1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Giáo trình Bảo vệ rơ le và tự động hóa: Phần 2 - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh

73 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Hình Thức Bảo Vệ Khác
Trường học Trường Đại Học Công Nghiệp Quảng Ninh
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 2 của giáo trình Bảo vệ rơ le và tự động hóa tiếp tục cung cấp cho học viên những nội dung về: các hình thức bảo vệ khác; tự động điều chỉnh tần số; tự động điều chỉnh điện áp; tự động đóng nguồn dự trữ; tự động đóng trở lại nguồn điện;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Chương 4 CÁC HÌNH THỨC BẢO VỆ KHÁC 4.1 Bảo vệ khoảng cách

Loại bảo vệ được thực hiện theo nguyên lý xác định khoảng cách từ nơi đặt bảo vệ đến điểm ngắn mạch gọi là bảo vệ khoảng cách (BVKC) Thời gian trễ của bảo vệ phụ thuộc vào khoảng cách lN, nó tăng dần cùng với lN, có nghĩa là các bảo vệ đặt gần điểm ngắn mạch sẽ tác động trước, các bảo vệ đặt càng xa càng tác động sau, điều đó cho phép duy trì được sự chọn lọc của bảo vệ đối với mạng điện có cấu trúc bất kỳ

Sơ đồ nguyên lý của bảo vệ khoảng cách được bố trí trên hình 4.1

Hình 4.1 Sơ đồ nguyên lý bảo vệ khoảng cách

Cơ cấu chủ yếu của bảo vệ khoảng cách là rơle khoảng cách hay còn gọi là rơle tổng trở, nó phản ứng theo tỷ lệ của áp và dòng chạy qua cuộn dây Trên sơ đồ (Hình 4.1) giả sử ngắn mạch xảy ra tại điểm N1 điện áp dư của mạng U tại điểm ngắn mạch bằng 0 và tăng dần về phía nguồn, bảo vệ ở một khoảng cách lN so với điểm ngắn mạch có giá trị điện áp pha là:

Trang 2

UI Z lN 0 N (4.1)

Trong đó:

(3) N

I - dòng điện ngắn mạch ba pha;

Z0 - suất tổng trở của một đơn vị chiều dài đường dây;

lN - khoảng cách từ nguồn đến điểm ngăn mạch

Điện áp đưa đến rơle

IIk

4.1.2 Những bộ phận chính của bảo vệ khoảng cách và tác động tương hỗ giữa chúng

Bộ phận khởi động làm nhiệm vụ bảo vệ khi xảy ra sự cố ngắn mạch:

Thường dùng rơle dòng điện cực đại hoặc rơle tổng trở làm nhiệm vụ khởi động;

Cơ cấu khởi động làm nhiệm vụ đo khoảng từ nơi đặt thiết bị bảo vệ đến nơi xảy ra ngắn mạch;

Bộ phận tạo thời gian làm việc, duy trì một khoảng thời gian trễ cho bảo vệ

Trang 3

Hình 4.2 Sơ đồ nguyên lý một pha bảo vệ khoảng cách

Bộ phận xác định chiều công suất được xác định cho mạng điện kín làm nhiệm

vụ ngăn chặn không cho bảo vệ tác động khi chiều công suất ngắn mạch đi từ đường dây vào thanh cái Người ta thường dùng rơle hướng công suất làm nhiệm vụ xác định chiều công suất

Sau đây trên hình 4.2, chúng ta xét một ví dụ bảo vệ khoảng cách có đặc tính thời gian ba cấp:

Cấp I: Khi ngắn mạch xảy ra trong vùng 1, các rơle RI; RZ1; RG; TH làm việc với một thời gian t1 không lớn lắm gửi tín hiệu đi cắt máy cắt MC

Cấp II: Nếu ngắn mạch ở vùng thứ 2 xa hơn, các rơle RI; RZ2; Rt1; RG; TH làm việc với một thời gian t2 gửi tín hiệu đi cắt máy cắt MC

Cấp III: Nếu ngắn mạch ở vùng thứ 3, các rơle RI; Rt2; RG; TH làm việc với một thời gian t3 gửi tín hiệu đi cắt máy cắt MC Các rơle tổng trở không kiểm soát được vùng thứ 3 và bảo vệ trong trường hợp này làm việc như bảo vệ theo chiều dòng điện

4.1.3 Đặc tính thời gian làm việc và vùng tác động của bảo vệ khoảng cách

4.1.3.1 Đặc tính thời gian

Đặc tính thời gian của bảo vệ khoảng cách là sự phụ thuộc thời gian tác động

và khoảng cách đến điểm ngắn mạch Hiện nay người ta thường dùng loại bảo vệ khoảng cách có đặc tính thời gian từng cấp số lượng vùng bảo vệ và cấp thời gian thường là 3 Chiều dài vùng bảo vệ và thời gian mỗi vùng có thể điều chỉnh được

Trang 4

Hình 4.3 Đặc tính thời gian của bảo vệ khoảng cách

Vùng bảo vệ 1: Thời gian tác động t1 rất bé (gồm thời gian làm việc của bản thân rơle và của máy cắt), chiếm 8085% chiều dài của đoạn dây để bảo vệ có thể tác động chọn lọc khi ngắn mạch ở đoạn đường dây sau

Vùng bảo vệ 2: Thời gian tác động t2, chiếm khoảng 3040% chiều dài của đoạn dây sau (để phối hợp với vùng thứ 2 của đoạn này về chọn lọc)

t2= t1+ t Vùng bảo vệ 3: Thời gian tác động t3 dùng làm bảo vệ dự trữ cho các đoạn tiếp theo và bọc lấy toàn bộ những đoạn này

t3= t2+ t

4.1.3.2 Vùng tác động của bảo vệ khoảng cách ba cấp

Bảo vệ khoảng cách ba cấp là dạng bảo vệ thường được dùng đối với đường dây Các vùng bảo vệ cấp 1 và cấp 2 được thiết lập theo sự hiệu chỉnh của rơle tổng trở với điều kiện tổng trở giả tưởng trên cực của rơle nhỏ hơn tổng trở của đường dây được bảo

vệ ZR< Zdd Nguyên tắc xây dựng vùng bảo vệ được thể hiện trên hình 4.4

Trong vùng 1 rơle tác động tức thời không có thời gian trễ và để đảm bảo điều kiện làm việc chọn lọc của bảo vệ thì tổng trở khởi động của bảo vệ vùng 1 phải nhỏ hơn tổng trở của đoạn dây được bảo vệ: ZIA ZAB

Trang 5

Hình 4.4 Vùng tác động của bảo vệ khoảng cách Trên hình 4.4 vùng 1 của bảo vệ đường dây AB và đường dây BC chỉ phủ được một phần chiều dài của các đường dây này

Bảo vệ cấp 2 của đường dây AB và đường dây BC có cùng thời gian trễ (t2.A= t2.B) vì vậy để đảm bảo sự chọn lọc cần phải có sự kết hợp bảo vệ theo điều kiện khởi động là:

II

Z K (Z K Z ) (4.6)

Trong đó: Z - Tổng trở khởi động của bảo vệ cấp 2 đường dây AB; IIA

ZBC- Tổng trở đường dây BC liền sau đường dây AB;

K2- hệ số dự trữ lấy trong khoảng 0,70,8

Trong trường hợp liền sau đoạn AB có nhiều nhánh dây khác nhau thì ZBC lấy bằng giá trị nhỏ nhất trong số các tổng trở của các nhánh

Ngoài ra giá trị tổng trở khởi động của vùng 2 có thể được xác định theo biểu thức sau:

A

ZZ

Trang 6

Vùng bảo vệ cấp 2 bao trùm phần còn lại của đường dây ĐD1 (1520)%

và (3040)% chiều dài của đoạn dây tiếp theo

Tính tương tự tổng trở khởi động của vùng 3 là:

kP- hệ số phân dòng, tính đến sự ảnh hưởng của phụ tải các nhánh dây;

Z - tổng trở khởi động vùng 2 của bảo vệ B IIBGiá trị tổng trở khởi động của rơle vùng 1 bảo vệ A:

