NGUYỄN VĂN HIỆP – PHẠM NGỌC TRÂM (Chủ biên) HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC BIỂN ĐẢO VIỆT NAM Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ (1945 – 1975) (TẬP 3) Bình Dương, 8 2017 MỤC LỤC Chuyên đề 1 CHÍNH QUYỀN THỰC DÂN PHÁP V.
Trang 1NGUYỄN VĂN HIỆP – PHẠM NGỌC TRÂM
(Chủ biên)
HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC BIỂN ĐẢO VIỆT NAM Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ (1945 – 1975)
(TẬP 3)
Bình Dương, 8-2017
Trang 2MỤC LỤC
Chuyên đề 1 : CHÍNH QUYỀN THỰC DÂN PHÁP VÀ TAY SAI TRONG VIỆC QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC BIỂN ĐẢO ĐÔNG NAM BỘ NHỮNG NĂM (1945 – 1954) 1
1.1 Đặt vấn đề 1 1.2 Vị thế và sự thay đổi địa lý hành chính vùng biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ sau Cách mạng tháng Tám (1945) 2 1.3 Tình hình vùng ven biển Đông Nam Bộ sau Cách mạng tháng Tám (1945) 4 1.4 Chính quyền thực dân Pháp và tay sai trong việc quản lý biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ (1945 - 1954) 14 1.5 Chính quyền thực dân Pháp và tay sai trong việc khai thác biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ (1945 - 1954) 20 1.6 Tiểu kết luận chuyên đề 26
Chuyên đề 2 : HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC BIỂN DẢO VIỆT NAM Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ CỦA CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN (1954 - 1975) 28
2.1 Tình hình vùng ven biển Đông Nam Bộ (1954-1975) 28 2.2 Hoạt động quản lý và khai thác biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ (1954-1975) 34 2.3 Tiểu kết luận chuyên đề 55
Chuyên đề 3: HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN ĐẢO Ở ĐÔNG NAM BỘ TRONG THỜI KỲ CHIẾN TRANH (1945 – 1954) 57
3.1 Đặt vấn đề 57 3.2 Lực lượng cách mạng khai thác biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ (1945 - 1954) 57
Trang 33.3 Hoạt động phát triển kinh tế của cộng đồng cư dân biển đảo Việt Nam ở miền
Đông Nam Bộ (1945-1954) 68
Chuyên đề 4 : HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC, ĐÁNH BẮT HẢI SẢN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở ĐÔNG NAM BỘ (1954 – 1975) 74
4.1 Đánh bắt hải sản ở Đông Nam Bộ (1954-1975) 74
4.2 Khai thác du lịch biển Đông Nam Bộ (1954 - 1975) 79
4.3 Hoạt động khai thác biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ của cách mạng (1954-1975) 84
Chuyên đề 5 : HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI BIỂN Ở ĐÔNG NAM BỘ (1954 - 1975) 91
5.1 Đặt vấn đề 91
5.2 Hoạt động vận tải biển ở Đông Nam Bộ (1954 - 1975) 92
5.3 Tiểu kết luận chuyên đề 120
Chuyên đề 6: NGHỀ TRUYỀN THỐNG CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN ĐÔNG NAM BỘ THỜI KỲ CHIẾN TRANH (1954 – 1975) 121
6.1 Một số tiền đề thúc đẩy sự phát triển các nghề truyền thống của cư dân ven biển Đông Nam Bộ (1954 - 1975) 121
6.2 Nghề truyền thống của cư dân ven biển Đông Nam Bộ (1954 - 1975) 122
6.3 Tiểu kết luận chuyên đề 138
TÀI LIỆU THAM KHẢO 140
Trang 41
Chuyên đề 1 CHÍNH QUYỀN THỰC DÂN PHÁP VÀ TAY SAI TRONG VIỆC QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC BIỂN ĐẢO VIỆT NAM
Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ NHỮNG NĂM (1945 – 1954)
1.1 Đặt vấn đề
Sau Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, các tỉnh thành Đông Nam Bộ phải trực tiếp kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Mặc dù, chính quyền nhân dân ở Đông Nam Bộ được thành lập, nhưng nhiệm vụ chủ yếu là huy động sức người, sức của tập trung cho cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ ở Đông Nam Bộ Do đó đối với chính quyền cách mạng ở Đông Nam Bộ nhiệm vụ quản lý và khai thác biển đảo trong những năm 1945 – 1954 ít được chú ý, chỉ một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân vùng hậu cứ, căn cứ địa cách mạng với tinh thần tự cấp, tự túc thu đua tăng gia sản xuất, bám biển khai thác hải sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng và kháng chiến Mãi đến những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1953 - 1954) vấn
đề quản lý và khai thác biển đảo khu vực Đông Nam Bộ mới được chú trọng sử dụng vào việc tiếp tế chi viện từ miền Bắc vào miền Nam và chuẩn bị chuyển quân tập kết bằng đường biển, theo tinh thần hiệp định Giơ ne vơ
Về phía chính quyền thực dân Pháp và tay sai, để đối phó với cuộc kháng chiến của quân và dân ta ở Đông Nam Bộ hoạt động quản lý và khai thác biển đảo của chúng trong giai đoạn 1945 – 1954 tập trung xây dựng bộ máy chính quyền, cơ sở hạ tầng vùng biển đảo Đông Nam Bộ, biến khu vực này thành hậu cứ quan trọng để thống trị cả miền Nam Việt Nam
Tự thực tiễn ấy, trong chuyên đề này, sau khi phản ánh vị thế và sự thay đổi địa lý hành chính vùng biển đảo Đông Nam Bộ sau Cách mạng tháng Tám (1945) sẽ tập trung trình bày hoạt động quan lý và khai thác biển đảo của chính quyền thực dân Pháp và tay sai trong giai đoạn 1945 – 1954 Riêng về hoạt động khai thác biển đảo trong những năm
1945 – 1954, chúng tôi cũng có dành một phần để trình bày hoạt động khai thác biển đảo phục vụ kháng chiến
Trang 5Thành phố Hồ Chí Minh ở vào vị trí chếch hướng Tây Nam của miền Đông Nam
Bộ, Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Tây và Nam giáp tỉnh Long An, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam ăn thông ra biển Bà Rịa - Vũng Tàu Hiện nay, thành phố có
12 quận nội thành (1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, Phú Nhuận)
và 6 huyện ngoại thành (Bình Chánh, Củ Chi, Hóc Môn, Thủ Đức, Nhà Bè, Cần Giờ)
Huyện Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh) tiếp giáp với Biển Đông, có 12km bờ biển Cửa biển Cần Giờ, từ thế kỷ XVIII đã được khách nước ngoài ca ngợi là cánh cửa lớn của Việt Nam mở ra Thái Bình Dương
Với Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh là một hải cảng quan trọng Sông Sài Gòn
đổ ra các đoạn Nhà Bè (16km), Lòng Tàu (33km), Ngã Bảy (16km), có độ sâu có thể tiếp nhận tàu biển trên 30 ngàn tấn - một ưu thế hiếm có trên thế giới đối với một thành phố ở sâu trong nội địa Cảng Sài Gòn nằm sâu trong lòng đất liền 80km theo đường sông, nhưng lại có bến Rạch Dừa ở gần cửa biển là nơi có thể phát triển thành hải cảng lớn Sau năm 1954, cảng Sài Gòn có quân cảng dài 2km, 11 cầu tàu và thương cảng dài 1991m, 6 bến, 14 cầu tàu, khả năng tồn trữ 48.000 tấn trong 3 tháng Cảng Nhà Bè cách cảng Sài Gòn 10 hải lý, có kho chứa xăng dầu 63.000m3 Khi quân viễn chinh Mĩ vào miền Nam, trên sông Sài Gòn - Nhà Bè lại hình thành thêm 6 cảng mới thay thế cảng Sài Gòn về mặt tiếp nhận hàng quân sự Với mặt nước tự nhiên chiếm 29.000 ha trên toàn khu vực, hệ thống đường sông đảm bảo thông thương từ Sài Gòn lên miền Đông, xuống miền Tây, sang Campuchia
Thành phố cảng Sài Gòn trong những năm 1945 – 1954 đã trở thành đầu mối của nhiều xa lộ, quốc lộ, liên tỉnh lộ… ở khu vực Nam Đông Dương, đảm bảo lưu thông từ Sài Gòn ra miền Bắc, đi các tỉnh, lên Lào và Campuchia Những con đường huyết mạch sống còn của Đông Dương đều qua Sài Gòn: quốc lộ số 1 Hà Nội - thành phố Hồ Chí Minh, lên ải Bắc, xuống miền Tây, quốc lộ 13 lên Campuchia, Lào, quốc lộ 22 lên Campuchia, xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa là đường vận chuyển lớn bổ sung quốc lộ 1 qua các cầu trọng tải 50 tấn (Sài Gòn, Rạch Chiếc, Đồng Nai)
Trang 63
Sân bay Tân Sơn Nhất của Sài Gòn, là một trong 6 sân bay loại 3 trên toàn miền Nam (sân máy bay phản lực có thể hạ cánh và có đủ phương tiện cho ngày đêm, mọi thời tiết), đứng vào loại lớn trên thế giới, nơi quá cảnh của các đường bay quốc tế qua khu vực châu Á - Thái Bình Dương Đã có thời 20 hãng hàng không thương mại quốc tế sử dụng sân bay Tân Sơn Nhất Sân bay có thể tiếp nhận hàng trăm máy bay phản lực, quân
sự và dân sự hạng nặng lên xuống trong một ngày
Chính do vị thế quan trọng của mình nên dân số thành phố cảng Sài Gòn luôn phát triển với tốc độ cao Năm 1940, dân số của thành phố khoảng nửa triệu, năm 1954, gần 2 triệu, năm 1975: 4 triệu Như vậy, mặc dù trong điều kiện chiến tranh, nhưng dân
số của tahnhf phố vẫn luôn tăng với tốc độ lớn Vì xuất phát từ yêu cầu phát triển của nền kinh tế công thương nghiệp và của các ngành phục vụ chiến tranh, do việc mở rộng các căn cứ quân sự của địch, do mở rộng đô thành và đặc biệt do chiến tranh khốc liệt, lâu dài tàn phá nông thôn… nhân dân các nơi đổ về thành phố ngày một đông
Đối với thực dân Pháp và chính quyền tay sai, sau năm 1945 chúng chia Việt
Nam làm ba vùng là Nam Việt, Trung Việt và Bắc Việt Miền Nam Việt Nam bao gồm toàn bộ vùng Nam Bộ, Cao Nguyên miền Nam và một phần Trung Việt Bà Rịa, Vũng Tàu là hai tỉnh (tỉnh Bà Rịa và tỉnh Vũng Tàu) thuộc miền Đông của Nam phần Việt Nam
Tỉnh Bà Rịa gồm có tỉnh lỵ Bà Rịa và các quận Long Điền, Đất Đỏ, và Cơ Trạch Trụ sở Ủy ban hành chính tỉnh Bà Rịa đóng tại tỉnh lỵ (Phước Lễ)
Tỉnh Cấp (Cap Saint Jaques) có các làng Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam (tổng Vũng Tàu) và tổng Cần Giờ Trụ sở Ủy ban hành chính tỉnh Cấp đóng tại Vũng Tàu
Tháng 12-1945 tỉnh Cấp được nhập vào Bà Rịa, gọi là tỉnh Bà Rịa
Ngày 14-11-1946 “Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam kỳ” ban hành chỉ thị số 153-C/Cir-Sài Gòn thành lập các quận hành chánh quân sự (Délégation administrative et militaire) Xuyên Mộc và Phú Mỹ Tuy nhiên, đến ngày 28-7-1947 Tỉnh trưởng Bà Rịa ra quyết định giải thể quận Xuyên Mộc, tiếp đó ngày 23-9-1947 giải thể quận Phú Mỹ1
Ngày 10-3-1947 “Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam kỳ” ban hành nghị định thành lập tỉnh Cap Saint Jacques (Vũng Tàu) Tiếp đó, ngày 3-5-1947 “Chính phủ lâm
1 Phông Thống đốc Nam kỳ, Hồ sơ VV 216.Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II
Trang 74
thời Cộng hòa Nam kỳ” ban hành nghị định thành lập quận Cần Giờ thuộc tỉnh Vũng Tàu gồm các làng thuộc tổng Cần Giờ và tổng An Thịt Trụ sở quận Cần Giờ đặt tại làng Cần Thạnh
Nghị định số 807-Cab/MI của Chính phủ Lâm thời Quốc gia Việt Nam ngày 12-1952, cải biến thị trấn Vũng Tàu thành thị xã hỗn hợp (Commune mixte)2 Nghị định
29-số 2235-Cab/DAA ngày 16-6-1954 của Thủ hiến Nam Việt tạm sáp nhập vào làng Phước Hải hai làng Hội Mỹ và Long Mỹ và tạm sáp nhập làng Phước Lợi vào làng Phước Thọ Tuy nhiên đến ngày 2-11-1954 nghị định này bị thu hồi Nghị định số 3517-HCSV ngày 29-11-1954 của Đại biểu chính phủ tại Nam Việt thành lập quận Xuyên Mộc, trụ sở đặt tại Xuyên Mộc3
Đối với chính quyền cách mạng, từ tháng 5-1951, tỉnh Bà Rịa và các huyện Long Thành, Cần Giuộc, Cần Đước, Nhà Bè được sáp nhập thành tỉnh Bà Rịa-Chợ Lớn (gọi tắt là tỉnh Bà Chợ) Từ đó, đến kết thúc cuộc kháng chiến chống thức dân Pháp xâm lược (1954), về căn bản địa lý hành chính Bà Rịa – Vũng Tàu không có sự thay đổi
1.3 Tình hình vùng ven biển Đông Nam Bộ sau Cách mạng tháng Tám (1945)
Sau khi giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám (1945), Ủy ban hành chính các tỉnh, thành khu vực Đông Nam Bộ được thành lập Cùng với nhân dân cả nước, Ủy ban hành chính lâm thời các tỉnh thành khu vực Đông Nam Bộ tổ chức thực hiện một số nhiệm vụ cấp bách như tịch thu ruộng đất đồn điền, ruộng muối của thực dân Pháp và ngoại kiều phản động tạm cấp cho dân nghèo; xóa bỏ thuế thân, giảm tô, hủy các món nợ tô tức cũ đối với nông dân; phát động tuần lễ vàng; khuyến khích tăng gia sản xuất, chống đói; mở các lớp bình dân học vụ; phát động phong trào “lá lành đùm
lá rách” Khuyến khích bà con ven biển khai hoang, phát rẫy trồng cây lương thực, hoa màu, tham gia các lớp bình dân học vụ, xóa mù chữ
Tuy nhiên, không khí độc lập tự do, hồ hởi xây dựng cuộc sống mới của cộng đồng cư dân ven biển Đông Nam Bộ đã nhanh chóng dập tắt vì phải đối mặt với cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp Ngày 2 - 9 - 1945, tại Sài Gòn, hơn một triệu người đổ về quảng trường Norodom (nay ở trên đường Lê Duẩn) dự lễ mít tinh
2 Phông Thống đốc Nam kỳ , Hồ sơ VV 216.Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II
3 Phông Thống đốc Nam kỳ , Hồ sơ VV 216.Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II
Trang 8Ngay sau khi Hội nghị Cây Mai kết thúc, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ phát lời kêu gọi nhân dân thành phố và các tỉnh:
“Đồng bào Nam Bộ,
Nhân dân thành phố Sài Gòn,
Anh em công nhân, thanh niên, tự vệ, dân quân, binh sĩ!
Đêm qua thực dân Pháp đánh chiếm trụ sở chính quyền ta ở trung âm Sài Gòn Như vậy là Pháp bắt đầu xâm chiếm nước ta một lần nữa!
Ngày 2 tháng 9 đồng bào đã thề quyết hi sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ độc lập của Tổ quốc!
Độc lập hay là chết!
Hôm nay
Ủy ban kháng chiến kêu gọi
Tất cả đồng bào già, trẻ, trai, gái hãy cầm vũ khí xông lên đánh đuổi quân giặc xâm lược Ai không có phận sự do Ủy ban kháng chiến giao phó, thì hãy lạp tức ra khỏi thành phố Những người còn ở lại thì:
Không làm việc, không đi lính cho Pháp
Không đưa đường, không báo tin, không bán lương thực cho Pháp
Hãy tìm thực dân Pháp mà diệt
Hãy đốt sạch, phá sạch các cơ sở, xe cộ, tàu bè, kho tàng nhà máy của Pháp Sài Gòn bị Pháp chiếm phải trở thành một Sài Gòn không điện, không nước, không chợ búa, không cửa tiệm
Trang 9Cuộc kháng chiến diễn ra ác liệt trên chiến trường Đông Nam Bộ Mặc dù lực lượng vũ trang của ta ở đây ít nhưng được sự hậu thuẫn của đông đảo nhân dân đã kiên cường kháng chiến ngăn chặn quân địch, làm phá sản chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ủy ban kháng chiến Nam
Bộ, cùng với nhân dân các tỉnh khác trong cả nước, các tầng lớp nhân dân Đông Nam Bộ
đã khẩn trương chuẩn bị kháng chiến
Ngày 10-12-1945 Hội nghị Xứ ủy mở rộng tại Đức Hòa (Long An) quyết định chia Nam Bộ thành ba khu: Khu 7, Khu 8 và Khu 9 Khu 7 gồm các tỉnh và thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa và Bà Rịa (Vũng Tàu được sáp nhập vào Bà Rịa), thống nhất lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ dưới sự chỉ huy của các Khu; giải thể Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ và thành lập Ủy ban kháng chiến miền Nam; phát động chiến tranh du kích rộng khắp, củng cố lực lượng vũ trang, tiến hành diệt tề, trừ gian để hỗ trợ cho việc xây dựng cở sở đảng, chính quyền và các đoàn thể cách mạng
Tại các địa bàn ven biển Đông Nam Bộ các đơn vị vũ trang cũng được hình thành Lực lượng cộng hòa vệ binh và đội cảm tử quân ở Vũng Tàu được lệnh tập trung
về Bà Rịa sáp nhập với lực lượng vũ trang Bà Rịa mang tên Cộng hòa vệ binh với quân
số 150 người, biên chế thành ba phân đội Tại các làng xã, các đội tự vệ chiến đấu được
4 Địa chí Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, Trần Văn Giàu chủ biên, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1987, tr 356
Trang 107
thành lập, tự sưu tầm vũ khí, trang bị thêm giáo mác, luyện tập quân sự, bảo vệ trị an tại địa phương và bố trí phòng thủ tại các địa bàn xung yếu, ven biển Phong trào mua súng, lấy trộm súng của bọn Nhật trang bị cho lực lượng vũ trang được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, nhất là thanh thiếu niên
Trong lúc đó, từ khắp mọi miền đất nước, đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào ủng hộ Nam Bộ kháng chiến, tiếp thêm sức mạnh cho Sài Gòn kháng chiến dấy lên mạnh mẽ Ngay sau khi cuộc kháng chiến bắt đầu, các tỉnh kế cận thành phố Sài Gòn như Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Tân An, Bà Rịa, Vũng Tàu… tổ chức nhiều đội tự vệ chiến đấu về Sài Gòn đánh Pháp Ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung, hàng vạn người xung phong đầu quân vào Nam giết giặc Hầu hết các tỉnh đều lập
“phòng Nam Bộ” ghi tên các chiến sĩ tình nguyện vào Nam Họ là những công nhân, nông dân, thợ thủ công, học sinh, sinh viên, thầy thuốc, nhà giáo, kĩ sư, viên chức, Việt kiều, cựu binh sĩ… gồm cả già, trẻ, gái, trai Ngay từ tuần lễ đầu của cuộc kháng chiến ở Nam Bộ đã có nhiều chi đội lên tàu vào Nam chiến đấu, gồm các đơn vị Giải quyết quân
từ các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, chiến khu Đông Triều, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Nghệ Tĩnh… Hầu như ngày nào trên các chuyến tàu vào Nam cũng đều có quân Nam tiến
Ngày 18 và 19 - 12 - 1946, dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp quyết định phát động cuộc kháng chiến trong cả nước
và đề ra những vấn đề cơ bản về đường lối kháng chiến Sáng ngày 20 tháng 10 năm
1946, Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch
Hồ Chí Minh soạn trong đêm 19 – 12 – 1946
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!
Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ
Trang 118
quốc Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu nước đã đến Ta phải hi sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước…”5.
Trước ngày toàn quốc kháng chiến, Xứ ủy lâm thời Nam Bộ đã nhận được thư và điện của Trung ương Đảng Trong thư “Gửi các đồng chí Nam Bộ”, Trung ương Đảng chỉ rõ: “Nam Bộ là căn cứ của Pháp thực dân để lấy nhân, vật, tài lực chiến tranh với cả toàn quốc của ta và Đông Dương… Những ý định lấy Sài Gòn làm trung tâm chính trị đã biểu lộ, tất nhiên chúng ta phải có chính sách không những làm cho chúng không thể lấy Nam Bộ dùng đánh Trung, Bắc mà lại là Nam Bộ cản trở thêm khó khăn nguy hại cho chúng Cho nên công tác phá hoại, bất hợp tác về mọi phương diện là công tác chính và chính sách này muốn thực hành đầy đủ phải làm cho toàn dân có ý thức giác ngộ, hiểu rõ mọi người đều có thể làm và phải làm để cứu nước… Không quên có những đội cảm tử xung phong, phải hợp tác công tác xung phong cảm tử với quảng đại quần chúng bằng phương pháp lãn công, đình công, đòi quyền lợi kinh tế trong các công xưởng, các sở với những hình thức đấu tranh chính trị chung, tẩy chay chính phủ bù nhìn, đòi các quyền lợi
tự do dân chủ, chống khủng bố, trong lúc này cũng cần rất quan trọng nghĩa là phải kết hợp những cuộc đấu tranh không bạo lực với những cuộc chiến đấu bằng lực lượng, võ khí
Những cuộc tác chiến đánh úp trong những du kích có thể dùng võ lực bảo vệ tài sản, sinh mạng dân chúng đi đôi với các cuộc giết bọn Việt gian, tay sai lợi hại của chúng Một điều đáng chú ý là luôn luôn bảo vệ và xây đắp chính quyền chúng ta ở khắp thôn quê, thành thị, phải có những cơ quan hành chính bí mật hay công khai, bao giờ cũng tiêu biểu chính quyền của ta vẫn có ở Nam Bộ
Muốn thực hành những nhiệm vụ này, Đảng ta cần phải mạnh và thống nhất Không có một Đảng thống nhất và mạnh mẽ không thể đương đầu với tình thế hiện tại được Thống nhất, củng cố Đảng, phát triển Đảng thành một Đảng quần chúng đủ oai quyền đầy đủ năng lực lãnh đạo là điều kiện cốt yếu để kháng chiến kiến quốc…”6
5 Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, t 4, tr 203
6 Văn kiện quân sự của Đảng, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, t 2, tr 69, 70, 71, 72
Trang 12Tháng 4 năm 1947, đồng chí Lê Duẩn từ Việt Bắc về đến Nam Bộ Tại chiến khu Đồng Tháp Mười, Hội nghị Xứ ủy mở rộng được triệu tập Hội nghị thành lập Xứ ủy chính thức, bổ sung thêm một số ủy viên Xứ ủy mới và bầu đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư
Xứ ủy
Tiếp sau Hội nghị Xứ ủy, hội nghị cán bộ Đảng Sài Gòn - Chợ Lớn được triệu tập tại Bà Vụ (Vườn Thơm) Hội nghị cử Ban chấp hành Thành ủy7, do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm bí thư
Để củng cố và nâng cao năng lực của Ban lãnh đạo kháng chiến và chuẩn bị cho việc thành lập Đảng bộ tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu, đầu năm 1947, Xứ ủy Nam Bộ đã điều động thêm cho tỉnh một số cán bộ chính trị và quân sự Tháng 4-1947, đại diện cho Xứ
ủy Nam Bộ, đồng chí Trần Xuân Độ triệu tập hội nghị và tiến hành thủ tục công nhận chính thức danh hiệu đảng viên cộng sản Cũng theo sự chỉ đạo của Xứ ủy, Tỉnh ủy lâm thời Bà Rịa được thành lập8
Ngay sau khi thành lập, Tỉnh ủy lâm thời quyết định một số công việc trước mắt, trong đó chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng khu căn cứ kháng chiến Phước Bửu – Lộc An
Năm 1947, Quận ủy Long Điền, Vũng Tàu, Đất Đỏ, Cơ Trạch lần lượt được thành lập Bên cạnh đó, các lực lượng vũ trang của tỉnh cũng trưởng thành nhanh chóng và vững chắc Các tổ chức đoàn thể từ tỉnh đến quận, xã được củng cố Ngày 7-7-1947, Liên hiệp công đoàn tỉnh Bà Rịa ra đời Hệ thống giao thông liên lạc từ tỉnh đến quận, xã được thông xuất và giữ vững
Trang 1310
Thi hành Sắc lệnh số 91/SL ngày 1-10-1947, qui định “Ủy ban Kháng chiến và
Ủy ban hành chính các cấp (tỉnh, huyện, xã hay châu) nay hợp lại thành Ủy ban kháng chiến kiêm Hành chính”9 Ngày 13-4-1948, Ủy ban Kháng chiến và Ủy ban Hành chính tỉnh sáp nhập lại thành Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Bà Rịa, sau đó các Ủy ban Kháng chiến Hành chính các quận và xã cũng lần lượt hình thành Theo thống kê, lúc này tỉnh Bà Rịa có 4 quận (quận Đất Đỏ, quận Long Điền, quận Vũng Tàu, quận Cơ Trạch), 49 xã với 67.039 người10
Hội nghị Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, Tỉnh ủy Gia Định, Tỉnh ủy Bà Rịa trong năm 1947 đã đặt ra những vấn đề cơ bản về đường lối và phương pháp đấu tranh cách mạng ở một thành phố lớn và vùng ven tạm bị chiếm Hoạt động của các tỉnh, thành đã
cụ thể hóa đường lối kháng chiến của Đảng ta qua các văn kiện chỉ thị toàn dân kháng chiến, Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương vào hoàn cảnh cụ thể ở Đông Nam Bộ
Tháng 5 năm 1947, giặc Pháp giảm bớt hoạt động càn quét ở miền Tây Nam Bộ, tập trung quân về đánh phá vùng xung quanh Sài Gòn và các tỉnh Đông Nam Bộ Để có thêm quân thay thế cho các đơn vị chính quy đã rút ra miền Bắc làm nhiệm vụ bình định lãnh thổ, thực dân Pháp tiến hành tuyển mộ lính ngụy Chúng xây dựng hàng loạt căn cứ
khu vực ven biển Đông Nam Bộ như có căn cứ Long Phước Thôn ở Thủ Đức, căn cứ Tân Đông Hiệp, Bình An ở Dĩ An
Căn cứ Long Phước thôn nằm phía hữu ngạn sông Đồng Nai, phía Tây có sông Tắc chạy vòng qua ấp Phước Khánh đến Long Đại, kéo dài từ Tam Đa, Phú Hữu, Long Trường, Tân Lập đến Tăng Nhơn Phú vòng lên phía Bắc nối liền với Tân Đông Hiệp, Đông Hòa, Dĩ An Long Phước Thôn còn là nơi đứng chân của một số cơ quan của Thành phố, vừa là hậu cứ quan trọng của lực lượng vũ trang biệt động tấn công vào nội thành từ cửa ngõ phía Đông thành phố
Để đối phó các cuộc tấn công của quân Pháp ở Đông Nam Bộ, cuối tháng 10 năm
1947, Tư lệnh bộ Khu 7 phổ biến chỉ thị “phải phá cuộc tiến công mua đông của giặc Pháp”, của Thường vụ Trung ương Đảng xuống các đơn vị và nhấn mạnh các đơn vị, địa phương phải “đánh địch để phối hợp với Việt Bắc” Riêng Sài Gòn phải “mở một đợt
Trang 1411
đấu tranh chính trị và quân sự rộng khắp, không cho địch yên tâm để chi viện cho chiến trường chính”11
Cùng thời gian này, trên chiến trường ven biển Đông Nam Bộ đã phát triển một
số đơn vị lực lượng vũ trang Tại Nhà Bè và chiến khu Rừng Sác hình thành trung đoàn phiên hiệu 300 mang tên liệt sĩ Dương Văn Dương Trung đoàn có hai tiểu đoàn mang phiên hiệu Lê Hồng Phong và Lý Chính Thắng
Chấp hành chỉ thị của Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ và hướng dẫn của Phòng dân quân các tỉnh, thành các địa phương ven biển Đông Nam Bộ đều lần lượt lập quân đội bộ, xã đội bộ dân quân, hệ thống dân quân tự vệ … lực lượng từ một tiểu đội đến hai trung đội, ở xã trung bình có trên một trung đội dân quân tự vệ
Cuối năm 1947, quân và dân các tỉnh thành Đông Nam Bộ liên tiếp đánh địch thu được nhiều thắng lợi ở các tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Chợ Lớn
Tại Việt Bắc, ngày 15 - 1 - 1948, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị
mở rộng nhằm kiểm điểm tình hình kháng chiến và đề ra nhiệm vụ trong giai đoạn mới Hội nghị chủ trương củng cố toàn dân đoàn kết, phá chính sách “dùng người Việt hại người Việt” của thực dân Pháp, phá mọi chính quyền bù nhìn Về kinh tế, phá kinh tế tài chính địch, thực hiện khẩu hiệu tăng gia sản xuất, tự cấp tự túc, cải thiện dân sinh, tịch thu tài sản của bọn phản quốc cấp cho dân nghèo và bộ đội Phương châm tác chiến chiến lược được đề ra là “du kích chiến là chính, vận động chiến là phụ trợ”
Thực hiện chủ tương trên, bước sang năm 1948 các tỉnh, thành ven biển Đông Nam Bộ tổ chức lại chiến trường, phát triển lực lượng nhằm tiếp tục đưa cuộc kháng chiến tiến tới Ngày 27 - 3 - 1948, Khu ủy Khu 7 mở hội nghị mở rộng toàn khu Hội nghị quyết định điều chỉnh chiến trường, xây dựng các trung đoàn tập trung, xử lí trường hợp bọn gián điệp và phản động lũng đoạn phá hoại trong nội bộ
Sau Hội nghị, chiến trường Khu 7 chia ra 4 địa bàn hoạt động (4 phân khu):
1 (Phân khu đặc biệt) gồm: Sài Gòn - Chợ Lớn và các quận Gò Vấp, Thủ Đức (tỉnh Gia Định) và Đức Hòa (tỉnh Chợ Lớn)
11 Dẫn theo Lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định kháng chiến (1954 - 1975), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,
1994, tr.154-155
Trang 1512
2 (Phân khu Duyên Hải) gồm: Bà Rịa, Vũng Tàu và các quận Nhà Bè, Cần Giờ (vùng Rừng Sác tỉnh Gia Định), Cần Giuộc, Cần Đước (tỉnh Chợ Lớn), Long Thành (tỉnh Biên Hòa)
3 (Phân khu biên giới) gồm: Tây Ninh, quân khu Đông Thành (tỉnh Tân An) và quận Hóc Môn (tỉnh Gia Định)
4 (Phân khu cao su) gồm: Thủ Dầu Một, Biên Hòa
Như vậy, Phân khu Duyên Hải gồm: Bà Rịa, Vũng Tàu và các quận Nhà Bè, Cần Giờ (vùng Rừng Sác tỉnh Gia Định), Cần Giuộc, Cần Đước (tỉnh Chợ Lớn), Long Thành (tỉnh Biên Hòa) là địa bàn ven biển Đông Nam Bộ
Đầu năm 1949, tỉnh Bà Rịa giải thể quận Cơ Trạch và thành lập xã Cơ Trạch bao gồm các làng Bàu Lâm, Ba Mẫu, Thừa Tích và Quảng Giao Năm 1949, các xã Hắt Lăng
và Tam Phước của huyện Long Điền sáp nhập thành xã Phước Lăng; xã Phước Tụy và
xã Thạnh Mỹ của huyện Đất Đỏ nhập thành xã Phước Mỹ; huyện Vũng Tàu nhập các xã Sơn Long, Sơn Hòa, Sơn Hiệp thành xã Thống Nhất; các xã Hội Thạnh, Hội Bài A, Hội Bài B nhập thành xã Đoàn Kết; xã Bàn Thạch, Phước Tân và Phước Long nhập lại thành
xã Tân Thành; xã Long Xuân và xã Phước Hòa nhập thành xã Xuân Hòa12
Tháng 10 năm 1949, quân viễn chinh Pháp ở miền Nam bắt đầu rút quân ra chiến trường miền Bắc, chỉ giữ lại miền Nam 28 tiểu đoàn quân chính quy Để có đủ quân số chiếm đóng bình định, địch triển khai bắt lính ồ ạt, xây dựng ngụy quân Theo kí kết với Pháp, chính phủ Bảo Đại được tổ chức quân đội riêng do sĩ quan ngụy chỉ huy, nhưng vẫn khống chế quân ngụy bằng cách đưa nhân viên kĩ thuật người Pháp vào làm cố vấn,
đẻ ra cơ quan phối hợp hoạt động giữa quân đội Pháp và “quân đội các quốc gia liên kết” dưới quyền điều khiển của Pháp
Do đó, tại Đông Nam Bộ cùng với việc xây dựng ngụy quân, chính phủ Bảo Đại
ra sức củng cố hệ thống ngụy quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở, phát triển các đảng phái phản động làm hậu thuẫn cho công cuộc bình định Những tổ chức đảng phái như “Quốc gia liên hiệp”, “Liên minh dân chủ quốc gia”, Việt Nam quốc dân Đảng”,
“Việt Nam độc lập dân chủ”, “Liên đoàn thanh niên bảo quốc”, Đại Việt”, rồi các tổ chức nghiệp đoàn công nhân do chúng lập ra như “Tổng liên đoàn lao động”, “Tổng liên đoàn lực lượng thợ thuyền”… lên tiếng ủng hộ chính phủ Bảo Đại, kêu gọi lực lượng
12 Báo cáo của UBKCHC tỉnh ngày 31-12-1949, Hồ sơ của Trung tâm luu trữ quốc gia III, Phông UBKCHC/NB, Hộp số 5, Hồ sơ số 121, tr32
Trang 16Bước sang đầu năm 1950, cuộc kháng chiến của ta trên chiến trường Đông Nam
Bộ gặp nhiều khó khăn Giặc Pháp tuy có điều lực lượng ra Bắc Bộ và Trung Bộ nhưng quân số không giảm do vẫn tiếp tục tăng cường viện binh từ Pháp sang Việt Nam và phát triển thêm ngụy quân tại chỗ
Tuy nhiên, đến cuối năm 1950 tình hình có nhiều chuyển biến, cuộc kháng chiến của nhân dân ta có nhiều bước phát triển mới Sau thất bại ở chiến dịch Biên giới, chính phủ Pháp quyết định phái đại tướng De Lattre de Tassigni, nguyên tư lệnh lục quân khối Tây Âu, sang làm tổng chỉ huy quân đội viễn chinh, kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương; đồng thời, xin Mỹ tăng cường viện trợ cho cuộc chiến tranh
Trên chiến trường Đông Dương và Việt Nam, De Lattre de Tassigni tiến hành xây dựng lực lượng cơ động chiến lược, ra sức phát triển ngụy quân; xây dựng hệ thống đồn bót bít các đường liên lạc, tiếp tế của ta; bao quanh các đồn bót là hệ thống boong-ke phòng thủ Chúng tập trung quân bình định vào vùng chúng kiểm soát; tăng cường gián điệp, phá hoại tấn công sâu vào vùng tự do và các vùng căn cứ kháng chiến Ở Đông Nam Bộ nói chung, vùng Duyên hải Đông Nam Bộ nói riêng, kế hoạch của De Lattre de Tassigni đã gây nhiều khó khăn cho ta, nhất là ở những vùng sau lưng địch
Trước tình hình đó, tháng 2-1951, Trung ương Cục miền Nam quyết định chia lại chiến trường Nam Bộ thành 2 phân khu Phân khu miền Đông và phân khu miền Tây Ngày 27-6-1951, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ ra Nghị định số 172/NĐ-51, thành lập Tỉnh Bà Rịa – Chợ Lớn, theo đó, tỉnh Bà Rịa – Chợ Lớn gồm toàn bộ tỉnh Bà Rịa và một phần của 3 tỉnh khác là Chợ Lớn, Biên Hòa, Gia Định, có bốn huyện và hai thị xã: Huyện Long Điền – Đất Đỏ, huyện Vũng Tàu, Liên Huyện (Cần Đước, Cần Giuộc, Nhà Bè), huyện Long Thành và hai thị xã Cấp và Bà Rịa13
Vùng duyên hải Đông Nam Bộ có vị trí trọng yếu, bao phủ toàn bộ vùng biển đảo Đông Nam Bộ, như một cánh cung bao vây quanh Sài Gòn từ phía Nam và Đông Nam
13 Thạch Phương, Nguyễn Trong Minh (cb), Địa chí Bà Rịa – Vũng Tàu, Nxb KHXH, Hn, 2005, tr.269
Trang 1714
cùng các tỉnh khác trong Phân liên khu miền Đông tạo thế liên hoàn Chính vì vậy cuộc đấu tranh giữa ta và địch trên chiến trường Bà Rịa - Chợ Lớn diễn ra rất quyết liệt cho đến những năm tháng cuối cùng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
1.4 Chính quyền thực dân Pháp và tay sai trong việc quản lý biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ (1945 - 1954)
Vùng duyên hải Đông Nam Bộ là địa bàn có vị trí chiến lược vừa là vùng ven án ngữ con đường biển duy nhất vào Sài Gòn, một trong những huyết mạch giao thông đường biển, vừa là địa đầu tiếp giáp với Nam Trung Bộ Vì vậy, trong lần tái xâm lược Việt Nam năm 1945, Pháp coi nơi đây là một trong những địa bàn trọng điểm về chính trị và quân sự trong chiến lược ở miền Nam Việt Nam của Pháp, nên chúng đưa một lực lượng quân sự khá hùng mạnh gồm cả bộ binh, pháo binh, thiết giáp, hải quân và lực lượng an ninh; quân số cao nhất có lúc lên tới hai trung đoàn để xâm chiếm và quản lý vùng này14
Hoạt động quản lý biển đảo của thực dân và chính quyền tay sai ở vùng duyên hải Đông Nam Bộ trong giai đoạn 1945 – 1954 tập trung vào hai mảng chính: 1/ quản lý về
an ninh, trị an, 2/ quản lý các hoạt động phát triển kinh tế biển Trong đó hoạt động quản
lý về an ninh, trị an là chủ yếu, vì vùng duyên hải Đông Nam Bộ là vùng tạm chiếm, luôn đối mặt với các cuộc tấn công của lực lượng cách mạng
Tháng 2-1946, sau khi đánh chiếm và làm chủ vùng duyên hải Đông Nam Bộ, Pháp khẩn trương tổ chức bộ máy tề ngụy nhằm quản lý vùng ven biển, thiết lập tiểu khu
Bà Rịa, Vũng Tàu, Cần Giờ cùng các chi khu Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc (Quartier), phân tiểu khu Nước Ngọt - Long Hải (Sous quartier autonome) phân chi khu Bình Ba; thiết lập hàng loạt các đồn bót ven các lộ giao thông; ra sức xây dựng và củng
cố tổ chức hệ thống tề ngụy ở các làng xã Tính đến cuối tháng 2-1946, quân số của Pháp
và tay sai tập trung ở vùng duyên hải Đông Nam Bộ khoảng 2 trung đoàn gồm bộ binh, pháo binh, thiết giáp, hải quân, biệt kích với lực lượng cơ động tăng cường khá đông khi cần thiết Trong đó, khống chế thường xuyên các địa bàn ven biển ở đây có tiểu đoàn 2
Ma rốc của miền Đông, tiểu đoàn 3 dù ngụy binh, binh đoàn cơ động của Pháp tại Nam
Bộ, hải đoàn xung phong 2 (Rừng Sác) và lực lượng biệt kích15
14 CAP Saint Jacques Pêcherie, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II
15 CAP Saint Jacques Pêcherie, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II
Trang 1815
Trên địa bàn vùng duyên hải Đông Nam Bộ lúc bấy giờ, thực dân Pháp đã chiếm
100 trong số 110 xã - trong đó Bà Rịa – Vũng Tàu có 104 xã, Cần Giờ có 6 xã –chiếm 96% diện tích toàn vùng Ta thường gọi đây vùng bị địch tạm chiếm và vùng du kích bị
uy hiếp nặng Tất cả các địa phương ven biển của Đông Nam Bộ đều nằm trong vùng bị địch tạm chiếm và vùng du kích bị uy hiếp nặng
