Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học và độ nhạy cảm của muỗi truyền sốt xuất huyết với hóa chất diệt côn trùng tại Hà Nội, năm 2020 – 2021.Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học và độ nhạy cảm của muỗi truyền sốt xuất huyết với hóa chất diệt côn trùng tại Hà Nội, năm 2020 – 2021.Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học và độ nhạy cảm của muỗi truyền sốt xuất huyết với hóa chất diệt côn trùng tại Hà Nội, năm 2020 – 2021.Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học và độ nhạy cảm của muỗi truyền sốt xuất huyết với hóa chất diệt côn trùng tại Hà Nội, năm 2020 – 2021.Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học và độ nhạy cảm của muỗi truyền sốt xuất huyết với hóa chất diệt côn trùng tại Hà Nội, năm 2020 – 2021.Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học và độ nhạy cảm của muỗi truyền sốt xuất huyết với hóa chất diệt côn trùng tại Hà Nội, năm 2020 – 2021.Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học và độ nhạy cảm của muỗi truyền sốt xuất huyết với hóa chất diệt côn trùng tại Hà Nội, năm 2020 – 2021.Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học và độ nhạy cảm của muỗi truyền sốt xuất huyết với hóa chất diệt côn trùng tại Hà Nội, năm 2020 – 2021.Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học và độ nhạy cảm của muỗi truyền sốt xuất huyết với hóa chất diệt côn trùng tại Hà Nội, năm 2020 – 2021.Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học và độ nhạy cảm của muỗi truyền sốt xuất huyết với hóa chất diệt côn trùng tại Hà Nội, năm 2020 – 2021.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VN HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trần Thị Loan
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC
VÀ ĐỘ NHẠY CẢM CỦA MUỖI TRUYỀN SỐT XUẤT HUYẾT VỚI HÓA CHẤT DIỆT CÔN TRÙNG TẠI HÀ NỘI, NĂM 2020 - 2021
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Hà Nội - 2022
Trang 2VÀ ĐÀO TẠO KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VN
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trần Thị Loan
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC
VÀ ĐỘ NHẠY CẢM CỦA MUỖI TRUYỀN SỐT XUẤT HUYẾT VỚI HÓA CHẤT DIỆT CÔN TRÙNG TẠI HÀ NỘI, NĂM 2020 - 2021
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
1 TS Nguyễn Quang Cường
2 TS Nguyễn Văn Dũng
Hà Nội - 2022
Trang 3Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu trong luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi dựa trên những tài liệu, số liệu do chính tôi tự tìm hiểu và nghiên cứu Chính vì vậy, các kết quả nghiên cứu đảm bảo trung thực và khách quan nhất Đồng thời, kết quả này chưa từng xuất hiện trong bất cứ nghiên cứu nào Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Học viên
Trần Thị Loan
Trang 4Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Quang Cường và TS Nguyễn Văn Dũng, người Thầy đã tận tâm, động viên và trực tiếp giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo, đơn vị chuyên môn, ban Lãnh đạo, phòng Đào tạo, các phòng chức năng của Học viện Khoa học và
Công nghệ đã giảng dạy, hướng dẫn tôi trong quá trình học tập tại đây
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập và nghiên cứu nâng cao trình độ Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của tập thể lãnh đạo và các đồng nghiệp Khoa Côn trùng đã tạo điều kiện tốt nhất trong thời gian tôi học tập, triển khai nghiên cứu và hoàn
thành luận văn của tôi
Tôi cũng xin được cảm ơn đến các Quý cơ quan y tế địa phương, nơi tôi thực hiện nghiên cứu, đã ủng hộ và tạo điều kiện để tôi hoàn thành thu
thập số liệu nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã ủng
hộ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập, làm việc và nghiên cứu
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Học viên
Trần Thị Loan
Trang 5MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Muỗi Aedes trong hệ thống phân loại 4
1.2 Một số đặc điểm hình thái học của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus 5
1.2.1 Hình thái ngoài của muỗi Ae aegypti 5
1.2.2 Hình thái ngoài muỗi Ae albopictus 10
1.3 Đặc điểm sinh học của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus 12
1.3.1 Đặc điểm sinh học của muỗi Ae aegypti 12
1.3.2 Đặc điểm sinh học của Ae albopictus 14
1.4 Đặc điểm sinh thái của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus 14
1.4.1 Đặc điểm sinh thái của muỗi Ae aegypti 14
1.4.2 Đặc điểm sinh thái của muỗi Ae albopictus 16
1.4.3 Một số nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus 17
1.4.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới 17
1.4.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 17
1.5 Tập tính của muỗi Aedes 18
1.5.1 Tập tính sinh sản 18
1.5.2 Tập tính hút máu và trú đậu của muỗi Aedes 20
1.6 Phân bố muỗi Ae aegypti và Ae albopictus 21
1.6.1 Đặc điểm phân bố của muỗi Aedes 21
1.6.2 Phân bố của muỗi Aedes trên thế giới 21
1.6.3 Phân bố của muỗi Aedes ở Việt Nam 23
1.7 Hóa chất diệt côn trùng và chiến lược phòng chống muỗi kháng hóa chất diệt côn trùng 24
1.7.1 Hóa chất diệt côn trùng 24
1.7.1.1 Nhóm Clo hữu cơ 24
1.7.1.2 Nhóm Carbamat 24
1.7.1.3 Nhóm Phospho hữu cơ 25
1.7.1.4 Nhóm Pyrethroid 25
1.7.1.5 Nhóm Neonicotinod 25
1.7.1.6 Nhóm ức chế sinh trưởng 25
1.7.7.7 Nhóm hóa chất bổ trợ, ức chế enzym kháng 26
1.7.2 Chiến lược phòng chống muỗi kháng hóa chất diệt côn trùng 26
Trang 62.1 Mục tiêu 1: Xác định đặc điểm sinh học, sinh thái học của muỗi Aedes
aegypti và Aedes albopictus tại phòng thí nghiệm 29
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.1.4 Phương pháp kiểm soát nhiễu và sai số 33
2.1.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 33
2.2 Mục tiêu 2: Xác định độ nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng của muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus tại các điểm nghiên cứu bằng phương pháp của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và của Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (USCDC) 33
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 33
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu 34
2.2.4 Phương pháp kiểm soát nhiễu và sai số 39
2.2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 39
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
KẾT QUẢ 40
3.1 Đặc điểm sinh học, sinh thái học của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus tại các điểm nghiên cứu ở Hà Nội 40
3.1.1 Đặc điểm sinh học của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus trong phòng thí nghiệm 40
3.1.1.1 Chu kỳ vòng đời phát triển của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus 40
3.1.1.2 Tỷ lệ nở từ trứng đến muỗi trưởng thành của Ae aegypti và Ae albopictus 42
3.1.1.3 Khả năng sinh sản của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus 43
3.1.1.4 Thời gian sống của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus 45
3.1.2 Đặc điểm sinh thái của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus tại điểm nghiên cứu 47
3.1.2.1 Hoạt động đốt mồi của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus trong phòng thí nghiệm 47
3.1.2.2 Chỉ số của muỗi, bọ gậy Aedes tại Hà Nội 50
3.1.2.3 Phân bố, độ cao và giá thể trú đậu muỗi Aedes tại các điểm nghiên cứu ở Hà Nội 54
Trang 7điểm nghiên cứu 62
3.3.1 Độ nhạy cảm với HCDCT của muỗi Ae aegypti với hóa chất diệt côn trùng theo phương pháp WHO (2016) và USCDC (2019) 62
3.2.2 Độ nhạy cảm với HCDCT của muỗi Ae albopictus với hóa chất diệt côn trùng theo phương pháp WHO (2016) và USCDC (2019) 63
THẢO LUẬN 64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
KẾT LUẬN 73
4.1 Đặc điểm sinh học của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus trong phòng thí nghiệm 73