Trong đó: ZAB- tổng trở của đường dây Ab cần bảo vệ;

Căn cứ vào giá trị dòng khởi động của rơle ZIR.A ta chọn nấc chỉnh định gần nhất về phía dưới I

A d

Z . và xác định tổng trở khởi động thực tế của bảo vệ khoảng cách:

Trong đó: ZIkd.A- tổng trở khởi động của bảo vệ khoảng cách

Đối với các vùng khác quá trình tính toán cũng được thực hiện tương tự Với việc thực hiện nhiều vùng bảo vệ, cho phép nâng cao độ tin cậy nhờ sự kết hợp hỗ trợ của các vùng bảo vệ Chẳng hạn khi có sự cố ngắn mạch xảy ra trong vùng 1 của đoạn dây AB (điểm N1 hình 4.4) bảo vệ vùng 1 sẽ tác động cắt máy cắt MCA với thời gian t1.A0, nếu vì một lý do nào đó bảo vệ vùng 1 từ chối tác động thì

Trang 7

bảo vệ vùng 2 sẽ tác động với thời gian trễ t2.A và nếu vùng 2 lại cũng từ chối tác động thì bảo vệ vùng 3 sẽ tác động với thời gian trễ t3.A Nếu ngắn mạch xảy ra tại điểm N2 thuộc vùng 2 của ĐD2 thì bảo vệ vùng 2 sẽ tác động cắt MCB với thời gian t2.B, nếu vì lý do nào đó mà bảo vệ vùng 2B không tác động thì bảo vệ vùng 3A sẽ tác động cắt máy cắt MCA với thời gian trễ là t3A

4.1.4 Yêu cầu đối với các sơ đồ nối bộ phận khoảng cách

Để bảo vệ làm việc đúng, các bộ phận khoảng cách cần phải làm việc một cách rành rọt khi tổng trở từ chỗ đặt rơle đến chỗ ngắn mạch ZN< Zđặt và không làm việc khi ZN> Zđặt, tổng trở không phụ thuộc vào giá trị của dòng điện và điện áp đặt vào các cực của rơle

Đối với những rơle nối vào một điện áp và một dòng điện điều này sẽ thực hiện được khi đảm bảo ZR trên các cực của chúng tỷ lệ với khoảng cách đến chỗ ngắn mạch

Nếu như bộ phận khoảng cách dùng để bảo vệ chống nhiều dạng ngắn mạch khác nhau, thì chúng cần phải làm việc độc lập với các dạng ngắn mạch đó Khi không thực hiện được điều kiện này thì hoặc là bảo vệ có thể cắt không chọn lọc hoặc là vùng bảo vệ bị thu hẹp lại

4.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến độ nhạy của bảo vệ khoảng cách

4.1.5.1 Ảnh hưởng của điện trở quá độ

Điện trở quá độ làm tăng tổng trở trên đầu cực của các rơle làm cho điểm ngắn mạch dường như lùi xa hơn và bảo vệ sẽ tác động với thời gian trễ lớn hơn nhưng vẫn không mất tính chọn lọc Giá trị tổng trở đo được đến chỗ ngắn mạch '

d

Z có tính đến điện trở quá độ là:

'

Trong đó: Zd- tổng trở thực tế của đường dây;

Rqd- giá trị điện trở siêu quá độ (điện trở hồ quang)

Sở dĩ có hệ số là 0,5 là do điện trở quá độ tại chỗ ngắn mạch được chia đều cho cả hai pha Giá trị điện trở quá độ thường rất khó xác định, trong thực tế người ta

áp dụng một số biểu thức thực nghiệm như biểu thức Warringtion:

Trang 8

N

28700(a v.t )R

I

Trong đó: a - khoảng cách trung bình giữa các pha, m;

v- vận tốc gió cực đại tác động đến đối tượng bảo vệ, m/s;

tN- thời gian cắt dòng ngắn mạch, s;

IN- dòng điên ngắn mạch, A;

4.1.5.2 Ảnh hưởng của dòng điện bổ sung từ trạm biến áp

Trong trường hợp giữa chỗ đặt bảo vệ và điểm ngắn mạch có thêm nguồn phụ (Hình 5.5a) Điện áp trên cực của rơle lúc này là:

Trong đó: ICN= IAC+IBC

Dòng điện đi vào rơle trong trường hợp này là IR= IAC

Hình 4.5 Sơ đồ giải thích ảnh hưởng của dòng điện bổ xung đối với bảo vệ

khoảng cách Vậy tổng trở đầu cực của rơle:

BC R

IU

BC P

Trang 9

Dòng điện chạy trong cuộn dây rơle

IAC= ICN+ICM ICN= IAC- ICM (4.19)Điện áp trên cực rơle

UR= IAC.ZAC+ ICN.ZCN= IAC.ZAC+(IAC- ICM).ZCN (4.20)Dòng đi vào rơle trong trường hợp này được xác định

IR= IAC Vậy tổng trở trên đầu cực rơle

CM R

IU

Bảo vệ bằng rơle khí được ứng dụng rộng rãi và rất nhạy cảm với các sự cố hỏng hóc ở bên trong thùng dầu (ngắn mạch giữa các vòng dây) sinh ra các tia lửa điện hoặc do các phần tử bị nung nóng quá mức dẫn đến dầu bị bốc hơi

Cường độ hình thành luồng khí và thành phần hóa học của hơi phụ thuộc vào đặc điểm và qui mô hỏng hóc Do đó khi sự cố nhẹ bảo vệ chỉ cần tác động báo tín hiệu, khi sự cố nặng truyền tín hiệu tới cắt máy cắt

Sự cố hỏng hóc nguy hiểm nhất là cháy lõi thép do cách điện giữa các lõi thép

bị phá huỷ, dẫn đến làm tăng tổn hao sắt từ và dòng điện xoáy (dòng Fucault)

Phần tử cơ bản của bảo vệ khí là rơle khí mã hiệu  -22 và PЧЗ –66

4.3 Bảo vệ quá tải

Quá tải là chế độ làm việc không bình thường của máy biến áp và động cơ Quá tải máy biến áp về tổng thể thường không ảnh hưởng đáng kể đến sự làm việc

Trang 10

của hệ thống, bởi vì nó không làm giảm áp Dòng quá tải thường tăng không nhiều

so với định mức nên có thể cho phép tồn tại trong thời gian ngắn Theo định mức nếu quá tải 1,6.Iđm thì có thể cho phép làm việc kéo dài trong thời gian 45 phút

Quá tải máy biến áp thường là đối xứng, do đó để bảo vệ quá tải thường chỉ cần sử dụng một rơle dòng cực đại đấu vào dòng một pha là đủ Bảo vệ sẽ tác động với thời gian duy trì báo tín hiệu cho người trực trạm biết để cắt bớt phụ tải hoặc truyền tín hiệu cắt tới cắt máy cắt

Sơ đồ nguyên lý bảo vệ quá tải được thể hiện trên hình 4.6a

Đối với máy biến áp 3 cuộn dây được cung cấp từ một phía, bảo vệ quá tải chỉ cần lắp bên phía cung cấp là đủ Nếu công suất của các cuộn dây khác nhau thì cần phải lắp đặt thêm bảo vệ phụ bên phía các cuộn dây có công suất nhỏ hơn (hình 4.6b)

Hình 4.6 Các sơ đồ bảo vệ quá tải

Bảo vệ quá tải được lắp đặt để bảo vệ các máy biến áp có công suất từ 400kVA trở lên Đối với các máy biến áp 3 cuộn dây có hai cấp điện áp, bên phía hạ áp có hai cuộn dây thì bảo vệ được lắp đặt trên cả hai phía hạ áp

Thời gian tác động của bảo vệ thường được chọn lớn hơn 30% thời gian khởi động hoặc tự khởi động của động cơ nhận nguồn cung cấp từ máy biến áp được bảo vệ

Dòng chỉnh định của bảo vệ quá tải:

Trang 11

Trong đó: kat = 1,05 – hệ số an toàn;