Nhằm gia tăng năng lực quản lý và kiểm soát vùng duyên hải Đông Nam Bộ, thực dân Pháp đã mở nhiều cuộc hành quân nhằm bình định và kiểm soát thành phố Vũng Tàu, Bà Rịa và các làng ven biển Cần Giờ… những nơi có vị trí kinh tế quân sự, các đầu mối giao thông thủy bộ, kiểm soát chặt các bến cảng cửa khẩu và càn quét mở rộng vùng chiếm đóng, lập tề ngụy, ráo riết bắt lính Chúng dùng mọi thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ
lôi kéo và gom dân về sống chung quanh đồn bót mà chúng coi như những phòng tuyến
mềm vừa hạn chế các cuộc tập kích của ta vào đồn bót, vừa có điều kiện thực hiện các
chính sách mị dân
Trên dọc hành lang tuyến biến, để ngăn chặn hoạt động của lực lượng kháng chiến với cộng đồng cư dân ven biển, đồng thời siết chặt an ninh khu vực này thực dân Pháp đã triển khai các điểm đóng quân, xây đồn bót, tổ chức càn quét, đốt nhà dân bắn giết người và gia súc, gom dân trở lại Tại Vũng Tàu, Cần Giờ, Bà Rịa chúng mở nhiều cuộc hành quân bắt bớ những người kháng chiến và những gia đình có người tham gia cách mạng
Tháng 2-1946, hơn 100 lính Pháp từ chi khu Đất Đỏ theo lộ 23 kéo lên Xuyên Mộc, triển khai các điểm đóng quân, xây đồn bót, lập chi khu Xuyên Mộc Sau đó, từ Xuyên Mộc, chúng tung từng toán trinh sát lùng sục để mở rộng vùng chiếm đóng lên tận vùng giáp ranh với tỉnh Bình Thuận Tại Phước Bửu, Pháp cũng thực hiện khủng bố
để gom dân, đốt nhà dân ở Gò Cà, phá hủy các phương tiện sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Ngày 25-5-1946, Pháp chiếm Bà Trao - Núi Nứa, đóng đồn ở Bến Đá Lính Pháp thường xuyên hành quân vào các làng ven biển để vơ vét thóc gạo, gà, vịt, khủng
bố nhân dân
Tại Long Mỹ, mặc dù địch đã lập tề xã, chúng cũng không kiểm soát nổi Chúng biết nơi đây là căn cứ cách mạng, nơi tập trung cơ quan lãnh đạo kháng chiến của tỉnh, nên mở nhiều cuộc hành quân càn quét Ban ngày, địch cùng các loại cơ giới và xe ủi đất san lấp Sau đó, dùng pháo 105 và pháo 155 để tàn phá xã này
Trang 1916
Tháng 9 -1946, thực dân Pháp đóng đồn pạctigiăng Long Hải, và thường xuyên đưa lính đi càn quét từ Long Hải đến Lò Vôi Chúng khôi phục bộ máy tề ngụy và mở rộng vùng chiếm đóng, thiết lập Tiểu khu Bà Rịa và các Chi khu Vũng Tàu, Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc, khai thông lộ 2 và các lộ 23, 24, 52 lập đồn bốt dọc theo các trục lộ giao thông
Để bảo vệ vịnh Ghềnh Rái và trục sông Lòng Tàu, địch đã thiết lập hệ thống nhiều đồn bót phòng thủ như đồn Bình Khánh, Phước Khánh Chi khu Cần Giờ do hai đại đội Pạctidăng đóng giữ, tên quan hai quận trưởng chỉ huy
Chiếm đóng đến đâu, thực dân Pháp móc nối những tên tay sai cũ, lập lại các ban
tề, tổ chức thân binh để mở rộng chiếm đóng, kiểm soát chỗ đóng quân Những người trước đây đã từng làm tay sai cho Pháp trước đây, bây giờ ngóc đầu dậy với hy vọng được chúng dùng lại trong bộ máy tề điệp, phụ họa với những luận điệu phản tuyên truyền đối với cách mạng, coi việc Pháp quay trở lại là một dịp may để cầu “vinh thân, phì gia”
Bên cạnh việc tăng cường lực lượng bảo vệ lộ 2, con đường bộ duy nhất để tiếp tế cho Bà Rịa và Vũng Tàu kể từ khi lộ 15 bị cắt đứt, kể từ cuối năm 1947, thực dân Pháp khùng bố đồng bào để uy hiếp tinh thần nhân dân ta Tại Vũng Tàu chúng tăng cường lực lượng cho đồn lính bảo an đóng ở Ngã tư Giếng Nước, kiểm soát chặt chẽ đầu mối giao thông giữa Vũng Tàu và căn cứ địa kháng chiến Chúng kiểm soát gắt gao vùng Thắng Nhì, vì nơi đây là một đầu cầu tập kết các lực lượng vũ trang từ Bà Trao - Núi Nứa vào hoạt động nội ô Đồng bào Thắng Nhì đã hết lòng nuôi dấu cán bộ, bộ đội, đóng góp lương thực, thuốc men tiếp tế cho khu căn cứ Núi Nứa, đưa đón cán bộ, bộ đội hành quân qua đây
Từ tháng 10 - 1949, để có đủ quân số chiếm đóng, bình định, địch triển khai ồ ạt việc bắt lính ở các làng, xã ven biển Đông Nam Bộ Chúng kêu gọi xây dựng ngụy quân dưới danh nghĩa “quân đội quốc gia” Tại đây, “quân đội quốc gia''” vẫn do Pháp khống chế, thực tế là thực hiện nhiệm vụ do Pháp giao, dưới hình thức cố vấn và “'phối hợp hành động”' giữa quân đội Pháp và '”quân đội các quốc gia liên kết” Chúng hô hào phát triển các đảng phái phản động làm hậu thuẫn cho công cuộc bình định, kêu gọi những người kháng chiến “trở về với quốc gia độc lập” Ngày 15 tháng 5 năm 1950, cái gọi là
“quân đội quốc gia Việt Nam” chính thức ra đời với sự chuẩn y của Quốc hội Pháp
Trang 2017
Sau thất bại nặng nề ở Biên giới (Thu Đông 1950), thực dân Pháp đẩy mạnh chính sách dùng người Việt đánh người Việt Chúng tập trung binh lực bình định vùng đồng bằng ven biển Đông Nam Bộ Chúng tập trung binh lực càn quét từng vùng, chiếm đóng từng khu vực, thọc sâu vào căn cứ ta, chà đi sát lại dài ngày, giết người, cướp của, triệt phá kinh tế, ra sức ngăn chặn đường tiếp vận từ Khu 8 đến Khu 7 Chúng sử dụng lực lượng cấp tiểu đoàn, tập trung càn quét, tung biệt kích đánh vào vùng căn cứ của tỉnh Các vùng căn cứ Hắt Dịch - Phú Mỹ, Bà Trao - Núi Nứa, Xuyên - Phước - Cơ liên tục bị càn quét
Về kinh tế, do tình hình chiến tranh diễn ra ác liệt nên sau một thời gian gián đoạn, các ngành kinh tế trong vùng ven biển đang bị tạm chiếm dần dần hoạt động trở lại Tại Vũng Tàu, các sở máy nước, máy điện khôi phục và hoạt động giải quyết các nhu cầu của bộ máy chính quyền và khối cư dân đô thị ven biển Một số ngành dịch vụ, thương nghiệp, đặc biệt là ngành Bưu điện … được hồi phục “Các công ty hàng hải nối lại các tuyến vận tải biển giữa Việt Nam với Pháp và Hồng Kông phục vụ cho hoạt động xuất, nhập khẩu của vùng bị tạm chiếm Các hãng buôn lớn của người Pháp như Poinsard và Veyret, Descours, Cabaud, Denis Frères, Bourguoin Meifres, Diethlem mở rộng hoạt động xuất khẩu than, cao su, gạo và nhập khẩu hàng công nghiệp Kết quả là sản phẩm hàng hóa trên thị trường dồi dào, hoạt động kinh doanh buôn bán khá sầm uất
… Hàng hóa dồi dào nhưng giá cả thị trường vẫn tăng nhanh So với năm 1946, năm
1950, giá ở vùng bị tạm chiếm đã tăng 3,3 lần Tiền ra thị trường nhiều Đồng tiền Đông Dương ngày càng mất giá.16
Từ năm 1951, trước những thắng lợi của ta trên mặt trận quân sự, triển vọng thất bại của cuộc chiến tranh xâm lược Pháp ngày càng bộc lộ rõ Các nhà kinh doanh Pháp bắt đầu rút khỏi Việt Nam, chuyển về đầu tư ở châu Âu và châu Phi Những người còn lại thì chuyển sang làm ăn theo kiểu chụp giựt, bóc ngắn cắn dài: Rút vốn đầu tư, ra sức khai thác tài nguyên, tranh thủ kiếm lời nhanh, thu hồi vốn nhanh Cách làm ăn theo kiểu giã đám này khiến sản xuất công nghiệp trong vùng bị tạm chiếm ở miền Nam nói chung, ở Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng không tăng trưởng mà sụt giảm dần “Trên thị trường thì giá cả tăng nhanh, đồng tiền Đông Dương ngày càng mất giá Tuy nhiên, hàng hóa trên thị trường vẫn dồi dào Hàng nhập khẩu từ Pháp ngày càng nhiều Ngoài ra lại
16Bộ Công thương Việt Nam (2015) Công nghiệp và Thương mại Việt Nam trong sự nghiệp kháng chiến và kiến
Trang 21uy hiếp vùng ven căn cứ địa, đánh mạnh cơ sở xã ở các căn cứ huyện, sử dụng phi cơ và tàu bè kiểm soát ven sông, ven biển thay thế bộ binh Tập trung lực lượng chính quy ven căn cứ để đối phó với ta; phát triển mạng lưới gián điệp trong căn cứ đi đôi với phao tin nghi binh và tuyên truyền lôi kéo chiến sĩ và dân chúng Địch ra sức củng cố vùng bị địch tạm chiếm bằng các thủ đoạn:
- Càn quét các xã du kích bàn đạp, chặn đường thâm nhập vào các thị trấn và vùng chúng tạm chiếm đóng;
- Gia tăng hoạt động cảnh sát, mật thám để phá cơ sở ta, tuyên truyền ly gián đồng bào và cán bộ, kiểm soát chặt chẽ dân chúng trong các thị xã;
- Ở các xã bị tạm chiếm, địch mở nhiều cuộc tuần tiễu, càn quét, phục kích đánh phá quân - dân - chính xã;
- Phá địa hình, địa vật, củng cố công sự đồn bót;
- Phát triển các tôn giáo để mê muội nhân dân làm cho dân chúng cầu an
- Dùng chính sách khủng bố trắng, tra tấn dã man (kể cả phụ nữ và trẻ em) để chỉ bắt cán bộ Tra tấn dã man đồng bào tại chỗ bắt buộc chỉ hầm bí mật Khi bắt được một cán bộ trong nhà nào thì đem giết hết gia đình người đó
- Sử dụng tin tức bọn gián điệp và đầu hàng, dùng chiến thuật đột kích, phục kích, bao vây để tiêu diệt cán bộ xã và thị xã
Chúng tăng cường kềm kẹp và bóc lột, làm cho đời sống đồng bào vùng ven biển như ở Bình Châu, Lộc An, Long Hải, Phước Tỉnh, Tháng Tam… rất khốn đốn Nam nữ
từ 18 tuổi trở lên mỗi thánh phải đi làm xâu 20 ngày Bọn tề ngụy, tay sai ở Cộng Hoà và
17 Bộ Công thương Việt Nam (2015) Công nghiệp và Thương mại Việt Nam trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc http://www.moit.gov.vn/vn/pages/lichsuphattrien.aspx?IDNews=499 ;
Trang 2219
Long Phước thường dựng chuyện vu khống, bắt bớ làm tiền đồng bào Chúng bắt đồng bào đóng một giấy phép đi làm 15$, một giấy phép mua bán từ 5$ đến 10$, một con trâu 20$, một xe bò 80$, một nhà ngói 80$ và bắt đóng 15% số hoa lợi ruộng trước khi gặt; thu thuế đảm phụ quốc phòng từ 50$ đến 300$ một năm/người
Dọc các làng ven biển chúng phát triển các tổ chức phản động đội lối tôn giáo, khuyến khích cúng kiêng, mê tín dị đoan, phổ biến các kinh sấm truyền; xuyên tạc kháng chiến Chúng tổ chức cho đồng bào Vũng Vằng (Long Đất) mở lại ruộng muối, lôi kéo một số đồng bào vùng căn cứ ta về ở vùng chúng kiểm soát bằng các biện pháp kinh tế; dồn dân ra hai bên lộ, lập các khu tập trung, tách nhân dân ra khỏi cách mạng; dồn dân các các xã Phú Mỹ, Phước Thiện, Xuân Hòa, Đoàn Kết đến các khu dồn ven lộ 15 Trong khu tập trung, địch kiểm soát chặt chẽ các hoạt động đánh bắt hải sản của bà con ngư dân nhằm ngăn chặn việc tiếp tế của đồng bào cho kháng chiến
* Tại Côn Đảo, từ sau năm 1945 hoạt động quản lý đảo vẫn duy trì theo tinh thần Nghị định ngày 17-5-1916 của Toàn quyền Đông Dương Trong đó quy định, Giám đốc
đề lao có mọi quyền hành, vừa là người điều hành mọi hoạt động của nhà lao, vừa quản
lý về hành chánh, hành pháp và tư pháp Năm 1949, sau khi trao trả quyền “độc lập” cho chính phù bù nhìn Quốc gia Việt Nam, chế độ quản lý Côn Đảo của chính quyền thực dân có sự thay đổi Bên cạnh việc duy trì hệ thống đề lao Côn Đảo, thực dân Pháp và chính quyền tay sai thiết lập Côn Đảo thành tiểu khu biệt lập đặt dưới sự quản lý của Bộ