4.2 Đặc điểm sinh thái học của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus tại thực địa74 4.3 Độ nhạy cảm của của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus với hóa chất diệt côn trùng 75
KIẾN NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 8BI Breateau index
CDC Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật
CSMĐM/ DI Chỉ số mật độ muỗi (Density index)
CSNCM Chỉ số nhà có muỗi
CSNCBG/ HI Chỉ số nhà có bọ gậy (House index)
CSDCCNCBG/ CI Chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy (Container index) D1 Vi rút Dengue típ 1
HCDCT Hóa chất diệt côn trùng
SXHD Sốt xuất huyết Dengue
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 9muỗi Aedes theo phương pháp USCDC (2019) 33
Bảng 3.1 Thời gian (ngày) hoàn thành chu kỳ phát triển của muỗi Ae aegypti trong phòng thí nghiệm 40
Bảng 3.2 Thời gian hoàn thành chu kỳ phát triển của muỗi Ae albopictus trong phòng thí nghiệm 41
Bảng 3.3 Tỷ lệ % phát triển từ trứng đến muỗi trưởng thành trong điều kiện phòng thí nghiệm 42
Bảng 3.4 Tỷ lệ % phát triển từ trứng đến muỗi trưởng thành trong điều kiện phòng thí nghiệm 43
Bảng 3.5 Khả năng sinh sản của muỗi Ae aegypti trong phòng thí nghiệm 44
Bảng 3.6 Khả năng sinh sản của muỗi Ae albopictus trong phòng thí nghiệm 45
Bảng 3.7 Số lượng muỗi Ae aegypti hoạt động đốt mồi theo giờ trong phòng thí nghiệm 47
Bảng 3.8 Số lượng muỗi Ae albopictus hoạt động đốt mồi theo giờ trong phòng thí nghiệm 49
Bảng 3.9 Chỉ số muỗi Ae aegypti tại các điểm nghiên cứu ở Hà Nội, 50
Bảng 3.10 Chỉ số muỗi Ae albopictus tại Hà Nội năm 2020 51
Bảng 3.11 Chỉ số bọ gậy Ae aegypti tại Hà Nội 2020 52
Bảng 3.12 Chỉ số bọ gậy Ae albopictus tại Hà Nội năm 2020 53
Bảng 3.13 Số lượng và tỷ lệ muỗi Ae aegypti trong nhà và ngoài nhà tại các địa điểm nghiên cứu 54
Bảng 3.14 Số lượng và tỷ lệ của muỗi Ae aegypti trong các không gian sinh hoạt hộ gia đình 54
Bảng 3.15 Tỷ lệ trú đậu của muỗi Ae aegypti ở các vị trí độ cao khác nhau 55
Bảng 3.16 Tỷ lệ muỗi Ae aegypti trú đậu trên các giá thể khác nhau tại các 55
Bảng 3.17 Số lượng và tỷ lệ muỗi Ae albopictus trong nhà và ngoài nhà tại các địa điểm nghiên cứu 56
Bảng 3.18 Số lượng và tỷ lệ của muỗi Ae albopictus trong các không gian sinh hoạt hộ gia đình 56
Bảng 3.19 Tỷ lệ trú đậu của muỗi Ae albopictus ở các vị trí độ cao khác nhau 57
Trang 10Bảng 3.21 Ổ bọ gậy nguồn của muỗi Aedes khu vực ngoại thành tại Hà Nội, năm
2020 (N= 2, n = 200) 58
Bảng 3.22 Ổ bọ gậy nguồn của muỗi Aedes khu vực vùng giáp ranh tại Hà Nội, 59 Bảng 3.23 Ổ bọ gậy nguồn của muỗi Aedes khu vực nội thành tại Hà Nội, 60 Bảng 3.24 Kết quả thử nhạy cảm của muỗi Ae aegypty với một số hóa chất diệt
côn trùng tại các điểm nghiên cứu 62
Bảng 3.25 Kết quả thử nhạy cảm của muỗi Ae albopictus với một số hóa chất diệt
côn trùng tại các điểm nghiên cứu 63
Trang 11Hình 1.2 Bọ gậy Ae aegypti 6
Hình 1.3 Quăng Ae aegypti 7
Hình 1.4 Muỗi Aedes aegypti 10
Hình 1.5 Trứng Ae albopictus 10
Hình 1.6 Bọ gậy Ae albopictus 11
Hình 1.7 Quăng Ae albopictus 11
Hình 1.8 Muỗi Ae albopictus 12
Hình 1.9 Vòng đời muỗi Ae aegypti 13
Hình 3.1 Thời gian sống trung bình của muỗi Ae aegypti 46
Hình 3.2 Thời gian sống trung bình muỗi Ae albopictus 46
Hình 3.3 Số lượng muỗi Ae aegypti đốt mồi theo giờ trong phòng thí nghiệm 48 Hình 3.4 Số lượng muỗi Ae albopictus đốt mồi theo giờ trong phòng thí nghiệm 50
Trang 12MỞ ĐẦU
Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm vi rút Dengue cấp tính nguy hiểm do muỗi Aedes truyền, ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, phổ biến ở khu vực đô thị, bán đô thị và nhiều vùng nông thôn Hiện nay bệnh SXHD đang là vấn
đề y tế công cộng rất lớn trên toàn cầu và được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đánh giá là một trong những bệnh do véc tơ truyền quan trọng nhất [1] Tỷ lệ người mắc sốt xuất huyết đã tăng lên đáng kể trên toàn thế giới trong những thập kỷ gần đây
Số lượng các trường hợp sốt xuất huyết thực tế chưa được báo cáo đầy đủ và nhiều trường hợp được chẩn đoán nhầm lẫn với một số bệnh khác Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính có khoảng 390 triệu trường hợp bệnh SXHD mỗi năm, trong đó có khoảng 96 triệu trường hợp có biểu hiện lâm sàng Có khoảng 3,9 tỷ người ở 128 quốc gia có nguy cơ bị nhiễm vi rút Dengue Trước năm 1970, chỉ có 9 nước đã trải qua dịch bệnh SXHD nghiêm trọng, nhưng hiện nay đang lưu hành tại hơn 100 quốc gia ở Châu Phi, Châu Mỹ, Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương Các khu vực Châu Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất Ước tính có khoảng 500.000 người mắc bệnh sốt xuất huyết nặng cần nhập viện mỗi năm, và khoảng 2,5% những người bị bệnh tử vong [2]
[3]
Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho sự phát triển của muỗi Aedes, cho nên SXHD hiện cũng đang là một trong các bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất Dịch bệnh được ghi nhận ở cả 4 khu vực địa lý là miền Nam, miền Trung, miền Bắc và Tây Nguyên [4] Theo ước tính, khoảng 70 triệu người Việt Nam nằm trong vùng có dịch SXHD lưu hành và có nguy cơ bị mắc bệnh Mặc dù Chương trình phòng chống SXHD quốc gia được thiết lập từ năm 1999 hoạt động rất hiệu quả, số mắc và tử vong có giảm được một thời gian nhưng không ổn định và có xu hướng mở rộng phạm vi, số mắc trung bình hàng năm vẫn luôn ở mức rất cao khoảng 70.000 - 100.000 trường hợp với hàng trăm trường hợp tử vong [5], hơn nữa dịch lớn thỉnh thoảng bùng phát gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống xã hội của nhân dân Đặc biệt trong trong 9 tháng đầu năm 2018, cả nước ghi nhận 67.414 trường hợp mắc tại 62/63 tỉnh, thành phố,
Trang 13trong đó có 11 trường hợp tử vong (Cục Y tế dự phòng) [6] Bệnh sốt xuất huyết
chủ yếu phát hiện tại các thành phố, khu vực dân cư đông đúc
Trên thế giới có khoảng 950 loài muỗi thuộc giống Aedes, trong đó muỗi Aedes aegypti là loài truyền bệnh nguy hiểm nhất Chúng là véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue, Chikungunya, sốt vàng da và một số bệnh khác Các nghiên cứu
đã chỉ ra rằng có 2 loài muỗi truyền bệnh SXHD là Ae aegypti và Ae albopictus, trong đó Ae aegypti được coi là là véc tơ chính, còn Ae albopictus được coi là véc
tơ phụ [7] [8] [9] Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về hai loài muỗi này trong những năm trước đây và ghi nhận sự có mặt cả hai loài muỗi, tuy nhiên việc phân
bố của chúng thay đổi theo thời gian, theo vùng miền và theo sinh cảnh khác nhau [10] Bên cạnh đó vai trò truyền bệnh thực sự của 2 loài muỗi này tại các ổ dịch
đang hoạt động, đặc biệt là muỗi Ae albopictus đã được nghiên cứu nhưng chưa
thực sự đầy đủ [11]
Việc phòng chống SXHD trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng
là vô cùng khó khăn vì chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, vắc xin đang trong giai đoạn nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng Do vậy, biện pháp phòng chống chủ yếu và có
hiệu quả là dựa vào kiểm soát véc tơ truyền bệnh Các quần thể muỗi Ae aegypti và
Ae albopictus có các đặc điểm sinh học, đôi khi thay đổi nên việc nghiên cứu sâu
về các đặc điểm của chúng sẽ là cơ sở để áp dụng các biện pháp phòng chống Mặt khác, nghiên cứu vai trò truyền bệnh SXHD của muỗi tại thực địa là rất cần thiết, góp phần quan trọng giúp cho các nhà quản lý cũng như các nhà chuyên môn trong định hướng, lập kế hoạch cũng như đề ra các chiến lược phù hợp, hiệu quả cho công
tác phòng chống dịch bệnh SXHD [12] [13] [14]
Hà Nội là một trong những tỉnh thành trong những năm gần đây liên tục ghi nhận dịch bệnh với số mắc cao và được xác định là vùng trọng điểm nhất về sốt
xuất huyết Dengue của khu vực miền Bắc Ngoài ra đây cũng là những địa phương
có tốc độ đô thị hóa rất nhanh chóng, làm môi trường thay đổi mạnh theo hướng thuận lợi cho muỗi phát triển Ngoài việc nghiên cứu tại thực địa về phân bố, đặc điểm sinh thái học, độ nhạy cảm với hóa chất diệt côn trùng, nghiên cứu về đặc điểm sinh học của loài muỗi này trong phòng thí nghiệm có vai trò quan trọng như chu trình sống, thời gian sống, tập tính hoạt động đốt mồi, làm cơ sở xây dựng quy
trình nuôi giữ muỗi Aedes aegypti phục vụ cho các nghiên cứu về sinh thái học, di
Trang 14truyền tế bào, đánh giá hiệu lực của hóa chất diệt côn trùng cũng như hiệu lực của các chế phẩm sinh học diệt bọ gậy Do vậy, vấn đề được đặt ra cho nghiên cứu, hay chính là việc đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Đặc điểm sinh thái và vai trò truyền
bệnh của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus tại đây hiện nay như thế nào là rất
quan trọng trong việc đề ra các chiến lược giám sát và khống chế các ổ dịch SXHD
một cách hiệu quả Xuất phát từ thực tiễn đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học và độ nhạy cảm của muỗi truyền sốt xuất huyết với hóa chất diệt côn trùng tại Hà Nội, năm 2020 –
Trang 15NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Muỗi Aedes trong hệ thống phân loại
Dodge (1962) theo quan điểm của Stone, A., Knight và Starke (1959) đã chia
họ muỗi là 3 phân họ: Culicinae, Anophelinae và Toxorhynchitae
Họ phụ Anophelinae có 3 giống: Giống Chagasia phân bố ở vùng Tân nhiệt đới, Giống Bironalla phân bố ở vùng châu Úc, Giống Anopheles có thành phần loài lớn nhất, phân bố ở tất cả các vùng địa động vật trên thế giới và có nhiều loài có ý nghĩa dịch tễ quan trọng Giống Anopheles bao gồm có 7 phân giống là: Anopheles, Baimaia, Cellia, Kerteszia, Lophopodomyia, Nyssorhynchus, Stethomyia Ở vùng Đông Phương, giống Anopheles chỉ gồm các loài thuộc 2 phân giống: Anopheles và
Cellia
Phân họ Toxorhynchitae chỉ có một giống duy nhất là Toxorhynchites
Phân họ Culicinae có nhiều giống và có số loài lớn nhất, trong đó có nhiều giống có vai trò dịch tễ như: Aedes, Mansonia, Culex, Ochlerotatus… trong đó có
giống Aedes và giống Culex phân bố toàn cầu
Theo Vũ Đức Hương (1997), Việt Nam có 27 loài thuộc giống Aedes, trong
đó có 2 loài Ae aegypti (Linnaeus), 1762 và Ae albopictus (Skuse) 1894 là hai véc
tơ truyền sốt xuất huyết [15] Vị trí phân loại của muỗi Ae aegypti và Ae
albopictus như sau:
Trang 16Loài: Aedes aegypti (Linnaeus), 1762, Aedes albopitus (Linnaeus), 1762 1.2 Một số đặc điểm hình thái học của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus
1.2.1 Hình thái ngoài của muỗi Ae aegypti
- Trứng Ae aegypti
Hình 1.1 Trứng Ae aegypti (Nguồn: Catherin, 2016) Trứng của muỗi Aedes aegypti có kích thước nhỏ dưới 1mm, dạng hình oval,
lúc mới đẻ có màu trắng sau đó chuyển màu đen sẫm Nhìn dưới kinh hiển vi, trứng
muỗi Aedes aegypti giống như quả “thủy lôi” thon dần Ở cực hơi to của quả trứng
có lỗ trứng được bao bọc trong vòng globulin trong suốt Khi trứng bám trên thành
ẩm hay trên giấy lọc thấm nước trứng có dạng con thuyền nhỏ, mặt trên phẳng còn mặt dưới cong Bên ngoài trứng được phủ một lớp màng chorion màu trắng sữa Có thể thấy màng này khi trứng được ngâm trong nước, còn khi khô màng này bám vào
vỏ trứng làm cho mặt vỏ trứng gồ ghề Khác với muỗi Anopheles, muỗi Culex,
v.v…, trứng muỗi Aedes aegypti không có phao, không liên kết thành bè trôi nổi
trên mặt nước mà thường từng các rời ra bám trên thành các dụng cụ chứa nước
Đây là một trong những đặc điểm đặc trưng của giống
- Bọ gậy
Đặc điểm bọ gậy Ae aegypti có đốt bụng VIII không có tấm kitin Các răng
lược đốt bụng VIII xếp thành một hàng, có gai giữa và gai bên Siphon có chiều dài không quá 4 lần chiều rộng, không có hàng gai ở đỉnh Các phần siphon không phân
bố đến gần đỉnh, chùm lông siphon nằm ngoài khoảng lược siphon Lông siphon không có dạng gai tù Mặt lưng của ngực không có lông dạng gai Tấm yên không
Trang 17có gai ở phía ngoài Các lông đầu trên, dưới, lông trước anten và lông anten đơn
Trên anten có ít gai nhỏ hoặc trơn [15]
Hình 1.2 Bọ gậy Ae aegypti (Nguồn: Catherin, 2016)
Bọ gậy Ae aegypti có dạng hình trụ, thon dần và màu vàng sữa Cơ thể chia
làm ba phần: Đầu, ngực, bụng
Phần đầu có dạng hình cầu Trên đầu mang hệ thống lông và hệ thống phần phụ làm nhiệm vụ cảm giác và thu nhận thức ăn Phía trước đầu có đôi chùm lông bàn chải Lông bàn chải có dạng hình tơ hay hình lược Hai bên đâu, về phía trước mang đôi râu (anten) trơn hay có những gai nhỏ li ti Ở giữa râu có lông râu đơn hay phân nhánh Đỉnh râu có một vài lông cứng Hai bên râu lùi về phía sau có đôi mắt kép lớn Sau mắt kép là mắt đơn Phía trước, phần dưới đầu là phần phụ miệng có cấu tạo phức tạp, trong đó đáng chú ý là tấm ngọn môi dưới có dạng hình tam giác
với số lượng đặc trưng cho loài
Phần ngực phát triển nhất, gồm ba đốt, ở mỗi đốt mang hệ thống lông vươn dài Những lông ở mặt trên và mặt dưới ngắn hơn những lông ở hai bên sườn Ở đốt ngực
giữa và đốt ngực sau gốc kitin có mấu; còn ở trước gốc kitin không có mấu
Phần bụng có 9 đốt, 7 đốt đầu có hình dáng và mang hệ thống lông tương đối giống nhau Đốt VIII có cấu tạo và hình dáng khác biệt Gần cuối đốt VIII có lược đốt VIII Liền với mặt lưng đốt VIII là ống thở (siphon) Hai bên ống thở có lược ống thở (lược siphon) Đặc điểm đặc trưng của bọ gây Aedes là có một đôi chùm lông nằm ở giữa ống thở Đốt bụng cuối hay đốt anal nằm dưới ống thở và hơi chếch so với bụng có cấu tạo khác hẳn Phần trên đốt này có tấm yên phát triển,
phía sau có các lá mang mỏng mảnh và nhiều lông vươn dài
Trang 18- Quăng
Quăng của muỗi Ae aegypti có hình dạng như một dấu hỏi lớn Bên ngoài
quăng được bao bọc bởi một lớp vỏ sẫm, song có thể dễ nhận thấy mầm của những phần phụ của muỗi trưởng thành sau này Cơ thể quăng chia thành hai phần: Đầu
trước râu là mầm của các chân Trên lưng của ngực mang đôi ống thở hình trụ
Phần bụng có 9 đốt Từ đốt II đến đốt VII có cấu tạo tương đối giống nhau
Đốt I tương đối nhỏ Đốt VIII mang vây và đuôi và di tích đốt IX
Theo kết quả nghiên cứu của Christophers (1960), đối với Ae aegypti không
có sự khác nhau giữa quăng đực và quăng cái [16]
- Muỗi trưởng thành
Hình thái muỗi Ae aegypti trưởng thành rất dễ nhận biết, với kích thước trung
bình, chân và bụng có các khoang đen trắng rõ rệt Thân có nhiều vảy trắng bạc tập trung thành từng cụm hay từng đường trên mình muỗi Vòi không có băng trắng, đỉnh pan trắng Trên mặt lưng ngực có hai đường vảy màu trắng bạc phình ra, như hai nửa vòng cung ôm hai bên lưng nên gọi là hình đàn [15] Trên mặt lưng bụng ở gốc các đốt II đến VIII đều có những đường vảy ngang từng đốt, gốc các đốt bàn
Trang 19chân sau có những khoang trắng, riêng đốt bàn chân thứ V trắng hoàn toàn, cho nên
muỗi còn có tên gọi là “muỗi vằn”
Muỗi Ae aegypti có kích thước trung bình Độ dài của sải cánh khoảng 4,5 -
5mm Muỗi thường có màu đen điểm vảy bạc, cho nên còn được gọi là muỗi vằn
Cơ thể muỗi chia làm ba phần: Đầu, ngực và bụng
- Phần đầu có dạng hình cầu; phía trước đầu là trán, dưới trán là tấm gốc môi, trên trán là đỉnh, dưới đỉnh là gáy Trên đầu phủ nhiều vảy với hình dáng khác nhau,
hình dẹt rộng hay hẹp, hình cong lưỡi liềm hay hình đinh vít v.v…
Hai bên đầu có đôi mắt kép lớn Giữa hai mắt kép là vòi Hai bên vòi là pan,
hai bên pan là râu
Râu gồm 14 - 15 đốt Đốt I dẹt khó thấy Đốt II được gọi là đốt gốc râu hình quả táo, không có lông, đôi khi được phủ vảy Từ đốt III trở đi là những đốt roi có dạng hình trụ, xung quanh mang lông phụ râu Lông phụ râu ở con đực rậm hơn con
những cụm vảy trắng tập trung ở đỉnh làm cho pan có màu trắng
- Phần ngực gồm ba đốt: Ngực trước (Pronotum), ngực giữa (Mesonotum) và đốt ngực sau (Metanotum) Mỗi đốt ngực được giới hạn bởi tấm lưng, hai tấm bên
và tấm bụng Trên tấm lưng ngực trước tiêu giảm, chỉ còn hai ụ nhỏ ở hai bên tấm lưng của đốt ngực giữa Tấm lưng của đốt ngực giữa lớn nhất và chia làm hai phần, scutum ở phía trước và scutellum ở phía sau Giống như các muỗi khác scutellum
có ba thùy Tấm lưng của đốt ngực sau nhỏ và trơn