Iđb – dòng định mức của cuộn dây máy biến áp

Thời gian duy trì tác động thường lấy từ 79s

Bảo vệ khỏi quá tải có thể được lắp đặt để bảo vệ các động cơ truyền động cho máy mỏ khỏi bị quá tải hoặc khởi động hay tự khởi động kéo dài (thời gian khởi động trực tiếp thường không dưới 20s)

Bảo vệ khi tác động có thể truyền tín hiệu sự cố nếu như quá tải nhẹ chỉ xuất hiện trong thời gian ngắn cho phép, hoặc có thể truyền lệnh cắt nếu quá tải nặng xuất hiện trong thời gian dài quá mức cho phép

Để bảo vệ khỏi quá tải có thể sử dụng hình thức bảo vệ dòng cực đại đấu theo

sơ đồ một rơle có thời gian duy trì phụ thuộc hoặc không phụ thuộc Đối với động cơ không đồng bộ truyền động cho các cơ cấu phụ có thời gian khởi động và tự khởi động không vượt quá 13s, có tải trên trục thay đổi thì có thể sử dụng bảo vệ có thời gian duy trì phụ thuộc (rơle PT-82) Trong các trường hợp còn lại có thể sử dụng bảo

vệ có thời gian duy trì không phụ thuộc (rơle PT-40)

Thời gian duy trì của bảo vệ quá tải thường được chọn lớn hơn 20÷30% thời gian khởi động của động cơ Thời gian duy trì cần được chuẩn xác lại trong quá trình vận hành và hiệu chỉnh động cơ

Để bảo vệ khỏi quá tải đối với các thiết bị biến đổi cũng sử dụng hình thức bảo

vệ dòng cực đại theo sơ đồ một rơle đấu vào một pha của mạng

Dòng khởi động của bảo vệ cũng được xác định theo biểu thức (4.25), trong

đó dòng định mức (Iđ.m) là giá trị nhỏ nhất từ hai giá trị định mức của trạm kéo và thiết bị biến đổi quy về phía cao áp Để chuyển từ dòng chỉnh lưa (Id) sang phía cao

áp (I1) có thể sử dụng công thức sau đây:

Trang 12

Trong đó: ki và ku- các hệ số đặc trưng cho sơ đồ của thiết bị biến đổi;

Udx và U1- tương ứng là điện áp chỉnh lưu ở chế độ không tải và điện áp pha bên phía sơ cấp của trạm chỉnh lưu;

Id – giá trị trung bình của dòng tải chỉnh lưu

4.4 Ví dụ và bài tập

4.4.1 Ví dụ

Hãy tính toán bảo vệ khoảng cách cho đường dây 35kV như hình vẽ Biết đoạn

AC dài l1=24 km được làm bằng dây dẫn có mã hiệu AC-120; đoạn CD dài l2=35 km làm bằng dây AC-150, dòng điện chạy trên đoạn dây AC là IAC=185A và trên đoạn

Dòng điện chạy trên đoạn dây CD:

ICD= IAC+ IBC= 124+185= 309A Chọn máy biến điện áp có Un1=35kV và máy biến dòng điện có In1=400A, từ đó các hệ số biến điện áp và biến dòng điện:

3 n1

Trang 13

n1 i

Bài tập 1: Hãy tính toán bảo vệ khoảng cách đặt tại điểm A ở đường dây 110 kV (có

xét đến điện trở quá độ) với sơ đồ trên hình vẽ Công suất ngắn mạch trên thanh cái

A là SN.HT=1580MVA; hệ số an toàn Kat=1,2; hệ số mở máy trung bình Kmm=1,65; khoảng cách trung bình giữa các dây dẫn là a=5,5 m; tốc độ gió lớn nhất của môi trường xung quanh là V=26 m/s; thời gian tác động của bảo vệ nhanh nhất là t1=0,03

s, phân cấp thời gian các bảo vệ tiếp theo là t=0,4s

Số liệu của các đoạn dây dẫn cho trong bảng sau:

Trang 14

Bài tập 3: Hãy tính toán bảo vệ khoảng cách cho đường dây 22kV như hình vẽ Biết

đoạn AC dài l1=11,5km được làm bằng dây dẫn có mã hiệu AC-95; đoạn CD dài l2=13,2km làm bằng dây AC-120, dòng điện chạy trên đoạn dây AC là IAC =127A và trên đoạn BC là IBC= 96,4 A

Bài tập 4: Hãy tính toán bảo vệ cho đường dây 220 kV với sơ đồ cho trên hình vẽ

Công suất ngắn mạch trên thanh cái A của hệ thống là SN.HT= 2140MVA; hệ số an toàn kat=1,2; hệ số mở máy trung bình kmm=1,5; khoảng cách trung bình giữa các dây dẫn là a= 7m Tốc độ gió lớn nhất của môi trường xung quanh là v= 5 m/s, thời gian

Trang 15

tác động của bảo vệ nhanh nhất là t1= 0,04s; phân cấp thời gian của các bảo vệ tiếp theo là t= 0,5s

Số liệu của các đoạn dây cho trong bảng sau:

Câu 3: Trình bày sơ đồ thực hiện bảo vệ khoảng cách?

Câu 4: Hãy trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến độ nhạy của bảo vệ khoảng cách? Câu 5: Hãy đánh giá bảo vệ khoảng cách và phạm vi ứng dụng của bảo vệ khoảng

cách?

Câu 6: Trình bày sơ đồ thực hiện bảo vệ quá tải?

Trang 16

Chương 5

TỰ ĐỘNG ĐIỀU CHỈNH TẦN SỐ 5.1 Khái niệm chung

Tần số là một trong nhưỡng tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng điện năng Tốc

độ quay và năng suất làm việc của các động cơ đồng bộ và không đồng bộ phụ thuộc vào tần số của dòng xoay chiều Khi tần số giảm thì năng suất của chúng cũng bị giảm thấp Tấn số tăng cao dẫn đến sự tiêu hao năng lượng quá mức Do vậy và do một số nguyên nhân khác, tần số luôn được giữ ở định mức Đối với hệ thống điện Việt nam, trị số định mức của tần số được quy định là 50Hz Độ lệch cho phép khỏi trị số định mức là ± 0,1Hz

Việc sản xuất và tiêu thụ công suất tác dụng xảy ra đồng thời Vì vậy trong chế

độ làm việc bình thường, công suất PF do máy phát của các nhà máy điện phát ra phải bằng tổng công suất do các phụ tải tiêu thụ Ptt và công suất tổn thất Pth trên đường dây truyền tải và các phần tử khác của mạng điện, nghĩa là tuân theo điều kiện cân bằng công suất tác dụng:

PF = Ptt + Pth = PPT (5.1)

với PPT - phụ tải tổng của các máy phát

Khi có sự cân bằng công suất thì tần số được giữ không đổi Nhưng vào mỗi thời điểm tùy thuộc số lượng hộ tiêu thụ được nối vào và tải của chúng, phụ tải của hệ thống điện liên tục thay đổi làm phá hủy sự cân bằng công suất và làm tần số luôn biến động Để duy trì tần số định mức trong hệ thống điện yêu cầu phải thay đổi công suất tác dụng một cách tương ứng và kịp thời

Như vậy vấn đề điều chỉnh tần số liên quan chặt chẽ với điều chỉnh và phân phối công suất tác dụng giữa các tổ máy phát và giữa các nhà máy điện Tần số được điều chỉnh bằng cách thay đổi lượng hơi hoặc nước đưa vào tuốc-bin Khi thay đổi lượng hơi hoặc nước vào tuốc-bin, công suất tác dụng của máy phát cũng thay đổi

5.2 Điều chỉnh và phân phối công suất tác dụng giữa các máy phát làm việc song song

Bộ điều chỉnh tốc độ quay sơ cấp, cũng như thiết bị điều chỉnh tần số thứ cấp

Trang 17

có thể có 2 dạng đặc tính điều chỉnh: độc lập và phụ thuộc Bộ điều chỉnh có đặc tính độc lập duy trì tốc độ quay n hay tần số f của hệ thống không đổi khi phụ tải của máy phát thay đổi từ không tải đến định mức