Tư lệnh Hải quân, nhưng vẫn giữ nguyên chế độ quản lý cũ18 Giám đốc đề lao vẫn là
Chúa đảo Chế độ cai quản này kéo dài cho đến năm 1954, sau khi Hiệp định Genève về
đỉnh chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký kết, thực dân Pháp buộc phải rút quân về nước, miền Nam Việt Nam, bao gồm cả Côn Đảo tạm thời đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền Ngô Đình Diệm Tháng 11-1954, Ngô Đình Diệm phái Bạch Văn Bốn – thiếu tá Hải quân – ra tiếp quản đảo từ tay người Pháp, đặt Côn Đảo dưới chế độ cai trị quân sự, với cấp quản lý là Tiểu khu biệt lập Côn Đảo
Sau khi đánh chiếm được miền Nam, thực dân Pháp dùng chiến tranh tâm lý, chính trị để tranh thủ nhân dân và thành lập chính phủ bù nhìn Nguyễn Văn Thinh, Lê Văn Hoạch, Nguyễn Văn Xuân, Bảo Đại (1945 - 1954) để tạo bức bình phong che đậy
dã tâm xâm lược của chúng
18 Phông Thống đốc Nam kỳ, Hồ sơ số 3494GD, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II
Trang 2320
Đối với vùng duyên hải Đông Nam Bộ, thực dân Pháp và chính quyền tay sai xác định đây là một trong những trọng điểm trong vành đai bao quanh Sài Gòn, nên việc quản lý các mặt đời sống xã hội, khai thác vị thế biển đảo ở đây đã trở thành một trong những vấn đề trọng yếu đối với chúng
Sau khi đánh chiếm được Đông Nam Bộ,, thực dân Pháp và chính quyền tay sai
đã từng bước thiết lập các đơn vị hành chính, triển khai hàng loạt chính sách quản lý vùng biển đảo Bà Rịa, Vũng Tàu theo phương châm kiểm soát gắt gao về an ninh chính trị Chúng chiêu dụ dân chúng, đón tiếp người hồi cư, trả lương cho công chức cũ, kêu gọi tham gia vào bộ máy tề ngụy Phong trào “dinh tê” tản cư vào vùng Pháp chiếm đóng ngày một đông hơn – gây cho ta nhiều khăn
Cùng với thiết lập bộ máy chính quyền quản lý chặt chẽ các địa phương ven biển, thực dân Pháp triển khai hàng loạt chính sách quản lý mọi mặt đời sống xã hội vùng biển đảo theo phương châm kiểm soát gắt gao, thực thi chính sách cai trị hà khắc, liệt tất cả các phần tử đối lập, lực lượng cách mạng, quần chúng yêu nước vào danh sách những người chống đối chính quyền
Đặc điểm nổi bật trong hoạt động quản lý biển đảo giai đoạn 1945 – 1954 của chính quyền thực dân, tay sai ở Đông Nam Bộ là sau khi thiết lập bộ máy cai trị ở địa phương, chúng cho lập hàng loạt đồn bót và tổ chức nhiều cuộc hành quân thám sát, thọc sâu vào vùng rừng núi, nhất là những địa bàn là căn cứ cách mạng để tiêu diệt lực lượng kháng chiến
1.5 Chính quyền thực dân Pháp và tay sai trong việc khai thác biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ (1945 - 1954)
Đây là thời kỳ Đông Nam Bộ đối mặt với cuộc chiến tranh khốc liệt do thực dân
Pháp gây ra, do đó hoạt động khai thác biển đảo của cộng đồng cư dân ven biển Đông Nam Bộ trong những năm 1945 – 1954 chủ yếu là duy trì các nghề kinh tế biển truyền thống như đánh bắt thủy sản, làm muối, chế biến hải sản, đan lưới… Các hoạt động khai thác biển đảo của chính quyền cũng chỉ tập trung khai thác những lợi thế hiện hữu như
du lịch biển, hàng hải
Sau khi chiếm được vùng ven biển Đông Nam Bộ và từng bước thiết lập bộ máy cai trị, chính quyền thực dân Pháp và tay sai đã tiến hành khai thác biển đảo theo phương thức từng bước chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế nơi này từ một cơ cấu nông – ngư nghiệp thành cơ cấu kinh tế: công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp Dưới chính sách khai thác của
Trang 2421
thực dân Pháp, ở vùng ven biển Đông Nam Bộ thời kỳ này đã hình thành một số ngành, lĩnh vực công nghiệp điện, nước, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông, hải sản
Về du lịch biển, nhận thấy Đông Nam Bộ có tiềm năng rất lớn về du lịch biển đảo,
với đường bờ biển dài, nhiều bãi tắm và danh lam thắng cảnh đẹp, thực dân Pháp và chính quyền tay sai đã tiến hành một số biện pháp như chỉnh trang đô thị, phát triển cơ
sở hạ tầng
Những năm 1945 – 1947 thực dân Pháp tập trung giải quyết những khó khăn trước mắt để phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng của tầng lớp thượng lưu, quan chức Tu bổ hệ thống đường sá nội thị, đặc biệt là khu vực trung tâm hành chính ở Vũng Tàu và đô thị cảng Sài Gòn
Tại Vũng Tàu, chúng tiến hành chỉnh trang những dãy hàng quán nhếch nhác với những nhà gỗ xây dựng vội vàng lợp lá ở Bến Đình thành những căn nhà xây, ngăn nắp hơn Tu bổ các công sở như Nhà dây thép, Phòng hoa tiêu, Tòa Bố, sở Cò, sở Tràng Tiền… góp phần làm cho bộ mặt đô thị Vũng Tàu thoát khỏi tình trạng xập xệ, điều tan sau cuộc chiến Đồng thời tu bổ, sửa chữa Nhà Đèn, Nhà máy nước cung cấp cho các công sở và phục vụ các hoạt động du lịch – dịch vụ, khắc phục tình trạng khan hiếm nước ngọt
Thực dân Pháp còn tiến hành xây dựng hệ thống đồn bót dọc con đường quốc lộ
số 15 (nay gọi là quốc lộ số 51) vừa để đảm bảo an ninh, hành quân đàn áp lực lượng kháng chiến, vừa bảo vệ trị an, tạo điều kiện cho quan chức và những người giàu có ở Sài Gòn và các tỉnh lân cận về Vũng Tàu du lịch, nghỉ ngơi
Để khôi phục lại hoạt động du lịch biển ở Vũng Tàu, chính quyền một mắt bắt tay giải quyết tình trạng mất mỹ quan của phố phường, nhất là các khu vực bãi biển, mặt khác khuyến khích các cơ sở kinh doanh du lịch nhanh chóng khai thác du lịch biển Người Pháp đã chú ý khôi phục và đưa các cơ sở du lịch Viện điều Anduzer (nhà nghỉ cổ nhất ở nước ta), khách sạn: Grand Hotel, Hostellerie du Cap St Jacques, Hotel Beauséjour… đi vào hoạt động Dần dần, hệ thống biệt thự ở Vũng Tàu với 48 biệt thự
tư nhân, 11 biệt thự của ngân hàng, 22 biệt thự dành riêng cho sĩ quan cũng đi vào hoạt động tào điều kiện phát triển hoạt động du lịch biển ở Bà Rịa – Vũng Tàu trong những năm 1945 – 1954
Khu vực Bãi Trước với những tòa nhà phân lô khuôn theo những con đường được quy hoạch sẵn của Pháp kiều, Ấn kiều, Hoa kiều, những người Việt “ăn nên làm ra”,
Trang 25So với các ngành kinh tế khác trong giai đoạn này, hệ thống khách sạn và các loại hình dịch vụ phục vụ du lịch phát triển khá mạnh ở Vũng Tàu Những năm 1947 – 1954, Vũng Tàu được coi là một trong trung tâm du lịch lớn của khu vực phía Nam, được ví
như “sân sau” của hòn ngọc Viễn Đông (Sài Gòn)
Đối với các đô thị ven biển Đông Nam Bộ như Sài Gòn, Vũng Tàu những năm
1945 – 1954 tuy bị chiến tranh chí phối, nhưng các hoạt động kinh tế vẫn sôi nổi Các nagnhf công thương và dịch vụ phát triển mạnh Sự phân công lao động xã hội đã chuyển dần theo hướng chuyên môn hóa với đặc điểm lao động nông nghiệp giảm, lao động công thương nghiệp tăng lên Hơn nữa, trong thời gian này tình hình dân số vùng duyên hải Đông Nam Bộ tăng cơ học lớn vì ảnh hưởng của chiến tranh Một bộ phận không nhỏ dân cư rời nông thôn - nông nghiệp vào thành thị và trở thành lao động công thương nghiệp, dịch vụ Tiền tệ được thu hút vào tiêu xài hay đầu tư vào công thương nghiệp, dịch vụ nhiều hơn là mua ruộng đất trở thành địa chủ phát canh thu tô Xu hướng địa chủ bị tư sản hóa vốn có từ trước, nay tăng mạnh hơn, địa chủ rời bỏ nông thôn chạy
về thành thị ngày càng nhiều
Trước đây, vùng duyên hải Đông Nam Bộ đã có quan hệ kinh tế với nhiều nước
từ châu Á, châu Âu, Châu Mỹ, nhưng trong những năm 1945- 1954 dù thực dân Pháp rất chú trọng về vấn đề này và đã đề ra một số biện pháp, song do chiến tranh đã chi phối ngày càng lớn nên những hoạt động kinh tế, thương mại sa sút, nhất là vào những năm cuối của của chiến tranh 1953 - 1954 Các hoạt động vận tải biển, xuất nhập khẩu ở vùng duyên hải Đông Nam Bộ bị đình đốn, như: xuất khẩu gạo bị sa sút do sự rớt giá Hoạt động giao thương gặp nhiều khó khăn do chiến tranh ngày càng lan rộng, các hoạt động quân sự không đảm bảo an toàn cho sự lưu thông kinh tế
19 Cạnh Bộ Chỉ huy khu vực Vũng Tàu, tức Bureau de la Place, nay là Trung tâm Văn hoá thành phố Vũng Tàu
Trang 2623
Bên cạnh đó, do sự phát triển của tình hình chiến tranh Đông Dương nên hoạt động xuất nhập khẩu của tư bản Pháp ở Đông Nam Bộ nói chung thời kỳ 1945- 1954 cũng có những thay đổi lớn, không còn xuất siêu như trước Số lượng gạo ở toàn Nam Bộ chỉ bằng 10% so với trước Nếu năm 1938 tỷ lệ xuất/nhập của Việt Nam trung bình là 137% thì thời
kỳ 1945-1954 tỷ lệ này chỉ là 17% Sản lượng gạo năm 1949 vào khoảng 2.400.000 tấn thóc, nhiều hơn so với 2.200.000 tấn của năm trước đó Các đồn điền vẫn hoạt động, nhưng không ồ ạt mở rộng diện tích và sản lượng như trước Diện tích trồng cao su là 45.800 hecta, giảm hơn một ít so với năm 1948 Sản lượng cao su đạt 43.000 tấn (so với 43.700 tấn năm 1948) Những năm cuối của chiến tranh (1953-1954) thì sụt giảm hẳn20
Vào giai đoạn cuối của chiến tranh, đứng trước sự sụp đổ không tránh khỏi, Ngân hàng Đông Dương đã chuyển phần lớn vốn liếng, tài sản của Pháp ở Đông Dương về Pháp Từ năm 1945-1954 mỗi năm Pháp đã tung sang Đông Dương 100 - 200 tỷ franc chi phí cho quân đội Pháp, nhưng khi trao quyền phát hành giấy bạc cho chính quyền tay sai ở Đông Dương, thì chỉ còn không quá 15 tỷ franc, số còn lại rõ ràng đã được “tìm cách” chuyển về nước
Tóm lại, trong những năm 1945 – 1954, hoạt động kinh tế biển ở vùng duyên hải Đông Nam Bộ không được đầu tư nhiều nên phát triển chậm, lệ thuộc và suy thoái theo cuộc chiến Các hoạt động kinh tế biển trong vùng tạm bị chiếm thu hẹp dần, ít có điều kiện duy trì phát triển Do đó, kéo theo những thoái trào trong quan hệ giao lưu kinh tế-văn hóa trong và ngoài khu vực, kể cả với chính giới tư bản Pháp
Hoạt động ngư nghiệp ở vùng duyên hải Đông Nam Bộ trong thời kỳ này nổi bật với các nghề đóng thuyền, đánh bắt cá, chế biến thủy hải sản… Phần đông ngư dân vẫn duy trì phương thức đánh bắt và ăn chia vẫn như thời kỳ trước năm 1945 Ghe thuyền chèo tay Kết quả đánh bắt cá được chia làm hai phần, một phần chia cho chủ ghe, một phần cho bạn chài trực tiếp đánh bắt Do đặc điểm tự nhiên của khu vực khai thác, nguồn
cá, tôm, mực ở từng vùng mà mỗi địa phương ở vùng duyên hải Đông Nam Bộ có những nghề khai thác hải sản khác nhau Chẳng hạn như Phước Tỉnh phát triển mạnh nghề giả cào đôi; Ở Long Hải, Phước Hải lại phát triển nghề vây rút chì và nghề câu mực; Ở Bình Châu (Xuyên Mộc) có nghề khai thác mực; Ở Vũng Tàu, ngư dân chuyên về nghề giả cào đôi, nghề lưới rê và nghề câu
20 Lê Văn Cường, Kinh tế Đông Dương từ 1945 đến 1954 trong vùng thuộc Pháp, Tạp chí Thời Đại, số 7,
năm 2002
Trang 2724
Các làng nghề thủ công truyền thống ven biển như Bến Ván, Giếng Bộng, Lưới
Rê, Phước Hải, Phước Tỉnh, Tam Thắng, Cần Giờ mặc dù bị chi phối bởi yếu tố chiến tranh, nhưng nghề cá và các nghề truyền thống liên quan đến ngư nghiệp vẫn được duy trì và có một số mặt phát triển, số lượng ngư dân cũng nhiều hơn
Đặc điểm nổi bật trong hoạt động đánh bắt hải sản ở vùng duyên hải Đông Nam
Bộ trong giai đoạn này là lực lượng lao động ngư nghiệp tăng lên đáng kể vì bà con ngư dân các tỉnh miền Trung chuyển đến, đồng thời, một số phương tiện đánh bắt được cơ giới hóa Đây là hai nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động khai thác thủy hải sản ở vùng duyên hải Đông Nam Bộ trong những năm 1945 – 1954, nhất là sản lượng đánh bắt tăng lên đáng kể Sản lượng đánh bắt hải sản, những năm 1950 đạt bình quân gần 1.000 tấn/năm21 Riêng Bà Rịa – Vũng Tàu đứng thứ hai về sản lượng đánh bắt hải sản của các tỉnh ở miền Nam
Về phương tiện và cách thức đánh bắt hải sản của ngư dân ven biển Đông Nam
Bộ những năm 1945 – 1954 so với những giai đoạn trước đó mặc dù có những cải tiến, song về cơ bản ngư dân vẫn duy trì các phương tiện đánh bắt hải sản truyền thống và phổ biến như trước đây, hoàn toàn bằng phương pháp thủ công, ngư cụ thô sơ và đơn giản, thuyền nhỏ, lưới ngắn Do vậy ngư dân chỉ có thể đánh bắt ven bờ hay trong lộng (vùng biển cách bờ không xa) Thuyền đánh cá thường ra biển vào ban đêm hay gần sáng, đến một hai giờ chiều thì theo gió và nước triều chạy về bến Thông thường ngư dân sử dụng lưới rê, không có phao chì Tuy nhiên, phương pháp này chỉ thật sự hiệu quả khi biển có nhiều cá gần bờ Bởi vậy, ngư dân dùng lá dừa ủ thành từng khóm trên biển, tôm, cá tụ tập kiếm thức ăn, ngư dân dùng lưới vây lại và kéo cá Kỹ thuật này được ngư dân ở
Phước Hải sử dụng khá phổ biến Bên cạnh đó, cư dân còn sử dụng lưới rùng Thông
thường, ngư dân dùng hai ghe xuất phát từ hai điểm khác nhau, kéo lưới, chèo ra xa bờ Sau khi hai ghe giáp mối nhau, người ta ghép hai đầu lưới Ở trong bờ, từ hai bên, dân chài kéo thu lưới Viết về cách thức đánh cá bằng lưới rê và lưới rùng ở Bà Rịa, Vũng Tàu, sách Monographie de province de Bà Rịa et de la ville du Cap Saint Jacques mô tả
như sau: “Ngành cá thịnh hành ở ven biển, sử dụng hai kiểu lưới rùng và lưới rê Lưới
rùng chẳng khác gì kiểu đánh lưới vây,…”22
21 Nha Ngư nghiệp Việt Nam cộng hòa, Niên giám thống kê ngư nghiệp năm 1956, D1-412V, Trung tâm Lưu trữ
Quốc gia II
22 Monographie de province de Bà Rịa et de la ville du Cap Saint Jacques, Imp L Me1nard, S., 1902
Trang 2825
Ngoài ra, ngư dân vùng duyên hải Đông Nam Bộ thời kỳ này cũng tiếp tục sử
dụng hình thức đánh bắt cá bằng Lưới quay, Lưới rút (mành rút), Mành đăng, Câu
chạy,… như những giai đoạn trước đó Lưới quay là loại lưới lớn có thể dịch chuyển
trong quá trình đánh bắt, chuyên đánh các loại cá lớn, như cá ngừ, cá bò, cá chấm, cá ổ,
cá bạc má, cá sòng, cá ngân,…; Lưới rút (mành rút), thường đan bằng chỉ vải khúng, có
chiều dài tương đương chiều rộng, khoảng 45 sải (gần 75m), phẩn đảy dài 4-5 sải Viền mành rút làm bằng dây dừa bện, giữa miệng đảy có một sợi dây dài, để níu treo họng đảy lên cao khi có nhiều cá23; Mành đăng, là lưới đăng nhưng đánh cá gần bờ, trong lộng, có thể xê dịch vị trí; Câu chạy, là cách câu bằng mồi lông gà Ngư dân lấy lông gà nhỏ,
mềm, dài từ 6-7 phân ở gần đuôi có màu trắng, vàng lợt hoặc ửng hồng tùy theo thời tiết Người ta gắn lưỡi câu vào lông gà và nối bằng dây thau hay dây mi (sau này là dây cước) có buộc chì và phao sao cho hơi nặng, thả cách ghe chừng 50-60 thước Cho ghe chạy, lông gà nổi trên mặt nước, cá thu, có bò tưởng cá nhỏ chạy theo đớp và dính câu, 24 Ngoài cá, thời kỳ này ngư dân vùng duyên hải Đông Nam Bộ còn đánh bắt được nhiều tôm, cua, sò huyết, sò đốm, các loại thân mềm, giáp xác… thường bán ở chợ Lấp (Phước Tỉnh) và chợ Sài Gòn25
Cùng với nghề đánh bắt cá, nghề nuôi trồng thủy sản ở vùng duyên hải Đông Nam Bộ trong những năm 1945-1954 vẫn được duy trì, hình thành một số vùng nuôi cá nước ngọt tập trung ở các địa bàn như Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc Nuôi trồng thủy hải sản giai đoạn này chủ yếu được ngư dân thực hiện bằng hình thức nuôi quảng canh Ngoài ra, cũng xuất hiện hình thức nuôi trồng thủy sản trên vùng biển, hải đảo và nước lợ, tuy nhiên không phổ biến rộng Hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy hải sản vẫn được duy trì, các cơ sở chế biến hải sản cũng được khôi phục và mở mang với các loại hình làm mắm, ruốc, cá hấp, cá khô Một số nghề truyền thống được khôi phục và có bước phát triển
Phương pháp chế biến các sản phẩm đánh bắt được thường ướp muối, phơi khô hoặc làm mắm Các loại hình chế biến khác như ghẹ lột, chế biến mắm, tôm khô, ruốc khô, phơi cá khô… đã góp phần đáng kể vào giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương Hải sản chế biến ở dạng khô được đưa đi tiêu thụ ở Sài Gòn và nhiều tỉnh khác
và được xuất khẩu sang Trung Quốc, Singapore,… đặc biệt là mực khô, tôm khô và một
số loại cá chất lượng cao thời kỳ này được xuất khẩu với số lượng tương đối lớn Những
23 Theo Lê Quang Nghiêm, Tục thờ cúng của ngư phủ Khánh Hòa, năm 1970 , tr.154
24 Đinh Văn Hạnh - Phan An, 2004, Lễ hội dân gian của ngư dân Bà Rịa – Vũng tàu, Nxb Trẻ, tr.44-45
25 Đinh Văn Hạnh - Phan An, 2004, Lễ hội dân gian của ngư dân Bà Rịa – Vũng tàu, Nxb Trẻ, tr.40
Trang 2926
địa bàn có nghề chế biến cá khô chủ yếu tập trung ở Bình Châu, Lộc An, Phước Hải, Phước Tỉnh, Thắng Nhứt, Thắng Nhì, Thắng Tam, Rạch Dừa,…Chỉ riêng làng cá Phước Hải, trước năm 1945 đã có hơn 50 Hoa kiều đặt cơ sở thu mua sau đó chế biến tại chỗ rồi đem về Chợ Lớn xuất khẩu26
Đối với Côn Đảo, trong những năm 1945 – 1954 để khai thác nguồn lợi ở quần đảo này, Chúa đảo tiếp tục sử dụng tù nhân vào việc khai thác thác sản vật, làm muối, làm vôi, làm gạch Chúng bắt tù nhân đánh bắt hải sản (các loại cá, đồi mồi, ốc,…) bằng công cụ thô sơ với lưới và thuyền nhỏ tại các vùng biển gần bờ Sản phẩm thu được chỉ
để phục vụ cho nhu cầu của bộ máy cai trị của thực dân pháp trên đảo Sản phẩm có giá trị kinh tế cao từ biển được thực dân Pháp đâu tư khai thác mạnh là san hô - được dùng làm vôi Trên đảo, chính quyền thực dân tổ chức một lò vôi với lao động thường xuyên khoảng 30 nhân công là các tù nhân Năng xuất đạt khoảng 600 tấn/năm Vôi được sử dụng một phần cho việc xây dựng các công trình công thự và nhà tù trên đảo, còn lại được đưa về đất liền Chính quyền thực dân còn tổ chức khai thác đất để làm gạch, ngói – trên đảo có một lò gạch với công xuất 10.000 viên mỗi năm27
1.6 Tiểu kết luận chuyên đề
Những năm 1945 – 1954 hoạt động quản lý và khai thác biển đảo ở Đông Nam
Bộ là nhằm duy trì sự ổn định tình hình ở miền Nam, xây dựng Sài Gòn, Vũng Tàu
thành một tuyến hành lang phía Đông bảo vệ thủ phủ Sài Gòn
Do đó, sau năm 1945 thực dân Pháp và chính quyền tay sai tăng cường việc quản
lý các mặt đời sống xã hội, khai thác vị thế biển đảo Đông Nam Bộ Chúng coi đây là một trong những vấn đề trọng yếu Thực dân Pháp và chính quyền tay sai đã từng bước thiết lập các đơn vị hành chính, triển khai hàng loạt chính sách quản lý vùng biển đảo Đông Nam Bộ theo phương châm kiểm soát gắt gao về an ninh chính trị Chúng chiêu dụ dân chúng, đón tiếp người hồi cư, trả lương cho công chức cũ, kêu gọi tham gia vào bộ máy tề ngụy Phong trào “dinh tê” tản cư vào vùng Pháp chiếm đóng ngày một đông hơn
– gây cho ta nhiều khăn
Cùng với thiết lập bộ máy chính quyền quản lý chặt chẽ các địa phương ven biển, thực dân Pháp triển khai hàng loạt chính sách quản lý mọi mặt đời sống xã hội vùng biển đảo theo phương châm kiểm soát gắt gao, thực thi chính sách cai trị hà khắc, liệt tất cả
26 Thạch Phương, Nguyễn Trong Minh (cb), Địa chí Bà Rịa – Vũng Tàu, Nxb KHXH, Hn, 2005, tr.415
27 Phông Thống đốc Nam Kỳ, Hồ sơ D3 466, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II
Trang 30Về khai thác biển đảo trong những năm 1945 – 1954 ở Đông Nam Bộ vẫn duy trì các nghề kinh tế biển truyền thống như đánh bắt thủy sản, làm muối, chế biến hải sản, đan lưới… Các hoạt động khai thác biển đảo của chính quyền cũng chỉ tập trung khai thác du lịch biển; ở Côn Đảo khai thác san hô làm vôi, làm gạch
Để xây dựng Vũng Tàu vừa trở thành một thành phố du lịch để các quan chức nghỉ ngơi, vừa là một tiền đồn bảo vệ Sài Gòn ở phía Đông – Nam với một lượng lớn binh lính thường xuyên đồn trú nơi đây, mọi hoạt động khai thác biển, từ đánh bắt, chế biến đến hoạt động của ngành du lịch – dịch vụ đều được vận hành theo mục tiêu đó Sự phát triển hoạt động khai thác biển giai đoạn này theo cơ chế nền kinh tế thị trường, từng bước chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế nơi này từ một cơ cấu nông – ngư nghiệp thành cơ cấu kinh tế: công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp Một số ngành, lĩnh vực kinh tế mới được hình thành như công nghiệp điện, nước, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghệ chế biến hải sản; đặc biệt là hoạt động du lịch – dịch vụ
Để trở thành đô thị du lịch Vũng Tàu được tu bổ hệ thống đường sá nội, khắc phục tình trạng khan hiếm nước ngọt, chỉnh trang những dãy hàng quán nhếch nhác, bãi biển ô nhiễm rác; khôi phục và đưa các cơ sở du lịch Viện điều Anduzer (nhà nghỉ cổ nhất ở nước ta), khách sạn: Grand Hotel, Hostellerie du Cap St Jacques, Hotel Beauséjour, và gần 100 biệt thự đi vào hoạt động, tạo điều kiện phát triển hoạt động du lịch biển nơi này
Quá trình quản lý và khai thác biển đảo ở Đông Nam Bộ giai đoạn 1945 – 1954 cho thấy, mặc dù trong điều kiện chiến tranh, lại nằm trong vùng địch chiếm đóng, nhưng các hoạt động kinh tế nơi đây phát triển khá sôi động (so với nhiều khu vực trong
cả nước) vừa tạo điều kiện từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng vừa phát triển kinh tế thị trường, mở ra khả năng thu hút một lượng lao động lớn
Trang 3128
Chuyên đề 2 HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC BIỂN DẢO VIỆT NAM Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ CỦA CHÍNH
QUYỀN SÀI GÒN (1954 - 1975)
2.1 Tình hình vùng ven biển Đông Nam Bộ (1954-1975)
Thắng lợi của chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954, mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, đã tạo bước ngoặt cho công cuộc cách mạng Việt Nam Ngày 8-5-1954, một ngày sau thắng lợi vĩ đại của quân dân Việt Nam tại Điện Biên Phủ, vấn đề đình chỉ chiến sự, lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương được 5 cường quốc (Anh, Pháp,
Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc) đưa ra thảo luận tại Genève Trong tình hình đó, Hoa Kỳ gây sức ép và “mặc cả” với các cường quốc, âm mưu thiết lập chế độ thân Mỹ, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, thực hiện ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản lan xuống khu vực Đông Nam Á
Sau Hội nghị Genève năm 1954, đế quốc Mỹ thực hiện âm mưu thay chân thực dân Pháp thôn tính miền Nam Việt Nam, biến miền nơi đây thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội; đồng thời lấy miền Nam làm căn cứ để tiến công miền Bắc, tiền đồn của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới
ở Đông Nam Á, hòng đè bẹp phong trào giải phóng dân tộc trong khu vực và bao vây, uy hiếp hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa
Đối với vùng ven biển Đông Nam Bộ, địa bàn có vị trí chiến lược là vùng ven án ngữ con đường biển duy nhất vào Sài Gòn, một trong những huyết mạch giao thông đường biển vận chuyển hàng viện trợ Mỹ để nuôi dưỡng chính quyền Sài Gòn Vì vậy,
Mỹ và chính quyền Sài Gòn coi đây là một trong những địa bàn trọng điểm về chính trị
và quân sự đối với chiến lược thực dân mới Mỹ ở miền Nam Việt Nam Ngay từ những ngày đầu nắm quyền ở miền Nam Việt Nam, mục tiêu của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn là biến vùng duyên hải Đông Nam Bộ thành hành lang bảo vệ thủ phủ Sài Gòn
Ngày 28-8-1956, tại dinh Độc Lập, Ngô Đình Diệm triệu tập cuộc họp nghiên cứu sửa đổi ranh giới các tỉnh ở miền Nam, theo hướng sát nhập các tỉnh nhỏ vào các tỉnh
Trang 3229
lớn, chu vi mỗi tỉnh từ 250.000 tới 300.000 mẫu tây (ha)28 Trên cơ sở đó, ngày
22-10-1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa phân định lại ranh giới Sài Gòn và 22 tỉnh thành
ở miền Nam29; trong đó có địa bàn ven biển Đông Nam Bộ như tỉnh Phước Tuy và tỉnh Côn Sơn Tỉnh Côn Sơn bao gồm toàn bộ quần đảo Côn Lôn, tỉnh lỵ đặt tại đảo lớn nhất Côn Sơn Tỉnh Phước Tuy bao gồm Bà Rịa, Vũng Tàu và quần đảo Trường Sa tỉnh lỵ đạt tại Phước Lễ Tỉnh Phước Tuy có 6 quận: Châu Thành, Long Điền, Xuyên Mộc, Đất Đỏ, Vũng Tàu, Cần Giờ, với 8 tổng, 41 xã30
Về phía chính quyền cách mạng, từ cuối năm 1954 đến ngày cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc thắng lợi, địa bàn ven biển Đông Nam Bộ nhiều lần tách nhập cùng với tỉnh Biên Hoà, Long Khánh với nhiều tên gọi khác nhau Năm 1955: tỉnh
Bà Rịa; đầu năm 1963: tỉnh Bà-Biên; cuối năm 1963: tỉnh Bà Rịa; từ 1966-1967: tỉnh Long - Bà - Biên; tháng 10-1967: tỉnh Bà Rịa - Long Khánh; tháng 5-1971: phân khu Bà Rịa; tháng 8-1972: tỉnh Bà Rịa-Long Khánh
Trong hai năm đầu cầm quyền (1954 - 1955), Ngô Đình Diệm giữ nguyên hệ thống hành chính như dưới thời Pháp thuộc Đến cuối năm 1955, sau khi dẹp xong các lực lượng giáo phái, tổ chức truất phế Bảo Đại, tự đưa mình lên ngôi vị Tổng thống, thiết lập ở miền Nam Việt Nam chính thể cộng hòa, Ngô Đình Diệm tiến hành cải tổ toàn bộ
bộ máy hành chính các cấp
Chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành cải tổ bộ máy chính quyền các cấp theo hướng tăng cường vai trò kiểm soát của cấp tỉnh, cấp xã và thực hiện quân sự hóa bộ máy hành chính ở địa phương bằng việc đưa các sĩ quan quân đội trực tiếp nắm giữ ở những khu vực trọng yếu Ở địa phương, bộ máy cấp xã được chính quyền Diệm đặc biệt chú trọng, thiết lập một chế độ hoàn toàn mới Hội đồng hương chính trước đây chủ yếu
là địa chủ, cường hào nay được thay bằng các đại diện xã, và do tỉnh trực tiếp chỉ huy Bên dưới là hệ thống các ấp, gồm nhiều “Liên gia” và các đội nhân dân tự vệ
Về mặt quân sự, tại vùng ven biển Đông Nam Bộ, chính quyền Ngô Đình Diệm tập trung xây dựng một “bộ máy chiến tranh” gồm nhiều thành phần mà ngoài quân đội chính quy còn có hàng loạt tổ chức, đoàn thể vũ trang, bán vũ trang được tổ chức theo ngành dọc từ tỉnh xuống tận xã ấp Đóng vai trò then chốt trong việc tổ chức càn quét ở
28 Biên bản phiên nhóm họp tại Dinh Độc Lập để nghiên cứu các vụ sửa ranh giới sáp nhập các tỉnh ở Nam Việt để tiện việc tổ chức hành chánh, hồ sơ số 1169, phông Phủ Tổng thống đệ nhất cộng hòa, Trung tâm Lưu trữ quốc gia
II
29 Sắc lệnh số 143/NV ngày 22-4-1956 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa
30 Theo Nghị định số 6/BNV/HC/ND của Bộ trưởng bộ Nội vụ Việt Nam Cộng Hòa
Trang 3330
địa phương là lực lượng bảo an đặt dưới sự chỉ huy tập trung của các Đoàn Bảo an tập trung từ tỉnh xuống quận, xã Tại các xã ven biển Đông Nam Bộ chính quyền Ngô Đình Diệm cho thiết lập các đồn bảo an án ngữ các khu vực quan trọng, đặc biệt là các xã ven biển và các tuyến giao thông trọng yếu Trong khi, vai trò kiểm soát an ninh, kìm kẹp quần chúng tại các thôn ấp, được giao cho lực lượng tự vệ hương thôn Theo đó, cứ 5 nóc gia thành một liên gia, 6 liên gia thành một phân ấp tự vệ, 6 phân ấp tự vệ thành ấp
tự vệ và nhiều ấp kết hợp thành hương chính (tự vệ hương thôn) “Cứ 5 nóc gia luân phiên nhau bầu một người từ 18 đến 45 tuổi để chịu trách nhiệm và kiểm soát lẫn nhau hành động từng cá nhân của mỗi gia đình, già cũng như trẻ”31
Ngoài ra, chính quyền Ngô Đình Diệm còn thành lập một tổ chức mang danh
nghĩa dân sự là lực lượng Công dân vụ, nhưng lại hoạt động như những lực lượng bán vũ
trang lưu động Lực lượng công dân vụ trên danh nghĩa có nhiệm vụ cải thiện dân sinh với chức trách cố vấn, kếp hợp với địa phương nhằm đảm bảo an ninh trật tự; góp phần bình định nông thôn, xây dựng hệ thống chính quyền cấp cơ sở từ xã trở xuống, nhưng thực chất hoạt động như một bộ máy chiến tranh tâm lý, chiến tranh chính trị, chuyên tổ chức tuyên truyền, vận động quần chúng, sử dụng nhiều biện pháp kinh tế để lôi kéo, lừa bịp và luồn sâu vào các tổ chức quần chúng, thực hiện cùng ăn, cùng ở với nhân dân nhằm kìm kẹp về tư tưởng, về chính trị, đồng thời lùng sục, phát giác cán bộ, cơ sở cách mạng
Thông qua công cuộc cải tổ, chính quyền Ngô Đình Diệm nhanh chóng hoàn thành thiết lập bộ máy kìm kẹp chặt chẽ trên toàn địa bàn tỉnh, phủ khắp từ vùng rừng núi cho tới các vùng ven biển Đông Nam Bộ Với chiêu bài “quốc gia độc lập” giả hiệu, chính quyền Ngô Đình Diệm ở ven biển Đông Nam Bộ đã ra sức tuyên truyền tư tưởng phản động của Đảng Cần lao Nhân vị, ép buộc nhân dân vào các tổ chức: Phong trào cách mạng quốc gia, Hiệp hội nông dân, Thanh niên cộng hòa, Phụ nữ liên đới; thiết lập
hệ thống “ngũ gia liên bảo” kiểm soát chặt chẽ đến từng gia đình
Mặt khác, nhằm cô lập cách mạng, chính quyền Diệm đưa gần 2 vạn đồng bào Thiên chúa giáo di cư từ miền Bắc vào cắm dọc theo trục lộ 15, lộ 2, từ Phú Mỹ, Phước Hòa, Long Hương đến Bình Giã và ở các làng ven biển như Phước Tỉnh, Hải Đăng, Sao Mai, Bến Đình, Thắng Nhất, tạo thành vành đai dân cư bao quanh thị xã Bà Rịa, án ngữ các tuyến hành lang chiến lược trong các tỉnh Tiếp đó, năm 1955, chính quyền
31 Hồ sơ số 648, phông Phủ Tổng thống đệ nhất cộng hòa, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
Trang 3431
Diệm di dân từ Vĩnh Linh, Quảng Trị vào vùng ven biển Xuyên Mộc, lập ra ấp Nhơn Đức, khu dinh điền Hưng Nghĩa (Láng Bè 1 - Xuyên Mộc); đưa đồng bào công giáo các vào vùng ven biển Cần Giờ; đưa đồng bào Phật giáo từ Quảng Trị vào lập ấp Láng Bè 2, đưa dân tị nạn vào lập ra ấp 3, 4, nhằm xóa bỏ khu căn cứ địa của cách mạng trong kháng chiến
Từ năm 1956, sau khi củng cố được địa vị ở miền Nam, chính quyền Diệm thực thi “quốc sách tố cộng, diệt cộng” với trọng điểm là nhằm vào cán bộ, đảng viên và những vùng kháng chiến cũ, những nơi có phong trào đấu tranh của nhân dân, đánh đi đánh lại nhiều lần tới khi “triệt hạ được uy thế chính trị của cộng sản” Triển khai chiến dịch trên địa bàn ven biển Đông Nam Bộ, chính quyền Diệm cho thành lập Ủy ban chỉ đạo tố cộng từ tỉnh đến xã Trong mỗi xã thành lập nhiều liên gia tố cộng Lực lượng này trở thành nòng cốt trong việc các lớp học tố cộng; ép buộc quần chúng, những người tham gia kháng chiến, cán bộ cách mạng phải tự tố giác lẫn nhau; lập hồ sơ để phân loại, thanh lọc quần chúng;…
Trong khi đó, từ ngày 10-7-1956 đến ngày 24-2-1957, tại khu vực ven biển Đông Nam Bộ, chính quyền Ngô Đình Diệm khai triển chiến dịch quân sự Trương Tấn Bửu do Mai Hữu Xuân – thiếu tướng, chỉ huy sử dụng 1 sư đoàn dã chiến, 2 trung đoàn độc lập,
1 hải đoàn xung phong cùng lực lượng dân chính tố cộng càn quét trên toàn khu vực với mục tiêu diệt lực lượng và cơ sở Việt Cộng cùng tàn dư Bình Xuyên - Cao Đài, kiểm soát biên giới, tái lập an ninh nông thôn
Từ đầu năm 1957, Ngô Đình Diệm triển khai hàng loạt “quốc sách” bình định nông thôn Tháng 4-1957, Ngô Đình Diệm phát lệnh triển khai chính sách “Khu dinh điền” với khẩu hiệu “cải thiện dân sinh” nhưng thực chất mục đích chiến lược được ghi
rõ là “nhằm thiết kế những đơn vị hành chánh có võ trang tại thôn quê để tự bảo vệ và được huấn luyện chính trị để từ đó đan vào nhau thành một hàng rào vừa phòng ngự vừa tấn công, xem đó như một sách lược quan trọng khả dĩ có thể công phá được loại chiến tranh du kích của Cộng sản tại chiến trường Việt Nam” Diệm - Nhu xác định: “Khu dinh điền là biện pháp xẻ đường đưa dân vào chiến khu, mật khu Việt Cộng, dùng dân để đẩy cộng sản ra khỏi vùng đó và dinh điền là nơi cung cấp tin tình báo, nơi xuất phát để hành quân ngăn chặn xâm nhập”32 Ngô Đình Diệm huy động lực lượng quân – dân – chính tiến hành cào nhà, gom dân lập ấp và thiết lập sự kiểm soát chặt chẽ mọi sự ra vào
32 Báo cáo hoạt động của Bộ kinh tế Viết Nam Cộng hoà (1954-1961), hồ sơ 426, phông Phủ Tổng thống đệ nhất cộng hòa, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
Trang 3532
trong khu dinh điền Thanh niên trong các khu dinh điền đều bắt buộc phải luyện tập quân sự và sẵn sàng tham gia quân dịch khi có lệnh Đến năm 1959, trên toàn tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa – Vũng Tàu), chính quyền Diễm đã thiết lập 31 khu dinh điền (chiếm gần 10% tổng số dinh điền trên toàn miền Nam), gôm các dinh điền: Rạch Dừa A, Rạch Dừa
B, Thắng Tâm, Thanh Thới, Xuyên Mộc, Cát Lở, Chu Hải, Long Hương, Cù My, Lộc
An, Long Tân, Tân Phước, Phước Tỉnh, Long Kiên I, Long Kiên II, Thủ Lựu, Phước Hòa, Lang Cát, Vĩnh Trung (Bình Giã I), Vĩnh Châu (Bình Giã II), Vĩnh Hà (Bình Giã III), An Đức, Thạnh Phú, Long Định, Ba Bèo (A, B, C, E, G, H, I)33
Cuối năm 1957, chính quyền Diệm triển khai chính sách bình định thứ hai bằng chương trình cải cách điền địa với khẩu hiệu “bảo vệ quyền lợi tá điền”, “hữu sản hoá nông dân”, “đem lại cho đồng quê một đời sống mới” Nhưng thực tế là tước đoạt ruộng đất mà cách mạng đã chia cho nông dân trong thời kỳ kháng chiến; biến người nông dân trở lại thân phận tá điền, cày thuê cho địa chủ
Tuy nhiên, chính sách đàn áp và lừa mị của chính quyền Diệm càng làm cho phong trào đấu tranh cách mạng, cũng như sự chống đối chính quyền của các thế lực đối lập phát triển mạnh Vì vậy, tháng 5 năm 1959, Ngô Đình Diệm ban hành luật 10/59, đặt cộng sản, các lực lượng chống đối ra ngoài vòng pháp luật và đẩy mạnh hoạt động khủng
bố trên khắp miền Nam Từ năm 1961, Mỹ - Diệm triển khai chiến lược chiến tranh đặc biệt, tiến hành bình định miền Nam trong 18 tháng, kết hợp giữa hoạt động quân sự với gom dân lập ấp chiến lược
Tháng 4 năm 1962, chính quyền Diệm bắt đầu triển khai kế hoạch bình định ở ven biển Đông Nam Bộ với việc xây dựng ấp chiến lược kiểu mẫu ở An Nhứt (Long Đất); Trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp ở Bà Rịa; củng cố chi khu Long Lễ và xây dựng
ấp chiến lược kiểu mẫu ở Hòa Long; lập ấp chiến lược Bình Giã; tăng cường thêm đại đội 611 và đại đội 612 bảo an thuộc chi khu Xuyên Mộc, đóng đồn từ Núi Nhọn lên Cầu Dài, Cầu Trọng, cầu Suối Cát để phục vụ việc gom dân lập ấp chiến lược ở khu vực này
Tính đến giữa năm 1963, hệ thống ấp chiến lược của chính quyền Diệm ở ven biển Đông Nam Bộ được xây dựng tương đối hoàn chỉnh Tại Long Đất (Bà Rịa – Vũng Tàu) có các ấp mẫu ở An Nhứt, Phước Tỉnh Long Điền, hàng rào ấp chiến lược chạy dài
từ ngã tư Bàu Thành qua Long Phượng lên mả ông Huyện đến Dinh Cố nối liền ấp chiến lược xã An Ngãi Đất Đỏ ấp chiến lược được xây dựng với hàng rào bao quanh 3 xã
33 Hồ sơ 12666, phông Phủ Tổng thống đệ nhất cộng hòa, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
Trang 3633
Phước Thạnh, Phước Thọ, Phước Hòa Long và cổng đặt trên lộ 52 và 23 Vùng cát Phước Lợi, Long Mỹ, Hội Mỹ, Phước Hải hàng rào ấp chiến lược cắt ngang lộ 44, 52 chạy dọc theo bờ biển đến đồn Con Ó lên Hàng Dương, qua bót Ếch (bót Sập) Trên địa bàn huyện Xuyên Mộc, tại xã Bình Châu, có 2 ấp chiến lược Láng Găng, Bến Lội; xã Bưng Riềng có Ấp Một và Ấp Hai; xã Phước Bửu có 3 ấp Xóm Rẫy, Bà Tô, Núi Nhọn nằm dọc lộ 23; các xã Ba Mẫu, xã Láng Bè, mỗi xã đều có một ấp; xã Bàu Lâm có 3 ấp;
xã Phước Bửu có ấp Gò Cà và ấp Bà Tô Riêng xã Xuyên Mộc nằm ở trung tâm của chi khu, chính quyền Diệm thiết lập một ấp chiến lược lớn có hàng rào kiên cố bao quanh các ấp Nhơn Nghĩa, Nhơn Trí, Nhơn Đức, Nhơn Tâm Trên địa bàn huyện Châu Thành, chúng xây dựng các ấp chiến lược Phú Mỹ, Mỹ Xuân, Hội Bài, Phước Hoà (ba ấp), Chu Hải, Kim Hải, Hòa Long, Long Phước, Sông Cầu, Bình Ba, Xuân Sơn, Ngãi Giao, Bình Giã (ba ấp), án ngữ dọc lộ 15 và lộ 2, trong đó ấp chiến lược Bình Giã được xem là kiểu mẫu, là pháo đài bất khả xâm phạm
Từ cuối năm 1963, sau khi thực hiện đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm, chế độ Sài Gòn rơi vào tình trạng khủng hoảng triền miên, buộc Mỹ phải đưa quân viễn chinh và chư hầu vào tham chiến trực tiếp tại chiến trường miền Nam Việt Nam Xác định ven biển Đông Nam Bộ là một trọng điểm trong vành đai bao xung quanh Sài Gòn, ngày 5 tháng 5 năm 1965, lữ đoàn dù 173 của Mỹ đổ bộ vào Vũng Tàu, triển khai lực lượng trên chiến trường Biên Hòa, Bà Rịa Kết hợp với lực lượng tại chỗ vừa thực hiện càn quét, gom dân lập ấp, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ thị xã Vũng Tàu
Mặt khác, sau thất bại của quốc sách ấp chiến lược, chuyển sang thực hiện kế hoạch “bình định có trọng điểm”, chính quyền Sài Gòn cải biến quận Vũng Tàu thành thị
xã Vũng Tàu (Sắc lệnh ngày 8-9-1964) và chia các xã của thị xã Vũng Tàu thành 5 khu phố (Sắc lệnh ngày 30-3-1965 và nghị định ngày 13-4-1965) Biến thị xã Vũng Tàu thành trung tâm vui chơi giải trí và trung tâm huấn luyện dân – quân – cán – chính của chính quyền Sài Gòn Một loạt các trung tâm đào tạo, như Trung tâm huấn luyện cảnh sát quốc gia, Trung tâm huấn luyện cán bộ xây dựng nông thôn, Trung tâm huấn luyện truyền tin, Trung tâm huấn luyện biệt kích (người nhái), Trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp… được mở ra ở thị xã Vũng Tàu
Trong hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, kết hợp với các lực lượng trên địa bàn miền Đông Nam bộ, quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn, có sự yểm trợ của không quân, liên tục tổ chức các cuộc càn quét quy mô lớn vào các khu vực căn cứ cách mạng, đánh mạnh vào vùng nông thôn, thực hiện gom dân vào các ấp được thiết lập tại những
Trang 37cơ động trong quân khu như Lữ đoàn dù 2, Sư đoàn 18, Chiến đoàn Hoàng gia Úc, Tiểu đoàn Mãng Xà của Hoàng gia Thái Lan và lực lượng bảo an, cảnh sát cơ động liên tiếp
tổ chức các cuộc hành quân bình định cấp tốc vào vùng nông thôn, trong đó trọng điểm
là các huyện Châu Đức, Long Đất, Xuyên Mộc,… Hỗ trợ cho bộ binh, Mỹ - chính quyền Sài Gòn điều động lực lượng không quân, bao gồm cả máy bay B.52 liên tục rải bom và chất độc hóa học xuống các vùng căn cứ Xuyên Mộc, Minh Đạm, Núi Dinh, núi Thị Vải, hủy diệt toàn bộ rừng già, ủi phá hai bên các trục lộ giao thông và sâu hơn một cây số dọc theo các khu căn cứ cách mạng, triệt hạ các làng xóm ở đông và tây lộ 2, san bằng các vườn tược ven trục lộ 15, lộ 23, lộ 44 Đồng thời, Mỹ - chính quyền Sài Gòn triển khai giai đoạn 2 của bình định cấp tốc, tập trung vào khôi phục lại bộ máy tề xã, lực lượng phòng vệ dân sự; tăng cường mạng lưới gián điệp, bảo an, cảnh sát dã chiến, lấy
đó làm nòng cốt thực hiện bình định; đồng thời thực thi một số chính sách cải tổ, khiến thiết và phát triển kinh tế, đặc biệt là vùng nông thôn nhằm tranh giành quần chúng với cách mạng;… Ở ven biển Đông Nam Bộ, chính quyền Sài Gòn tập trung chỉnh trang, kiến thiết lại cơ sở hạ tầng, quy hoạch lại khu phố nhằm biến nơi đây thành trung tâm giải trí, du lịch của chế độ, một trong những đô thị phát triển bậc nhất ở miền Nam trước năm 1975
2.2 Hoạt động quản lý và khai thác biển đảo Việt Nam ở miền Đông Nam Bộ (1954-1975)
Xác định vùng biển đảo Đông Nam Bộ là một trong những trọng điểm trong vành đai bao quanh Sài Gòn, do đó, vấn đề xóa bỏ ảnh hưởng của Pháp và thiết lập bộ máy chính quyền nhằm quản lý các mặt đời sống xã hội vùng biển đảo trở thành vấn đề trọng yếu đối với chính quyền Ngô Đình Diệm
Trang 3835
Thực hiện chính sách trên, chính quyền Ngô Đình Diệm tuyên truyền chủ trương
“bình đẳng, đoàn kết và thống nhất” và tiến hành cải tổ toàn bộ bộ máy chính quyền các cấp theo hướng tập trung quyền lực Ngày 4-8-1954, ban hành Dụ số 21 về mặt pháp lý
là bãi bỏ tư cách pháp nhân và ngân sách tự trị cấp phần trên toàn miền Nam, nhằm mục tiêu thống nhất lãnh thổ và thống nhất quyền lực Tiếp đó, chuẩn bị cho việc thiết lập bộ máy cai trị ở địa phương, chính quyền Ngô Đình Diệm cho lập hàng loạt đồn bót và tổ chức nhiều cuộc hành quân thám sát, thọc sâu vào vùng rừng núi, nhất là những địa bàn
là căn cứ cách mạng trước đây Trong năm đầu cầm quyền, Ngô Đình Diệm giữ nguyên
bộ máy chính quyền như thời kỳ thực dân Pháp Việt Nam được giới chức miền Nam chia làm ba vùng là Nam Việt, Trung Việt và Bắc Việt Miền Nam Việt Nam bao gồm toàn bộ vùng Nam Bộ, Cao Nguyên miền Nam và một phần Trung Việt
Đến cuối năm 1955, sau khi củng cố được thế lực, Ngô Đình Diệm tập trung cải
tổ bộ máy chính quyền ở miền Nam Việt Nam Ngày 24-12-1955, Ngô Đình Diệm ban hành Dụ số 17 thay thế chế độ Uỷ ban bằng việc thiết lập các Tòa Đại biểu chính phủ ở các phần và chia miền Nam Việt Nam thành bốn phần: miền Đông Nam Phần, miền Tây Nam Phần, Trung Nguyên Trung Phần và Cao Nguyên Trung Phần Ngày 23-10-1956, Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh số 144a-TTP thay đổi tên gọi và địa giới các vùng trong toàn lãnh thổ Việt Nam Theo đó, Nam Việt, Bắc Việt, Trung Việt từ nay được gọi
là Nam Phần, Trung Phần và Bắc Phần
Về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương, ngày 24-10-1956, Ngô Đình Diệm ban hành Dụ số 57a phân cấp hành chính ở miền Nam gồm hai cấp cơ bản là Đô thị - Tỉnh và Xã Theo đó, Đô thị - Tỉnh là đơn vị hành chánh lớn nhất ở địa phương, “có tính cách pháp nhân, ngân sách và công sản Đặt dưới quyền cai trị của Tỉnh trưởng”34 Dưới tỉnh là quận – tổng và các “xã có tư cách pháp nhân, ngân sách và công sản”35
Về địa giới hành chính, nhằm kiểm soát chặt chẽ địa phương, Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh số 143-NV ngày 22-10-1956, chủ trương chia tách, sát nhập và đổi tên các tỉnh ở miền Nam Việt Nam Theo đó, một số tỉnh ven biển Đông Nam Bộ cũng có bước điều chỉnh, thay đổi Tỉnh Bà Rịa (bao gồm quần đảo Trường Sa, một phần huyện Cần Giờ và không gồm Côn Đảo) được sát nhập lại để thành lập tỉnh mới gọi là tỉnh Phước