Tấm bên của mỗi đốt chia làm hai thùy, thùy trước và thùy sau Thùy mesoepisternum lớn nhất mang lỗ thở ngực trước ở phía trên Phần trên của thùy mesoepimerum mang gốc cánh Lỗ thở ngực sau nằm ở metapleurum Trên tấm lưng và tấm bên của ngực có phủ nhiều vảy và lông cứng Các vảy thường có màu
Trang 20đen, màu nâu hay màu bạc Đặc điểm nổi bật để xác định loài muỗi Aedes aegypti là
các vảy bạc ở mặt lưng ngực (mesonotum) tập trung thành hình giống như hình vỏ
đàn và trên tấm bên ngực giữa không có lông lỗ thở mà chỉ có lông sau lỗ thở
Phần ngực mang một đôi cánh và ba đôi chân Đôi cánh bám vào đốt ngực giữa Ở gần gốc cánh, về phía sau có hai thùy nhỏ là alula và squama Cấu tạo của cánh gồm màng cánh và hệ thống gân cánh Khác với gân cánh, màng cánh không phủ vảy mà chỉ có những lông nhỏ li ti Vảy trên các gân cánh đều màu đen, không tập trung thành đốm như giống muỗi Anopheles Hệ thống gân của cánh gồm các
gân dọc và gân ngang Ở muỗi Ae aegypti gân dọc 6 vượt quá chỗ chia nhánh của
gân dọc 5 Bàn chân có 5 đốt, đốt cuối bàn có mang một đôi vuốt trơn hay có răng Trên các phần của chân có phủ vảy màu đen hay màu trắng bạc Các vảy trắng bạc
có thể tập trung thành những điểm hay khoang trắng
- Phần bụng gồm 10 đốt, có dạng hình ống thon dài Đốt IX và đốt X tiêu giảm, tham gia vào cấu tạo của cơ quan giao phối Từ đốt I đến đốt VIII có cấu tạo giống nhau Ở mỗi đốt có tấm lưng và tấm bụng Giữa tấm lưng và tấm bụng được liên kết với nhau bởi một màng mỏng đàn hồi Trên tấm lưng và tấm bụng thường được phủ vảy màu đen hay trắng Ở đầu và cuối các đốt bụng, các cụm vảy màu trắng thường được tập trung thành các băng ngang hình chữ nhật hay hình elip Đốt VIII mang cơ quan giao phối Cơ quan giao phối ở con đực và con cái có cấu tạo
Cơ quan giao phối của con cái có cấu tạo đơn giản, gồm một đôi cerci nằm ở
ngay sau đốt bụng VIII
Cũng giống như nhiều giống và loài muỗi khác, muỗi Ae aegypti có sự khác
nhau giữa con đực và con cái về đặc điểm dinh dưỡng Để sống và phát triển con cái
Trang 21phải hút máu (người, động vật); còn con đực không hút máu mà chỉ hút nước, nhựa
cây hay dịch hoa quả để tồn tại và phát triển
Hình 1.4 Muỗi Aedes aegypti
nhưng có 1 đầu phình to hơn, chứ không thuôn đều như trứng Ae aegypti
- Bọ gậy Ae albopictus
Anten nhẵn không có các gai nhỏ; các lông: anten, lông đầu trên và dưới đơn Gai đốt bụng 8 sắp xếp thành một hàng, có gai tù ở giữa, có các tơ ở hai bên Chỉ số
siphon lớn hơn 1, chỉ có một đôi chùm lông siphon
Trang 22Hình 1.6 Bọ gậy Ae albopictus (Nguồn: Leslie Rios, 2004)
- Quăng Ae albopictus
Hình 1.7 Quăng Ae albopictus (Nguồn: Leslie Rios, 2004)
- Muỗi trưởng thành
Muỗi có kích thước trung bình, màu đen nâu, có nhiều đốm trắng bạc ở ngực Trên mesonotum có 1 đường vảy nhỏ màu trắng bạc Trên 6 đốt đầu có băng ngang
vảy màu trắng bạc Muỗi Ae albopictus là loài muỗi nhỏ con, thân muỗi có các
khoang vằn, các đốt bàn chân sau có băng trắng, vòi hoàn toàn đen, pan có băng
trắng ở đỉnh, đốt thứ 5 của bàn chân sau hoàn toàn trắng
Muỗi Ae albopictus rất giống Ae aegypti tuy nhiên ở trên mesonotum chỉ có
1 đường vảy trắng bạc ở giữa
Trang 23Hình 1.8 Muỗi Ae albopictus (Nguồn: leslie rios,2004)
1.3 Đặc điểm sinh học của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus
1.3.1 Đặc điểm sinh học của muỗi Ae aegypti
- Vòng đời của Aedes aegypti có 4 giai đoạn: Trứng - Bọ gậy - Quăng - Muỗi
trưởng thành Trong đó 3 giai đoạn đầu thì sống trong nước, chỉ có giai đoạn muỗi trưởng thành sống trên cạn Khi muỗi đẻ trứng trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, trứng có thể tồn tại được 6 tháng hoặc lâu hơn nữa Muỗi cái cần đốt máu để phát triển trứng, trứng thường được đẻ trước khi đốt máu lần sau, tuy nhiên nếu quá trình đốt máu bị gián đoạn thì muỗi tiếp tục đốt và hình thành các chu kỳ sinh thực trong đời sống của muỗi Muỗi cái đẻ trứng trong suốt đời sống của nó khoảng 6 - 7 lần, mỗi lần khoảng 150 trứng, tuy nhiên trong điều kiện phòng thí nghiệm muỗi có
thể đẻ đến 13 lần [17] [18] [19] Muỗi Aedes aegypti nghiên cứu trong phòng thí
nghiệm trung bình sống từ 20 - 30 ngày [20]
Trang 24Hình 1.9 Vòng đời muỗi Ae aegypti
- Thời gian phát triển của các pha trước trưởng thành (từ trứng đến quăng) trung bình 7 ngày, bọ gậy và quăng sống trong môi trường nước, thời gian từ quăng đến muỗi trưởng thành khoảng 2 đến 3 ngày, muỗi sống trên cạn, sau khi nở muỗi trú đậu trên thành vật chứa khoảng vài giờ, sau đó muỗi bay phát tán cách xa khoảng 200 mét, muỗi cái trưởng thành giao phối và thực hiện đốt hút máu lần đầu vào khoảng 48 giờ sau khi nở, thường muỗi đốt hút máu ban ngày hoạt động mạnh nhất vào lúc sáng sớm và lúc hoàng hôn, thời gian tiêu sinh của muỗi khoảng 5 ngày, trường hợp đốt hút máu người có chứa vi rút Dengue thời gian ủ bệnh trong muỗi cái thường 8 - 10 ngày, lúc này trong tuyến nước bọt của muỗi có vi rút nhân lên và truyền vi rút sang người khác khi chúng đốt hút máu Muỗi cái sống từ 20 đến 40 ngày, muỗi đực sống ngắn hơn từ 9 đến 12 ngày [21] Muỗi cái mỗi lần đẻ từ 60-100 trứng, trứng muỗi mới đẻ có màu trắng sau đó chuyển dần có màu đen, riêng
rẽ từng quả một đính vào thành vật chứa hay chìm xuống nước, điều kiện thuận lợi trứng muỗi có thể tồn tại đến 6 tháng Trong quá trình sống muỗi đực hút mật hoa
để sống, còn muỗi cái ngoài hút mật hoa như muỗi đực còn đốt hút máu động vật có
vú để phát triển trứng (có thể vài lần đốt hút máu trong một đợt phát triển trứng),
Trang 25chúng phát hiện vật chủ dựa vào các hợp chất hóa học: NH3, CO2, axít lactic và
Octenol tiết ra từ vật chủ [22], [23], [24]
1.3.2 Đặc điểm sinh học của Ae albopictus
Ae albopictus đẻ trứng rời từng chiếc ở nơi ẩm ướt, ngay trên hoặc gần sát với
mặt nước, nơi có nước lên xuống Trứng chịu được độ khô trong nhiều tháng và chỉ
nở khi bị ngập nước Trứng có thể tồn tại qua mùa đông lạnh
Ae albopictus là trung gian truyền bệnh SXHD Đặc điểm của loài muỗi này
là thích sống ở các bụi cây, đám cỏ, chủ yếu ở vùng nông thôn, chúng đẻ trứng rời từng chiếc trên những diện tích ẩm ướt, ngay trên thành hoặc gần sát với mặt nước, trong những dụng cụ chứa nước tạm thời nhưng nó vẫn ưa đẻ trứng tự nhiên ở trong
rừng, trong vườn tại các hốc cây, kẽ lá, vũng nước dưới đất, vỏ dừa [25]
Cũng giống như muỗi Ae aegypti, loài muỗi này cũng có thể truyền bệnh
SXHD cho người Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những nơi nào có muỗi
Aedes albopictus thì tỉ lệ mắc SXHD thấp hơn nơi muỗi Ae aegypti sinh sống Hơn nữa, muỗi Ae albopictus có đặc điểm sống ngoài trời, không thường xuyên tiếp cận với con người chứ không giống như muỗi Ae aegypti sống trong nhà, tiếp cận với người thường xuyên hơn, cho nên vai trò truyền bệnh của nó ít hơn muỗi Ae
aegypti [26], [25]
Muỗi Ae albopictus có khả năng phát tán xa hơn so với Ae aegypti Phát tán trung bình của muỗi cái trưởng thành Ae aegypti và Ae albopictus tương ứng là 35,3 mét
và 50,6 mét từ điểm phóng thả trong vòng 7 ngày Khả năng phát tán tối đa của
muỗi cái trưởng thành Ae aegypti và Ae albopictus tương ứng là 100 mét và 180
mét [27]
1.4 Đặc điểm sinh thái của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus
1.4.1 Đặc điểm sinh thái của muỗi Ae aegypti
Nơi trú đậu của muỗi Ae aegypti và sinh sản
Muỗi Ae aegypti là loài trú ẩn, tiêu máu trong nhà điển hình Kết quả nghiên cứu cho thấy muỗi Ae aegypti ở trong nhà là chủ yếu (chiếm tỉ lệ 95,65%), với tỉ lệ muỗi đực là 17,36% và còn lại là muỗi cái Những nơi thường gặp muỗi Ae aegypti
trú đậu và nghỉ chủ yếu ở những nơi tối, khuất gió như ở quần áo treo trong nhà,
Trang 26chăn, màn, chiếm trên 90% Ngoài ra còn gặp chúng đậu ở dây phơi và các đồ vật
khác Trên tường vách gặp Ae aegypti với tỉ lệ rất thấp (dưới 3%) Muỗi Ae aegypti thường đẻ trứng ở những nơi nước sạch chứa trong lu vại, bể, lọ hoa, phuy
nước, chậu cây cảnh, chai lọ, vỏ dừa, lốp ô tô cũ, máng nước, đôi khi có ở hốc cây,
kẽ lá (dừa, chuối, bẹ khoai)… ở trong và quanh nhà những nơi râm mát, bọ gậy ưa
nước có độ PH hơi axít, nhất là nước mưa [28], [26], [25]
Tập tính đốt hút máu của muỗi Ae aegypti
Các phương pháp thu thập muỗi như đã nêu ở trên chỉ gặp Ae aegypti hoạt động vào ban ngày Nhưng với phương pháp mồi người, muỗi Ae aegypti cũng hoạt
động tìm mồi vào ban đêm (0 – 2%) Kết quả mồi người ban ngày được theo dõi từ
7 giờ – 19 giờ (tháng/lần) trong suốt năm 1992 ở phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội cho thấy muỗi hoạt động tìm mồi theo từng giờ vào ban ngày, có thay đổi theo mùa và phụ thuộc nhiều tới nhiệt độ Vào các tháng mùa rét thường bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3, muỗi chủ yếu hoạt động vào buổi trưa và buổi chiều (từ 11 giờ – 16 giờ), lúc này nhiệt độ ấm áp muỗi hoạt động tích cực hơn Vào những ngày nhiệt độ xuống thấp dưới 150C của những tháng lạnh nhất (tháng 12 - 1), muỗi hầu như không hoạt động tìm mồi Các tháng mùa nóng, từ tháng 4 đến tháng 10, muỗi hoạt động chủ yếu vào 2 đỉnh từ sáng sớm đến 11 giờ và buổi chiều
từ 16 giờ đến 19 giờ, đỉnh buổi sáng cao hơn buổi chiều, hoạt động mạnh nhất từ sáng sớm đến 9 giờ, buổi trưa hoạt động giảm rõ rệt Vào những ngày nóng, buổi trưa hầu như không hoạt động (tháng 5 – tháng 9) Theo kết quả nghiên cứu của Vũ Đức Hương (1992) cho rằng muỗi hoạt động mạnh theo 2 đỉnh là vào lúc bình minh
và hoàng hôn Sau thời gian đốt máu người bị nhiễm vi rút khoảng 8 - 10 ngày muỗi
có khả năng truyền vi rút vào vật chủ Sau khi đốt máu, muỗi thường đậu trên quần
áo, gầm giường, gầm bàn và đậu độ cao từ 2 mét trở xuống để tiêu máu [29]
Ổ bọ gậy của muỗi Ae aegypti
Các nghiên cứu ở trong nước cho thấy, ổ bọ gậy muỗi Ae aegypti có ở trong
các dụng cụ chứa nước nhân tạo ở trong và xung quanh nhà Đây là loài muỗi sống gần với người Các nghiên cứu trước đây của các tác giả cho thấy ở trong các thủy vực như: Ao hồ, cống rãnh, hố vũng, mương máng, ruộng lúa không hề gặp bọ gậy
muỗi Ae aegypti, mà chỉ gặp chúng trong các dụng cụ chứa nước do con người tạo
ra như bể, phi, chum, vại và các dụng cụ phế thải tích nước ở xung quanh nhà và
Trang 27ngoài vườn như mảnh bát vỡ, chậu sành, cối đá, lọ sành, ấm tích, lốp xe… Tuy
nhiên sự phân bố của bọ gậy Ae aegypti trong các dụng cụ chứa nước nhân tạo
cũng có sự khác nhau Kết quả điều tra bọ gậy của Vũ Đức Hương (1992), trong số các dụng cụ chứa nước thì các dụng cụ tích nước có diện tích bề mặt nhỏ hơn 1m2
,
gặp tỷ lệ bọ gậy Ae aegypti cao Các bể có diện bề mặt lớn hơn 2m2, tỷ lệ gặp bọ gậy không đáng kể Trong số các loại dụng cụ khác nhau thì bể lọc có mật độ bọ gậy cao nhất, sau đó là chum, vại và các dụng cụ phế thải tích nước ở xung quanh nhà Trong khu dân cư còn có các bể nhỏ để chứa nước dội hố xí thấm cũng gặp bọ
gậy Ae aegypti Nhưng ở các giếng nước được thấm lọc từ nước ao không gặp
chúng, mà chỉ gặp bọ gậy của giống Culex và Anopheles Kết quả điều tra cho thấy
ổ bọ gậy thích hợp đối với muỗi Ae aegypti là các dụng cụ tích nước nhân tạo có
diện tích bề mặt nhỏ hơn 1m2 Môi trường nước thuận lợi cho ổ bọ gậy muỗi Ae aegypti có độ trong là 30, độ pH từ 7,4 - 7,6, độ Nitrit từ 0,2 - 0,6 mg/l, độ amoniac
từ 0,5 - 0,2 mg/l, độ muối Natriclorua từ 0,3 - 0,5 mg/l và độ hữu cơ từ 4,8 - 10,4 mg/l [29]
1.4.2 Đặc điểm sinh thái của muỗi Ae albopictus
Nơi trú đậu và sinh sản của Ae albopictus
Ae albopictus sống ở ngoài nhà, ẩn núp dưới các bụi cây gần nhà hay xa nhà
Hiện nay đôi khi bắt gặp muỗi trú đậu trên bình hoa hay cây xanh ở trong nhà
Muỗi Ae albopictus đẻ trứng ở nơi nước sạch ngoài tự nhiên như: Hốc cây
kẽ lã … đôi khi ở dụng cụ chứa nước: Vại, châu cây cảnh, chai lọ, vỏ dừa, lốp xe ô
tô cũ, máng nước … ở ngoài nhà [25], [30]
Tập tính đốt hút máu Ae albopictus
Ae albopictus có tập tính ưa hút máu người, hoạt động hút máu ban ngày ở
ngoài nhà là chính, mạnh nhất vào lúc bình minh và hoàng hôn Hiện nay thỉnh
thoảng có bắt gặp muỗi đốt hút máu người trong nhà [31]
Ổ bọ gậy Ae albopictus
Ae albopictus thường đẻ trứng ở những nơi nước sạch ngoài tự nhiên như:
Hốc cây, kẽ lá, đôi khi có ở các vật chứa nhân tạo: Lu, vại, bể, chậu cây cảnh, chai
Trang 28lọ, vỏ dừa, lốp ô tô cũ, máng nước ở ngoài nhà những nơi râm mát Bọ gậy sống chủ
yếu ở gốc nứa, gốc cây, hốc đá, dụng cụ chứa nước, đồ phế thải có nước [32]
1.4.3 Một số nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus
1.4.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu về hình thái, sinh thái của Ae aegypti, điển hình có một số công
trình của Hopkin, 1952; Christopher, 1960; Belkin, 1970; Harison, 1973 Các tác giả đã mô tả chi tiết hình thái bên ngoài, bên trong của ấu trùng và muỗi trưởng thành Đặc biệt công trình nghiên cứu của Christopher, 1960 đã mô tả chi tiết và đầy đủ các đặc điểm về hình thái, phân loại, di truyền, sinh lý, sinh thái, phân bố,
các pha phát triển của Ae aegypti (trứng, bọ gậy, quăng và muỗi trưởng thành) và
vai trò truyền bệnh của chúng Các tác giả đã chỉ ra rằng, ngoài những đặc điểm chung của loài thì giữa các vùng địa lý khác nhau còn có một số khác nhau về hính
thái như kích thước, màu sắc… [16]
Theo dõi sự phát triển của bọ gậy 2 loài Ae aegypti và Ae albopictus ở các
vị trí và các dụng cụ tích nước qua điều tra hàng tháng trong năm ở Brazil, một số
tác giả đã cho thấy loài Ae albopictus phát triển theo mùa và số lượng nhiều nhất vào mùa mưa, trong khi loài Ae aegypti không thể hiện rõ sự phát triển theo mùa
mà chỉ thể hiện sự phát triển ở nơi có chứa nước sạch Khi mực nước lên cao, độ pH
thấp thì bọ gậy của cả 2 loài này đều phát triển kém Sự phát tán của loài Ae albopictus nhanh hơn loài Ae aegypti, và muỗi cái có thể phát tán khoảng 800 mét
trong 6 ngày
Tập tính hút máu của hai loài Ae aegypti và Ae albopictus đã được nhiều tác
giả nhận định chúng thường đốt người vào ban ngày, đặc biệt là vào buổi sáng sớm
và chiều tối Một nghiên cứu bằng cách sử dụng máy phân tích quang phổ, nhiệt và
sự tương phản màu trắng đen cho thấy độ ánh sáng tăng lên thì Ae aegypti có khả
năng tìm kiếm vật chủ tốt hơn Ae albopictus
1.4.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Năm 2006, Vũ Đức Hương đã tiến hành điều tra bổ sung các chỉ số muỗi, bọ
gậy và thành phần ổ bọ gậy Ae aegypti ở 20 địa điểm thuộc 10 tỉnh và thành phố
Trang 29Kết quả cho thấy các chỉ số muỗi và bọ gậy của loài muỗi này còn cao, nhất là vùng đồng bằng ven biển Trong 20 địa điểm, 15 địa điểm (75%) có chỉ số Breatau lớn hơn 50; 3 địa điểm (6.66%) có chỉ số Breatau trên 200; 17 địa điểm (85%) có tỷ lệ dụng cụ bọ gậy lớn hơn 10%; 6 địa điểm (33,33%) có mật độ muỗi trên 1 con/nhà
Ở vùng đồng bằng ven biển Nam Bộ do thiếu nước sạch, số lượng dụng cụ chứa nước nhiều, trung bình từ 3,5 đến 6,5 cái/nhà Trong các vùng khác, số dụng cụ chứa nước trung bình từ 1-2,5 cái/nhà Ba loại ổ bọ gậy là lọ hoa, bát chống kiến, dụng cụ phế thải ở một số nơi chiếm xấp xỉ 50% tổng số dụng cụ chứa nước, cho
nên trong phòng chống véc tơ phải lưu ý cả ba loại ổ bọ gậy này [29]
Nghiên cứu về vai trò truyền bệnh của véc tơ SXHD tại Việt Nam của Vũ Sinh
Nam (1995) cho thấy, tất cả các ổ dịch SXHD đều có mặt Ae aegypti, chỉ có rất ít ổ dịch có hai loài, trong đó Ae albopictus chiếm tỷ lệ rất thấp Cũng trong nghiên cứu này, ở nhiều địa phương có sự lưu hành của Ae albopictus với mật độ cao trong
nhiều năm như Lào Cai, Cao Bằng, Phú Thọ, Hoà Bình, Hà Giang, Tuyên Quang
nhưng không có thông báo về SXHD tại các địa phương trên [14]
Mặc dù muỗi Ae albopictus được ghi nhận có mặt ở các địa phương trên khắp
cả nước, nhưng vai trò truyền bệnh SXHD của chúng tại Việt Nam hiện vẫn chưa
được làm rõ Điển hình là nghiên cứu về vai trò truyền bệnh SXHD của muỗi Ae albopictus của Trần Văn Tiến và cs tiến hành năm 2002-2003 ở 4 thực địa miền
Bắc là Hà Nội, Thanh Hóa, Phú Thọ và Hòa Bình nhưng chưa khẳng định được vai
trò truyền bệnh của Ae albopictus ở các địa phương này, mặc dù chúng phân bố
rộng rãi ở các địa phương nói trên Về ái tính, loài muỗi này có khả năng hút máu
đa thực trong đó 60% là máu người Phân lập vi rút từ muỗi Ae albopictus thực địa
cho thấy 100% các mẫu đều âm tính Tuy nhiên, do lượng muỗi được phân lập vi rút chưa đủ lớn, nên chưa thể kết luận chắc chắn về khả năng truyền vi rút Dengue
của loài muỗi này [33]
1.5 Tập tính của muỗi Aedes
1.5.1 Tập tính sinh sản
Sau khi tiêu máu, muỗi sẽ tìm nơi đẻ trứng Theo Alongkotponlawat (2005) hai
loài muỗi Ae aegypti và Ae albopictus có khả năng đẻ trứng phụ thuộc nhiều vào
Trang 30kích thước cơ thể, chiều dài của cánh Khi kích thước của cánh và độ rộng của cơ thể càng lớn thì khả năng sinh sản của 2 loài này càng tăng[34]
Đã có ghi nhận rằng, mỗi cá thể muỗi Ae aegypti đẻ trứng vào nhiều dụng cụ
chứa nước khác nhau trong một lần đẻ Tuy nhiên, bằng chứng gián tiếp thu thập được ở Thái Lan cho thấy tập tính này là không phổ biến Nơi đẻ của muỗi là những
ổ nước có thành cứng, màu sẫm, diện tích bề mặt nhỏ, có mức nước thường xuyên thay đổi và nước có nhiều chất hữu cơ là các dụng cụ chứa nước tự nhiên và nhân tạo không bị ô nhiễm ở ngoài nhà hoặc trong nhà như: chum, vại, bát nước kê chân chạn, bể nước, lọ hoa, chậu cây cảnh, chai, lọ, phuy chứa nước, hốc cây, lốp xe
hỏng Ổ bọ gậy Ae aegypti trong dụng cụ chứa nước sinh hoạt chiếm 84,4%,
dụng cụ có nước phế thải chiếm 15,19%; trong các bể cảnh, lọ hoa là 0,41% Tuy
nhiên, tỷ lệ phần trăm các dụng cụ có bọ gậy Ae aegypti có thể khác nhau tuỳ theo
mỗi địa phương, mỗi vùng, tuỳ theo trình độ vệ sinh, tập quán trữ nước và sử dụng nước ở vùng đó [35]
Ổ chứa bọ gậy Aedes chủ yếu là các vật chứa nước sạch do con người chủ động tạo ra để dự trữ nước phục vụ cho ăn uống và sinh hoạt rất ít gặp ở các loại ổ chứa khác Gần 1/2 số vật chứa này không có nắp đậy; số có nắp cũng chưa đạt yêu cầu do nắp đậy không kín và không được sử dụng thường xuyên Ðặc biệt trong mùa mưa, các vật chứa nước thường được mở nắp để hứng nước dự trữ nên tỷ lệ vật
chứa có nắp giảm nhiều tạo điều kiện cho muỗi Ae aegypti vào đẻ trứng và phát
triển
Nildimar (2006), trong công trình nghiên cứu của mình đã ghi nhận sự phát
triển của bọ gậy 2 loài Ae aegypti và Ae albopictus ở nơi các dụng cụ tích nước ở Brazil qua điều tra hàng tháng trong năm Kết quả cho thấy loài Ae albopictus có
thể hiện tập tính phát triển theo mùa và số lượng nhiều nhất vào mùa mưa trong khi
loài Ae aegypti không thể hiện rõ tập tính phát triển theo mùa mà chỉ thể hiện tập
tính ở nơi có chứa nước sạch Khi mực nước lên cao, độ pH thấp thì bọ gậy của cả hai loài này đều phát triển kém[36]
Lun (2007) cũng đã tiến hành nghiên cứu khả năng sống sót của bọ gậy muỗi
Ae aegypti và Ae albopictus trong điều kiện nhiệt độ thấp ở Đài Loan Khảo sát tại đây đã ghi nhận thấy loài muỗi Ae aegypti được phát hiện đầu tiên ở phía Bắc của
Đài Loan trước khi tìm thấy chúng ở khắp nơi trong đất liền Một trong những
Trang 31nguyên nhân có thể là do nhiệt độ thấp ở trong đất liền vào mùa đông đã ngăn cản
sự phát triển của loài này Thực hiện nghiên cứu trong phòng thì nghiệm ở nhiệt độ thấp với 2 véc tơ truyền bệnh SXHD cho thấy, ở nhiệt độ 10 0C thì bọ gậy tuổi 1 và
4 của loài Ae albopictus sống tốt hơn loài Ae aegypti, tuy nhiên ở nhiệt độ 2,50
C –
5 0C thì tuổi 1 của loài Ae albopictus sống tốt hơn loài Ae aegypti nhưng tuổi 4 của loài Ae aegypti sống tốt hơn loài Ae albopictus [37].
1.5.2 Tập tính hút máu và trú đậu của muỗi Aedes
Cũng giống như nhiều giống và loài muỗi khác, muỗi Aedes có sự khác nhau giữa con đực và con cái về đặc điểm dinh dưỡng Để sống và phát triển con cái phải hút máu; còn con đực không hút máu mà chỉ hút nước, nhựa cây hay dịch hoa quả
để tồn tại và phát triển
Muỗi Aedes cái trưởng thành hút máu lần đầu khoảng 48 giờ sau khi nở, giao phối và tiếp tục hút máu trong các chu kỳ sinh thực tiếp theo Quá trình sống
và phát triển của muỗi chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, gió,
mưa, ánh sáng đáng chú ý là nhiệt độ và độ ẩm Muỗi Aedes chỉ hút máu trong
Muỗi cái Ae aegypti có thể hút máu nhiều động vật khác nhau nhưng ưa hút
máu người nhất Có nhiều yếu tố thu hút muỗi cái đến với vật chủ như: nhiệt độ, độ
ẩm, các yếu tố hoá học, CO2 do vật chủ thải ra Muỗi Ae aegypti cái trưởng thành
hút máu lần đầu khoảng 48 giờ sau khi nở, đỉnh hoạt động hút máu là 2 đến 3 giờ sau bình minh, và nhiều giờ trước khi trời tối, và một đỉnh thứ ba vào gần trưa Muỗi đánh hơi người nhanh và sà vào là đốt ngay Muỗi thường hoạt động đốt người vào ban ngày Muỗi cái trưởng thành thường hút máu nhiều hơn một lần
Trang 32trong suốt một chu kỳ tiêu máu, và tỷ lệ hút máu nhiều lần có thể liên quan với kích thước cơ thể muỗi hoặc nhiệt độ môi trường xung quanh [38].
Sau khi hút máu, muỗi Aedes bay tìm chỗ đậu nghỉ để tiêu máu Ae aegypti
thường đậu nghỉ tiêu máu ở những nơi tối, trên quần áo có hơi người, màu sẫm, đôi khi còn đậu cả ở gầm giường, trên tường, cạnh và sau tủ, ban ngày muỗi thường
thay đổi vị trí đậu nghỉ liên tục Nhìn chung nơi hoạt động và trú ẩn của muỗi Ae aegypti là những nơi ẩm, tối và kín gió
Muỗi Ae albopictus thường đậu nghỉ tiêu máu ngoài nhà như trên thân, lá cây,
các dụng cụ, vật thể để ngoài nhà hay trên tường của chuồng trâu, bò, lợn, [38]
1.6 Phân bố muỗi Ae aegypti và Ae albopictus
1.6.1 Đặc điểm phân bố của muỗi Aedes
Muỗi Aedes phân bố ở những vùng nhiệt đới và ôn đới giữa 350
vĩ tuyến Bắc và
350 vĩ tuyến Nam Muỗi Aedes, có thể có mặt ở độ cao từ 0 đến 1200m [39]
Muỗi Aedes có khả năng phát tán chủ động và bị động Khả năng phát tán chủ động của Aedes rất thấp, chúng bay chậm, bay xa trong bán kính thường dưới 200m xung quanh ổ bọ gậy Thực tế muỗi chỉ sống quanh quẩn ở nơi gần ổ bọ gậy Tuy nhiên, đã có nghiên cứu cho thấy muỗi này có thể phát tán xa và rộng trong khoảng 800m và hơn nữa chủ yếu nhờ các phương tiện giao thông như: trứng và bọ gậy trong những bồn chứa nước, tàu bè, túi đựng nước của các du mục, những người hành hương…; muỗi trưởng thành bằng những phương tiện chuyên chở nhanh (xe
lửa, máy bay, tàu…) Khả năng bay xa của Ae aegypti và Ae albopictus tùy thuộc
vào điều kiện sinh thái, khí hậu như gió, độ ẩm, nhiệt độ, lượng mưa, địa hình, thảm thực vật, đặc điểm nhà ở, sinh thái và tập tính vật chủ Ngoài ra, muỗi Aedes có thể bay phát tán để tìm bạn tình, tìm máu vật chủ, màu sắc và tìm nơi đẻ trứng Muỗi phát tán xa và rộng do không có sẵn chỗ đậu nghỉ và nơi sinh sản, làm cho muỗi cái trưởng thành phải bay xa hơn tìm dụng cụ chứa nước để đẻ trứng, đây cũng là nguyên nhân làm lan truyền bệnh mà muỗi Aedes là véc tơ trên phạm vi rộng lớn hơn [35]
1.6.2 Phân bố của muỗi Aedes trên thế giới
Muỗi Aedes được tìm thấy ở khắp mọi nơi trên thế giới với hơn 1000 loài
Trong số những loài liên quan đến y học thì muỗi Ae aegypti được biết đến nhiều
Trang 33nhất bởi nó không chỉ là véc tơ truyền bệnh mà còn được dùng trong nghiên cứu
phòng thí nghiệm
Các tác giả đã thống kê được Ae aegypti phân bố ở 142 quốc gia Phân bố của
Ae albopictus hơn 70 quốc gia trên thế giới, Ở nửa đầu của thế kỷ 20, người ta đã tìm thấy Ae aegypti ở hầu hết các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới giữa vĩ tuyến 350
Bắc và vĩ tuyến 350
Nam cả châu Á, châu Mỹ và châu Phi Muỗi Ae aegypti phân
bố rộng ở Nam và Trung Mỹ, còn ở châu Á, trước chiến tranh thế giới thứ hai muỗi
có mật độ thấp và phạm vi hoạt động hẹp, nhưng càng về sau này muỗi càng mở rộng vùng phân bố ở nhiều nước thuộc châu Á và Tây Thái Bình Dương [40]
Ngày nay Ae aegypti và Ae albopictus phân bố rộng rãi ở hầu hết các nước
nhiệt đới và cận nhiệt đới, mặc dù hiếm thấy các quần thể muỗi này ở bên ngoài dải xích đạo nằm giữa vĩ tuyến 350
Bắc và 350 Nam
Phân bố địa lý của Ae aegypti và Ae albopictus có khả năng sẽ tiếp tục lan
rộng và sẽ xâm nhập vào các vùng trước đây chưa hề có loài muỗi này, dẫn tới nguy
cơ lan truyền bệnh SXHD trong các quần thể dân cư trước đây chưa từng bị bệnh SXHD
Ở Đông Nam Á tại những vùng bán khô hạn như Ấn Độ, Ae aegypti là véc tơ
truyền bệnh ở khu vực đô thị và các quần thể muỗi biến động rõ rệt theo lượng mưa
và thói quen dự trữ nước Tại các nước Đông Nam Á khác có lượng mưa hàng năm
lớn hơn 200mm, quần thể Ae aegypti và Ae albopictus ổn định hơn và có mặt ở các
khu vực đô thị, bán đô thị và thậm chí cả ở nông thôn Ở Indonesia, Myanma và Thái Lan, do tập quán dự trữ nước ở khu vực bán đô thị nên ở đây mật độ muỗi cao hơn ở khu vực đô thị Tình trạng đô thị hoá không có kế hoạch có xu hướng làm gia
tăng các sinh cảnh thích hợp cho muỗi Ae aegypti và Ae albopictus phát triển Ở một số thành phố có hệ thực vật phong phú, cả Ae aegypti và Ae albopictus cùng
có mặt, nhưng nói chung tuỳ thuộc vào sinh cảnh thích hợp cho sự phát triển của bọ
gậy và mức độ đô thị hoá của từng nơi Muỗi Ae aegypti vẫn thường chiếm ưu thế
ở vùng đô thị, tại Singapore chỉ số nhà có Ae aegypti cao nhất ở những khu nhà ổ chuột, các cửa hàng và những khu nhà cao tầng, trong khi đó Ae albopictus dường
như không liên quan đến tình trạng nhà ở nhưng lại xuất hiện nhiều ở những nơi
thoáng và có nhiều cây cối [40]
Trang 341.6.3 Phân bố của muỗi Aedes ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nhiệt đới, muỗi Ae aegypti và Ae albopictus phân bố
rộng ở các khu dân cư Hai loài muỗi này gặp ở hầu hết các thành phố, thị xã, thị trấn, vùng nông thôn và thậm chí cả vùng miền núi, cao nguyên Cũng như trên thế
giới, tình hình phân bố của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus ở Việt Nam cũng
thích hợp với vùng của SXHD
Ở Việt Nam, muỗi Aedes phân bố hình da báo trong 3 sinh cảnh: Chủ yếu tập trung ở thành phố, rồi đến các đồng bằng ven biển và các làng mạc gần đường giao thông Đó là những nơi có dân cư đông đúc, có nhiều dụng cụ chứa nước và các phương tiện giao thông thường xuyên qua lại Hiện nay kinh tế phát triển kéo theo (rác thải, vỏ bia, đồ hộp….) và việc đô thị hóa nhanh chóng nhưng không đồng bộ (cấp thoát nước chưa đầy đủ, vệ sinh môi trường kém), sự thờ ơ của một số người dân với giáo dục sức khỏe cho cộng đồng làm cho vùng phân bố của Aedes ngày càng mở rộng [41]
Ở miền Bắc Việt Nam cho đến trước năm 1984 mới chỉ tìm thấy muỗi Ae aegypti và Ae albopictus trong một số sinh địa cảnh thuộc vùng trung du và đồng
bằng có độ cao dưới 100m, đó là các thành phố, thị xã và các điểm dân cư đông đúc thuộc vùng đồng bằng ven biển hoặc trên các đầu mối giao thông thuỷ bộ như: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Nghệ An, Hòa Bình, Phú Thọ, Bắc Ninh, Quảng Ninh , Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam và Thanh Hoá, trong đó mật độ muỗi
Ae aegypti ở nội thành và nội thị tương đương với vùng đồng bằng ven biển và bao
giờ cũng cao hơn ở ngoại thành và ngoại thị Vùng nông thôn chỉ gặp muỗi ở các đầu mối giao thông thuỷ bộ
Ở Hà Nội, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về sự phân bố của 2 loài muỗi
Ae aegypti và Ae albopictus này Theo Phạm Văn Minh, trong năm 2011 ở Hà Nội
có chỉ số mật độ muỗi trung bình lớn hơn 0,2 con/nhà; chỉ số nhà có muỗi là 12,12%, so với 11 tỉnh/ thành phố ở toàn miền Bắc thì Hà Nội có chỉ số cao nhất vì
Hà Nội là địa bàn thành phố sự đô thị hóa diễn ra từ lâu, có nhiều điều kiện phù hợp
cho muỗi Aedes phát triển Ổ bọ gậy nguồn của Ae aegypti tại Hà Nội chủ yếu là
bể nước lớn hơn 500 lít và bể cảnh Năm 2009, Đỗ Thị Phương Bắc nghiên cứu phân bố của muỗi Aedes ở 3 quận huyện thuộc thành phố Hà Nội là Hoàng Mai,
Thanh Trì, Từ Liêm cho thấy có cả 2 loài Ae aegypti và Ae albopictus Tuy vậy, bọ
Trang 35gậy của Ae aegypti chỉ chiếm 24,72% so với tổng số bọ gậy bắt được của hai loài,
nhưng muỗi bắt được trú đậu, hút máu trong nhà ban ngày chiếm 66,30% so với
tổng số muỗi cả hai loài Tuy nhiên, bọ gậy loài Ae albopictus nhiều hơn loài Ae aegypti 2,4 lần (4750/1560), nhưng số muỗi trú đậu trong nhà hút máu thì loài Ae aegypti cao hơn Ae albopictus 1,9 lần (583/303) Điều đó phù hợp với đặc tính sinh thái của từng loài muỗi, loài Ae aegypti luôn trú đậu trong nhà, còn Ae albopictus
là loài muỗi hoang hại thích trú đậu ngoài nhà ở các bụi cây [42] Theo Vũ Trọng
Dược (2015), tỷ lệ phân bố của Ae albopictus tại các vùng dân cư không có ổ dịch
ở Hà Nội cao hơn Ae aegypti Ngược lại, tại hầu hết các ổ dịch cả ở nội thành, vùng đệm và ngoại thành mật độ muỗi Ae aegypti đều cao hơn Ae albopictus rất nhiều
lần [43]
1.7 Hóa chất diệt côn trùng và chiến lƣợc phòng chống muỗi kháng hóa chất diệt côn trùng
1.7.1 Hóa chất diệt côn trùng
1.7.1.1 Nhóm Clo hữu cơ
Nhóm hóa chất ra đời đầu tiên với các dẫn xuất clo của một số hợp chất hữu cơ như diphenyletan, cyclodien, benzen, hexan Nhóm này bao gồm những hợp chất hữu cơ rất bền vững trong môi trường tự nhiên và thời gian bán phân hủy dài nên ảnh hưởng môi trường, độc tính cao với côn trùng và động vật máu nóng Những hóa chất như Aldrin, Dieldrin, DDT, Heptachlo, Lindan, đã bị cấm sử dụng do gây
hại môi trường và sức khỏe con người
1.7.1.2 Nhóm Carbamat
Là nhóm hóa chất ra đời thứ 2 với các dẫn xuất hữu cơ của acid cacbamic, gồm những hóa chất ít bền vững hơn trong môi trường tự nhiên, song cũng có độc tính cao đối với người và động vật Khi sử dụng, chúng tác động trực tiếp vào men Cholinestraza của hệ thần kinh và có cơ chế gây độc giống như nhóm lân hữu cơ Nhóm carbamat bao gồm các hợp chất như izolan, dimetan, pyramat, pyrolan, do có
hiệu lực thấp và giá thành cao nên ít được sử dụng
Trang 361.7.1.3 Nhóm Phospho hữu cơ
Là nhóm hóa chất thứ 3 ra đời sau năm 1960 có phổ rộng tác dụng nhanh với cả hai phương thức tiếp xúc và xông hơi trong phòng chống côn trùng gây hại Nhóm Phospho hữu cơ ức chế cạnh tranh pseudocholinesterase và acetylcholinesterase, ngăn chặn sự thủy phân và bất hoạt acetylcholine (AChE) Acetylcholine tích lũy gây tê liệt hệ thống thần kinh của côn trùng Nhóm này cũng có độc tính cao với người, không bền vững trong môi trường như nhóm Clo và có mùi khó chịu nên
hiện nay chỉ được sử dụng ở mức hạn chế
1.7.1.4 Nhóm Pyrethroid
Là nhóm hóa chất thứ 4 ra đời từ năm 1970, đầu tiên là Pyrethrin chiết xuất từ hoa cúc Pyrethrum (Chrysanthemum cinerariaefolium) [44] Nhóm pyrethroid có nguồn gốc thực vật gồm allethrin (phân nhóm 1) có tác dụng diệt ruồi và muỗi nhưng không chịu được tác động của ánh sáng, tetramethrin, resmrthrin, phenothrin (phân nhóm 2), permethrin, fenvalerat (phân nhóm 3) có tác dụng diệt côn trùng mạnh, chịu được tác động của ánh sáng, cypermethrin, deltamethrin (phân nhóm 4) Ở côn trùng, hóa chất nhóm Pyrethroid tác động đến hệ thần kinh trung ương gây rối loạn sự dẫn truyền xung động của kênh natri dọc sợi trục của tế bào thần kinh côn trùng, ngăn cản và kìm hãm sự truyền xung động trong tế bào thần kinh Hiện nay, hóa chất thuộc nhóm pyrethroid sử dụng rộng rãi do an toàn với người và môi trường, tự hủy nhanh trong đất, có tác dụng diệt tốt với côn trùng
[45]
1.7.1.5 Nhóm Neonicotinod
Là nhóm hóa chất ra đời những năm 1980, hóa chất nicotine là một loại alkaloid trong lá cây thuốc lá; cơ chế của nhóm này tác động lên thần kinh, bao gồm các hóa chất acetamiprid,clothianidin, imidacloprid, nitenpyram, và hóa chất nithiazine, thiacloprid và thiamethoxam So với nhóm Phospho hữu cơ , nhóm
neonicotinoid có độc tính thấp hơn ở chim và động vật có vú [46] [47]
1.7.1.6 Nhóm ức chế sinh trưởng
Bên cạnh biện pháp phòng chống muỗi trưởng thành, nghiên cứu diệt ấu trùng muỗi truyền bệnh bằng độc tố các vi khuẩn, hóa chất hoặc chất điều hòa sinh trưởng
Trang 37đang được nhiều quốc gia và các chương trình nghiên cứu quan tâm Hóa chất ức chế sinh trưởng tác động vào sự phát triển cơ thể bọ gậy và muỗi gồm 2 nhóm ctheo đích tác động vào cơ thể muỗi: - Nhóm ức chế kitin ngăn chặn sự phát triển và lột xác của muỗi: gồm 11 hoạt chất thuộc phân nhóm Benzoylureas, tiêu biểu là Diflubenzuron - Nhóm ức chế sự phát triển hóc môn trẻ (Juvenile hormone) tác động lên muỗi trong 2 giai đoạn ngắn của thời kỳ sinh trưởng, đó là cuối của bọ gậy
và quăng ức chế quá trình lột xác: gồm 5 hoạt chất trong đó có Pyriproxyfen
1.7.7.7 Nhóm hóa chất bổ trợ, ức chế enzym kháng
Piperonyl Butoxide (PBO) là một dẫn xuất tổng hợp của benzodioxole và được sử dụng như một chất phối hợp với hóa chất diệt côn trùng [48] [49] PBO làm tăng cường tác dụng của hóa chất nhóm pyrethroid bằng cách giảm khả năng khử độc của các enzyme như hệ enzyme cytochrom P450 monooxygenase Do đó, PBO đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả của pyrethroid đối với
muỗi kháng hóa chất pyrethroid
1.7.2 Chiến lược phòng chống muỗi kháng hóa chất diệt côn trùng
Theo khuyến cáo của WHO (2016) và báo cáo WHO (2018) đánh giá toàn cầu
về kháng hóa chất phòng chống véc tơ sốt rét giai đoạn 2010- 2016, để kiểm soát muỗi kháng hóa chất, chiến lược sử dựng hóa chất cần thực hiện theo 3 nội dung cụ
thể [50] [51]
Sử dụng luân phiên nhiều nhóm hóa chất
Chiến lược này sử dụng luân phiên các hóa chất diệt côn trùng theo thời gian với các phương thức sử dụng khác nhau Tính kháng mới xuất hiện dự kiến sẽ cần thời gian để thiết lập trong quần thể, và tần suất của các thể kháng có thể giảm sau khi áp dụng luân phiên hóa chất diệt côn trùng Do đó, WHO (2016) khuyến cáo luân chuyển sử dụng hóa chất diệt côn trùng phải được thực hiện và có chiến lược
cụ thể [52]
Sử dụng xen kẽ các hóa chất
Một chiến lược khảm liên quan đến sự áp dụng xen kẽ của 2 hoặc nhiều loại hóa chất diệt côn trùng khác nhau Chiến lược này hiệu quả tốt hơn khi sự di chuyển
Trang 38của côn trùng trên các khu vực được xử lý khác nhau để giảm tần số của các alen kháng và chịu áp lực chọn lọc mạnh ở những khu vực được xử lý bằng hóa chất diệt thay thế [53] Một chiến lược khảm có thể là được sử dụng trong các khu vực khác
nhau trong một địa phương [52]
Sử dụng phối hợp nhiều nhóm hóa chất diệt
Phối hợp hóa chất diệt là việc sử dụng đồng thời hai hoặc nhiều nhóm hóa chất diệt Việc sử dụng phối hợp hóa chất diệt dựa trên giả thuyết rằng nếu xác suất phát triển kháng hoặc tần số alen kháng thấp thì các cá thể kháng sẽ rất hiếm [52] Từ quan điểm quản lý kháng hóa chất diệt côn trùng, việc sử dụng hóa chất nhóm khác với nhóm muỗi đã kháng hoặc sử dụng hỗn hợp các hoạt chất từ các nhóm khác nhau có thể thay thế tốt để kiểm soát quần thể muỗi kháng hóa chất Chương trình phòng chống sốt xuất huyết Dengue quốc gia của Việt Nam hiện nay vẫn khuyến cáo danh mục hóa chất đơn chất, cố định, do vậy sẽ khó khi kiểm soát muỗi Aedes kháng hóa chất Vì vậy, đánh giá hóa chất phối hợp nhóm mới và dạng mới sẽ có
thể giúp kiểm soát muỗi Aedes kháng hóa chất trong hiện tại và tương lai
1.8 Thông tin chung điểm nghiên cứu
Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hà Nội
là thành phố trực thuộc trung ương có diện tích lớn nhất cả nước từ khi tỉnh Hà Tây sáp nhập vào, đồng thời cũng là địa phương đứng thứ nhì về dân số với hơn 8 triệu người (năm 2019), tuy nhiên, nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố này năm 2019 là gần 10 triệu người Mật độ dân số của
Hà Nội là 2.398 người/km², mật độ giao thông là 105,2 xe/km² mặt đường Hiện
nay, Hà Nội là đô thị loại đặc biệt của Việt Nam [54]
Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, du lịch và khoa học của cả nước Tại Hà Nội mật độ dân số không đồng đều giữa các quận nội và ngoại thành Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 2505 người/km² Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa lên tới 35.341 người/km², trong khi đó, ở những huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, Ứng Hòa mật độ dưới 1.000 người/km²
Về cơ cấu dân số, theo số liệu 1 tháng 4 năm 1999, cư dân Hà Nội và Hà Tây chủ
yếu là người Kinh, chiếm tỷ lệ 99,1% [54]
Trang 39Hà Nội là nơi tập trung nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất, hàng vạn cơ sở sản xuất, nhà máy xí nghiệp, các làng nghề và trung tâm dịch vụ Bên cạnh đó tại
Hà Nội có hơn 100 trường đại học, cao đẳng, trung cấp và trung học chuyên nghiệp, trung tâm đào tạo của nước ngoài Vì vậy Hà Nội đã thu hút một lượng lớn người dân lao động ngoại tỉnh đến làm ăn, sinh sống, du lịch và học tập Tình trạng người
di cư tới Hà Nội để tìm kiếm việc làm đã góp phần bổ sung nguồn lực lao động cho thành phố, đặc biệt là thúc đẩy phát triển ngành kinh tế dịch vụ Ngoài ra họ tham gia vào phát triển khu vực phi kết cấu góp phần thoả mãn nhu cầu về các ngành nghề thủ công, lao động phổ thông mà nhà nước chưa bao quát được và cung cấp các mặt hàng lương thực, thực phẩm Tuy nhiên, tình trạng di dân tự do này đã dẫn tới những ảnh hưởng tiêu cực tới tình hình dịch bệnh tại Hà Nội nói chung và bệnh
sốt xuất huyết Dengue nói riêng
Trong 20 năm trở lại đây, Hà Nội ghi nhận nhiều vụ dịch SXHD lớn như năm
1998, nguyên nhân chính là vi rút Dengue 3 Năm 2009, số trường hợp mắc trên toàn miền Bắc là 18.485 trường hợp mắc, riêng Hà Nội là 16.090 trường hợp mắc chiếm 87% của toàn miền Bắc, ghi nhận 4 trường hợp tử vong Năm 2015, dịch SXHD lại được ghi nhận ở khu vực miền Bắc, Việt Nam với 16.913 ca mắc SXHD, trong đó 90% trường hợp bệnh chủ yếu tập trung tại Hà Nội với 15.412 trường hợp bệnh Vi rút Dengue tupe 1 và 2 là nguyên nhân chính gây ra vụ dịch này Từ năm
2000 - 2015, Hà Nội đã ghi nhận có đầy đủ cả 4 tupe vi rút Dengue lưu hành với tỷ
lệ 36,28%; 44,87%; 11,69%, và 7,16%, theo thứ tự D1- D4 Tỷ lệ phát hiện các ca dương tính đối với bệnh nhân nghi mắc SXHD thu thập tại Hà Nội giai đoạn sớm từ
1 - 5 ngày sốt chiếm 33,48% trong tổng số trường hợp mắc được xét nghiệm Tỷ lệ phát hiện các trường hợp dương tính đối với mẫu bệnh phẩm nghi mắc SXHD giai
đoạn từ 5 - 10 ngày sốt bằng kỹ thuật MAC -ELISA là 15,6% [55]
Bệnh SXHD do vi rút D1 được ghi nhận là căn nguyên chính gây ra vụ dịch SXHD tại Hà Nội năm 2009 và 2015 Trong giai đoạn 2003 - 2015, tổng số 413 bệnh phẩm được xác định dương tính với vi rút Dengue trong 1.164 mẫu nghi SXHD tại Hà Nội bằng xét nghiệm RT-PCR, trong số đó D1 được phát hiện với tỷ
lệ 36,8% (152 trường hợp)
Trang 40Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu 1: Xác định đặc điểm sinh học, sinh thái học của muỗi Aedes
aegypti và Aedes albopictus tại phòng thí nghiệm
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Muỗi, bọ gậy Ae aegypti và Ae albopictus tại điểm nghiên cứu
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 5/2020 đến tháng 10 năm 2021
- Địa điểm:
Tại phòng thí nghiệm: Phòng thí nghiệm Khoa Côn trùng, Viện Sốt rét – Ký
sinh trùng – Côn trùng Trung ương
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu
a) Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu phòng thí nghiệm
b) Cỡ mẫu nghiên cứu
Tất cả mẫu muỗi, quăng, bọ gậy Aedes thu thập được tại thực địa
c) Phương pháp chọn mẫu
Tại phòng thí nghiệm: Bọ gậy được nuôi để xác định đặc điểm sinh học Phòng nuôi được cách ly với khu vực có hóa chất Bọ gậy và muỗi được nuôi trong các phòng riêng Phòng nuôi được duy trì nhiệt độ 26±20C, độ ẩm 80±10%
d) Nội dung nghiên cứu
Xác định đặc điểm sinh học của muỗi Ae aegypti và Ae albopictus
e) Phương pháp xác định biến số và đo lường biến số
- Xác định khả năng sinh sản của muỗi Aedes
- Xác định thời gian sống của muỗi Aedes
f) Phiếu thu thập số liệu
Phiếu ghi thông tin
g) Các chỉ số đánh giá
- Chu kỳ vòng đời của muỗi
- Tỷ lệ nở của trứng và ấu trùng
- Khả năng sinh sản của muỗi
- Thời gian sống của muỗi