Nhược điểm của dạng điều chỉnh này là không thể cho một số máy phát làm việc song song vì sự phân phối phụ tải giữa chúng không xác định Nếu 2 máy phát có đặc tính điều chỉnh độc lập làm việc song song với nhau, thì ở tần số định mức mỗi máy sẽ

có một phụ tải nhất định nào đó, còn khi tần số giảm xuống cả 2 bộ điều chỉnh đều tác động tăng tải cho máy phát của mình nhằm để khôi phục tần số Trong trường hợp này, các máy phát được tăng tải hoàn toàn tùy tiện và thậm chí một máy phát có bộ điều chỉnh nhạy hơn sẽ nhận hết tất cả phần phụ tải tăng thêm, còn máy phát kia không được tăng tải, hoặc chỉ bắt đầu tăng tải khi nào phụ tải của máy phát thứ nhất đạt giá trị cực đại mà tần số vẫn không được khôi phục

Việc áp dụng bộ điều chỉnh tốc độ quay có đặc tính phụ thuộc cho các máy phát làm việc song song sẽ đảm bảo sự làm việc ổn định của chúng và sự phân phối phụ tải định trước

Hệ số phụ thuộc đặc trưng cho độ dốc của đặc tính điều chỉnh (hình 5.1):

Biểu diển hệ số phụ thuộc trong đơn vị tương đối (đối với tần số định mức fdm

và công suất định mức Pdm của máy phát), ta có:

dm

Pf

số phụ thuộc của mỗi máy (Hình 5.2)

Thay đổi độ dốc của đặc tính có thể đảm bảo phần đóng góp cần thiết của máy

Trang 18

' 1

Hình 5.1 Sự phân phối công suất tác dụng giữa các máy phát làm việc song song

5.3 Tự động giảm tải theo tần số (TGT)

5.3.1 Ý nghĩa và các nguyên tắc chính thực hiện TGT

Khi xảy ra sự thiếu hụt công suất tác dụng làm giảm thấp tần số trong hệ thống điện, nếu còn công suất tác dụng dự trữ thì hệ thống điều chỉnh tần số và công suất đã xét ở trên sẽ hoạt động để duy trì được mức tần số định trước Tuy nhiên, sau khi huy động toàn bộ công suất tác dụng dự trữ có thể có trong hệ thống điện nếu tần số vẫn không được khôi phục, thì biện pháp duy nhất có thể áp dụng lúc ấy là cắt bớt một số phụ tải ít quan trọng nhất Thao tác đó được thực hiện nhờ một thiết bị tự

động hóa có tên gọi là Thiết bị tự động giảm tải theo tần số (tgt) Cần lưu ý rằng, tác

động của TGT luôn luôn liên quan đến những thiệt hại về kinh tế Dầu vậy, TGT vẫn được áp dụng rộng rãi trong hệ thống điện

Mức độ giảm thấp tần số không những phụ thuộc vào lượng công suất thiếu hụt,

mà còn phụ thuộc vào tính chất của phụ tải Các dụng cụ chiếu sáng và các thiết bị khác có phụ tải thuần tác dụng thuộc về nhóm các hộ tiêu thụ có công suất tiêu thụ không phụ thuộc vào tần số, khi tần số giảm công suất tiêu thụ vẫn giữ không đổi Một nhóm các hộ tiêu thụ khác như động cơ điện xoay chiều có công suất tiêu thụ giảm khi tần số giảm Phụ tải của các hộ tiêu thụ thuộc nhóm thứ 2 được coi là có khả năng

Trang 19

tự điều chỉnh vì khi tần số giảm thấp đồng thời công suất tiêu thụ của chúng cũng bị giảm xuống Khi thực hiện tự động giảm tải theo tần số cần tính đến tất cả các trường hợp thực tế có thể dẫn đến việc cắt sự cố công suất phát và phân chia hệ thống điện thành các phần bị thiếu hụt công suất tác dụng

Công suất thiếu hụt càng lớn thì công suất phụ tải cần cắt ra càng lớn Để tổng công suất phụ tải bị cắt ra do thiết bị tự động giảm tải theo tần số TGT gần bằng với công suất tác dụng thiếu hụt, thiết bị TGT cần được thực hiện để cắt tải theo từng đợt, tần số khởi động của mỗi đợt cắt tải là khác nhau

Hình 5.2 Sự thay đổi tần số khi thiếu hụt công suất tác dụng I khi không có

TGT II khi có TGT Hình 5.2 là đường cong biễu diễn quá trình thay đổi tần số khi đột ngột xuất hiện thiếu hụt công suất tác dụng Nếu trong hệ thống không có thiết bị TGT, do tác dụng tự điều chỉnh của phụ tải và tác động của bộ điều chỉnh tốc độ quay tuốc- bin nên tần số sẽ ổn định ở một giá trị xác lập nào đó (Đường I) Để khôi phục tần số về giá trị định mức, cần cắt tải bằng tay

Quá trình thay đổi tần số khi có thiết bị TGT sẽ diễn ra theo đường II Giả sử thiết bị TGT có 3 đợt cắt tải với tần số khởi động của đợt là: 48; 47,5; 47 Hz Khi tần

số giảm xuống đến 48Hz (điểm 1) thì đợt 1 tác động cắt một phần phụ tải, nhờ vậy giảm được tốc độ giảm thấp tần số Khi tần số tiếp tục giảm xuống đến 47,5Hz (điểm 2) thì đợt 2 tác động cắt thêm một số phụ tải, sự thiếu hụt công suất và tốc độ giảm

Trang 20

thấp tần số được giảm nhiều hơn Ở tần số 47 Hz (điểm 3), đợt 3 tác động cắt một công suất phụ tải không những đủ để chấm dứt tình trạng giảm tần số mà còn đủ để khôi phục tần số đến hay gần đến giá trị định mức Cần lưu ý là nếu lượng công suất thiếu hụt ít, thì có thể chỉ có đợt 1 hoặc chỉ có đợt 1 và đợt 2 tác động Ngoài các đợt tác động chính, thiết bị tự động giảm tải theo tần số cần phải có một đợt tác động đặc biệt

để ngăn ngừa hiện tượng “tần số treo lơ lửng” Hiện tượng này có thể sinh ra sau khi các đợt chính tác động nhưng tần số vẫn không trở về giá trị gần định mức mà duy trì

ở một giá trị nào đó thấp hơn định mức Tần số khởi động của đợt tác động đặc biệt vào khoảng 47,5 đến 48 Hz Tác động của thiết bị TGT phải phối hợp với các loại thiết bị tự động hóa khác trong hệ thống điện Ví dụ như, để thiết bị TGT tác động có kết quả, các hộ tiêu thụ đã bị cắt ra khi tần số giảm thấp không được đóng lại bởi thiết

bị TĐL hoặc TĐD

5.3.2 Ngăn ngừa TGT tác động nhầm khi tần số giảm ngắn hạn

Khi mất liên lạc với hệ thống (cắt cả 2 đường dây nối với hệ thống hoặc cắt máy biến áp B1 trong sơ đồ hình 5.4), các hộ tiêu thụ điện nối vào phân đoạn I thanh góp hạ áp của trạm sẽ bị mất điện Sau một thời gian ngắn nhờ tác động của các thiết

bị tự động hóa như TĐL đường dây hoặc TĐD máy cắt phân đoạn, nguồn cung cấp lại được khôi phục cho các hộ tiêu thụ Tuy nhiên, trong khoảng thời gian đó các hộ tiêu thụ của trạm có thể bị cắt ra bởi tác động nhầm của thiết bị TGT

Tình huống này xảy ra là do sau khi mất nguồn cung cấp, điện áp trên thanh góp trạm có máy bù đồng bộ hoặc động cơ không bị mất ngay mà duy trì trong một thời gian nào đó do quán tính

Các động cơ không đồng bộ có thể duy trì điện áp trên thanh góp trạm vào khoảng 40 ÷ 50% điện áp định mức trong vòng 1 giây, còn máy bù và động cơ đồng

bộ duy trì điện áp cao hơn trong khoảng vài giây Tốc độ quay của các máy bù và động

cơ đồng bộ lúc này bị giảm thấp, nên tần số của điện áp duy trì cũng bị giảm xuống

và TGT nối vào điện áp đó có thể tác động nhầm cắt các hộ tiêu thụ trước khi TĐL

và TĐD kịp tác động

Trang 21

Hình 5.3 Ngăn ngừa tác động nhầm của TGT khi các hộ tiêu thụ tạm thời bị mất điện

Thực tế để ngăn ngừa tác động nhầm trong trường hợp này, người ta đặt một

bộ khóa liên động vào sơ đồ thiết bị TGT Rơle tần số Rf (Hình 5.3) của thiết bị TGT

sẽ bị khống chế tác động bởi rơle định hướng công suất tác dụng RW (làm nhiệm vụ của

bộ khóa liên động) Khi còn liên lạc với hệ thống, trạm sẽ tiêu thụ công suất tác dụng và rơle RW cho phép thiết bị TGT làm việc khi cần thiết Sau khi mất nguồn cung cấp, sẽ không có công suất tác dụng đi qua máy biến áp hoặc công suất tác dụng sẽ hướng về phía thanh góp cao áp của trạm, rơle RW khóa rơle Rf và ngăn ngừa tác động nhầm của thiết bị TGT Khi không đặt bộ khóa liên động, người ta cũng có thể sửa chữa tác động nhầm của thiết bị TGT bằng cách áp dụng biện pháp TĐL sau tác động của TGT

5.3.3 Tự động đóng trở lại sau TGT (TĐLT)

Thiết bị tự động đóng trở lại theo tần số (TĐLT) là thiết bị tự động hóa cần thiết để tăng nhanh tốc độ khôi phục nguồn cung cấp cho các phụ tải đã bị cắt ra do thiết bị TGT Thiết bị TĐLT tác động ở tần số 49,5 ÷ 50 Hz, cũng được thực hiện bao gồm một số đợt, thời gian tác động của đợt đầu tiên khoảng 10 đến 20 sec Khoảng thời gian nhỏ nhất giữa các đợt kề nhau là 5 sec Công suất phụ tải của các đợt TĐLT thường được phân chia đồng đều Thứ tự đóng các phụ tải bằng thiết bị TĐLT ngược với thứ tự cắt các phụ tải do tác động của thiết bị TGT

Để ngăn ngừa khả năng tần số giảm thấp trở lại sau khi thiết bị TĐLT làm việc

Trang 22

(có thể làm cho thiết bị TGT khởi động một lần nữa), trong sơ đồ TĐLT cần phải đảm bảo chỉ tác động một lần Cũng cần phải loại trừ khả năng chuyển mạch các hộ tiêu thụ sang một nguồn cung cấp khác nhờ thiết bị TĐD sau khi chúng đã bị cắt ra bởi thiết bị TGT, đồng thời khi tần số khôi phục cần phải đóng trở lại những hộ tiêu thụ đó nhanh nhất có thể được Hình 5.4 là sơ đồ một lần TGT có kèm TĐLT Trong

sơ đồ sử dụng một rơle tần số Rf có tần số khởi động tự động thay đổi

Hình 5.4 Sơ đồ kết hợp thiết bị TGT và TĐLT

Khi tần số f giảm đến giá trị tần số khởi động của rơle Rf (tương ứng với trị số đặt của thiết bị TGT), tiếp điểm của Rf khép lại, rơle 1RT bắt đầu tính thời gian, sau khoảng thời gian t1RT các rơle 1RG, 2RG tác động cắt bớt một số phụ tải Tiếp điểm 1RG4 đóng làm cho bộ phận đo lường của rơle tần số Rf có giá trị đặt tương ứng với tần số khởi động của thiết bị TĐLT Lúc này tiếp điểm của rơle Rf chỉ mở ra khi tần số của hệ thống khôi phục đến trị số đặt mới vào khoảng 49,5 ÷ 50 Hz Tiếp điểm 1RG2 đóng mạch cuộn dây rơle 3RG, tiếp điểm 3RG1 đóng lại để tự giữ, tiếp điểm 3RG2 đóng lại nhưng rơle 2RT lúc này chưa tác động được do tiếp điểm 1RG3 đã mở Khi tần số khôi phục trở lại giá trị định mức hoặc gần định mức, tiếp điểm Rf và sau đó tiếp điểm 1RT mởra Các rơle trung gian 1RG và 2RG trở về, tiếp điểm 1RG3 đóng làm cho rơle

Trang 23

2RT khởi động, sau một thời gian tiếp điểm 2RT2 đóng mạch cuộn dây rơle trung gian 4RG Tiếp điểm 4RG1 đóng lại để tự giữ, tiếp điểm 4RG2 và 4RG3 đóng đưa xung đi đóng máy cắt của các hộ tiêu thụ đã bị cắt ra bởi thiết bị TGT

Sơ đồ sẽ trở về trạng thái ban đầu sau khi tiếp điểm 2RT3 đóng lại Rơle 3RG trở về và mở tiếp điểm 3RG2 trong mạch cuộn dây rơle 2RT Các rơle tín hiệu 1Th và 2Th để báo tín hiệu về trạng thái khởi động của thiết bị TGT và TĐLT

Câu hỏi ôn tập chương 5 Câu 1: Trình bày mục đích của tự động điểu chỉnh tần số?

Câu 2: phương pháp điều chỉnh và phân phối công suất tác dụng giữa các máy phát làm việc song song?

Câu 3: Ý nghĩa và các nguyên tắc chính thực hiện TGT?

Câu 4: Trình bày biện pháp ngăn ngừa TGT tác động nhầm khi tần số giảm ngắn hạn? Câu 5: Trình bày nguyên lý làm việc mạch tự động đóng trở lại sau TGT?

Trang 24

Chương 6

TỰ ĐỘNG ĐIỀU CHỈNH ĐIỆN ÁP 6.1 Khái niệm chung

Duy trì điện áp bình thường là một trong những biện pháp cơ bản để đảm bảo chất lượng điện năng của hệ thống điện Điện áp giảm thấp quá mức có thể gây nên

độ trượt quá lớn ở các động cơ không đồng bộ, dẫn đến qúa tải về công suất phản kháng ở các nguồn điện Điện áp giảm thấp cũng làm giảm hiệu quả phát sáng của các đèn chiếu sáng, làm giảm khả năng truyền tải của đường dây và ảnh hưởng đến độ ổn định của các máy phát làm việc song song Điện áp tăng cao có thể làm già cỗi cách điện của thiết bị điện (làm tăng dòng rò) và thậm chí có thể đánh thủng cách điện làm

hư hỏng thiết bị

Điện áp tại các điểm nút trong hệ thống điện được duy trì ở một giá trị định trước nhờ có những phương thức vận hành hợp lí, chẳng hạn như tận dụng công suất phản kháng của các máy phát hoặc máy bù đồng bộ, ngăn ngừa quá tải tại các phần

tử trong hệ thống điện, tăng và giảm tải hợp lí của những đường dây truyền tải, chọn

tỷ số biến đổi thích hợp ở các máy biến áp

Điện áp cũng có thể được duy trì nhờ các thiết bị tự động điều chỉnh kích từ (TĐK) của các máy phát điện và máy bù đồng bộ, các thiết bị tự động thay đổi tỷ số biến đổi của máy biến áp, các thiết bị tự động thay đổi dung lượng của các tụ bù tĩnh

6.2 Thiết bị tự động điều chỉnh kích từ (TĐK)

Thiết bị tự động điều chỉnh kích từ (TĐK) được sử dụng để duy trì điện áp theo một đặc tính định trước và để phân phối phụ tải phản kháng giữa các nguồn cung cấp

trong tình trạng làm việc bình thường của hệ thống điện

6.2.1 Các nguyên tắc thực hiện tự động điều chỉnh kích từ

Máy phát được đặc trưng bằng sức điện động EF và điện kháng XF (hình 10-1)

Áp đầu cực máy phát được xác định theo biểu thức :

Trang 25

Nếu EF = const, khi IF thay đổi thì UF thay đổi, để giữ UF= const thì phải thay

đổi EF

tức là thay đổi kích từ máy phát

Theo nguyên tắc tác động, thiết bị tự động điều chỉnh điện áp được chia thành

3 nhóm: Điều chỉnh điện áp theo độ lệch của đại lượng được điều chỉnh (ví dụ, theo

độ lệch của UF) Điều chỉnh điện áp tùy thuộc vào tác động nhiễu (ví dụ, theo dòng điện của máy phát IF, theo góc giữa điện áp và dòng điện của máy phát )

Điều chỉnh điện áp theo độ lệch của đại lượng được điều chỉnh và theo tác động nhiễu

Hình 6.1 Sơ đồ thay thế và đồ thị véc tơ điện áp của máy phát

Đối với các máy phát điện dùng máy kích thích một chiều, các thiết bị điều chỉnh điện áp có thể chia thành 2 nhóm:

1 Thay đổi kích từ máy phát nhờ thay đổi RKT trong mạch cuộn kích từ WKT của máy kích thích KT một cách từ từ nhờ con trượt (Hình 6.2a) hoặc nối tắt một phần RKT theo chu kỳ (Hình 6.2b)

Hình 6.2 Thay đổi kích từ máy phát nhờ thay đổi Rkt

Trang 26

2 Thay đổi kích từ máy phát nhờ dòng kích từ phụ IKTf tỷ lệ với ∆U hoặc IF hoặc

cả 2 đại lượng ∆U và IF Dòng kích từ phụ có thể đưa vào cuộn kích từ chính WKT (hình 6.2a) hoặc cuộn kích từ phụ WKTf (hình 6.2b) của máy kích thích

6.2.2 Compun dòng điện

Compun dòng điện là thiết bị tác động theo nhiễu dòng điện IF của máy phát

Sơ đồ cấu trúc của thiết bị compun kích từ máy phát như hình 6.3 Dòng thứ cấp I2 của

BI tỷ lệ với dòng IF Dòng này biến đổi qua máy biến áp trung gian BTG, được chỉnh lưu

và được đưa vào cuộn kích từ WKT của máy kích thích Dòng đã được chỉnh lưu IK gọi là dòng compun đi vào cuộn WKT cùng hướng với dòng IKT từ máy kích thích Như vậy dòng tổng (IKT + IK) trong cuộn kích từ WKT của máy kích thích phụ thuộc vào dòng IF của máy phát

Biến áp BTG để cách ly mạch kích từ của máy kích thích với mạch thứ BI có điểm nối đất, ngoài ra nhờ chọn hệ số biến đổi thích hợp có thể phối hợp dòng thứ I2 của

BI với dòng compun IK Biến trở đặt Rđ để thay đổi một cách đều đặn dòng IK khi đưa

thiết bị compun vào làm việc, cũng như khi tách nó ra

Hình 6.3 Sơ đồ cấu trúc của thiết bị Compun kích từ máy phát

Trang 27

Hình 6.4 Đặc tính thay đổi điện áp UF của máy phát ứng với các Cos  khác nhau

Ưu điểm của thiết bị compun là đơn giản, tác động nhanh Nhưng có một số nhược điểm:

Compun tác động theo nhiễu, không có phản hồi để kiểm tra và đánh giá kết quả điều chỉnh Đối với sơ đồ nối compun vào cuộn kích từ WKT của máy kích thích như hình 6.2a, khi IF< IFmin thì UF thay đổi giống như trường hợp không có compun (Hình 6.3) Dòng IFmin gọi là ngưỡng của compun Thường IFmin = (10 ÷ 30)%IFđm Tuy nhiên máy phát thường không làm việc với phụ tải nhỏ như vậy nên nhược điểm này có thể không cần phải quan tâm

Compun không phản ứng theo sự thay đổi của điện áp và cosϕ, do vậy không

thể duy trì một điện áp không đổi trên thanh góp điện áp máy phát Trên hình 6.4 là đặc tính thay đổi điện áp UF theo IF Ta thấy với cùng một giá trị IF, thiết bị compun sẽ điều chỉnh điện áp UF đến những giá trị khác nhau ứng với các trường hợp cosϕ khác nhau

6.2.3 Correctơ điện áp

Correctơ điện áp là thiết bị tự động điều chỉnh kích từ tác động theo độ lệch điện áp, thường được dùng kết hợp với thiết bị compun kích từ để điều chỉnh điện áp

ở đầu cực máy phát một cách hiệu quả

Hình 6.5 là sơ đồ cấu trúc của correctơ điện áp, trong đó bao gồm: bộ phận đo lường ĐL và bộ phận khuyếch đại KĐ Bộ phận đo lường ĐL nối với máy biến điện

Trang 28

áp BU qua tự ngẫu đặt TNĐ Khi

điện áp thay đổi, bộ phận đo lường

ĐL sẽ phản ứng và điều khiển sự làm

việc của bộ phận khuyếch đại KĐ Tự

ngẫu đặt TNĐ để thay đổi mức điện

áp máy phát cần phải duy trì bởi

correctơ Bộ phận khuyếch đại KĐ

cũng được cung cấp từ BU và đưa

dòng correctơ đã được chỉnh lưu IC

vào cuộn kích từ phụ WKTf của máy kích thích Dòng IC đi qua cuộn kích từ phụ cùng hướng với dòng trong cuộn kích từ chính WKT của máy kích thích

Bộ phận đo lường gồm 2 phần tử (hình 6.a): phần tử tuyến tính TT và phần tử không tuyến tính KTT Phần tử tuyến tính TT tạo nên dòng điện tuyến tính ITT tỷ lệ với điện áp UF của máy phát, phần tử không tuyến tính KTT tạo nên dòng điện IKTT phụ thuộc một cách không tuyến tính vào điện áp UF của máy phát (Hình 6.6b)

Bộ phận đo lường làm việc theo nguyên tắc so sánh dòng ITT và IKTT Từ đặc tính trên hình 6.6b ta thấy rằng: khi UF = U0 (U0 là một điện áp xác định trên thanh góp nối máy phát), dòng ITT = IKTT, lúc ấy sẽ có dòng ICmin nhỏ nhất đưa ra từ correctơ Khi UF giảm, ví dụ giảm đến U1 thì ITT > IKTT và tín hiệu từ bộ phận đo lường ĐL sẽ điều khiển bộ phận khuyếch đại KĐ làm tăng dòng IC đưa vào cuộn kích từ phụ WKTf của máy kích thích để tăng UF lên

Hình 6.6 Bộ phận đo lường

Hình 6.5 Sơ đồ cấu trúc

Trang 29

a) Sơ đồ khối chức năng; b) đặc tính quan hệ của dòng Ikt và Iktt với áp đầu vào

Khi điện áp UF tăng, ví dụ tăng tới U2 thì IKTT > ITT, lúc này cũng xuất hiện dòng

IC > ICmin làm tăng UF thêm nữa Để ngăn ngừa correctơ tác động không đúng như vậy, trong sơ đồ của correctơ có bố trí một phần tử khóa khi IKTT>ITT

Đặc tính của correctơ là quan hệ giữa dòng IC với điện áp trên thanh góp nối

máy phát như hình 6.7 Điểm a, tương ứng với khi IC = IC max, xác đinh khả năng tăng

cường kích từ lớn nhất có thể đảm bảo bởi correctơ Dòng IC min tại điểm d xác định khả năng giảm kích từthấp nhất khi UF tăng Sự giảm thấp của đặc tính ở đoạn ac là do điện áp nguồn cung cấp cho correctơ bị giảm thấp cùng với sự giảm thấp UF Đoạn de nằm ngang do tác dụng của phần tử khóa khi IKTT > ITT Sơ đồ correctơ đã khảo sát trên

là loại một hệ thống Đầu ra của correctơ một hệ thống thường nối như thế nào để IC

đi qua cuộn kích từ phụ WKTf thuận chiều với dòng IKT trong cuộn kích từ chính WKT Correctơ nối như vậy được gọi là correctơ thuận Trong một số trường hợp người

ta nối đầu ra của correctơ thế nào để dòng IC đi qua cuộn WKTf ngược hướng với dòng IKT trong cuộn kích từ chính WKT Correctơ nối như vậy được gọi là correctơ

nghịch

Hình 6.7 Đặc tính của correctơ

Ở những máy phát thủy điện công suất lớn, người ta dùng correctơ 2 hệ thống (Hình 6.8a) bao gồm 2 correctơ một hệ thống Một hệ thống là correctơ thuận đưa dòng vào cuộn WKTf1 thuận chiều với dòng trong cuộn WKT Hệ thống thứ 2 là correctơ nghịch đưa dòng vào cuộn WKTf2 theo hướng ngược lại

Trang 30

Đặc tính của correctơ 2 hệ thống (hình 6.8b) được lựa chọn thế nào để khi

UF giảm thì correctơ thuận làm việc, còn khi UF tăng thì correctơ nghịch làm việc

Hình 6.8 Sơ đồ nguyên lý của correctơ 2 hệ thống

CP: thiết bị compun; TNĐ tự ngẫu đặt

a) Sơ đồ nối b) đặc tính của correctơ

6.2.4 Compun pha

Phần tử chính của compun pha là một máy biến áp đặc biệt có từ hóa phụ BTP (Hình 6.9) Trên lõi của BTP bố trí 2 cuộn sơ cấp (cuộn dòng WI và cuộn áp WU), một cuộn thứ cấp WT và một cuộn từ hóa phụ WP Từ thông của cuộn WI tỷ lệ IF, còn của cuộn WU tỷ lệ UF Do đó, dòng trong cuộn WK tỷ lệ với tổng các thành phần này Dòng này được chỉnh lưu và đưa vào cuộn kích từ của máy kích thích Như vậy, compun pha thực hiện việc điều chỉnh kích từ máy phát không chỉ theo dòng điện, mà còn

theo điện áp và góc lệch pha giữa chúng Nhờ đó đảm bảo hiệu quả điều chỉnh cao

Tuy nhiên compun pha là một thiết bị tác động theo nhiễu nên không thể giữ không đổi điện áp của máy phát, do đó cần có hiệu chỉnh phụ Việc hiệu chỉnh điện

áp được thực hiện nhờ correctơ cung cấp dòng IC cho cuộn từ hóa phụ WP của BTP

Trang 31

Hình 6.9 Sơ đồ cấu trúc của compun

6.3 Điều chình điện áp trong mạng điện phân phối

Như đã biết, để nâng cao mức điện áp trong mạng điện người ta thường áp dụng phương pháp bù công suất phản kháng Ứng với mỗi giá trị của phụ tải cần một dung lượng bù công suất phản kháng nhất định Trong thực tế do phụ tải luôn luôn thay đổi nên việc điều chỉnh dung lượng bù thích hợp rất khó khăn Một số nguyên

lý tự động điều chỉnh dung lượng bù được áp dụng là bù theo điện áp, theo dòng điện làm việc, theo hệ số công suất, theo thời gian, theo hướng dòng công suất phản kháng v.v Dưới đây chúng ta xét một số sơ đồ tự động điểu chỉnh dung lượng bù cơ bản nhất

6.3.1 Sơ đồ tự động điều chỉnh dung lượng bù theo tín hiệu điện áp

Bộ phận tín hiệu điều chỉnh gồm hai rơle điện áp 1RU và 2RU, rơle 1RU cho biết điện áp thấp cần đóng thêm số lượng tụ, còn rơle 2RU cho biết điện áp quá cao, cần phải cắt bớt tụ Để tránh tác động nhầm khi có sự dao động điện áp, một rơle thời gian 1Rt được cho phép trì hoãn tác động đến 2 phút

Trang 32

Hình 6.10 Sơ đồ tự động điều chỉnh dung lượng bù theo tín hiệu điện áp

a) Sơ đồ mắc tụ bù; b) Sơ đồ triển khai mạch điều khiển

Nguyên lý tác động: Khi điện áp tụt quá mức cho phép, rơle 1RU tác động khép

tiếp điểm cấp nguồn cho rơle thời gian 1Rt, sau một khoảng thời gian trễ rơle này khép tiếp điểm cấp nguồn cho cuộn đóng KĐ đưa một số tụ điện vào làm việc Khi điện áp quá cao, rơle 2RU sẽ tác động cấp nguồn cho rơle thời gian 2Rt, rơle này sẽ khép tiếp điểm sau một khoảng thời gian trễ để cấp nguồn cho cuộn cắt KC, loại bớt một số tụ ra khỏi mạng điện Như vậy dung lượng công suất phản kháng luôn luôn được điều chỉnh theo sự thay đổi của điện áp trong mạng, giữ cho điện áp luôn luôn ổn định ở mức cho phép

6.3.2 Sơ đồ tự động điều chỉnh dung lượng tụ bù theo dòng điện

Sơ đồ tự động điều chỉnh dung lượng tụ bù theo dòng điện được thể hiện trên hình 6.11, các rơle 1RI hoặc 3RI sẽ tác động đóng tụ khi phụ tải vượt quá ngưỡng khởi động, còn các rơle 2RI hoặc 4RI sẽ tác động cắt bớt tụ khi phụ tải giảm Giả sử phụ tải tăng quá ngưỡng khởi động của rơle dòng 3RI, rơle này tác động đóng tiếp điểm 3RI để cấp nguồn cho rơle trung gian 4RG, rơle này sẽ khép tiếp điểm của mình ở mạch cấp

Trang 33

điện cho rơle thời gian 3Rt, sau một khoảng thời gian trễ tiếp điểm của rơle thời gian 3Rt sẽ đóng mạch để cấp nguồn cho cuộn đóng 2KĐ

Hình 6.11 Sơ đồ tự động điều chỉnh dung lượng bù theo tín hiệu dòng điện

a) Sơ đồ mắc tụ bù; b, c) Sơ đồ triển khai mạch điều khiển

Trang 34

Khi phụ tải tiếp tục tăng quá ngưỡng khởi động của rơle 1RI, rơle này tác động đóng tiếp điểm của mình ở mạch 11- 8 cấp điện cho rơle trung gian 2RG, rơle này khi tác động sẽ đóng tiếp điểm ở mạch 15-10 cấp điện cho rơle thời gian 1Rt Sau một khoảng thời gian trễ rơle 1Rt khép tiếp điểm ở mạch 1 - 2 đưa tín hiệu đi đóng máy cắt 1MC đưa bộ tụ KB1 vào làm việc

Khi tải giảm quá ngưỡng khởi động của rơle dòng 2RI, rơle này sẽ khởi động đóng tiếp điểm của mình ở mạch 13 - 8, do lúc này máy cắt 1MC đang đóng nên tiếp điểm liên động của nó ở mạch này cũng đóng, nguồn sẽ được cung cấp đến rơle trung gian 2RG, rơle này đóng tiếp điểm của mình ở mạch 17-12 cấp điện cho rơle thời gian 2Rt, sau một khoảng thời gian trễ 2Rt sẽ đóng tiếp điểm của mình ở mạch 1- 4 để cấp điện cho cuộn cắt KC cắt máy cắt 1MC để loại bộ tụ KB1 ra khỏi mạng điện Tương tự đối với bộ tụ 2KB, khi phụ tải giảm quá ngưỡng khởi động của rơle 4RI thì rơle này tác động đóng tiếp điểm của mình ở mạch 33 - 28, do lúc này tiếp điểm 2MC đóng nên nguồn được cung cấp cho rơle trung gian 4RG rơle này đóng tiếp điểm của mình ở mạch

37 - 32 cấp điện cho rơle thời gian 4Rt, sau một khoảng thời gian trễ 4Rt sẽ đóng tiếp điểm của mình ở mạch 21 - 24 để cấp điện cho cuộn cắt 2KC cắt máy cắt 2MC để loại

bộ tụ KB2 ra khỏi mạng điện

6.2.3 Sơ đồ tự động điều chỉnh dung lượng bù theo nguyên lý thời gian

Sơ đồ tự động điều chỉnh dung lượng bù theo thời gian được thể hiện trên hình 6.12 Thời gian cài đặt của chương trình đóng ngắt được bố trí dựa trên đồ thị phụ tải

Để thời điểm đã định, tiếp điểm của đồng hồ ĐH được đóng lại cấp nguồn cho rơle thời gian 1Rt, sau một khoảng thời gian trễ rơle này khép tiếp điểm cấp nguồn cho cuộn đóng KĐ đưa một số tụ điện vào làm việc Nếu tụ đang làm việc mà thời gian cắt

đã đến thì tiếp điểm của đồng hồ ĐH sẽ khép lại cấp nguồn cho rơle thời gian 2Rt, rơle này sẽ khép tiếp điểm sau một khoảng thời gian trễ để cấp nguồn cho cuộn cắt KC, loại bớt một số tụ ra khỏi mạng điện Như vậy dung lượng công suất phản kháng luôn luôn được điều chỉnh theo trình tự thời gian đã xác định Thường thì người ta kết hợp các nguyên lý hoạt động khác nhau của sơ đồ điều khiển dung lượng bù như nguyên lý

dòng, áp và thời gian

Trang 35

Hình 6.12 Sơ đồ tự động điều chỉnh dung lượng bù theo thời gian

a) Sơ đồ mắc thiết bị; b) Sơ đồ triển khai mạch điều khiển

Câu hỏi ôn tập chương 6

Câu 1 Trình bày các nguyên tắc thực hiện khi điều chỉnh kích từ máy phát điện Câu 2 Trình bày nguyên lý sơ đồ cấu trúc của thiết bị Compun kích từ máy phát điện Câu 3 Trình bày nguyên lý tự động điều chỉnh dung lượng bù theo tín hiệu điện áp Câu 4 Trình bày nguyên lý tự động điều chỉnh dung lượng bù theo tín hiệu dòng điện

Câu 5 Trình bày nguyên lý tự động điều chỉnh dung lượng bù theo thời gian

Trang 36

Chương 7

TỰ ĐỘNG ĐÓNG NGUỒN DỰ TRỮ 7.1 Ý nghĩa của tự động đóng nguồn dự trữ (TĐD)

Sơ đồ nối điện của hệ thống điện cần đảm bảo độ tin cậy cung cấp cho các hộ tiêu thụ điện Sơ đồ cung cấp từ hai hay nhiều nguồn điện đảm bảo độ tin cậy cao, vì cắt sự cố một nguồn không làm cho hộ tiêu thụ bị mất điện

Dù việc cung cấp cho hộ tiêu thụ từ nhiều phía có ưu điểm rõ ràng như vậy nhưng phần lớn các trạm có hai nguồn cung cấp trở lên đều làm việc theo sơ đồ một nguồn cung cấp Tự dùng của nhà máy điện là một ví dụ Cách thực hiện sơ đồ như trên

sẽ ít tin cậy nhưng đơn giản hơn và trong nhiều trường hợp làm giảm dòng ngắn mạch, giảm tổn thất điện năng trong MBA, đơn giản bảo vệ rơle Khi phát triển mạng điện, việc cung cấp từ một phía thường là giải pháp được lựa chọn vì những thiết bị điện và bảo vệ đã đặt trước đó không cho phép thực hiện sự làm việc song song của các nguồn cung cấp

Hình 7.1 Các nguyên tắc thực hiện TĐD Nhược điểm của việc cung cấp từ một phía là cắt sự cố nguồn làm việc sẽ làm ngừng cung cấp cho hộ tiêu thụ Khắc phục bằng cách đóng nhanh nguồn dự trữ hay đóng

Ngày đăng: 21/10/2022, 22:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ nguyên lý bảo vệ quá tải được thể hiện trên hình 4.6a. - Giáo trình Bảo vệ rơ le và tự động hóa: Phần 2 - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Sơ đồ nguy ên lý bảo vệ quá tải được thể hiện trên hình 4.6a (Trang 10)
Hình 5.1. Sự phân phối công suất tác dụng giữa các máy phát làm việc song song - Giáo trình Bảo vệ rơ le và tự động hóa: Phần 2 - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Hình 5.1. Sự phân phối công suất tác dụng giữa các máy phát làm việc song song (Trang 18)
Hình 5.2. Sự thay đổi tần số khi thiếu hụt công suất tác dụng  I khi không có - Giáo trình Bảo vệ rơ le và tự động hóa: Phần 2 - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Hình 5.2. Sự thay đổi tần số khi thiếu hụt công suất tác dụng I khi không có (Trang 19)
Hình 5.4. Sơ đồ kết hợp thiết bị TGT và TĐLT - Giáo trình Bảo vệ rơ le và tự động hóa: Phần 2 - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Hình 5.4. Sơ đồ kết hợp thiết bị TGT và TĐLT (Trang 22)
Hình 6.2. Thay đổi kích từ  máy phát nhờ thay đổi Rkt - Giáo trình Bảo vệ rơ le và tự động hóa: Phần 2 - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Hình 6.2. Thay đổi kích từ máy phát nhờ thay đổi Rkt (Trang 25)
Sơ đồ cấu trúc của thiết bị compun kích từ máy phát như hình 6.3. Dòng thứ cấp I 2  của  BI tỷ lệ với dòng I F - Giáo trình Bảo vệ rơ le và tự động hóa: Phần 2 - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Sơ đồ c ấu trúc của thiết bị compun kích từ máy phát như hình 6.3. Dòng thứ cấp I 2 của BI tỷ lệ với dòng I F (Trang 26)
Hình 6.8. Sơ đồ nguyên lý của correctơ 2 hệ thống  CP: thiết bị compun; TNĐ tự ngẫu đặt - Giáo trình Bảo vệ rơ le và tự động hóa: Phần 2 - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Hình 6.8. Sơ đồ nguyên lý của correctơ 2 hệ thống CP: thiết bị compun; TNĐ tự ngẫu đặt (Trang 30)
6.3.1. Sơ đồ tự động điều chỉnh dung lượng bù theo tín hiệu điện áp - Giáo trình Bảo vệ rơ le và tự động hóa: Phần 2 - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
6.3.1. Sơ đồ tự động điều chỉnh dung lượng bù theo tín hiệu điện áp (Trang 31)
Hình 6.10. Sơ đồ tự động điều chỉnh dung lượng bù theo tín hiệu điện áp - Giáo trình Bảo vệ rơ le và tự động hóa: Phần 2 - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Hình 6.10. Sơ đồ tự động điều chỉnh dung lượng bù theo tín hiệu điện áp (Trang 32)
Hình 6.11. Sơ đồ tự động điều chỉnh dung lượng bù theo tín hiệu dòng điện - Giáo trình Bảo vệ rơ le và tự động hóa: Phần 2 - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Hình 6.11. Sơ đồ tự động điều chỉnh dung lượng bù theo tín hiệu dòng điện (Trang 33)
Hình 6.12. Sơ đồ tự động điều chỉnh dung lượng bù theo thời gian  a) Sơ đồ mắc thiết bị; b) Sơ đồ triển khai mạch điều khiển - Giáo trình Bảo vệ rơ le và tự động hóa: Phần 2 - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Hình 6.12. Sơ đồ tự động điều chỉnh dung lượng bù theo thời gian a) Sơ đồ mắc thiết bị; b) Sơ đồ triển khai mạch điều khiển (Trang 35)
Sơ đồ nối điện của hệ thống điện cần đảm bảo độ tin cậy cung cấp cho các hộ  tiêu thụ điện - Giáo trình Bảo vệ rơ le và tự động hóa: Phần 2 - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Sơ đồ n ối điện của hệ thống điện cần đảm bảo độ tin cậy cung cấp cho các hộ tiêu thụ điện (Trang 36)
Hình 7.2. Sơ đồ thiết bị TĐD đường dây - Giáo trình Bảo vệ rơ le và tự động hóa: Phần 2 - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Hình 7.2. Sơ đồ thiết bị TĐD đường dây (Trang 39)
Hình 7.3. Sơ đồ tự động TĐD máy cắt phân đoạn - Giáo trình Bảo vệ rơ le và tự động hóa: Phần 2 - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Hình 7.3. Sơ đồ tự động TĐD máy cắt phân đoạn (Trang 41)
Hình 8.2. Biểu đồ thời gian chu trình TĐL một lần - Giáo trình Bảo vệ rơ le và tự động hóa: Phần 2 - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Hình 8.2. Biểu đồ thời gian chu trình TĐL một lần (Trang 46)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm