Tàu

Nhiều người đã khởi đầu hành trình mở đất bằng chiếc ghe bầu Trên chiếc ghe bầu nhỏ bé của mình, họ mang theo những thứ thiết yếu như gạo, mắm muối, áo tơi, rồi

cứ thế ven theo biển mà đi vào phía Nam Lưu dân từ miền Trung đi thẳng vào Bà Rịa, Đồng Nai như trường hợp đi trên đường bộ Nếu cần trở về thăm quê thì họ cũng đi bằng đường biển Đi bằng phương thức này vừa nhanh vừa an toàn hơn so với đường

bộ

Ghe bầu đã từng là thành phần cốt cán của thủy quân Tây Sơn vào nửa sau thế

kỷ XVIII Những chiếc thuyền sườn gỗ, có buồm được đóng để có thể chở cả được voi Chiếc ghe bầu đã trở thành loại thuyền tiêu biểu nhất trong hạm đội của hải quân Tây Sơn, trong chiến cuộc với Nguyễn Ánh và Xiêm La tại Rạch Gầm-Xoài Mút (tỉnh Định Tường).95

Trong lực lượng thủy quân của Nguyễn Ánh, có hẳn một loại thủy binh ghe bầu với 1.600 quân, đây là lực lượng vận tải quân lương của chúa.96

Theo biên niên nhà Nguyễn, từ 1778 đến 1819, Nguyễn Ánh đã đóng 235 ghe bầu (kiểu Chăm- Mã Lai prahu), 460 sai thuyền (thuyền chèo loại lớn hơn), 490 chiến thuyền (thuyền buôn nhỏ không mui), 77 đại chiến thuyền, 60 thuyền lớn nhỏ kiểu

94 Tô Quyên (1994), “Ghe bầu Phan Thiết và bài vè thủy trình Huế- Sài Gòn”, Báo Sài Gòn giải phóng, ngày

18-9

95 Mường Giang (2006), “Ba thế kỷ nối dài”, Viet Báo 6-2, Viet Fun for All

96 Tạ Chí Đại Trường (1973), Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802, Văn sử học xb, Sài Gòn, tr.230

Trang 12

phương Tây hay thuyền buồm dọc, 100 ô thuyền (thuyền sơn đen) và 60 lê thuyền (thuyền chạm vẽ trên cả đầu và đuôi) trong tổng số 1.482 chiếc.97

Năm 1867, ba tỉnh miền Tây Nam Bộ mất về tay Pháp, Kinh lược sứ Phan Thanh Giản uống thuốc độc tử tự, Nguyễn Thông đang làm đốc học Vĩnh Long đã cùng Trương Gia Hội, Trà Quý Bình dùng ghe bầu chở cả gia quyến chạy ngược ra Vũng Tàu, Bình Thuận, để tỵ địa – lãnh nạn

Ghe bầu ở Đông Nam Bộ còn được sử dụng vào việc đánh bắt hải sản, những loại ghe có kích thước trung bình hoặc nhỏ Đây là những ghe nhỏ có chiều dài khoảng

25 thước ta (11m), rộng 5 thước ta (2,2m), được đóng ở đây vào những năm đầu của thế kỷ trước Đặc biệt những chiếc ghe bầu có chiều dài 35 thước ta (16m) trở lên được dùng để trao đổi hàng hóa với các nơi khác

Đầu thế kỷ XX, ghe bầu vận chuyển: nước mắm tỉn, muối, cá khô, đệm trắng (đan từ lá buông để làm buồm chạy ghe), gỗ, bàn, tủ Ghe bầu ngày xưa kiêm luôn cả nhiệm vụ vận chuyển hành khách, những bến thường ghé lại là Sài Gòn, Đà Nẵng, Quy Nhơn và các cửa biển khác trong vùng

Ghe bầu không chỉ là phương tiện dùng để giao lưu hàng hóa trong nước mà còn tiến hành mua bán với nước ngoài Trước khi Pháp xâm lược nước ta, những đoàn ghe bầu đã thực hiện những chuyến đi dài đến Trung Hoa, Singapore, Xiêm La Việt Nam

đã từng là nhà cung ứng lớn về muối cho Trung Hoa Hàng đối lưu trở lại là tơ lụa, vũ khí, thuốc bắc 98 Thời kỳ Pháp thuộc, ghe bầu vẫn có vai trò quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa, từ Đông Nam Bộ đến Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng

Ngày nay đến các xưởng đóng tàu truyền thống ở Đông Nam Bộ, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt chúng ta là những người thợ nhễ nhại mồ hôi đốt lửa uốn từng tấm ván cong cong, rồi tỉ mẩn đục đục, khoan khoan, ghép các mảnh ván thành con thuyền

có sức cuốn hút kỳ lạ Thường để thành thợ chính đóng thuyền phải qua 3-4 năm, rồi nếu nhanh tay, sáng trí thì cũng phải mất khoảng 3-5 năm nữa mới thành thợ cả Đối với người thợ đóng thuyền khi giã từ chiếc búa, lưỡi cưa vẫn dặn dò con cháu phải nhớ mình là hậu duệ của một gia tộc sống hết mình với nghề đóng thuyền Cái nghề từ ngàn xưa đến nay luôn được tôn vinh hàng đầu trong bách nghệ Và con cháu phải truyền đời gìn giữ ngọn lửa của tổ tiên này

97 Li Tana (2003), “Thuyền và kỹ thuật đóng thuyền ở Việt Nam cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19”, Tạp chí Xưa và

Nay, số 131, tháng 1, tr 22

98 J.B Piétri (1949), Sđd, p.3

Trang 13

Ngày nay đến làng nghề đóng thuyền Phước Tỉnh (Bà Rịa – Vũng Tàu), ta sẽ nghe thấy nhiều âm thanh vọng ra rất nhộn nhịp của xưởng đóng tàu Tiếng máy cưa, tiếng búa, đục vang lên cả một khúc sông Hơn ngàn con người đang mải miết với công việc của mình trên những chiếc tàu đang nằm trên bờ Nơi đây, người ta thấy có nhiều con tàu đóng mới vừa hoàn thiện xong, nước sơn rất đẹp và đang chờ ngày hạ thủy, trong khi nhiều chiếc khác chỉ mới rõ hình thù, màu vân gỗ vẫn còn đang nguyên vẹn

Gỗ dùng để đóng tàu là những loại gỗ bền, nhẹ, ít thấm nước như gỗ bô, xương

gà, chò… Ảnh: Nguyễn Luân - http://vietnam.vnanet.vn/

Trang 14

Một người thợ đang bào lại mảnh gỗ dùng để đóng con tàu mới

Ảnh: Nguyễn Luân - http://vietnam.vnanet.vn/

Hoàn thiện khung tàu Ảnh: Nguyễn Luân - http://vietnam.vnanet.vn/

Trang 15

Hoàn thiện phần mũi tàu Ảnh: Nguyễn Luân - http://vietnam.vnanet.vn/

Lắp chân vịt cho tàu Ảnh: Nguyễn Luân - http://vietnam.vnanet.vn/

Trang 16

Một con tàu gỗ công suất lớn có chiều dài khoảng 25 mét Ảnh: Nguyễn Luân -

http://vietnam.vnanet.vn/

“Do có nghề cá phát triển nên việc đóng những chiếc tàu làm phương tiện để đánh bắt hải sản cũng rất được chú trọng Từ ngày xưa, kĩ thuật đóng tàu đã được những người thợ ở đây tìm tòi, phát triển để có thể đóng được những chiếc tàu chịu lực, chịu sóng tốt và có thời gian sử dụng lâu bền Những loại gỗ tốt, nhẹ, độ bền lâu, ít thấm nước… như bô, xương gà, chò…

Để có thể ráp những tấm ván dày và uốn theo kết cấu của thân tàu, người thợ phải ép những thanh gỗ to bản và dài qua lửa ở nhiệt độ cao Sau đó ghép với nhau theo hình răng cưa rất chắc chắn Khi phần khung, sườn tàu đã được hình thành, người

ta mới làm tiếp những phần khác như ở bên trong như hầm hàng, khoang máy… Trong quá trình đóng tàu, chủ tàu và nhân viên kĩ thuật liên tục giám sát để đảm bảo con tàu được đóng đúng yêu cầu kĩ thuật

Nghề đóng tàu đem lại việc làm quanh năm suốt tháng Hiện nay, Phước Tỉnh có

5 ụ đóng tàu, thu hút hơn 500 thợ lành nghề và rất nhiều lao động địa phương làm việc Mỗi năm, Phước Tỉnh cho hạ thủy hơn 40 chiếc tàu đánh bắt xa bờ”99

Trang 17

Ngày nay, Phước Tỉnh chuyên đóng tàu công suất lớn từ 500CV đến 900CV Mỗi chiếc loại này được đóng với chiều dài trung bình 25 mét và chiều rộng 7 mét, có giá hơn 3 tỉ đồng trở lên; thời gian đóng trong vòng 3-4 tháng “Phước Tỉnh hiện có 1.200 tàu đánh bắt thủy hải sản, trong đó có hơn 1000 tàu đánh bắt xa bờ công lớn Đây

là nơi tập trung đóng tàu không chỉ cho cả tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu mà còn ở các tỉnh bạn”. 100

Các tàu cũ được đưa lên đà để sửa chữa - Ảnh: Nguyễn Luân -

http://vietnam.vnanet.vn/

Trang 18

Một chiếc tàu sắp hoàn thành - Ảnh: Nguyễn Luân -

http://vietnam.vnanet.vn/

Tàu mang số hiệu QNG 92095TS được hạ thủy để chạy thử - Ảnh: Nguyễn

Luân - http://vietnam.vnanet.vn/

Trang 19

Xã Phước Tỉnh có đội tàu đánh bắt xa bờ công suất lớn hơn 1000 chiếc -

Ảnh: Nguyễn Luân - http://vietnam.vnanet.vn/

Ngoài khả năng đóng mới, Phước Tỉnh cũng là nơi rất có uy tín trong việc sửa chữa, đại tu tàu biển Vì thế, nhiều chủ tàu ở các tỉnh xa như Quảng Ngãi, Phú Yên, Kiên Giang… thường đem tàu đến tận đây để sửa chữa

4.3 Nghề đan lưới ở Đông Nam Bộ đầu thế kỷ XX

Trước cách mạng tháng Tám 1945, nghề đan lưới đánh bắt cá ở Đông Nam Bộ khá phát triển Tuy nhiên, nghề đan lưới đánh bắt cá cả ở đây chỉ được xem là một nghề phụ, vì thường tập trung số lao động là phụ nữ và trẻ em; số lao động chính, những người đàn ông khỏe mạnh phải tham gia khai thác, đánh bắt hải sản Hơn nữa đây là công việc khong đòi hỏi tính thời vụ, cấp bách như đánh bắt hải sản

Nghề đan lưới ở Đông Nam Bộ được hình thành từ thế kỷ XVII, XVIII sau hàng loạt các cuộc di dân từ phía bắc vào phía Nam, ở các vùng ven biển, làng xóm nhanh chóng mọc lên gắn liền với lập vạn chài Phương tiện đánh bắt chủ yếu là các loại ghe lưới, ghe câu, nốt chà (đóng bằng ván, nan, hoặc vừa nan vừa ván)

Những năm đầu thế kỷ XX nghề đan lưới ở các làng chai ven sông, ven biển Đông Nam Bộ phát triển theo lối tự phát, phụ vụ cho nhu cầu đánh bắt thủy hải sản của cộng đồng cư dân ở đây Lưới là một dạng ngư cụ, dùng để đánh bắt cá Cho nên nó phát triển từ thô sơ đến tinh xảo Lưới đánh cá được đan bằng nhợ gốc, tơ gốc nhuộm huyết bò hoặc vỏ cây sắn Phao lưới là thân cây vông khô, chì làm bằng thỏi sành (đất sét nung già lửa) Ánh sáng dùng cho nghề câu mực là đèn chai (nhiên liệu chai cục, bó đèn, với vỏ cây tràm) Sau đó tiến lên dùng đèn khí đá (đất đèn)

Trang 20

Buổi đầu, những người làm biển ở các làng chài: Bà Rịa, Vũng Tàu, Cần Giờ khai thác chủ yếu nghề câu và nghề lưới ven bờ Theo thống kê của Pháp thì năm 1944 tổng sản lượng khai thác thủy sản của Việt Nam đạt 127.000 tấn Ngoài nghề chài lưới thì đã xuất hiện nhiều nghề mới như nghề lươi kéo, nghề lưới rê, nghề lưới đăng

Lưới là loại ngư cụ thủ công cổ truyền vẫn được sử dụng rộng rãi phổ biến ở các vùng nước nông và vùng nước nội địa như ao, hồ, đầm, sông, ven biển Kết cấu và kỹ thuật khai thác của mỗi một loại lưới truyền thống cũng khác nhau, không theo một tiêu chuẩn kỹ thuật nào mà phụ thuộc vào kinh nghiệm của người dân địa phương Bên cạnh các loại lưới được đan thành tấm với những kích cỡ khách nhau, còn có các loại lưới khác, vốn là những ngư cụ đánh bắt cá truyền thống như:

Chài lưới, là một loại ngư cụ được sử dụng phổ biến ở nước ta để đánh bắt cá ở

ao, hồ sông suối

Đáy là ngư cụ, được đan thành (lưới) dùng để khai thác các loài thủy sản, nơi có

dòng chảy và nó thường được đặt cố định ở khu vực cửa sông hay ở vùng biển nông ven bờ Đáy đánh bắt cá theo nguyên lý lọc nước lấy cá

Đăng cũng là một loại (lưới) ngư cụ cố định sử dụng phổ biến ở ven bờ biển và

trong nước ngọt, để chặn bắt cá di chuyển Đăng có cấu tạo vô cùng phong phú, tùy theo vùng đánh bắt, tập tính của đối tượng đánh bắt và tập quán của người dân địa phương

Chài có dạng hình chóp, kích thước mắt lưới của chài thường làm đồng đều từ đỉnh đến dụi nhưng số mắt lưới tăng dần Dụi chài là phần túi lắp theo vòng tròn đáy và dụi chài là nơi chứa cá Dụi chài đan bằng sợi có độ thô chỉ lưới lớn hơn phần thân chài Chài thường được trang bị số lượng chì khá lớn để đảm bảo miết giềng chì sát đáy khi thu chài Do diện tích đáy chài nhỏ, phạm vi bao vây cá hẹp, nên chài chỉ hoạt động có kết quả ở những khu vực có cá tập trung Nếu cá phân tán người ta dùng mồi tập trung cá trước khi quăng chài Khi quăng chài thì phải tung mạnh chài về phía trước

để chài xòe rộng và chụp xuống nước vây cá ở phía trong Lúc này cá hoảng sợ chúi xuống đáy, ngâm chài một lát chờ cá ngoi lên, dùng dây dong kéo chài từ từ để dụi chài chụm lại, cá dồn về dụi chài và tiến hành thu cá

Trang 21

Tùy theo tập tính sinh sống của các loài thủy sản ở các vùng nước khác nhau (vùng khơi, vùng lộng, tầng đáy, tầng mặt), người ta phải sử dụng nhiều loại lưới khác

Trang 22

nhau và được phân chia ra thành những nghề đánh bắt khác nhau Trong từng thời kỳ,

cơ cấu thuyền nghề có sự thay đổi, phụ thuộc các yếu tố như biến động nguồn lợi thủy sản, nhu cầu sản phẩm hoặc du nhập nghề mới Trong thực tế, một thuyền nghề chính

có thể kiêm thêm nghề phụ khác, cho nên sự phân loại cũng chỉ là tương đối Những năm đầu thế kỷ XX ở Đông Nam Bộ có các nghề lưới như sau:

Nghề lưới rùng

Lưới rùng là ngư cụ khai thác thuỷ sản theo phương pháp lọc nước lấy cá Lưới

có cấu tạo dạng tường lưới, chiều cao tường lưới phải lớn hơn độ sâu nước, sao cho giềng chì luôn sát đáy và giềng phao luôn nổi trên mặt nước Lưới bao vây một vùng nước và kéo lưới lên bờ hoặc lên thuyền để thu cá

Lưới mành còn gọi là mành dắt, ngư cụ đánh cá biển truyền thống, chủ yếu dùng

để khai thác các loài cá nổi (nục, cơm, chim, trích, bạc má, chỉ vàng, sơn đỏ ) Lợi dụng tập tính của cá mà người ta dùng chà rạo thả xuống biển tạo bóng râm, dụ cá đến

ở rồi nhử dắt vào lưới, hoặc ban đêm dùng ánh sáng đèn nhử cá tập trung lại rồi dẫn dắt chúng vào lưới, hoặc đánh lưới đón xúc những đàn cá đi khơi

Nghề mành đèn

Mành đèn là nghề biển cổ truyền, hoạt động vào ban đêm, năng suất tương đối cao, khai thác các loại cá nhỏ ven bờ như mành chà Nghề mành đèn dựa trên nguyên tắc dùng ánh sáng đèn thu hút đàn cá và dắt cá vào lưới Nghề này có thể kết hợp với nhiều loại nghề đánh cá khác trong cùng một thời gian và trên cùng một con thuyền, nên rất thuận tiện và có lợi cho sản xuất

Nghề lưới trũ

Trang 23

Lưới trủ là một trong những nghề đánh bắt lâu đời của ngư dân Tên gọi này bắt nguồn từ phương cách kéo rút trủ dựa theo sát bờ biển.101

Nghề lưới chuồn

Nghề lưới chuồn là nghề đánh cá truyền thống, chuyên đánh bắt cá chuồn ở vùng biển khơi Nguyên tắc đánh bắt của nghề lưới chuồn cũng như của nghề lưới rê (cản) nói chung

Nghề lưới kéo

Lưới kéo là một trong những ngư cụ quan trọng nhất trong nghề khai thác hải sản, nó có thể đánh bắt ở mọi vùng nước, tầng nước, đối tượng đánh bắt đa dạng và thường đạt hiệu quả cao Lưới kéo là ngư cụ chủ động, hoạt động theo nguyên tắc lọc nước lấy cá Lưới có dạng như một cái túi được kéo trong nước nhờ sức kéo của tàu

thuyền thông qua hệ thống dây cáp kéo Lưới kéo tầng đáy thường có cấu tạo gồm các

thành phần chủ yếu là: cánh lưới, thân lưới và túi lưới

Nghề lưới rê (cản)

Lưới rê là loại ngư cụ hoạt động theo phương pháp bị động, lưới trôi theo dòng chảy hoặc được thả chắn ngang đường đi của cá và một số loài thủy sản khác (khi gặp lưới chúng mắc phải mắt lưới hoặc quấn vào lưới)

Lưới rê có thể đánh bắt được ở nhiều tầng nước khác nhau, cả gần bờ và xa bờ Đối tượng khai thác chính của nghề lưới rê là các loại cá, cua ghẹ, mực nang, một số loài tôm…Tùy theo đối tượng khai thác mà cấu tạo và kích thước của lưới rê khác nhau Lưới rê hỗn hợp có thể bắt được cá tầng đáy

Nghề lưới vây

Lưới vây là một giải lưới có dạng gần giống hình chữ nhật, thường được sử dụng

để bao vây đàn cá nổi đang di chuyển hoặc tập trung dưới nguồn sáng hoặc chà Tùy theo kích cỡ tàu thuyền và đối tượng khai thác, lưới vây thường có chiều dài từ 300 – 1.500m và chiều cao từ 45 - 150m

Để phục vụ cho các hoạt động đánh bắt hải sản nói trên, nghề đan lưới ở Đông Nam Bộ rất phát triển Những năm đầu thế kỷ XX, người thợ đan lưới tự tìm nguyên

101 Hiện nay nghề này bị cấm vì dùng mắt lưới nhỏ

Trang 24

vật liệu để quay xa, đan lưới thủ công Muốn đan một tấm lưới thủ công, trước hết người ta gầy theo kích cỡ yêu cầu, theo một đầu dây cước với dụng cụ đan gọi là ghim (bằng tre hoặc bằng gỗ)

Chọn cước và làm cử bằng tre, sau đó là gầy lưới và đan theo số mét đã định Sau khi đan xong là đến công đoạn rắn (kéo) lưới, người ta treo lưới đã đan và đổ nước sôi 90oC từ trên xuống, sau đó rắn (kéo) 2 đầu cho thẳng, căng Khoảng 10 phút sau

đó, lưới được rãi xen kẽ một đầu phao, một đầu chì Tiếp theo là lượm (nhặt) lần lượt theo đầu phao, đầu chì để thu gom cả tấm lưới

Trong quá trình nộm phao và nộm chì, cần phải có kỹ thuật khéo tay và đặc biệt

là khoảng cách phải đều nhau để khi thả lưới đánh bắt, gặp dòng nước chảy lưới vẫn không có kẽ hở khiến cá lọt ra ngoài

Nếu gặp mùa nước nổi (tháng 9 - 1 1 âm lịch) thì ganh thêm ống ganh bằng phao hoặc bằng xốp để tăng độ nổi của nước và đánh bắt cá mực Ở tầm trên, gần mặt nước, các tháng còn lại thì đánh cá hố, cá sòng, cá ngân…

Trước năm 1945, chưa có máy móc và lưới nhân tạo, người thợ phải kỳ công mới tạo ra được một tấm lưới Để đan được thành tấm lưới phải nuôi tằm, lấy kén, kéo

tơ và đánh thành chỉ rồi mới đan nên tấm lưới để phục vụ khai thác

Sau khi đan xong là đến công đoạn rắn (kéo) lưới, người ta treo lưới đã đan và

đổ nước sôi 900C từ trên xuống, sau đó rắn (kéo) 2 đầu cho thẳng, căng Khoảng 10 phút sau, lưới được rải xen kẽ một đầu phao, một đầu chì Tiếp theo là nhặt lần lượt theo đầu phao, đầu chì để thu gom cả tấm lưới…

Nghề đan lưới bắt cá là một công việc rất công phu, đầy sự tỉ mỉ với từng sợi đan và rất mất thời gian Công việc chỉ dành cho những người có tính cần cù, kiên nhẫn nhất mới làm được

Để đan được lưới cần phải có sợi Sợi là sản phẩm trung gian giữa xơ và chỉ lưới Sự khác biệt của công đoạn chế tạo từ nguyên liệu ra sợi dẫn đến sự phân biệt về

sản phẩm sợi Trong thực tế có các loại sợi như: Sợi thô (là sản phẩm từ xơ chắp nối lại

và xoắn ở mức độ nào đó Sợi thô thường gọi là sợi nguyên Từ vài sợi nguyên có thể

xoắn lại với nhau tạo thành sợi con hoặc chỉ xe đơn) Sợi đơn (Là sợi dài vô hạn (chỉ có

đối với sợi tổng hợp), không có vòng xoắn, trơn bóng (thường gọi là cước) Sợi đơn là thành phẩm đầu tiên từ nguyên liệu Sợi đơn có thể dùng trực tiếp để đan (lưới rê), làm dây câu, hoặc bện tết một vài lần để tạo thành chỉ lưới, dây có độ thô khác nhau (chỉ

Trang 25

lưới, dây giềng…) Sau năm 1954, ở Bà Rịa, Vũng Tàu dùng sợi poliethylen thường

được sản xuất dưới dạng sợi đơn (cước), có màu trắng, trắng xanh hoặc màu kem

Chỉ lưới là thành phẩm chế tạo từ sợi thô, sợi con hoặc sợi đơn và là đơn vị hoàn chỉnh để chế tạo lưới đánh cá Chỉ thành phẩm xe từ sợi một lần, gọi là chỉ xe đơn Nếu chỉ thành phẩm xe từ các chỉ xe đơn gọi là chỉ xe kép

Dây lưới là một dạng của chỉ lưới Quá trình sản xuất ra dây lưới được tiến hành bằng cách bện tết một số lần từ chỉ sợi thô, sợi con, sợi đơn, thậm chí từ chỉ lưới Dây lưới to hơn nhiều lần chỉ lưới, có đường kính khác nhau tùy theo từng yêu cầu công việc Trong nghề cá, dây lưới thường sử dụng với các chức năng khác nhau như dây

giềng, dây kéo lưới, dây neo…

Độ thô là một đặc trưng kỹ thuật của chỉ lưới Độ thô (độ to, nhỏ) của chỉ lưới,

có thể biểu diễn bằng đường kính, hoặc diện tích hoặc chu vi mặt cắt ngang của chỉ, dây lưới Do cấu trúc của chỉ lưới khá đặc biệt, mặt ngoài của chỉ không đều nhau do tạo thành vòng xoắn, hơn nữa vật liệu chỉ lưới lại mềm, kích thước ngang nhỏ, vì vậy, gây khó khăn trong việc đo đạc chính xác độ thô của chỉ lưới Để khắc phục khó khăn

đó, có thể sử dụng các đại lượng gián tiếp, biễu diễn độ thô của chỉ lưới

Nếu chỉ xe từ sợi thô hoặc sợi đơn, độ thô của chỉ lưới được quyết định bởi độ thô của sợi và số lượng sợi được xe thành chỉ Người ta thường biểu thị theo độ thô của sợi và số sợi tạo thành chỉ Các số liệu độ thô của chỉ lưới sử dụng trong kỹ thuật sau này có thể sử dụng chỉ số độ thô của sợi hay của chính chỉ lưới đó

Nút lưới là hình thức liên kết các sợi, chỉ lưới để tạo thành mắt lưới Tùy phương pháp đan và loại vật liệu sợi mà sử dụng các loại nút lưới khác nhau Các loại nút đơn (nút dẹt đơn, nút chân ếch đơn…) dùng cho sợi thực vật (bông, gai) đan tay và sợi tổng hợp đan máy (trường hợp đan máy phải xử lý nhiệt vì dễ tuột), các loại nút lưới kép (nút dẹt kép, nút chân ếch kép, nút dẹt biến dạng, nút chân ếch biến dạng) dùng cho sợi tổng hợp đan tay Các loại nút lưới kép chắc hơn, nhưng tốn chỉ và công đan hơn nút lưới đơn Ngoài ra, còn loại lưới dệt (lưới không nút) do máy dệt tự đan chéo các sợi chỉ lưới với nhau tạo thành, có ưu điểm tốn ít chỉ hơn nhưng khó vá khi rách

Mắt lưới được đan hoặc dệt bằng các loại nút như nút dẹt, nút chân ếch đơn, nút chân ếch kép…, hoặc bện tết để tạo thành lưới tấm hoặc ngư cụ

Trang 26

Lưới tấm được chế tạo từ chỉ lưới và sử dụng để tạo ra các dạng lưới khác nhau Chỉ lưới được đan hoặc bện tết thành mắt lưới Mắt lưới là yếu tố cơ bản hình thành tấm lưới

Tấm lưới hình thành bằng cách đan tay hoặc đan máy Có hai dạng lưới là lưới

có nút và lưới không nút Hiện nay, ngoài lưới tấm có mắt lưới hình thoi, người ta còn

sử dụng trong nghề cá lưới tấm có mắt lưới sáu cạnh, mắt lưới hình vuông

Lưới đan là việc dùng ghim đan, cữ đan để liên kết chỉ lưới thành các mắt lưới bằng các loại nút lưới khác nhau tạo thành tấm lưới Tùy theo yêu cầu chế tạo của từng loại ngư cụ và hình thức đan có thể tạo ra tấm lưới đan có hình dạng khác nhau như: đan bình thường (tạo ra tấm lưới hình chữ nhật hoặc hình vuông), đan tăng giảm mắt lưới (tạo ra tấm lưới tam giác hoặc hình thang), đan biên theo chu kỳ cắt (ví dụ đan biên cánh phao, cánh chì của lưới kéo) Ở Việt Nam lưới đan được sử dụng cho khá nhiều nghề khai thác thủy sản, gồm có: lưới đan không tăng giảm mắt lưới và lưới đan tăng giảm mắt lưới

Đan lưới là quá trình chế tạo lưới tấm hoặc ngư cụ hoàn chỉnh từ chỉ lưới Việc đan lưới tấm trên máy được thực hiện theo những quy trình đặc biệt Trong đan lưới,

để tạo thành các mắt lưới có kích thước như nhau, người ta sử dụng một vật chuẩn gọi

là cữ đan Cữ đan có thể làm bằng tre, gỗ, nhôm… Để đan tấm lưới có hình dạng khác

nhau, người ta tiến hành các hình thức đan khác nhau, có hai hình thức đan: Đan không

tăng giảm mắt: là quá trình đan với số mắt lưới theo hàng ngang không thay đổi, tấm

lưới đan có dạng hình chữ nhật Đan tăng giảm mắt: là quá trình đan tấm lưới có số

mắt lưới theo chiều ngang thay đổi Tấm lưới đan thường có dạng hình thang, hình tam giác…

Trong đan lưới thủ công, gọi đường tăng giảm mắt lưới là “đường con nhốt” hoặc “đường con tỉa” Đan tấm lưới hoặc một chiếc lưới hoàn chỉnh, người ta có thể thực hiện đan dọc theo chiều cao của tấm lưới một hay nhiều đường đan theo chu kỳ tăng hoặc giảm, các đường đan này thường được thực hiện ở hai mép của tấm lưới hoặc phần bên trong của tấm lưới Số lượng đường tăng giảm tùy thuộc vào cấu trúc và hình dáng của lưới Đan tăng giảm mắt lưới được thực hiện theo các đường tăng giảm Mỗi mắt lưới tăng giảm được lặp lại trên một số cữ đan (cạnh mắt lưới) Sự tăng giảm mắt lưới được lặp lại sau số cữ đan nhất định gọi là đan lưới theo chu kỳ

Trang 27

Cắt lưới là một công đoạn quan trọng để chế tạo ngư cụ từ lưới tấm Để cắt tấm lưới theo yêu cầu, cần phải tiến hành các hình thức cắt khác nhau Có hai dạng cắt lưới

cơ bản: cắt lưới đơn giản và cắt lưới phối hợp Cắt đơn giản: là cắt thẳng hoàn toàn và cắt xiên hoàn toàn Cắt thẳng hoàn toàn có thể cắt theo chiều dọc hoặc chiều ngang

Ghép lưới là công đoạn dùng ghim đan ghép các tấm lưới với nhau Có ba hình thức: ghép tạm thời; ghép bán cố định và ghép cố định Khi mối ghép đòi hỏi dễ tháo lắp, nghĩa là mở nhanh và lắp nhanh, cần phải thực hiện mối ghép tạm thời Mối ghép này thường để ghép các cheo lưới của vàng lưới rê Trong ghép tạm thời, người ta sử dụng các nút dễ tháo và đường ghép thường sử dụng phương pháp sươn ghép Ghép bán cố định là mối ghép khi cần dễ tháo gỡ, đường ghép ít bị tổn thất Loại ghép này thường là ghép mối ngắn

Ghép cố định, là mối ghép được thực hiện bằng cách đan thêm 1/2 mắt lưới nối liền 2 tấm lưới cần ghép

Phao dùng cho lưới là trang bị ngư cụ để tạo lực nổi Ngày xưa phao thường được làm bằng tre, gỗ…Có nhiều loại phao, nếu gọi theo tên gọi của ngư cụ có phao lưới rê, phao lưới vây, phao lưới kéo…Phao có nhiều hình dạng khác nhau và thường

có lỗ hoặc tai để buộc vào ngư cụ

Chì dùng cho lưới là vật nặng lắp vào giềng chì của lưới để tạo lực chìm, chì thường làm bằng đá, gang, thép, chì (Pb), gỗ…Tùy thuộc vào nguyên lý hoạt động của từng loại ngư cụ mà sử dụng vật liệu, kích thước, hình dạng chì khác nhau

Dây giềng là loại dây dùng để định hình lưới và chịu lực trong quá trình thao tác lưới Dây giềng được xe, bện tết từ các loại vật liệu xơ sợi thực vật Đối với ngư cụ thường có các loại dây giềng sau: giềng phao, giềng chì, giềng biên, giềng lực…

Ngoài ra còn tùy theo loại lưới đánh cá gì, thì kỹ thuật đan lưới và kỹ thuật đánh bắt cũng khác nhau Ví như đan lưới đánh cá chuồn thời kỳ trước năm 1945

Lưới chuồn là một loại lưới đánh khơi để bắt cá chuồn, là một loại nghề chính của ngư dân ở Đông Nam Bộ xưa Lưới chuồn dạu (bề cao) thấp, nhưng lưới rất dài, đánh nổi trên mặt biển, là vì giống cá chuồn ở nổi và thường sống theo các mé nước hoặc những đám tảo trôi trên mặt biển Có lẽ ông cha ta ngày trước đặt tên như vậy là

vì có lúc cao hứng hay khi có động tĩnh gì đó nó rộ cất cánh bay lên là là khỏi mặt nước lối vài ba chục mét rồi chúc xuống trông như con chuồn chuồn

Trang 28

Đặc thù của cá chuồn là sống trên mặt nước biển ở ngoài khơi, ngang hoặc khơi hơn vùng nước câu to Cho nên lưới không làm cao (dậu rộng) nhưng rất dài Lưới cá chuồn có cấu tạo như sau: Lưới thân, lưới kê chưn, viềng lưới, phao, ghim (đày)

Lưới thân được đan bằng sợi gai, chắp dài và đánh săn thành dây nhợ, nhợ đó đem đan lưới theo chiều xuôi, bề ngang cỡ 24-26 mặt lưới (lỗ lưới), mỗi mặt rộng vừa mút hai đầu ngón tay trỏ và giữa (từ năm 1955 về sau, ngư dân dùng sợi vải cô tông và gần đây dùng sợi cước) Cứ theo chiều xuôi, lưới đã được rạt ngang và cột phao dài khoảng 50 sải tay thì gọi là một "đé", theo chiều đứng cỡ 2/3 sải Đầu trên luồn một sợi dây viềng vào trong mặt lưới và một sợi viềng ngoài để cột những cái phao đều nhau Đầu dưới người ta kê thêm một thớt lưới cũ to sợi hơn, cao khoảng hơn 2 gang tay gọi

là lưới chưn Lưới kê chưn là loại lưới cũ hơn nhưng hơi thưa và lớn nhợ hơn một ít để thay cho chì và giúp lưới thân giằng xuống rảnh rang để cá đến đóng Chiều cao của lưới chưn khoảng 2 gang tay mà thôi Viềng lưới là một sợi dây nhợ lớn hơn nhợ lưới trên mười lần, cỡ 1ly đường kính, được đánh săn và nhuộm cứng, dùng làm xương sống và chuẩn mực cho lưới Phao lưới được người ta làm từ cây sặc lấy ở trên rừng

về, cỡ cây có đường kính 12 ly và được cắt thành từng khúc khoảng 12 phân Để có một cái phao, người ta gọt mỏng bớt phần vỏ ở 2 đầu và thắt túm nhỏ lại, để khi cột vào lưới cho khỏi rớt và nước cũng không thấm vào 2 đầu làm kém độ nổi của phao và tránh không làm hỏng phao Để tránh các nhược điểm trên, người ta còn cho sơn hoặc nhuộm kỹ 2 đầu phao Đày lưới là một miếng gỗ mít cỡ 10 x 6 cm, có khoan 2 lỗ, một

lỗ để tra ghim lưới, đầu ghim kia vót nhọn để xâu lưới vào Khi tra lưới xong, người ta lấy hai đầu ghim nhọn xỏ vào hai lỗ của hai đày ngược chiều nhau lại vặn cứng để cho tấm lưới khỏi xổ Mỗi một tấm lưới có 2 đầu cột 2 đày, khi đánh thì xổ ra và khi kéo lên thì được xâu vào đày, rồi đóng hai đày lại

Khi đi đánh lưới cá chuồn, vào chiều hôm trước, ngư dân đã sắm trong ghe đầy

đủ gạo, nước, củi lửa, đồ ăn Tối đến là bắt đầu ghe mở biển ra khơi chạy bằng buồm suốt đêm cho đến rạng đông, mọi người đều chuẩn bị đánh lưới Trời hừng sáng, khi đã thấy một vài chú cá chuồn bay là biết chỗ đó có cá Lưới được đem từ dưới khoang lên, được giáp lai (cột dính tấm này với tấm khác) và bắt đầu bủa lưới Thường là bủa xuôi theo chiều gió và giữ theo hướng Nam - Bắc Người ta cột một cây dọi lớn ở tấm đầu, rồi sau đó cứ cách 3 tấm có một dọi nhỏ, cho đến khi hết lưới

Để có được phần lưới chuồn làm kế sinh nhai thì cả nhà tập trung vào việc làm lưới Đàn bà thì lo chắp gai, đàn ông thì đánh nhợ, mấy đứa nhỏ đều phải xúm nhau

Trang 29

đan lưới cả ngày lẫn đêm, nên việc học hành của đám trẻ ít được quan tâm Còn khi đã

đi làm, nhưng gặp lúc biển nhiều gió và láng mé, nên lưới lăn tròn như sợi dây (gọi là lưới xe) thì cả nhà cũng phải lăn ra xở, có lúc quên cả ăn Còn một cảnh khổ nữa là hằng tháng, đến kỳ sắn lưới (tức nhuộm lưới) Lưới chuồn không cần nhuộm cho đậm đen mà phải nhuộm cho cứng Ngư dân phải dùng huyết bò khô, rồi đem xôi Nghĩa là nhận lưới vào một cái bồ trét kín, đậy kín lại, rồi bắc lên trên một chảo nước, nấu cho nước sôi, hơi nước làm chín lưới và huyết nhuộm ngã màu xanh đen mới được lấy ra Chỉ hấp hơi mà không cho nước ngập lưới Đó là những gì mà ông cha ta ngày trước đã chịu thương, chịu khó trong công việc và đáp lại nghề lưới chuồn đã đưa ngư dân Hoài Nhơn nói riêng và ngư dân Bình Định nói chung có được cuộc sống ấm no, khá giả, tươi vui như hôm nay

Cũng cần nói thêm rằng cá chuồn là loại cá sinh sống sát mặt biển, ở khơi nhiều hơn ở lộng, chúng không sợ lưới mà tránh lưới như các loại cá khác Người ta đánh bắt

cá chuồn vào ban ngày, nhất là lúc mặt trời vừa sắp mọc Mặt trời lên cao, càng thấy lưới, cá càng mừng, càng nhào vô đóng và đẻ Khoảng tháng 3-4 âm lịch là lúc cá đẻ nên ngư dân coi đây là tháng mùa bội thu

Cách thức đan lưới chuồn ở Đông Nam Bộ được du nhập từ cộng đồng ngư dân miền Trung trên đường xuôi vào Nam thế kỷ XVIII, XIX

Qua thời gian, nguyên liệu, mẫu mã, các công đoạn… đan lưới đánh cá cũng đã khác xưa Tuy vậy, nghề làm lưới Đông Nam Bộ vẫn được một số người duy trì, cho

dù không còn quy mô và phát triển mạnh như trước năm 1945

Đan lưới là một công việc rất công phu, tỉ mỉ với từng sợi đan và rất mất thời gian, chỉ những người có tính cần cù, kiên nhẫn nhất mới làm được

Với những người sống gần các vùng đầm, ao, hồ, tấm lưới, chài, vó… là cần câu cơm của họ Còn những người đan lưới coi đó như cái nghiệp ăn sâu vào tiềm thức, cái nghề mà ông cha đã để lại cho con cháu Đi đâu, họ cũng mang theo nghề truyền thống như muốn lưu giữ lại những giá trị tốt đẹp mà cha ông đã gầy dựng từ xa xưa Muốn có tấm lưới tốt, người đan không những khéo léo, mà còn phải nhẫn nại Ngồi cả ngày kéo lưới, không được di chuyển nhiều, toàn thân nhức mỏi nên đòi hỏi người làm phải dẻo dai, chịu khó Dù chẳng ra ngoài dầm mưa dãi nắng, nhưng nghề này cũng lắm công phu Thợ đan lưới phải cẩn thận, tỉ mỉ trong từng chi tiết, nếu không sẽ bị lỡ nhịp, mà như thế thì chiếc lưới phải được đan lại Ngoài ra, lưới cũng dễ bị rối, ai làm không cẩn

Trang 30

thận thì có khi phải bỏ đi… Do vậy, khi đan lưới tuyệt đối không được đan lỗi, vì khi

đã bị lỗi thì khó gỡ ra được

Trong quá trình gắn phao và chì, cần phải có kỹ thuật khéo tay và đặc biệt là khoảng cách phải đều nhau, để khi thả lưới đánh bắt cá, gặp dòng nước chảy lưới vẫn không có kẽ hở khiến cá lọt ra ngoài Vào mùa nước lớn thì gắn thêm ống ganh bằng phao, hoặc bằng xốp để tăng độ nổi của nước Nhiềut hợ đan lưới lành nghề ở Bà Rịa, Vũng Tàu đan được chài, lưới 3 màng, vó, thơi đựng cá… Mỗi loại đều có kích cỡ to, nhỏ khác nhau tùy yêu cầu của người sử dụng, nên thời gian làm từ 7-10 ngày xong102

Phần lớn phụ nữ các làng ven sông, ven biển Đông Nam Bộ xưa đã gắn bó với công việc đan lưới Chủ yếu, họ đan lưới để đáp ứng nhu cầu đánh bắt thủy sản ở địa phương Vào mùa nước lớn hàng năm, nghề đan lưới ở đây lại nhộn nhịp hẳn lên, góp phần giải quyết việc làm, mang lại thu nhập ổn định cho mọi người Họ thường tụ họp với nhau ngồi đan lưới đánh cá Lưới còn ở dạng thô, qua bàn tay trau chuốt của người thợ trở thành những tấm lưới hoàn chỉnh Những chiếc lưới nhiều màu sắc sau khi đan xong được giăng hàng dài rồi mới cuộn lại thành tấm lớn như những dải lụa kéo dài vô tận, tạo nên bức tranh bắt mắt

Tuy nghề đan lưới ở Đông Nam Bộ không mang lại thu nhập cao nhưng người dân ở đây vẫn duy trì nghề, bởi có thể tận dụng được thời gian rảnh rỗi và người già, trẻ em đều có thể làm được Nghề đan lưới tuy không dãi nắng dầm mưa, nhưng phải chịu khó vì ngồi một chỗ suốt ngày Người lớn làm những công đoạn phức tạp, còn trẻ

em cũng có thể góp sức, như: căng dây, kéo sợi cước cho thẳng Sau bữa cơm tối, cả nhà 3-4 người vừa chuyện trò vừa ngồi đan lưới lại có thêm thu nhập

Tuy chỉ là nghề phụ, nhưng nếu người thợ khéo tay, chịu khó và khi đã quen việc thì thu nhập từ việc đan lưới mang lại ổn định hơn so với làm nông nghiệp Điều thuận lợi nữa là công việc này làm quanh năm

102 Ngày nay, với sự phát triển của cuộc sống và khoa học - kỹ thuật, sợi cước ny-lông đủ loại kích cỡ, phao, chì

đã được sản xuất sẵn Người thợ chỉ việc mua lưới về gia công lại, cắt xén cho phù hợp là được Cũng vì thế mà việc đan được tấm lưới dễ dàng hơn trước rất nhiều, chỉ cần chịu khó, kiên trì nữa mà thôi

Trang 31

4.4 Tiểu kết luận chuyên đề

Nghề đóng tàu thuyền và đan lưới ở Đông Nam Bộ được hình thành cùng với quá trình lập làng đầu thế kỷ XIX và phát triển mạnh trong những năm đầu thế kỷ XX

Tuy nhiên do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ nên các nghề đóng tàu thuyền và đan lưới truyền thống ở Đông Nam Bộ càng về sau càng ít phát triển vì

sự thay thế những hoạt động, sản xuất bằng máy móc

Ngay nay, ở Đông Nam Bộ nghề đóng tàu thuyền và đan lưới cũng phát triển nhưng chủ yếu là sản xuất công nhiệp Việc đan lưới và đóng những chiếc thuyền theo lối truyền thống đã có những biến đổi sâu sắc, do việc đánh bắt hải sản đang đẩy mạnh những đội tàu đánh bắt xa bờ, tàu thuyền công suất lớn đi dài ngày để có thể khai thác hết hiệu quả mang lại từ biển

Trang 32

Chuyên đề 5

HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI VÀ VẬN TẢI BIỂN

ĐÔNG NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX

5.1 Đặt vấn đề

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là thời kỳ thực dân Pháp đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa ở Đông Nam Bộ Dù tư bản và chính quyền thực dân Pháp chỉ đeo đuổi lợi ích của chính nó, nhưng về mặt khách quan đã du nhập phương thức sản xuất

tư bản chủ nghĩa vào Đông Nam Bộ, điển hình là sự phát triển nền kinh tế thị trường gắn liền với quá trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để khai thác tài nguyên, giao lưu buôn bán, xuất nhập khẩu hàng hóa

Xin phép được điểm qua các chương trình thiết lập dưới thời Toàn quyền Doumer vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã tác động nhiều mặt đến

hoạt động thương mại và vận tải biển ở Đông Nam Bộ Đó là chương trình Doumer,

xây dựng một hệ thống đường xe lửa xuyên Việt nối liền Sài Gòn – Hà Nội, dài 2.136

km Hệ thống đường bộ cũng được thiết lập, mà chiều dài vào năm 1939 là 23.987 km gồm có 17.500 km lát đá và 5.000 km trải nhựa103 Ở Đông Nam Bộ có ba con đường thuộc nối liền Sà Gòn với Vũng Tàu, Đà Lạt và đi các tỉnh Tây Nam Bộ

Hệ thống giao thông đường bộ và đường sắt ở Đông Nam Bộ đã tiếp nối với bến cảng Sài Gòn là cho hoạt động giao thương khu vực này rất nhộn nhịp Cảng Sài Gòn được mở ra cho sự thông thương từ năm 1860, khi quân Pháp bắt đầu chiếm Nam Bộ

và đã trở thành một trong những thương cảng quan trọng nhất ở Đông Dương Năm

1939, cảng Sài Gòn vận chuyển 3.000.000 tấn hàng và với 2.000 lượt xuất nhập của tàu biển quốc tế

Một tiền đề khác góp phần tạo nên nét năng động trong hoạt động thương mại Đông Nam Bộ là việc xây dựng các công trình thủy nông, vét sông và tháo nước ở Nam Bộ đã làm tăng thêm diện tích đất canh tác, tăng năng suất lúa Nhờ vậy hoạt động xuất khẩu lúa gạo luôn tăng nhanh “Kể từ năm 1893 trở đi, các công trình đào kênh, vét sông, tháo nước được lập thành kế hoạch và được giao phó cho các công-ty

103 J Maillard, “Réseau routier indochinois”, Encyclopédie mensuelle d’Outre-mer no 32, 1953, tr 321-323; n°

41, 1954, tr 30-32 – Dẫn theo Nguyễn Thế Anh (1970), Việt Nam thời Pháp đô hộ, Lửa Thiêng, Sài Gòn, tr.178

Trang 33

tư nhân lãnh thầu, dưới sự kiểm soát của Nha Công-chánh104 Thể tích đất vét hàng năm trung bình là 824.000m3 trong giai đoạn thập niên 1890-1900, lên tới 7.233.000

m3 trong giai đoạn thập niên 1920 - 1930105 Được đào cả thảy 1.300 km kênh chính và 2.500 km kênh phụ Các công-trình đã tốn 48.000.000$ nhưng cho phép sinh địa tăng thêm 35.000 ha mỗi năm; đồng thời, các kênh đào cũng hiến điều kiện thuận tiện cho

sự lập dân và sự chuyên chở số lúa gạo sản xuất Diện-tích trồng lúa tăng gấp 421 % và dân-số Nam kỳ tăng gấp 267 % trong vòng nửa thế-kỷ”106:

Từ năm 1888 - 1918, số vốn của tư nhân đầu tư tại Việt-Nam là 492 triệu phơ răng, được phân phối như sau: Kỹ nghệ và mỏ: 249 triệu; Vận tải:128 triệu; Thương mại: 75 triệu; Nông nghiệp: 40 triệu Trong vòng sáu năm (1924-1929), số vốn Pháp đầu tư tại Đông Dương đã lên tới 3 tỷ phơ răng phật-lăng108 “Trong khi giá thị trường cao su tăng khiến một số vốn là 700 triệu phơ răng đã được đầu tư vào các đồn-điền

cao su trong vùng đất đỏ (terres rouges) phía Đông Bắc Sài Gòn; diện tích các đồn

điền này tăng từ 15.000 ha năm 1920 tới 90.225 ha năm 1929 Đồng thời, các nhà kinh

104 Ch Robequain, “Les dragages de Cochinchine”, Annales de Géographie 1932, tr 554-556 Quan trọng nhất

là Société française de dragages et de travaux publics do Ngân-hàng Đông-Dương kiểm tra

105Một ví dụ: Inspection générale des Travaux Pulics, Dragages de Cochinchine: canal Rachgia-Hatien Saigon,

1930, 82 tr

106 Nguyễn Thế Anh (1970), Việt Nam thời Pháp đô hộ, Lửa Thiêng, Sài Gòn, tr.183-184

107 Nguyễn Thế Anh (1970), Việt Nam thời Pháp đô hộ, Lửa Thiêng, Sài Gòn, tr.191

108 H Callis, Foreign capital in Southeast Asia New York, 1942 Dẫn theo Nguyễn Thế Anh (1970), Việt Nam

thời Pháp đô hộ, Lửa Thiêng, Sài Gòn, tr.189-190

Năm Diện-tích trồng lúa

Số lúa gạo xuất cảng

từ Saigon Dân số Nam-kỳ

1880 522.000 ha 284.000 tấn 1.679.000

1900 1.175.000 ha 747.000 tấn 2.937.000

1937 2.200.000 ha 1.548.000 tấn 4.484.000

Trang 34

doanh cũng chú trọng tới các nông phẩm khác như trà, cà phê, mía và dừa”109 Do vậy tại Sài Gòn, Chợ Lớn, Biên Hòa một số đơn vị cơ sở sản xuất, nhà máy được hình thành như các nhà máy xay gạo, các xưởng nấu rượu, các công ty đường, các xưởng làm thuốc lá, các xưởng chế dầu và xà phòng… Tình hình đó cũng thúc đẩy hoạt động thương mại và vận tải biển Đông Nam Bộ trong những năm đầu thế kỷ XX phát triển

Giới hạn vấn đề

Hoạt động thương mại và vận tải biển Đông Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX

là chủ đề rộng bao trùm cả một vùng địa lý 6 tỉnh thành khu vực Đông Nam Bộ Do đó

để tập trung cho chủ đề biển đảo Đông Nam Bộ, trong chuyên đề này chúng tôi chỉ tập

trung hoạt động thương mại và vận tải biển ở các địa bàn gần biển hoặc ảnh hưởng trực tiếp từ những hoạt động của các ngành kinh tế biển Đông Nam Bộ những năm đầu thế

kỷ XX

5.2 Hoạt động thương mại Đông Nam Bộ trong những năm đầu thế kỷ XX

Bên cạnh những hoạt động thương mại truyền thống, những năm đầu thế kỷ

XX đã xuất hiện những yếu tố mới Đó là sự có mặt và hoạt động của các thương gia người Pháp Một số nhà tư bản Pháp chuyên trong lĩnh vực thương mại, xuất nhập cảng lúc bấy giờ: Denis Frères d’Indochine, Société Marseillaise d’Outre-Mer, Etablissements Boy Landry, Dumarest d’Indochine Descours et Cabaud, Poinsard et Veyret, Comptoirs Généraux de l’Indochine, Lucien Berthet et Cie, v.v…Đây là những công ty thương mại có mặt ở Đông Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX “chiếm độc quyền điều khiển các sự mậu dịch với mẫu quốc”110

Hoạt động thương mại truyền thống những năm đầu thế kỷ XX vẫn giữ địa vị quan trọng trong nền kinh tế ở Đông Nam Bộ Đó là hoạt động của hệ thống chợ ở các thành thị cũng như ở nông thôn, đảm bảo cho những nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hằng ngày của người dân

Đông Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX mặc dù đã có đường sắt Bắc – Nam đi qua, hệ thống đường bộ được hình thành nhưng do gần biển và hệ thống sông ngòi nhiều nên đi lại bằng ghe xuồng là chính Chợ Đông Nam Bộ những năm đầu thế kỷ

XX là những nơi bến dưới thuyền Tại đây là những thị tứ, có nhà cửa, tiệm tạp hóa, tiệm ăn, hàng thịt cá rau, trái cây… Để đánh giá địa phương đó có trù phú, phát đạt hay

109 Nguyễn Thế Anh (1970), Việt Nam thời Pháp đô hộ, Lửa Thiêng, Sài Gòn, tr.191

110 Nguyễn Thế Anh (1970), Việt Nam thời Pháp đô hộ, Lửa Thiêng, Sài Gòn, tr.197

Trang 35

không là nhìn vào quy mô của chợ Nếu ở nông thôn, làng là quan trọng, thì chợ chính

là cái cơ sở quan trọng nhất của một làng ở Đông Nam Bộ Làng nào cũng tự hào về chợ làng mình – nơi gắn bó, giao lưu trao đổi, buôn bán, hẹn hò… của các thành viên trong làng Đi chợ hàng ngày là nhu cầu không phải chỉ mua bán mà còn là gặp gỡ, giao lưu, thể hiện các mối quan hệ xã hội Bên những mái lều, hàng quán thấp lè tè, lụp xụp, những cuộc mua bán, ngả giá diễn ra sôi nổi, đôi khi thu hút sự tham gia của cả những người đi chợ không có nhu cầu với món hàng đó Người bán chào mời, ra giá cho hàng hóa của mình, còn người mua dù đã ưng món hàng nhưng vẫn mặc cả để được giá hời nhất Mặc cả dường như đã trở thành một việc không thể thiếu khi người Việt đi chợ Dù vậy, không khí của cuộc mua bán ở chợ quê vẫn rất vui vẻ, ai cũng xởi lởi dù bán được hàng hay không Bởi ở đó, hầu như mọi người quen biết nhau, thuận mua, vừa bán, không thì lần sau quay lại

Nét đặc trưng của chợ quê Đông Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX là tính tự cung, tự cấp Hầu hết những món hàng được bày bán ở chợ đều do người nông dân tự tay làm ra Cũng có các tiểu thương buôn bán chuyên nghiệp hơn với những sạp hàng

cố định nhưng số đó không nhiều Đôi khi chỉ là, chục trứng, con gà, mớ cá, mớ rau tập tàng của nhà trồng được…, người dân cũng mang ra chợ bán và họ phải đi từ rất sớm

để mong chọn cho mình một vị trí thuận lợi nhất Bán thứ mình có và mua những thức mình cần, cứ như thế, người dân quê đi chợ đôi khi đóng vai cả người bán và người mua Điều này, ở chợ thành thị hầu như không có và nó tạo nên một nét đặc trưng riêng biệt cho mỗi phiên chợ quê truyền thống

Ở Đông Nam Bộ nhiều chợ có đặc điểm riêng về dân cư và sản phẩm Đi mỗi chợ có thể nhận biết nhiều điều về nơi ấy: dân cư, ngôn ngữ, sản phẩm, các mối quan

hệ xã hội qua xưng hô Chợ ở vùng nông thôn Đông Nam Bộ thường họp rất sớm và vãn cũng nhanh như khi nó bắt đầu Phần vì không có nhiều hàng hóa; phần vì chợ họp sớm, tan nhanh để người dân còn kịp về lo công việc đồng áng, nhất là những ngày mùa bận rộn

Chợ là nơi trao đổi buôn bán hàng hóa trong một khu vực địa lý Những năm đầu thế kỷ XX ở Đông Nam Bộ có nhiều chợ khá nổi tiếng: Đa Kao, Cầu Kho, Tân Định, Xóm Chiếu, Bàu Sen, Bà Chiểu, Bà Điểm, Thị Nghè, Phú Nhuận, Gò Vấp, Hòa Hưng, Cầu Ông Lãnh, Chợ Lớn, Bình Tây, Thủ Đức…(Sài Gòn); chợ Thủ (Bình Dương)

Trang 36

Chợ Bến Thành, nằm cạnh bến sông gần thành Gia Định nên có tên gọi là Bến

Thành, và theo đó chợ cũng có tên là chợ Bến Thành Khi Pháp đã chiếm Gia Định chợ

bị huỷ hoại hoàn toàn Năm 1912, người Pháp lấp ao Boresse để xây chợ mới, cách địa điểm chợ Bến Thành cũ không xa Ngày 28/3/1914, ngôi chợ mới này được khánh thành và vẫn có tên là chợ Bến Thành

Chợ Bình Tây (còn được gọi là Chợ Lớn, Chợ Lớn Mới) với lối kiến trúc cổ,

mang đậm phong cách Á Đông, được thành lập trong những năm đầu tiên hình thành vùng đất Sài Gòn xưa Nơi đây là điểm buôn bán, giao thương quan trọng giữa Tp Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, cũng như với một số nước trong khu vực như Campuchia, Lào, Thái Lan… Chợ Bình Tây được khởi công từ năm 1928 và hoàn thành năm 1930

Chợ Bình Tây đầu thé kỷ XX (Chợ Lớn, Chợ Lớn Mới)

Ảnh: Doanh nhân Sài Gòn online - 07/02/2013

Từ những năm đầu thế XX – cho đến ngày nay – chợ Bình Tây là nơi làm ăn buôn bán chính của đồng bào người Hoa ở Tp Hồ Chí Minh Hàng hóa trong chợ phần lớn được phân phối dưới hình thức bán sỉ cho mối lái các tỉnh và những tư thương mua

về bán tại các chợ nhỏ trong thành phố Chợ hoạt động từ 3 giờ sáng đến 9, 10 giờ đêm Tờ mờ sáng, chợ đã bắt đầu náo nhiệt với những gian hàng thực phẩm, quần áo Người bán, kẻ mua từ khắp nơi đổ về rất nhộn nhịp và sôi động Tiểu thương người Việt và người Việt gốc Hoa kinh doanh buôn bán ở chợ Bình Tây có truyền thống tương trợ, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau

Trang 37

Dọc theo khuôn viên chợ, có những quầy ăn uống bày bán nhiều món ăn Nam

Bộ với giá rất bình dân để phục vụ khách đi đường và tiểu thương trong chợ Thức ăn ở đây cũng phong phú và không kém phần hấp dẫn như các món cháo, bún măng, bánh ướt, vịt tiềm… Đặc biệt, các sạp bán thức ăn ở đây rất biết chiều lòng thực khách bằng cách thường xuyên thay đổi món cho phù hợp với khẩu vị Về đêm, chợ Bình Tây cũng nhộn nhịp và thơ mộng dưới màu đỏ của những chiếc đèn lồng đong đưa trước gió Lúc này, du khách có thể đi dọc bên hông chợ để xem những quầy trái cây bày bán rất nhiều loại đặc sản được đưa từ miền Tây về

Chợ Lớn cũ, ra đời sau khi người Hoa từ Cù Lao Phố về đây lánh giặc Tây Sơn

(1776) Ảnh này chụp đầu thập niên 1920 Địa danh Chợ Lớn phát xuất từ đây: ngôi chợ lớn nhất vùng “Chợ Lớn” Sau khi lập Chợ Lớn mới (Bình Tây) thì chợ này bị dẹp bỏ vì quá tải

Ảnh: Doanh nhân Sài Gòn online - 07/02/2013

Bến Bình Đông dọc theo hai bờ kênh Tàu Hũ trở thành một trung tâm quan

trọng của vựa lúa miền Nam với sự kết hợp liên hoàn giữa hệ thống các điểm xay lúa, kho gạo và bến bãi Bến Bình Đông chính là nơi chứng kiến một giai đoạn thịnh vượng của việc mua bán và xuất khẩu lúa gạo trong suốt những năm đầu thế XX Nơi đây là một phần quan trọng của Chợ Lớn, được hình thành ngay khi người Hoa từ Cù lao Phố (thuộc Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) tới đây vào năm 1778

Chợ Thủ, Bình Dương những năm đầu thế kỷ XX đã trở thành một trung tâm

mua bán tấp nập Chợ nằm gần sát sông Gài Gòn, nhìn từ xa, giống như một con tàu với cột buồm đang lênh đênh trên mặt sông Chợ có vị trí khá thuận lợi cho việc trao

Trang 38

đổi và buôn bán với các vùng lân cận Chợ còn có tên Phú Cường – địa danh vùng đất nơi có chợ

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí - bộ sách địa lý được biên soạn trong khoảng thời gian từ 1864 -1875, đã nói đến tên chợ Phú Cường: “Chợ Phú Cường ở thôn Phú Cường, huyện Bình An tục danh gọi là chợ Thủ Dầu Miệt (hay Dầu Một) ở bên lỵ sở huyện, xe cộ ghe thuyền tấp nập đông đảo” Đến năm 1889, trên địa bàn huyện Bình

An, tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập, chợ Phú Cường trở thành chợ tỉnh Thủ Dầu Một Từ đó, tên chợ Thủ hoặc Thủ Dầu Một lại được nhắc nhiều đến trong dân gian

là nơi nghề thủ công phát triển mạnh, kinh tế giao thông hàng hóa rộng khắp nhờ vào nguồn nhân lực, thợ lành nghề đông đảo, nguyên vật liệu gỗ rừng, khoáng sản đặc dụng, dồi dào, lại ở vị trí thuận lợi cho việc giao thương đường thủy, đường bộ, tạo nên một quang cảnh tấp nập “trên bến dưới thuyền”, nhu cầu đi lại, chuyên chở hàng hóa rất lớn Nghề đóng ghe thuyền ở Thủ Dầu Một rất phát triển Còn các sản phẩm hũ, nồi, bộ đồ chè, cối đâm tiêu là những đặc trưng cho tài nghệ của người thợ thủ công truyền thống năm xưa trên vùng đất này Những dãy sạp, tiệm bày bán đủ các loại bánh của người Việt: bánh ướt tôm khô, bánh lọt, bánh cuốn, bánh tiêu thơm nồng Ra phía

bờ sông người dân bày bán các chậu tôm cá, lươn, cua, sò, ốc, ếch sống tươi trong các chậu, thúng sơn, được người miền Tây Nam Bộ, có khi từ tận đất mũi Cà Mau mang lên bày bán, xếp thứ tự ngăn nắp xuôi theo phố chợ

Trang 39

Chợ Thủ Dầu Một xưa Ảnh: Internet

Cù lao Phố là một trong những đầu mối giao thông thủy, bộ của Đông Nam Bộ

Từ thế kỷ XVII, Cù lao Phố là một thương cảng, hàng hóa dồi dào, thường xuyên có nhiều tàu nước ngoài đến buôn bán Những năm đầu thế kỷ XX hoạt động thương mại

ở Cù lao Phố tiếp tục phát triển, là một trung tâm thương mại của Biên Hòa, Đồng Nai

Cù lao Phố trở thành một trung tâm thương mại và giao dịch vào loại nhất của Đông Nam Bộ vào thời bấy giờ nhờ có ưu thế của một cảng sông sâu trong nội địa, đầu mối tập trung nhiều loại hàng hoá Vùng Cù lao Phố cũng là nơi hình thành sớm các ngành nghề thủ công: dệt chiếu, làm tơ lụa, làm gốm, mộc, đúc đồng, làm pháo hay chăn nuôi tằm, trồng mía, nấu đường Ngoài nguồn hàng cung cấp tại chỗ, thương cảng Cù lao Phố còn tiếp nhận các nguồn hàng hóa từ nơi khác trên vùng Đồng Nai lúc bấy giờ như Phước Thiền, Bến Gỗ, Bến Cá

Trang 40

Chợ Biên Hòa ngày xưa từ thôn Phước Lư dời về làm chợ Dinh, cũng gọi là chợ Bàn Lân hay chợ Lộc Giả Nó được cất lại bằng cây lợp ngói vào năm 1889 Về sau vào năm

1896 mới cho lấp bãi dưới bờ sông rồi cẩn đá ong, để xây cất lại vào vị trí hiện nay

Chợ Đồn là tên gọi rất quen thuộc mỗi khi nhắc đến Bửu Hòa (Đồng Nai) Chợ hình thành từ thế kỷ XVIII, nhưng phát triển mạnh khi thực thực dân Pháp đầu tư khai thác thuộc địa vùng đất này, đặc biệt là sau khi hoàn thành hai chiếc cầu Rạch Cát và Cầu Gành

Những năm đầu thế kỷ XX, chợ Đồn là trung tâm thương mại của Đồng Nai, có bán các mặt hàng chạp phô với các thương gia có tiếng như: Chú Di, Chú Dũ, Bà Ba Vạn… Tại đây còn có tiệm thuốc Bắc của ông Hoạch, gần đó cũng có ba căn phố thuộc hội quán của các bang người Trung Hoa như Bang Phúc Kiến, Tiều Châu, Quảng Đông, Hẹ… Gần sát khu vực bờ sông có một con mương nhỏ, kế đó có một nhà vuông sát bến sông làm chợ cá, buôn bán các loại cá đồng Góc xẻo ngay chân Cầu Gành là vựa cá lớn của Bà Bồn, ghe đậu tấp nập lên tận bến sông Chợ Đồn cũ

Hoạt động thương mại ở ở Bà Rịa – Vũng Tàu từ đầu thế kỷ XX gắn liền với việc phát triển kinh tế hàng hóa và quá trình đô thị hóa bán đảo Vũng Tàu với mục tiêu

Ngày đăng: 22/10/2022, 00:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Văn An (2001), Một số vấn đề về yếu tố biển trong văn hóa Quảng Nam. Trong Văn hóa Quảng Nam những giá trị đặc trưng, Sở Văn hóa Thông tin Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về yếu tố biển trong văn hóa Quảng Nam". Trong "Văn hóa Quảng Nam những giá trị đặc trưng
Tác giả: Trần Văn An
Năm: 2001
2. Nguyễn Thế Anh (1970), Việt Nam thời Pháp đô hộ, Lửa thiêng, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thời Pháp đô hộ
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Năm: 1970
3. A.A Pouyanne (1998), Các công trình giao thông công chính Đông Dương, Nguyễn Trọng Giai dịch, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công trình giao thông công chính Đông Dương
Tác giả: A.A Pouyanne
Nhà XB: Nxb Giao thông vận tải
Năm: 1998
5. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (2000), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tập 1 (1930 - 1945), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tập 1 (1930 - 1945)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
6. Đỗ Bang (1997), Kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1997
7. Bộ giáo dục và đào tạo (2003) Giáo trình triết học Mác – Lênin, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác – Lênin
Nhà XB: NXB Chính Trị Quốc Gia
8. Bulletin officiel de l’expédition de Cochinchine (B.O.E.C.) (Tập san chính thức của cuộc chinh phục Nam Kỳ), 1863 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bulletin officiel de l’expédition de Cochinchine
9. Charles B.Maybon (2006), Những người châu Âu ở An Nam, Ngô Thừa Hỷ dịch, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những người châu Âu ở An Nam
Tác giả: Charles B.Maybon
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2006
10. Cahier des colons de ưlndochine (1907), Imprimerie "L'Avenir du Tonkin", Hanoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: L'Avenir du Tonkin
Tác giả: Cahier des colons de ưlndochine
Năm: 1907
11. Phan Huy Chú, Hải trình chí lược, Phan Huy Lê, Tạ Trọng Hiệp dịch và giới thiệu, Cahier d’Archipel 25, EHESS, Paris, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải trình chí lược
12. Huỳnh Tịnh Của (1895), Đại Nam quấc âm tự vị, tome I, Imprimerie Rey Curiol &Cie Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam quấc âm tự vị
13. Ch. Robequain, “Les dragages de Cochinchine”, Annales de Géographie. 1932 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Les dragages de Cochinchine”, "Annales de Géographie
14. William Dampier (2006), Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688, Hoàng Anh Tuấn dịch, chú thích và viết tựa, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688
Tác giả: William Dampier
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2006
4. Báo cáo của Thống đốc Nam Kỳ đề ngày 23-9-1883 gửi Bộ trưởng Bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp, rồi Công văn của Tổng đốc Bình Thuận đề ngày 17-10-1883 - Trung tâm Lưu trữ quốc gia II. KH: IA.2/041 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Nghề đan lưới ở Đơng Nam Bộ được hình thành từ thế kỷ XVII, XVIII sau hàng loạt các cuộc di dân từ phía bắc vào phía Nam, ở các vùng ven biển, làng xóm nhanh  chóng mọc lên gắn liền với lập vạn chài - Chuyên đề 4 NGHỀ ĐÓNG THUYỀN VÀ ĐAN LƯỚI Ở BIỂN ĐẢO VIỆT NAM MIỀN ĐÔNG NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX
gh ề đan lưới ở Đơng Nam Bộ được hình thành từ thế kỷ XVII, XVIII sau hàng loạt các cuộc di dân từ phía bắc vào phía Nam, ở các vùng ven biển, làng xóm nhanh chóng mọc lên gắn liền với lập vạn chài (Trang 19)
mang đậm phong các hÁ Đơng, được thành lập trong những năm đầu tiên hình thành vùng đất Sài Gòn xưa - Chuyên đề 4 NGHỀ ĐÓNG THUYỀN VÀ ĐAN LƯỚI Ở BIỂN ĐẢO VIỆT NAM MIỀN ĐÔNG NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX
mang đậm phong các hÁ Đơng, được thành lập trong những năm đầu tiên hình thành vùng đất Sài Gòn xưa (Trang 36)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm