1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài giảng Quản trị kinh doanh (Dành cho sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh – Tài chính ngân hàng)

101 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Giảng Quản Trị Kinh Doanh
Trường học Trường Đại Học Công Nghiệp Quảng Ninh
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh – Tài Chính Ngân Hàng
Thể loại bài giảng
Năm xuất bản 2019
Thành phố Quảng Ninh
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Quản trị kinh doanh (Dành cho sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh – Tài chính ngân hàng) cung cấp cho học viên những nội dung về: cơ sở khoa học của quản trị kinh doanh; quản trị hoạt động thương mại; quản trị nhân lực; chính sách bán chịu của doanh nghiệp;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH

BỘ MÔN QUẢN TRỊ KINH DOANH - KHOA KINH TẾ

BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ KINH DOANH

(Bài giảng Đại học chuyên ngành Quản trị kinh doanh – Tài chính ngân hàng)

(LƯU HÀNH NỘI BỘ)

Quảng Ninh tháng 8/2019

Trang 2

MỤC LỤC

Chương 1 Cơ sở khoa học của quản trị kinh doanh……… …

1.1 Kinh doanh và doanh nghiệp………

1.1.1 Kinh doanh và môi trường kinh doanh………

1.1.2 Doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp……….…

1.1.3 Quản trị, quản lý, lãnh đạo và QTKD………

1.2 Các quy luật trong QTKD……… …………

1.3 Các nguyên tắc QTKD……….……

1.4 Các phương pháp QTKD………

1.5 Nghệ thuật QTKD………

Chương 2 Quản trị hoạt động thương mại………

2.1 Khái niệm về thương mại và các lĩnh vực thương mại dịch vụ………

2.1.1 Khái niệm về thương mại………

2.1.2 Các lĩnh vực thương mại dịch vụ………

2.1.3 Nhận diện thị trường và đưa ra đối sách kinh doanh………

2.2 Hoạt động thương mại trong nền kinh tế thị trường………

2.2.1 Hoạt động thương mại và các đặc trưng của nó………

2.2.2 Vai trò của hoạt động thương mại………

2.2.3 Thương mại trong cơ chế thị trường………

2.3 Quảng cáo

2.4 Bán hàng

Chương 3 Quản trị nhân lực………

3.1 Khái niệm về quản trị nhân lực………

3.2 Quản trị lao động trong doanh nghiệp………

3.2.1 Khái niệm về lao động, tổ chức lao động………

3.2.2 Tổ chức sản xuất, nơi làm việc, ca làm việc………

3.3 Quản trị tiền lương trong doanh nghiệp………

3.3.1 Khái niệm và ý nghĩa của tiền lương………

3.3.2 Các nguyên tắc trả lương………

3.3.3 Chế độ cấp bậc tiền lương………

3.3.4 Các hình thức trả lương………

3.3.5 Tiền thưởng………

Chương 4 Chính sách bán chịu của doanh nghiệp………

4.1 Sự cần thiết của bán chịu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp………

4.2 Quản trị chính sách bán chịu………

4.2.1 Một số khái niệm liên quan………

4.2.2 Tiêu chuẩn bán chịu………

4.2.3 Điều khoản bán chịu………

4.2.4 Ảnh hưởng của rủi ro bán chịu………

4.3 Đánh giá chính sách bán chịu của doanh nghiệp………

Trang 3

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN T RỊ KINH DOANH

1.1 KINH DOANH VÀ DOANH NGHIỆP

1.1.1 Kinh doanh và mụi trường kinh doanh

a Khỏi niệm Kinh doanh

Có nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau về kinh doanh

Kinh doanh là hoạt động của cỏ nhõn hoặc tổ chức nhằm mục đớnh đạt lợi nhuận qua một loạt cỏc hoạt động như:

Ngoài ra cũn cú cỏc khỏi niệm khỏc về kinh doanh như sau:

- Kinh doanh là việc dựng cụng sức và tiền của để tổ chức cỏc hoạt động nhằm mục đớch kiếm lời trờn thị trường

- Kinh doanh là việc bỏ ra một số vốn ban đầu vào hoạt động trờn thị trường để thu lại một số vốn lớn hơn sau một khoảng thời gian nào đấy

- Theo Luật doanh nghiệp của Quốc hội nước cộng hũa xó hội chủ nghĩa Việt Nam số 60 ngày 29 thỏng 11 năm 2005 Kinh doanh là việc thực hiện liờn tục một, một

số hoặc tất cả cỏc cụng đoạn của quỏ trỡnh đầu tư, từ sản xuất đến tiờu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trờn thị trường nhằm mục đớch sinh lợi

Kinh doanh là một trong những hoạt động phong phỳ nhất của loài người Hoạt động kinh doanh thường được thụng qua cỏc thể chế kinh doanh như tập đoàn, cụng

ty nhưng cũng cú thể là hoạt động tự thõn của cỏc cỏ nhõn như sản xuất-buụn bỏn nhỏ kiểu hộ gia đỡnh

Để đỏnh giỏ cỏc hoạt động kinh doanh, người ta cú nhiều chỉ tiờu khỏc nhau như doanh thu, tăng trưởng, lợi nhuận biờn, lợi nhuận rũng,

Trang 4

Kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh

tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ ) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất

Kinh doanh được phân biệt với các hoạt động khác bởi các đặc điểm chủ yếu sau:

- Kinh doanh phải do một chủ thể thực hiện được gọi là chủ thể kinh doanh Chủ thể kinh doanh có thể là các cá nhân, các hộ gia đình, các doanh nghiệp

- Kinh doanh phải gắn với thị trường Thị trường và kinh doanh đi liền với nhau như hình với bóng - không có thị trường thì không có khái niệm kinh doanh

- Kinh doanh phải gắn với sự vận động của đồng vốn Chủ thể kinh doanh không chỉ có vốn mà còn cần phải biết cách thực hiện vận động đồng vốn đó không ngừng Nếu gạt bỏ nguồn gốc bóc lột trong công thức tư bản của C.Mác, có thể xem công thức này là công thức kinh doanh: T-H-SX…-H’-T’: Chủ thể kinh doanh dùng vốn của mình dưới hình thức tiền tệ (T) mua những tư liệu sản xuất (H) để sản xuất (SX) ra những hàng hoá (H’) theo nhu cầu của thị trường rồi đem những hàng hoá này bán cho khách hàng trên thị trường nhằm thu được số lượng tiền tệ lớn hơn số vốn đã bỏ ra (T’)

- Mục đích chủ yếu của kinh doanh là sinh lời-lợi nhuận khi T’ lớn hơn T

b Quản trị kinh doanh

Quản trị kinh doanh là việc thực hiện quản lý một hoạt động kinh doanh Nó bao

gồm tất cả các khía cạnh của việc giám thị và giám sát hoạt động kinh doanh và những lĩnh vực liên quan bao gồm kế toán, tài chính và tiếp thị

Quản trị kinh doanh bao gồm việc thực hiện hoặc quản lý hoạt động kinh doanh và

ra quyết định cũng như tổ chức hiệu quả con người và các nguồn lực khác để chỉ đạo các hoạt động hướng tới các mục tiêu chung

c Môi trường kinh doanh

Một doanh nghiệp không thể khép kín mà phải có môi trường tồn tại nhất định Doanh nghiệp hoạt động trong hệ thống các môi trường xung quang nó Môi trường vừa

là thông tin vừa là lợi nhuận cũng vừa là thách thức cho doanh nghiệp

* Khái niệm

Môi trường kinh doanh được hiểu là tổng thể các yếu tố, các nhân tố (bên trong và bên ngoài) vận động tương tác lẫn nhau, tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Từ quan niệm này có thể coi môi trường kinh doanh là giới hạn không gian mà ở đó doanh nghiệp tồn tại và phát triển Sự tồn tại và

Trang 5

phát triển của bất kỳ doanh nghiệp nào bao giờ cũng là quá trình vận động không ngừng trong môi trường kinh doanh thường xuyên biến động

Mọi doanh nghiệp nước ta hoạt động trong cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc tính này quy định tính chất hoạt động của các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức pháp lý Trong quá trình hội nhập và phát triển, môi trường kinh doanh sẽ ngày càng vượt qua khuôn khổ nền kinh tế quốc dân để hoà nhập vào môi trường khu vực và môi trường quốc tế Không gian càng rộng bao nhiêu thì các yếu tố môi trường càng dễ biến động bấy nhiêu Cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á lan ra khắp toàn cầu những năm 1997-1999 là một ví dụ điển hình về sự biến động và tác động liên hoàn của môi trường đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp phải vận động và phát triển trong môi trường kinh doanh biến động không ngừng Nhiệm vụ của các nhà quản trị là lái con thuyền doanh nghiệp vượt qua các biến động khi dữ dội, lúc êm đềm của môi trường ngày càng được toàn cầu hoá,

để đưa doanh nghiệp ngày càng phát triển

* Sự tác động qua lại giữa môi trường và doanh nghiệp

- Tác động của môi trường đến doanh nghiệp

Môi trường có thể gây ra những tác động tiêu cực hoặc thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp Một mặt, những ràng buộc của môi trường đè nặng lên doanh nghiệp

Vì vậy, cần phải có khả năng thích ứng, nếu không thì hoạt động của doanh nghiệp bị sa sút, thậm chí còn bị phá sản Mặt khác, môi trường cũng tạo ra những thuận lợi cho doanh nghiệp nếu biết nắm lấy chúng

- Tác động trở lại của doanh nghiệp lên môi trường

Doanh nghiệp tác động vào cuộc sống của địa phương thông qua việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, đóng góp những khoản thuế Doanh nghiệp làm ô nhiễm hoặc cải thiện môi trường sinh thái tuỳ theo ý thức cộng đồng trong xã hội

1.1.2 Doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp

a Doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh, thực hiện các chức năng sản xuất, mua bán hàng hoá hoặc làm dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu con người và xã hội đồng thời thông qua hoạt động hữu ích đó mà kiếm lời

Theo Luật doanh nghiệp của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

số 60 ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng,

có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp

Trang 6

luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi

Bên cạnh khái niệm về doanh nghiệp trên thì còn một số khái niệm sau:

- Doanh nghiệp là “một tổ chức sản xuất”, bao gồm các thành viên làm việc với phương pháp tốt nhất để sản xuất các hàng hoá và dịch vụ: Đó là các kỹ sư, các cố vấn

về tổ chức, các kỹ thuật viên…

- Doanh nghiệp là một tế bào cơ bản của hệ thống kinh tế quốc dân mỗi nước Sự phồn vinh phát triển của một quốc gia phụ thuộc phần lớn vào kết quả hoạt động của các doanh nghiệp

- Doanh nghiệp là một trong những chủ thể kinh doanh chủ yếu của nền kinh tế có quy mô và vai trò to lớn so với việc kinh doanh của các cá nhân

- Có tác giả cho rằng: “Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”

- Theo viện thống kê và nghiên cứu kinh tế của Pháp cho rằng: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, chức năng chính của nó là sản xuất ra của cải vật chất hoặc dịch vụ

- Doanh nghiệp là một tổ chức sống, theo nghĩa từ lúc thực hiện ý đồ, suy giảm hoặc tăng trưởng, các bước thăng trầm, phát triển hoặc diệt vong

b Phân loại doanh nghiệp

* Căn cứ vào hình thức sở hữu, các loại hình DN gồm:

1 Công ty TNHH nhiều thành viên:

- Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng không quá 50

- Phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi vốn góp

Trang 7

- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần

- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào DN

- Cổ đông có quyền tự chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ cổ đông nắm cổ phần ưu đãi và cổ đông sáng lập trong 3 năm đầu

4 Doanh nghiệp tư nhân

- Do một cá nhân làm chủ

- Tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN

5 Doanh nghiệp Nhà nước

Là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ hoặc có cổ phẩn vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức Công ty Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty TNHH

* Căn cứ vào quy mô DN chia thành:

- Tổng số vốn đầu tư của doanh nghiệp

- Số lượng lao động của doanh nghiệp

- Doanh thu của doanh nghiệp

- Lợi nhuận hàng năm

Tuy nhiên, khi lượng hóa các tiêu chuẩn nói trên thì tùy thuộc vào trình độ phát triển sản xuất ở mỗi quốc gia, tùy thuộc từng ngành cụ thể, ở các thời kỳ khác nhau mà

số lượng được lượng hóa theo từng tiêu chuẩn giữa các quốc gia không giống nhau

* Căn cứ theo lĩnh vực hoạt động SXKD, DN chia thành:

Trang 8

- DN nông nghiệp: Là những DN hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, hướng vào việc sản xuất ra những sản phẩm là cây, con Hoạt động sản xuất kinh doanh của những DN này phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên

- DN công nghiệp: Là những DN hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, nhằm tạo

ra những sản phẩm bằng cách sử dụng những thiết bị máy móc để khai thác hoặc chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩm Trong công nghiệp có thể chia ra: công nghiệp xây dựng, công nghiệp chế tạo, công nghiệp điện tử,…

- DN thương mại: Là những DN hoạt động trong lĩnh vực thương mại, hướng vào việc khai thác các dịch vụ trong khâu phân phối hàng hóa cho người tiêu dùng tức là thực hiện những dịch vụ mua vào và bán ra để kiếm lời Doanh nghiệp thương mại có thể tổ chức dưới hình thức buôn bán sỉ hoặc buôn bán lẻ và hoạt động của nó có thể hướng vào xuất nhập khẩu

- DN hoạt động dịch vụ: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, lĩnh vực dịch vụ càng được phát tiển đa dạng, những doanh nghiệp trong ngành dịch vụ đã không ngừng phát triển nhanh chóng về mặt số lượng và doanh thu mà cong ở tính đa dạng và phong phú của lĩnh vực này như: ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, vận tải,

sự, quản trị Marketing, quản trị sản xuất, quản trị vật tư,

Một định nghĩa được giải thích tương đối rõ nét về quản trị được James Stoner và Stephen Robbins trình bày như sau: “ Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo

và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức, đồng thời sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.”

Ngoài ra còn có rất nhiều quan niệm về quản trị:

- Quản trị là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của những người khác; quản trị là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức;

- Quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong một môi trường luôn luôn biến động;

Trang 9

- Quản trị là một quá trình nhằm đạt đến các mục tiêu đề ra bằng việc phối hợp hữu hiệu các nguồn lực của doanh nghiệp; theo quan điểm hệ thống, quản trị còn là việc thực hiện những hoạt động trong mỗi tổ chức một cách có ý thức và liên tục Quản trị trong một doanh nghiệp tồn tại trong một hệ thống bao gồm các khâu, các phần, các bộ phận

có mối liên hệ khăng khít với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và thúc đẩy nhau phát triển

Nhiều người cùng làm việc với nhau trong một nhóm để đạt tới một mục đích nào

đó, cũng giống như các vai mà các diễn viên đảm nhiệm trong một vở kịch, dù các vai trò này là do họ tự vạch ra, là những vai trò ngẫu nhiên hoặc tình cờ, hay là những vai trò đã được xác định và được sắp đặt bởi một người nào đó, nhưng họ đều biết chắc rằng mọi người đều đóng góp theo một cách riêng vào sự nỗ lực của nhóm

* Bản chất của quản trị

Mục tiêu của quản trị là tạo ra giá trị thặng dư tức tìm ra phương thức thích hợp để thực hiện công việc nhằm đạt hiệu quả cao nhất với chi phí các nguồn lực ít nhất Nói chung, quản trị là một quá trình phức tạp mà các nhà quản trị phải tiến hành nhiều hoạt động từ khâu đầu đến khâu cuối của một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thực chất của quản trị là quản trị các yếu tố đầu vào, quá trình sản xuất các yếu tố đầu ra theo chu trình quá trình hoạt động của một tổ chức, một doanh nghiệp

Những quan niệm trên cho dù có khác nhau về cách diễn đạt, nhưng nhìn chung đều thống nhất ở chỗ quản trị phải bao gồm ba yếu tố (điều kiện):

Thứ nhất: Phải có chủ thể quản trị là tác nhân tạo ra tác động quản trị và một đối

tượng quản trị tiếp Đối tượng bị quản trị phải tiếp nhận sự tác động đó Tác động có thể chỉ một lần và cũng có thể nhiều lần

Thứ hai: Phải có một mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng Mục tiêu này là

căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động Sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị được thực hiện trong một môi trường luôn luôn biến động Về thuật ngữ chủ thể quản trị, có thể hiểu chủ thể quản trị bao gồm một người hoặc nhiều người, còn đối tượng quản trị là một tổ chức, một tập thể con người, hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết

bị đất đai, thông tin )

Thứ ba: Phải có một nguồn lực để chủ thể quản trị khai thác và vận dụng trong quá

trình quản trị

b Quản lý

Quản lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, mọi thời đại

Trang 10

Thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một khái niệm thống nhất Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều khái niệm quản lý từ các góc độ khác nhau:

F.W.Taylo (1856-1915), người đề xuất thuyết “Quản lý khoa học” cho rằng: Quản

lý là biết được điều bạn muốn người khác làm, và sau đó thấy được họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất Hoạt động quản lý ở bất kỳ tổ chức nào cũng đều

có các hoạt động cơ bản liên quan đến các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra trên cơ sở thu thập và xử lý thông tin

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “ Quản lý là quá trình gây tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung”

Tác giả Trần Hồng Quân cũng nhấn mạnh: “ Quản lý là hoạt động có định hướng,

có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” Những quan niệm về quản lý của các tác giả trên tuy có khác nhau về cách tiếp cận nhưng đều thể hiện một số điểm chung nhất về quản lý như sau:

- Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung

– Hiệu quả quản lý phụ thuộc vào các yếu tố: Chủ thể, khách thể, mục tiêu, phương pháp, công cụ quản lý

Cấu trúc hệ thống quản lý có thể biểu diễn qua sơ đồ đơn giản sau:

Công tác quản lý là một trong năm tác nhân của sự phát triển kinh tế – xã hội: vốn, tài nguyên, nguồn lao động, khoa học kỹ thuật và quản lý Trong 5 tác nhân này, quản lý có vai trò mang tính quyết định đến sự thành công hay thất bại Những người làm công tác quản lý phải là những người hội tụ đầy đủ kiến thức chuyên môn, phẩm chất và được trang bị kiến thức khoa học quản lý, xác lập được mục tiêu rõ ràng và có

Chủ thể quản lý

Đối tượng quản lý

Mục tiêu quản lý Xác định

Thực hiện

Trang 11

bản lĩnh, quyết tâm điều hành toàn bộ hệ thống tổ chức của mình đi tới đích bằng hệ thống các biện pháp quản lý

* Phân biệt quản trị và quản lý

Quá trình Quản lý quyết định ai và như thế nào Quản trị quyết định trả lời cho câu

hỏi cái gì và bao giờ

Chức

năng

Quản lý có chức năng thi hành bởi vì người quản lý hoàn thành công việc của mình dưới sự giám sát nhất định

Quản trị có chức năng tư duy bởi vì các kế hoạch và chính sách được quyết định dựa theo các tư duy này

Quản trị bị ảnh hưởng bởi quan điểm cộng đồng, chính phủ, các tổ chức tôn giáo, hoặc phong tục

Tình

trạng

Quản lý chi phối người lao động của

tổ chức, những người được trả thù lao (theo hình thức lương)

Quản trị đại diện cho chủ sở hữu của doanh nghiệp, những người mà thu lại lợi nhuận họ đã đầu tư theo hình thức cổ tức

Lãnh đạo là một quá trình ảnh hưởng mang tính xã hội trong đó lãnh đạo tìm kiếm

sự tham gia tự nguyện của cấp dưới nhằm đạt mục tiêu của tổ chức[1] Lãnh đạo là quá trình sử dụng và phối hợp hoạt động của các cá nhân trong tổ chức bằng cách gây ảnh hưởng và dẫn đắt hành vi của cá nhân hay nhóm người nhằm hướng tới mục tiêu của tổ

Trang 12

chức Lãnh đạo là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong khoa học về tổ chức - nhân sự

Lãnh đạo là "tổ chức một nhóm người để đạt mục tiêu chung" Người lãnh đạo có thể có hoặc không có quyền lực đặc biệt Những nhà nghiên cứu về lãnh đạo đã đưa ra những lý thuyết bao gồm những đặc điểm, những sự tác động qua lại do các yếu tố bên ngoài, chức năng, ứng xử, tầm nhìn và giá trị, uy tín, và trí thông minh, cùng với nhiều thứ khác Người mà mọi người sẽ tuân theo phải có khả năng hướng dẫn hoặc định hướng cho người khác

tầm quan trọng của lãnh đạo

- thúc đẩy họat động của từng cá nhân, tạo sự phối hợp các nỗ lực của từng cá nhân => nâng cao hiệu quả họat động của tổ chức;

- tạo động lực làm việc cho các cá nhân;

- Xây dựng các giá trị văn hóa phù hợp trong tổ chức nhằm tạo ra môi trường làm

việc tốt cho nhân viên;

- Kiểm soát và định hướng hành vi của nhân viên trong tổ chức nhằm đạt mục tiêu

của tổ chức

* Phân biệt lãnh đạo và quản lý

Đôi khi chúng ta đang đánh đồng lãnh đạo và quản lý với nhau Nhiều người cho rằng, 1 người quản lý một hoặc một vài người khác thì họ là những người lãnh đạo Trên thực tế thì không phải như vậy Lãnh đạo và quản lý khác nhau ở tầm nhìn và sứ mệnh của họ

- Lãnh đạo là người có tầm nhìn chiến lược, còn quản lý là người có tầm nhìn chiến thuật hay nói một cách dễ hiểu Người lãnh đạo là người có tầm nhìn, họ hoạch định chiến lược (đưa ra các quyết định quan trọng) Còn quản lý là người thực dẫn dắt đội nhóm sử dụng chiến thuật để hoàn thành chiến lược, và kế hoạch của người lãnh đạo (thực hiện các quyết định của lãnh đạo)

- Người lãnh đạo sử dụng tầm ảnh hưởng để quản lý và dẫn dắt người khác Còn quản lý sử dụng kỷ luật, và quy định để dẫn dắt mọi người (người quản lý xử lý các công việc day-to-day, đảm bảo cho bộ máy hoạt động trơn tru)

- Cần lưu ý thêm rằng, gianh giới của lãnh đạo và quản lý là vô cùng mong manh Đôi khi 1 người vừa là quản lý vừa là người lãnh đạo Họ có thể là lãnh đạo trong trường hợp này nhưng lại là quản lý trong trường hợp khác

ở Việt Nam cũng có phân biệt giữa lãnh đạo và quản lý, theo mô hình “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý” Nhưng đi vào chi tiết hơn, thì những người đáng nhẽ phải là

Trang 13

lãnh đạo (ví dụ viện trưởng một viện nghiên cứu) thì lại thành quản lý, còn người đáng nhẽ làm chức năng quản lý (ví dụ trưởng phòng tổ chức) thì có khi lại thành lãnh đạo Tức là các chức năng quản lý và lãnh đạo nhiều khi bị đảo lộn, và một bộ máy như vậy

sẽ không có hiệu quả cao

1.2 CÁC QUy LUẬT TRONG QTKD

Kinh doanh cũng giống như mọi hoạt động khác, nó chỉ có thể thực hiện thành công nếu nhận biết được và tuân thủ đúng các yêu cầu của các quy luật khách quan có liên quan đến quá trình kinh doanh Giống như việc đun nước ở trên mặt đất phải tới 100

độ C thì nước mới sôi, đây là một đòi hỏi khách quan không ngoại trừ ai dù họ là cấp bậc gì trong xã hội

1.2.1- Tổng quan về quy luật

có diễn biến đột xuất của thời tiết v.v )

Mọi sự vật và hiện tượng đều do các quy luật khách quan chi phối Do vậy, khi xem xét quy luật, điều quan trọng là phải tính đến điều kiện của nó Chẳng hạn đun nước đến 1000C là sôi, đó là ở điều kiện dưới mặt đất, còn đưa lên cao thì cứ lên cao 1km so với mặt đất thì thị độ sôi lại giảm xuống 10C Cũng như vậy, các nhà kinh điển nói chủ nghĩa xã hội có một quy luật kinh tế cơ bản là “không ngừng nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở phát triển sản xuất khi đã ở chặng cuối cùng của chủ nghĩa xã hội”, nhưng

do quên mất điều kiện đó, do chủ quan thiếu suy xét, nhiều người lại cho rằng quy luật

đó có ngay từ khi bắt đầu đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội và họ đã bị thất bại Đôi khi

họ đã bị lẫn lộn giữa mục tiêu và quy luật Hoặc trong vấn đề tham nhũng, khi ý thức cách mạng trong con người cao và khi đời sống kinh tế chưa phát triển lắm thì chưa trở thành vấn đề, nhưng khi đã có cuộc sống đầy đủ tiện nghi, nhiều tiền bạc, vị thế chính quyền lớn và phẩm chất suy thoái thì tham nhũng mới có đất để hoành hành và mới trở thành vấn đề

b Đặc điểm của các quy luật

Trang 14

Quy luật do con người gọi tên ra, nhưng không phải do con người tạo ra Nó có điều kiện khách quan của nó và nó chỉ được sinh ra khi xuất hiện đầy đủ điều kiện

- Con người không thể tạo ra quy luật nếu điều kiện các quy luật đó chưa có Ngược lại, khi điều kiện của quy luật xuất hiện hoặc quy luật vẫn tồn tại thì con người không thể xoá bỏ quy luật được

- Các quy luật tồn tại và hoạt động khách quan ngoài ý muốn của con người

- Các quy luật tồn tại và đan xen vào nhau tạo thành một thể thống nhất

Các quy luật có nhiều loại: Kinh tế công nghệ, tự nhiên, tâm lý con người, quốc gia, quốc tế luôn luôn chi phối và chế ngự nhau

c Cơ chế sử dụng các quy luật

- Phải nhận biết được quy luật, quá trình nhận thức quy luật bao gồm hai giai đoạn: nhận biết qua các hiện tượng thực tiễn và qua các phân tích bằng khoa học và lý luận Đây là một quá trình tuỳ thuộc vào trình độ mẫn cảm, nhạy bén của con người

- Tổ chức các điều kiện chủ quan của tổ chức để cho xuất hiện các điều kiện khách quan, nhờ đó quy luật phát sinh tác dụng

Chẳng hạn để cho các quy luật của thị trường như quy luật cạnh tranh, quy luật cung - cầu - giá phát huy tác dụng thì các cơ quan quản lý vĩ mô như vật giá, tài chính, ngân hàng phải soát lại các chức năng của mình để tạo điều kiện môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp phát huy tác dụng

- Tổ chức thu thập các thông tin sai lệch do việc không tuân thủ theo các đòi hỏi của các quy luật khách quan gây ra để kịp thời sử lý

Ví dụ: Quan sát số lượng người theo học hoặc chạy chọt vào một nghề nào đó trong xã hội để biết được ngành nghề đó đang có vấn đề hoặc nó rất hiệu quả được nhiều người ưa thích, hoặc nó có nhiều sơ hở nên có nhiều khoản thu nhập cao và bất minh

Như vậy, cơ chế quản trị hình thành và đổi mới gắn liền với quá trình nhận thức

và vận dụng các quy luật khách quan Nhận thức càng đầy đủ và đúng đắn hệ thống quy luật khách quan thì việc đổi mới quản trị càng có cơ sở khoa học Quản trị theo quy luật đòi hỏi phải chú ý một số vấn đề sau:

- Nhận rõ thực trạng của các tổ chức với tư cách là đối tượng của quản trị

- Phân tích, đúc kết nhằm nhận thức ngày càng đầy đủ hệ thống quy luật khách quan mang tính lịch sử, cụ thể đang tác động và ảnh hưởng đến hoạt động của các tổ chức

Trang 15

- Tìm tòi, sáng tạo ra những biện pháp, hình thức cụ thể, sinh động nhằm vận dụng các quy luật khách quan trong thực tiễn quản trị

Hoạt động quản trị chịu sự tác động của những quy luật nào? Với trình độ hiểu biết hiện nay, khoa học chưa có câu trả lời hoàn toàn đầy đủ, cụ thể cho câu hỏi này Nhưng khoa học cũng có thể đưa ra những chỉ dẫn để người quản trị hoạt động cơ bản không trái với các quy luật khách quan, hoặc tránh được những xu hướng ngược chiều với sự vận động tất yếu của khách thể quản trị Quan hệ quản trị là quan hệ đa dạng, đa diện, phức tạp bao gồm các quan hệ thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nên trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều bộ môn khoa học Vì vậy, hoạt động quản trị cũng chịu

sự tác động cảu nhiều loại quy luật về tổ chức – xã hội đến các quy luật kỹ thuật – công nghệ, từ các quy luật tự nhiên đến các quy luật tâm sinh lý của con người, trong đó quy luật kinh tế có vị trí quan trọng hàng đầu

Trong điều kiện đổi mới tư duy, nhận thức lại chủ nghĩa xã hội và nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, việc nhận thức và vận dụng quy luật trong quản trị là công việc phức tạp Sẽ là sai lầm nếu nhận thức quy luật chỉ dựa vào kiến thức sách vở đã có,

mà không gắn chặt giữa kiến thức đã có với thực tiễn, lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn của chân lý Nhận thức và vận dụng quy luật phải từ thực tế sản xuất kinh doanh và vận dụng quy luật cũng phải bằng những hình thức, phương tiện của thực tiễn phát triển kinh

tế – xã hội, do cuộc sống sáng tạo ra và kiểm nghiệm tính đúng đắn của nó

d Phân loại các quy luật trong kinh doanh

- Các quy luật kinh tế: quy luật cạnh tranh, quy luật tăng lợi nhuận, quy luật kích thích sức mua giả tạo, quy luật cung - cầu - giá

- Các quy luật hỗn hợp: quy luật của người mua, quy luật về chí tiến thủ của các doanh nghiệp,

- Các quy luật tâm lý,…

1.2.2 Một số quy luật trong quản trị kinh doanh

a Quy luật cạnh tranh

Đòi hỏi các chủ doanh nghiệp phải luôn luôn vươn lên giành giật lấy toàn bộ hoặc một mảng nào đó của thị trường để tồn tại, tăng trưởng và phát triển

Quá trình cạnh tranh thường được sử dụng tổng hợp bằng nhiều phương pháp và thủ đoạn:

- Bằng khoa học công nghệ, để tạo ra sản phẩm tốt với giá rẻ nhất (biểu hiện của quy luật giá trị)

- Bằng quan hệ hành chính, quân sự thông qua các ưu đãi của chính quyền hành chính để lũng đoạn mảng thị trường chiếm lĩnh (ví dụ, việc cấm vận kinh tế của các cường quốc kinh tế v.v )

Trang 16

- Bằng yếu tố bất ngờ (đa dạng hoá sản phẩm, tung ra thị trường các sản phẩm mới, lợi dụng các sơ hở của đối phương để tạo các thắng lợi chớp nhoáng v.v )

- Bằng các thủ đoạn bất minh: hàng giả, trốn thuế, đánh lừa khách hàng, bắt chẹt khách hàng

- Bằng các biện pháp liên kết kinh doanh góp nhiều doanh nghiệp nhỏ thành thế lực mạnh

- Bằng yếu tố vốn lớn và kéo dài thời gian để chấp nhận chịu lỗ mặt hàng này, giai đoạn này để kiếm lãi ở mặt hàng khác, giai đoạn khác khi đã tạo ra được lợi thế v.v

b Quy luật tăng lợi nhuận

Để thực hiện quy luật này các nhà kinh doanh phải sử dụng các giải pháp kỹ thuật, quản lý và giá cả

Các giải pháp đổi mới kỹ thuật đã được sử dụng phổ cập trong cạnh tranh Còn các giải pháp quản lý nhằm loại bỏ sơ hở, yếu kém trong quá trình tổ chức và vận hành

doanh nghiệp nhờ đó hạ giá thành sản phẩm tạo ra

Các giải pháp về giá là các giải pháp đa dạng hoá các biểu giá bán (bán lẻ, bán buôn, bán buôn trả tiền một lúc, bán buôn trả tiền sau v.v ) và tăng giá bán trong khuôn khổ được thị trường chấp nhận để thu được tổng mức lợi nhuận cho mỗi chu kỳ sản xuất (tháng, quý, năm) lớn nhất

Đồ thị 1.1 Quan hệ giữa giá bán và số lượng sản phẩm bán

Trang 17

Đồ thị 1.1 chỉ rõ: Khi bán sản phẩm với giá g thì số lượng sản phẩm bán được là

Q (điểm A); khi tăng giá lên g + Δg thì số lượng sản phẩm giảm chỉ còn Q-ΔQ (điểm B với: ΔQ > 0) Tương quan % giữa mức tăng giá và mức giảm số lượng bán (cầu) được gọi là hệ số co giãn giữa cầu và giá, được tính bằng công thức:

Q g Q g

g g Q

Công thức (1-1) chỉ rõ, khi tăng giá lên 1% thì cầu giảm xuống Hcg %

Giải pháp tăng giá chỉ có nghĩa khi hệ số co giãn giữa cầu và giá Hcg < 1

c Quy luật kích thích sức mua giả tạo

Đó là các biện pháp tăng cường các hoạt động chiêu thị (Promotion) để nâng sức mua của khách hàng lên, hoặc sử dụng biện pháp ngừng bán hoặc bán hàng nhỏ giọt trong một thời gian ngắn để gây ấn tượng thiếu hàng làm cho khách hàng nảy sinh tư tưởng phải có dự trữ

d Quy luật cung - cầu - giá cả

Quy luật cung – cầu – giá là một quy luật kinh tế của nền kinh tế hàng hóa, nó được xây dựng trên các tiền đề sau:

- Cầu là một đại lượng thường ty lệ nghịch với giá

- Cung là một đại lượng ty lệ thuận với giá

- Khi cầu lớn hơn cung thì giá cả lớn hơn giá trị và ngược lại

Quy luật này đòi hỏi các chủ doanh nghiệp phải nắm được điểm cân bằng kinh tế

để có đối sách kinh doanh thích hợp

Trang 18

Nhờ các giải pháp này, số sản phẩm của phía sản xuất trong chu kỳ thứ 2 được bán hết

Đồ thị 2.2: Điểm cân bằng kinh tế

Quá trình chi phối giữa cung - cầu - giá cả cứ tiếp tục mãi và đến cuối cùng kết thúc ở điểm I (điểm cân bằng kinh tế), là điểm ở đó thị trường có mức cung bằng mức cầu và giá cả hợp lý cho cả hai bên cung và cầu nên đã tiêu thụ hết số lượng sản phẩm đưa ra thị trường Q1.

e Quy luật của người mua

- Người mua mua một sản phẩm nào đó cho mình, là do sản phẩm đó phù hợp với trí tưởng tượng của họ Nói một cách khác, người mua là "thượng đế" do đó, người bán chỉ nên bán cái thị trường cần hơn là cái mà mình có

- Người mua đòi hỏi người bán phải quan tâm tới lợi ích của họ, phải có trách nhiệm với họ cả sau khi bán, tức là trong kinh doanh phải giữ được chữ tín và phải có hoạt động bảo hành sau khi bán

- Người mua mong muốn mua được những sản phẩm có chất lượng với giá hợp

lý, tạo dáng đẹp, độ bền sử dụng cao và cách bán thuận tiện, tức là đã kinh doanh thì phải chấp nhận cạnh tranh

- Người mua thường không mua hết sản phẩm của người bán, cho nên trong kinh doanh các hoạt động chiêu thị (Promotion) là cần thiết v.v

Trang 19

f Quy luật về ý chí tiến thủ của chủ doanh nghiệp nhà nước

Ý chí tiến thủ của chủ doanh nghiệp được diễn biến theo thời gian gồm hai loại: loại bảo thủ (đường cong 1 - đồ thị 2.3) và loại hãnh tiến (đường cong 2 - đồ thị 2.3)

Đồ thị 2.3

Đồ thị 2.3: Quy luËt ý chÝ tiÕn thñ cña chñ doanh nghiÖp

Trong hình vẽ các giai đoạn đầu của đường cong biểu thị ý chí tiến thủ của doanh nghiệp nhà nước(1) (thể hiện ở quyết tâm cao độ trong quá trình làm giàu và tạo lập uy tín tiếng tăm trên thương trường) là trùng nhau Khi họ mới nhận trọng trách làm thủ trưởng, họ thường có quyết tâm cao độ, có cường độ làm việc lớn để mong đem lại sự thành đạt cho doanh nghiệp, để chứng minh vị trí họ đảm nhiệm là hợp lý, họ xứng đáng nhất trong việc ngồi ở vị trí đó (giai đoạn 1 của chu kỳ ý chí tiến thủ) Giai đoạn này thường kéo dài từ 6 tháng đến 1 năm

Giai đoạn 2 của chu kỳ ý chí tiến thủ, chủ doanh nghiệp vẫn giữ được mức quyết tâm, cộng thêm kinh nghiệm và thành quả đạt được ở giai đoạn 1, họ gặt hái các kết quả khả quan, giai đoạn này thường kéo dài từ 2 - 5 năm

Giai đoạn 3 của chu kỳ ý chí tiến thủ, doanh nghiệp gặt hái kết quả ở mức tối đa

họ điều hành doanh nghiệp một cách vững chãi, đầy kinh nghiệm nhưng đã bắt đầu có

xu hướng trì trệ, giai đoạn này thường kéo dài từ 3 - 5 năm

Giai đoạn 4 của chu kỳ ý chí tiến thủ được tách thành 2 nhánh (của hai đường cong)

- Nhánh (1) giành cho những người có tham vọng lớn, họ bắt đầu chuyển sang một giai đoạn mới của sự nghiệp kinh doanh, hoặc bắt đầu tham dự các hoạt động nhằm giành giật vị thế xã hội Nếu nhân cách kém cỏi, họ thường ưa thích cuộc sống hưởng

1

2

ý chÝ tiÕn thñ

Thêi gian

(1) H·nh tiÕn

(2) B¶o thñ Chu kú ý chÝ tiÕn thñ

Trang 20

lạc; thích được người khác tâng bốc, tôn thờ cuộc sống hưởng lạc vật chất và dám vi phạm các điều cấm kỵ của luật pháp, của thông lệ xã hộ và thương trường

- Nhánh (2) thỏa mãn một mặt do tích lũy cho bản thân đã khá, họ thường hoạt động theo kiểu quán tính, sự nghiệp bắt đầu đi xuống và tiếp tục kinh doanh nữa chỉ gánh lấy thất bại

1.3 CÁC NGUyÊN TẮC QTKD

1.3.1 Khái niệm

Những nguyên tắc quản trị kinh doanh là các quy tắc chỉ đạo những tiêu chuẩn hành vi mà doanh nghiệp và các nhà quản lý phải tuân thủ trong quá trình quản trị kinh doanh

Những nguyên tắc quản trị kinh doanh được hình thành trên các căn cứ:

- Mục tiêu cuối cùng sau mỗi chu kỳ kinh doanh (1 năm, 1 nhiệm kỳ quản lý )

- Các ràng buộc của môi trường vĩ mô (xã hội, quốc tế, bạn hàng, khách hàng, đối thủ cạnh tranh )

- Đòi hỏi của các quy luật khách quan

- Thực trạng và xu thế phát triển của doanh nghiệp

1.3.2 Yêu cầu và vị trí của các nguyên tắc quản trị kinh doanh

a Yêu cầu

Các nguyên tắc quản trị do con người đặt ra nhưng không phải do sự suy nghĩ chủ quan mà phải tuân thủ các đòi hỏi của các quy luật khách quan như:

- Nguyên tắc phải thể hiện được yêu cầu của các quy luật khách quan

- Các nguyên tắc phải phù hợp với mục tiêu của quản trị

- Các nguyên tắc phải phản ánh đúng đắn tính chất và các quan hệ quản trị

- Các nguyên tắc quản trị phải đảm bảo tính hệ thống, tính nhất quán và phải được đảm bảo bằng tính cưỡng chế

b Vị trí

Hoạt động quản trị có liên quan đến một loạt quy luật về kinh tế, tự nhiên, xã hội tác động trong một hệ thống chỉnh thể Người nghiên cứu có thể xem xét từng quy luật, từng nhóm quy luật, song đó chỉ là bước phân tích nhằm nhận thức bản chất từng mặt trong sự trừu tượng hóa các mặt khác của sự vật Nghiên cứu vận dụng lại phải tái tạo sự vật trong chỉnh thể làm cho sự vật sống động hơn, làm nổi bật vai trò của từng

Trang 21

quy luật trong mối tác động qua lại với các quy luật khác Sự xác lập và sử dụng cơ chế vận dụng quy luật trong hoạt động quản trị là phù hợp với đòi hỏi nhận thức và vận dụng quy luật trong chỉnh thể nhằm mô hình hóa sự nhận thức và vận dụng đó Đó cũng chính

là cơ sở khoa học để xác lập hệ thống nguyên tắc, mô hình nguyên tắc, cũng tức là quan niệm xây dựng và đổi mới hệ thống quản trị Như vậy, nguyên tắc đóng vai trò kim chỉ nam đối với lý luận và chính sách để tìm ra những hình thức, phương pháp cụ thể và đặc thù của quản trị

1.3.3 Các nguyên tắc quản trị kinh doanh cơ bản

Việc tổ chức và quản trị tổ chức chỉ đạt hiệu quả cao khi nhận thức và vận dụng được các quy luật Các quy luật này được thể hiện cụ thể trong quá trình điều hành và quản trị bằng các nguyên tắc quản trị Do đó có thể hiểu: các nguyên tắc quản trị là các nguyên tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành vi mà chủ doanh nghiệp phải tuân theo trong quá trình kinh doanh

1 Tuân thủ luật pháp và thông lệ kinh doanh

Luật pháp là những ràng buộc của Nhà nước và các cơ quan quản lý vĩ mô đối với doanh nghiệp Sự ràng buộc đó yêu cầu các doanh nghiệp phải kinh doanh theo định hướng của sự phát triển xã hội Các nhà quản trị cần phải hiểu biết và kinh doanh đúng luật pháp nếu không sẽ bị xử lý bằng các biện pháp hành chính và kinh tế Ngoài việc tuân thủ những quy định của pháp luật về hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp còn phải kinh doanh cho phù hợp với thông lệ của xã hội

2 Phải xuất phát từ khách hàng

Kinh doanh theo cơ chế thị trường ngày nay, kết quả cuối cùng tùy thuộc gần như quyết định vào người mua, mọi chủ doanh nghiệp phải tạo cho mình một khối lượng khách hàng cần có để tồn tại và phát triển

Nguyên tắc này là căn cứ để hình thành chiến lược Marketing của mỗi doanh nghiệp (bao gồm cả bốn nội dung; sản phẩm (product), giá cả (price), phân phối (place)

và chiêu thị (promotion) và các nội dung quản lý của doanh nghiệp (vốn, lao động, công nghệ, thị trường, văn hoá doanh nghiệp)

Nguyên tắc này cũng đòi hỏi điều kiện phải nắm vững vòng đời của mỗi sản phẩm

để luôn luôn đổi mới chiến lược sản phẩm, thích nghi được với thị trường luôn biến động

3 Hiệu quả và tiết kiệm

Nguyên tắc này đòi hỏi mọi hoạt động của doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu đề ra một cách thiết thực và an toàn, thể hiện ở các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cao:

Trang 22

4 Chuyên môn hoá

Là nguyên tắc đòi hỏi việc quản lý các doanh nghiệp phải được những người có chuyên môn, được đào tạo, có kinh nghiệm và tay nghề theo đúng vị trí trong guồng máy sản xuất và quản lý của doanh nghiệp thực hiện Đây là cơ sở của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Một mặt, những người hoạt động trong guồng máy doanh nghiệp phải nắm vững chuyên môn nghề nghiệp ở vị trí công tác của mình, mặt khác họ phải ý thức được mối quan hệ của họ với những người khác và bộ phận khác thuộc guồng máy chung của doanh nghiệp

5 Kết hợp hài hoà các loại lợi ích

Đòi hỏi các chủ doanh nghiệp phải xử lý thỏa đáng mối quan hệ biện chứng hữu

cơ giữa các lợi ích có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, bao gồm:

- Lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp, phải bảo đảm đủ động lực cho

họ sống và làm việc, nhờ đó gắn bó họ một cách văn minh và chặt chẽ trong doanh nghiệp

- Lợi ích của khách hàng, đó là những người mua sản phẩm của doanh nghiệp cùng với các yêu cầu về sản phẩm của doanh nghiệp và cách phục vụ của doanh nghiệp

- Lợi ích của nhà nước và xã hội, đó là nghĩa vụ về thuế và các ràng buộc pháp luật khác mà doanh nghiệp phải thực hiện là các thông lệ xã hội (môi sinh, môi trường, nghĩa vụ cộng đồng v.v ) mà doanh nghiệp phải tuân thủ

- Lợi ích của các bạn hàng, đó là những cá nhân và đơn vị tham gia cung ứng một phần hoặc toàn bộ các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Họ phải được giải quyết thỏa đáng các lợi ích của mình khi thực hiện mối quan hệ làm ăn với doanh nghiệp, nếu không họ sẽ cắt quan hệ với doanh nghiệp để quan hệ với các doanh nghiệp khác

Trang 23

6 Luôn luôn bị giám sát, biết dấu ý đồ

Đó là nguyên tắc đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn luôn biến dấu kín ý đồ và tiềm năng kinh doanh của mình Quá trình kinh doanh là quá trình phát triển và tiến tới chiếm lĩnh thị trường, điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm mọi giải pháp sáng tạo độc đáo nhất, cho sự thành đạt của mình, đó cũng là quá trình bị các đối thủ cạnh tranh và các cơ quan luật pháp giám sát, và vì thế các doanh nghiệp phải biết che dấu ý đồ cũng như tiềm năng của mình một cách có lợi nhất

7 Biết tận dụng thời cơ và môi trường kinh doanh

Mọi doanh nghiệp dù có quy mô và tiềm năng lớn tới đâu đều có những mặt hạn chế và có các điểm yếu nhất định Do vậy, đòi hỏi các chủ doanh nghiệp phải biết tận dụng thời cơ và môi trường kinh doanh để giành lấy hiệu quả

Phải biết khai thác thông tin có lợi từ mọi nguồn, đặc biệt là thông tin về công nghệ mới và sự biến động trong chính sách quản lý, mà doanh nghiệp phải gánh chịu do các nhà chức trách dự định đưa ra để kịp thời xử lý thỏa đáng

Đây là mối quan hệ giữa thế và lực của doanh nghiệp Lực là tiềm năng của doanh nghiệp, còn thế là mối quan hệ của doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh, thông qua các yếu tố nằm ngoài doanh nghiệp để nắm bắt và khai thác có hiệu quả

1.4 CÁC PHƯƠNG PHÁP QTKD

Các mục tiêu quản trị kinh doanh, các quy luật kinh doanh và các nguyên tắc quản trị kinh doanh đã giúp cho chủ doanh nghiệp trả lời được câu hỏi “phải làm gì?”, một câu hỏi tiếp theo quan trọng hơn nhiều mà các doanh nghiệp cần phải giải đáp là “làm cái đó như thế nào?” Để trả lời được câu hỏi này, chủ doanh nghiệp cần có các phương pháp và nghệ thuật quản trị kinh doanh thích hợp

Sơ đồ 1: Mối quan hệ giữa mục tiêu, phương pháp và nguyên tắc QTKD

Trang 24

1.4.1 Khái niệm

Các phương pháp quản trị kinh doanh là tổng thể những cách thức có thể có và có chủ đích của chủ thể quản trị tác động lên đối tượng quản trị (cấp dưới và tiềm năng của doanh nghiệp) và khách thể kinh doanh (khách hàng, các ràng buộc của môi trường quản trị vĩ mô, các đối thủ cạnh tranh, các bạn hàng) nhằm hoàn thành các mục tiêu kinh doanh đã đề ra trong điều kiện môi trường kinh doanh thực tế

Phương pháp quản trị có vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý Quá trình quản

lý là quá trình thực hiện những chức năng quản trị theo những nguyên tắc Những nguyên tắc đó chỉ được vận dụng và thể hiện thông qua các phương pháp quản trị nhất định Vì vậy, vận dụng các phương pháp quản trị là nội dung cơ bản của quản trị kinh doanh Mục tiêu nhiệm vụ của quản trị được thực hiện thông qua tác động của các phương pháp quản trị kinh doanh Mục tiêu, nhiệm vụ của quản trị kinh doanh được thực hiện thông qua tác động của các phương pháp quản trị kinh doanh Trong những điều kiện nhất định, phương pháp quản trị có tác động quan trọng đến sự thành công hay thất bại của việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ Vai trò quan trọng của các phương pháp quản trị còn ở chỗ nó nhằm khơi dậy những động lực, kích thích tính năng động, sáng tạo của con người và tiềm năng hệ thống, cũng như các cơ hội có lợi bên ngoài

Phương pháp quản trị kinh doanh là biểu hiện cụ thể của mối quan hệ qua lại giữa chủ thể với đối tượng và khách thể kinh doanh Tức là mối quan hệ giữa những con người cụ thể với tất cả sự phức tạp của cuộc sống Vì vậy, các phương pháp quản trị kinh doanh mang tính chất hết sức đa dạng và phong phú Đó là vấn đề cần phải lưu ý đặc biệt trong kinh doanh vì nó là bộ phận năng động nhất của hệ thống quản trị Phương pháp quản trị kinh doanh thường xuyên thay đổi trong từng tình huống cụ thể tuỳ thuộc vào đặc điểm đối tượng cũng như năng lực và kinh nghiệm của chủ doanh nghiệp

Tác động của phương pháp quản trị luôn luôn là tác động có mục đích, nhằm phối hợp hoạt động, bảo đảm sự thống nhất của doanh nghiệp Vì vậy, mục tiêu kinh doanh quyết định việc lựa chọn phương pháp quản trị kinh doanh Trong quá trình quản trị phải luôn luôn điều chỉnh các phương pháp nhằm đạt được mục đích tốt nhất Chủ doanh nghiệp có quyền lựa chọn phương pháp quản trị, nhưng không có nghĩa là chủ quan, tùy tiện, muốn sử dụng lại tạo ra một cơ chế tác động mang tính khách quan vốn có của nó Bên cạnh những yếu tố tích cực, phù hợp với mục tiêu dự đoán ban đầu còn có những yếu tố không phù hợp, thậm chí trái ngược với mục tiêu đặt ra Điều đó đòi hỏi chủ doanh nghiệp phải tỉnh táo, sâu sát thực tế, kịp thời có biện pháp bổ sung để khắc phục các mặt tiêu cực khi chúng xuất hiện

Trang 25

Như vậy, sử dụng các phương pháp quản trị vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật Tính khoa học đòi hỏi phải nắm vững đối tượng và những đặc điểm vốn có của nó, để tác động trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan phù hợp với đối tượng đó Tính nghệ thuật biểu hiện ở chỗ biết lựa chọn và kết hợp các phương pháp trong thực tiễn để sử dụng tốt tiềm năng doanh nghiệp để đạt mục tiêu kinh doanh đề ra Quản trị có hiệu quả nhất khi biết lựa chọn đúng đắn và kết hợp linh hoạt các phương pháp quản trị Đó chính là tài nghệ quản trị của các nhà quản trị

Để nắm vững những tác dụng đa dạng, phong phú của các phương pháp quản trị cần phân loại chúng và đi sâu nghiên cứu từng phương pháp

Tuỳ thuộc tiêu chuẩn phân loại và mục đích nghiên cứu mà có nhiều cách phân loại đối với phương pháp quản trị Theo cách phân loại phổ biến, căn cứ vào nội dung và cơ chế hoạt động quản trị các phương pháp quản trị được chia thành:

- Các phương pháp quản trị nội bộ doanh nghiệp

- Các phương pháp tác động lên khách hàng

- Các phương pháp quan hệ với cơ quan quản lý vĩ mô

- Các phương pháp cạnh tranh với các đối thủ

- Các phương pháp quan hệ với bạn hàng

- Các phương pháp lôi kéo người ngoài doanh nghiệp

1.4.2 Các phương pháp quản trị nội bộ doanh nghiệp

a Các phương pháp tác động lên con người

* Phương pháp hành chính

Các phương pháp hành chính tác động vào đối tượng quản lý dựa vào các mối quan hệ tổ chức của hệ thống quản lý và kỷ luật của doanh nghiệp Đó là mối quan hệ giữa uy quyền và phục tùng

Các phương pháp hành chính trong quản trị kinh doanh là các cách tác động trực tiếp chủ thể quản trị lên tập thể những người lao động dưới quyền bằng các quyết định dứt khoát mang tính bắt buộc Mọi người trong doanh nghiệp phải chấp hành một cách nghiêm chỉnh, nếu không sẽ bị sử lý kịp thời, thích đáng không có sự lựa chọn

Vai trò của các phương pháp hành chính trong quản trị kinh doanh rất to lớn Nó xác lập trật tự kỷ cương làm việc trong doanh nghiệp Là khâu nối các phương pháp quản trị khác lại Phương pháp hành chính giải quyết các vấn đề đặt ra trong doanh nghiệp rất nhanh chóng Tác động hành chính có hiệu lực ngay từ khi ban hành quyết định Vì vậy, các phương pháp hành chính hết sức cần thiết trong những trường hợp hệ thống bị rơi vào những tình huống khó khăn phức tạp

Trang 26

Các phương pháp hành chính tác động vào đối tượng quản trị theo hai hướng là: Tác động về mặt tổ chức và tác động điều chỉnh hành động của đối tượng quản trị

- Theo hướng tác động về mặt tổ chức: Chủ doanh nghiệp ban hành các văn bản quy định về quy mô, cơ cấu, điều lệ hoạt động, tiêu chuẩn nhằm thiết lập tổ chức, xác định những mối quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp

- Theo hướng tác động điều chỉnh hành động của đối tượng quản trị Chủ doanh nghiệp đưa ra những chỉ thị, mệnh lệnh hành chính bắt buộc cấp dưới thực hiện những nhiệm vụ nhất định hoặc hoạt động theo những phương hướng nhất định nhằm bảo đảm cho các bộ phận trong hệ thống ăn khớp với nhau và đúng hướng, uốn nắn những lệch lạc

Để các phương pháp hành chính phát huy tác dụng của nó, cần nắm vững các yêu cầu sau:

- Các quyết định hành chính phải có căn cứ khoa học và được luận chứng đầy đủ

về mặt kinh tế Khi đưa ra một quyết định hành chính phải cân nhắc, tính toán đến các lợi ích kinh tế Tất nhiên, các quyết định hành chính tập trung thường được tính toán xuất phát từ việc kết hợp hợp lý các loại lợi ích Ngoài ra quyết định phải hiểu rõ tình hình thực tế, nắm vững tình huống cụ thể Cho nên, khi đưa ra quyết định hành chính, nên cố gắng có đủ những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định Chủ doanh nghiệp chỉ ra quyết định trên cơ sở đảm bảo thông tin Tập hợp đủ thông tin, tính toán đầy đủ đến các lợi ích và các khía cạnh tiêu tực có thể diễn ra khi quyết định được thi hành Từ

đó sẵn sàng bổ sung các biện pháp phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực nếu có

- Khi sử dụng các phương pháp hành chính phải gắn chặt quyền hạn và trách nhiệm của người đưa ra quyết định Mỗi bộ phận, mỗi cán bộ khi sử dụng quyền hạn của mình phải có trách nhiệm về việc sử dụng các quyền hạn đó Cụ thể, người có quyền ra quyết định phải chịu trách nhiệm về hậu quả của quyết định Nếu quyết định sai thì tùy mức độ để xử lý người ra quyết định (trách nhiệm vật chất, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự) Đối với những quyết định được lựa chọn Chỉ người có thẩm quyền ra quyết định mới có quyền thay đổi quyết định

- Các phương pháp hành chính đòi hỏi chủ doanh nghiệp phải có quyết định dứt khoát, rõ ràng, dễ hiểu có địa chỉ người thực hiện, loại trừ khả năng có sự giải thích khác nhau đối với nhiệm vụ được giao

Cần phân biệt các phương pháp hành chính với kiểu quản ký hành chính quan liêu

do lạm dụng các kỷ luật hành chính, sử dụng mệnh lệnh hành chính thiếu cơ sở khoa học, theo ý muốn chủ quan Thường những mệnh lệnh kiểu đó gây ra nhiều tổn thất cho doanh nghiệp, hạn chế sức sáng tạo của người lao động Đó cũng là nhược điểm của phương pháp hành chính Cán bộ quản lý và cơ quan quản lý nếu thiếu tỉnh táo, say sưa với mệnh lệnh đều phải chịu trách nhiệm, chống việc lạm dụng quyền hành nhưng không có trách nhiệm, cũng như chông hiện tượng trốn tránh trách nhiệm, không chịu sử dụng những quyền hạn được phép sử dụng và phải chịu trách nhiệm

Trang 27

Tóm lại, các phương pháp hành chính là hoàn toàn cần thiết, không có phương pháp hành chính thì không thể quản trị kinh doanh có hiệu quả Điều đó cũng tương tự như việc quản lý một đất nước mà không có luật pháp thì không làm sao có thể quản lý nổi

* Phương pháp kinh tế

Các phương pháp kinh tế tác động vào đối tượng quản trị thông qua các lợi ích kinh tế, để cho đối tượng quản trị tự lựa chọn phương cách hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ

Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của con người đều tuân theo các quy luật kinh tế khách quan Sự chi phối của các quy luật đối với hoạt động của con người đều thông qua lợi ích kinh tế Các phương pháp kinh tế tác động thông qua các lợi ích kinh

tế, nghĩa là thông qua sự vận động các phạm trù kinh tế, các đòn bẩy kích thích kinh tế, các định mức kinh tế - kỹ thuật Đó thực chất là sự vận dụng các quy luật kinh tế

Vì vậy thực chất của các phương pháp kinh tế là đặt mỗi người lao động, mỗi tập thể lao động vào những điều kiện kinh tế để họ có khả năng kết hợp đúng đắn lợi ích của mình với lợi ích của doanh nghiệp Điều đó cho phép người lao động lựa chọn con đường có hiệu quả nhất để thực hiện nhiệm vụ của mình

Đặc điểm của các phương pháp kinh tế là tác động lên đối tượng quản trị không bằng cưỡng bức hành chính mà bằng lợi ích, tức là mục tiêu nhiệm vụ phải đạt được, đưa ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những phương tiện vật chất có thể huy động để thực hiện nhiệm vụ Chính tập thể lao động (với tư cách là đối tượng quản trị)

vì lợi ích thiết thân, phải tự xác định và lựa chọn phương án giải quyết vấn đề Đồng thời khi sử dụng các phương pháp kinh tế, chủ thể quản trị phải biết tạo ra những tình huống, những điều kiện để lợi ích cá nhân và tập thể lao động phù hợp với lợi ích chung của doanh nghiệp và Nhà nước

Các phương pháp kinh tế tạo ra sự quan tâm vật chất thiết thân của đối tượng quản trị, chứa đựng nhiều yếu tố kích thích kinh tế, cho nên tác động nhạy bén, linh hoạt, phát huy được tính chủ động sáng tạo của người lao động và tập thể lao động Với một biện pháp kinh tế đúng đắn, các lợi ích được thực hiện thoả đáng thì tập thể con người trong doanh nghiệp quan tâm hoàn thành nhiệm vụ, người lao động hăng hái sản xuất và nhiệm vụ chung được giải quyết nhanh chóng, có hiệu quả Các phương pháp kinh tế là các phương pháp quản trị tốt nhất để thực hành tiết kiệm và nâng cao hiệu quả kinh tế Thực tế đã chỉ ra rằng, khoán là biện pháp tốt để nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, nâng cao thu nhập cho người lao động

Các phương pháp kinh tế mở rộng quyền hành động cho các cá nhân và cấp dưới, đồng thời cũng tăng trách nhiệm kinh tế của họ Điều đó giúp chủ doanh nghiệp giảm được nhiều việc điều hành, kiểm tra, đôn đốc chi ly, vụn vặt mang tính chất sự vụ hành chính, nâng cao ý thức kỷ luật tự giác của người lao động Việc sử dụng phương pháp kinh tế luôn luôn được chủ doanh nghiệp định hướng, nhằm thực hiện các nhiệm vụ kế

Trang 28

hoạch, các mục tiêu kinh tế của từng thời kỳ Nhưng đây không phải là nhiệm vụ gò ép mệnh lệnh chủ quan mà là những mục tiêu, nhiệm vụ có căn cứ khoa học và cơ sở chủ động Chủ doanh nghiệp tác động vào đối tượng bằng các phương pháp kinh tế theo những hướng sau:

- Định hướng phát triển doanh nghiệp bằng các mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp, bằng những chỉ tiêu cụ thể theo thời, tong phân hệ của doanh nghiệp

- Sử dụng các định mức kinh tế, các biện pháp đòn bẩy kinh tế, kích thích kinh tế

để lôi cuốn, thu hút, khuyến khích người lao động phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

- Bằng chế độ thưởng phạt vật chất, trách nhiệm kinh tế chặt chẽ để điều chỉnh hoạt động của các cá nhân, đơn vị Xác lập trật tự kỷ cương, chế độ trách nhiệm cho mọi

bộ phận, mọi đơn vị cho đến từng người lao động trong doanh nghiệp

Ngày nay, xu hướng chung của các nước là mở rộng việc áp dụng các phương pháp kinh tế Để thực hiện các phương pháp kinh tế có hiệu quả, cần chú ý một số vấn

đề sau:

- Việc áp dụng phương pháp kinh tế luôn luôn gắn liền với việc sử dụng các đòn bẩy kinh tế như giá cả, lợi nhuận, tín dụng, lãi suất, tiền lương… Nói chung, việc sử dụng các phương pháp kinh tế có liên quan chặt chẽ đến việc sử dụng các quan hệ hàng hoá - tiền tệ Để nâng cao hiệu quả sử dụng các phương pháp kinh tế, phải hoàn thiện hệ thống các đòn bẩy kinh tế, nâng cao năng lực vận dụng các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, quan hệ thị trường

- Để áp dụng phương pháp kinh tế phải thực hiện sự phân cấp đúng đắn giữa các cấp quản lý trong nội bộ doanh nghiệp

- Sử dụng các phương pháp kinh tế đòi hỏi cán bộ quản trị phải có đủ trình độ và năng lực về nhiều mặt Bởi vì, sử dụng các phương pháp kinh tế còn là điều kiện mới

mẻ, đòi hỏi cán bộ quản trị phải hiểu biết và thông thạo kinh doanh, đồng thời phải có phẩm chất kinh doanh vững vàng

* Phương pháp giáo dục

Các phương pháp giáo dục là các cách thức tác động vào nhận thức và tình cảm của người lao động nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình lao động của họ trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao

Các phương pháp giáo dục có ý nghĩa lớn trong quản trị kinh doanh vì đối tượng của quản trị là con người – một thực thể năng động, là tổng hoà của nhiều mối quan hệ Tác động vào con người không chỉ có hành chính, kinh tế mà còn có tác động tinh thần, tâm lý – xã hội…, tình cảm

Các phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý Đặc trưng của phương pháp giáo dục là tính thuyết phục, tức là làm cho người lao động biết phân

Trang 29

biệt được trái - phải, đúng - sai, lợi - hại, đẹp - xấu, thiện - ác, từ đó nâng cao tính tự giác lao động và có sự gắn bó với doanh nghiệp Các phương pháp giáo dục thường được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác một cách uyển chuyển, linh hoạt, vừa nhẹ nhàng vừa sâu sắc đến từng người lao động Đây là một trong những bí quyết thành công của các doanh nghiệp Nhật Bản hiện nay

b Các phương pháp tác động lên các yếu tố khác doanh nghiệp

Đó là các phương pháp quản trị đi sâu vào từng yếu tố chi phối lên các đầu vào của quá trình kinh doanh như tài chính, lao động, công nghệ, thông tin, vật tư sản phẩm, rủi ro Các phương pháp quản trị mang tính nghiệp vụ gắn liền với tính kỹ thuật thông

lệ của các chuyên ngành quản trị như quản trị tài chính, quản trị nhân sự, quản trị công nghệ, quản trị thông tin và marketing, quản trị vật tư, quản trị sản phẩm, quản trị đầu tư, đưa tin học vào quản trị kinh doanh… và thường gắn liền với các phương pháp kinh tế – một loạt công cụ không thể thiếu trong việc lựa chọn các phương pháp quản trị kinh doanh ngày nay

1.4.3 Các phương pháp sử dụng đối với khách hàng

Khách hàng không chỉ là những người mua hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp Có những người doanh nghiệp vẫn có thể coi là khách hàng của mình mặc dù hiện giờ họ hoàn toàn không hề biết đến doanh nghiệp Ngoài ra, khách hàng của doanh nghiệp còn phải kể đến nữa là những doanh nghiệp bán những sản phẩm liên quan đến sản phẩm của doanh nghiệp Những khách hàng này có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của những khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần phải xác định được khách hàng của mình vì chìa khoá cho hoạt động kinh doanh thành công là nên coi khách hàng là mấu chốt

Các phương pháp sử dụng đối với khách hàng là các phương pháp thường dùng trong Marketing bao gồm:

- Dự đoán nhu cầu tiềm năng

- Phân đoạn thị trường

- Các phương pháp phục vụ và kích thích khách mua hàng

- Phân loại sản phẩm phục vụ nhu cầu

- Thực hiện các hoạt động chiêu thị

1.4.4 Các phương pháp sử dụng đối với đối thủ cạnh tranh

* Các phương pháp cạnh tranh

Là các phương pháp tính đến tất cả các khả năng, các yếu tố, các thủ đoạn để tạo

ra lợi thế sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường Các phương pháp này bao gồm các biện pháp công nghệ, kinh tế, hành chính, tâm lý xã hội, có nước còn dùng các giải pháp chính trị hoặc quân sự để gây sức ép với các đối thủ cạnh tranh

Trang 30

* Các phương pháp thương lượng

Đó là việc thoả thuận giữa các doanh nghiệp để chia sẻ thị trường một cách ôn hoà thay cho những cạnh tranh gây ra bất lợi cho tất cả Đó là việc sử dụng các kỹ thuật của “lý thuyết trò chơi”

- Trường hợp cả hai doanh nghiệp tiến hành chiêu thị với mức độ cao là giải pháp

D thì cả hai bên đều có lợi bằng nhau nhưng không cao như trường hợp đầu giải pháp A

và đều giảm lợi nhuận

L = 120 – 100 = 20 tỷ đồng Vậy thì tốt nhất là hai bên gặp nhau thương lượng để chọn giải pháp A có lợi nhất cho cả hai bên

* Các phương pháp tránh né

Đó là cách rút lui khỏi cuộc cạnh tranh bằng cách tìm một thị trường khác xa hơn,

ít hiệu quả hơn để đem hàng tới bán Thậm chí, phải từ bỏ mặt hàng mà doanh nghiệp không trụ nổi để chuyển sang một mặt hàng khác

1.4.5 Các phương pháp sử dụng đối với bạn hàng

Bạn hàng là những người cung cấp các đầu vào cho doanh nghiệp Họ cũng có nhiều khách hàng và giữa họ cũng xẩy ra cạnh tranh

Phương pháp sử dụng đối với bạn hàng chủ yếu là tôn trọng lợi ích của nhau, thanh toán sòng phẳng và thông cảm Mặt khác, cũng cần tránh né sự ép buộc của bạn hàng nếu họ là người bán hàng không biết điều, trục lợi và bất tín Phương pháp sử dụng trong trường hợp này là thay quan hệ buôn bán bằng quan hệ bạn hàng và thay quan hệ sòng phẳng bằng quan hệ đa phương

Trang 31

1.4.6 Các phương pháp sử dụng đối với các cơ quan và viên chức của các cơ quan quản lý vĩ mô

- Chủ động tới mức cao nhất không đối đầu với pháp luật và thông lệ Nghiêm chỉnh chấp hành các nghĩa vụ nộp thuế, nộp doanh lợi và các khoản nộp khác

- Tạo và chuyển đổi quan hệ pháp lý thành quan hệ thông cảm, tôn trọng và thân tình

1.5 NGHỆ THUẬT QTKD

Quản trị kinh doanh vừa là một khoa học, vừa là một nghề vừa là một nghệ thuật Tính nghệ thuật có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó phản ánh tính đặc thù của người quản trị như bản lĩnh, năng khiếu, đức độ, kinh nghiệm tích luỹ, cơ may vận rủi của người quản trị trong quá trình điều hành doanh nghiệp Nghệ thuật quản trị thể hiện trình độ cao thấp của người quản trị trong sự nghiệp quản trị của mình

Nắm được khoa học quản trị, chủ thể quản trị sẽ đỡ thất bại trong quá trình kinh doanh Nắm được nghề quản trị, chủ thể quản trị sẽ giảm bớt lúng túng trong quá trình vận hành doanh nghiệp, nhưng nắm được nghệ thuật quản trị sẽ giúp cho chủ thể quản trị giành được thắng lợi vững bền trong kinh doanh Việc nghiên cứu nắm bắt nghệ thuật quản trị kinh doanh là một yêu cầu mà các chủ thể kinh doanh giỏi cần phải thực hiện

1.5.1 Khái niệm

Nghệ thuật quản trị kinh doanh còn gọi là thuật kinh doanh hoặc thủ đoạn kinh doanh là bao gồm việc xem xét thị trường, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, xu thế biến động của môi trường, tình hình và xu thế chuyển đổi của doanh nghiệp nhằm chế ngự nó một cách có hiệu quả nhất, thực hiện thành công mọi ý đồ và kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp

Nghệ thuật quản trị kinh doanh là việc sử dụng các phương pháp, các tiềm năng, các cơ hội kinh doanh một cách khoa học và khôn khéo, tài tình để đạt được mục tiêu kinh doanh đặt ra một cách tốt nhất

Hình 1-2: Nghệ thuật quản trị kinh doanh

Nghệ thuật quản trị

kinh doanh

Các mục tiêu phải đạt được

Các

tiềm năng phương pháp Các thủ đoạn Các thời cơ Các

Trang 32

Theo cách nói của người xưa, nghệ thuật quản trị kinh doanh là việc xem xét động tĩnh công việc kinh doanh để chế ngự nó Thực chất của nghệ thuật kinh doanh là bảo đảm giữ cho doanh nghiệp luôn luôn được tồn tại phát triển và ổn định Đó là việc sử dụng các tiềm năng, các cơ hội, các phương pháp thủ đoạn kinh doanh có thể để:

Thứ nhất, bỏ ra chi phí ít nhất mà thu lại kết quả nhiều nhất

Thứ hai, che dấu được ưu nhược điểm của doanh nghiệp đồng thời khai thác được nhược điểm cũng như các mặt mạnh của người khác

Thứ ba, giải quyết nhanh chóng mọi ý dồ kinh doanh của doanh nghiệp mà không kéo thêm các đối thủ mới vào cuộc

Thứ tư, bảo đảm cho doanh nghiệp phát triển nhanh chóng ổn đình và lâu dài 1.5.2 Cơ sở nghệ thuật của quản trị kinh doanh

Nghệ thuật quản trị kinh doanh được tạo lập trên cơ sở tiềm lực và sức mạnh của doanh nghiệp, tài thao lược trong kinh doanh, sự quyết đoán của người lãnh đạo, khả năng giữ bí mật ý đồ kinh doanh và trình độ sử dụng mưa kế kinh doanh

Có nhiều giám đốc hy vọng tìm được toàn bộ nghệ thuật quản trị kinh doanh trong sách vở được công bố trên thị trường sách báo thông tin Đây là một điều không tưởng

vì không ai lại tiết lộ nghệ thuật thành công của mình để đối thủ biết mà đối phó khi mà

họ vẫn muốn doanh nghiệp của họ tồn tại và có sức mạnh trên thị trường Các kiến thức

mộ khi đã được công bố là nó đã lạc hậu và đã không còn yếu tố bí mật, độc tôn nữa Hơn nữa, công việc kinh doanh mỗi nơi mỗi khác, mỗi thời mỗi khác

Cách tốt nhất để lĩnh hội nghệ thuật kinh doanh là nắm các nguyên tắc cơ bản của

nó, kết hợp với quan sát kinh doanh của các giám đốc khác rồi vận dụng vào thực tế của doanh nghiệp với hy vọng đem lại kết quả

Hình 1-3: Các cơ sở khoa học của nghệ thuật quản trị kinh doanh

- Tiềm năng và sức mạnh của doanh nghiệp là một thực lực cơ bản để tạo cơ sở cho nghệ thuật kinh doanh Đó là sự trường vốn, đó là sức mạnh của khoa học kỹ thuật

và công nghệ mới, đó là khả năng nắm bắt được thông tin nhanh hơn, sớm hơn, chính

Cơ sở khoa học của nghệ thuật quản trị kinh doanh

Tiềm năng

doanh nghiệp

Tri thức và thông tin

Giữ bí mật ý

đồ kinh doanh

Sự quyết đoán của lãnh đạo

Sử dụng mưu

kế kinh doanh

Trang 33

xác hơn các đối thủ khác, đó đồng thời cũng là sức hút các chất xám từ nơi khác về với doanh nghiệp Đây là một yêu cầu cốt tuỷ của các doanh nghiệp, đòi hỏi qua mỗi năm tháng, tiềm năng của doanh nghiệp phải lớn lên không ngừng để có thể dành được thế dộc lập về kinh tế trong kinh doanh: Có khả năng đưa vào sử dụng và chủ động sáng tạo

ra các công nghệ vào loại hàng đầu trên thương trường trong và ngoài nước

- Tri thức và thông tin là khả năng nhận biết các quy luật diễn ra trên các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cụ thể là:

+ Phải hiểu biết sâu sắc công việc chuyên môn thuộc lĩnh vực kinh doanh của mình, biết tiếp cận với các công nghệ cao nhất thuộc chuyên ngành Có thông tin nhanh chóng, chính xác và kịp thời hơn so với đối thủ cạnh tranh

+ Phải biết thêm bạn bớt thù, biết làm ít mà được lợi nhiều Biết giải quyết vấn đề nhanh chóng, nắm chắc nguyện vọng và khả năng thị trường, giảm rủi ro kinh doanh tới mức tối đa, không đưa đến sự cạnh tranh đối với các đối thủ mới

+ Chuẩn bị chu đáo để chiến đấu với một phương pháp khoa học, để chiếm lĩnh thị trường Phải hiểu biết kinh doanh là cạnh tranh, là lao tâm khổ tứ

- Giữ được bí mật trong kinh doanh: Bí mật trong kinh doanh là bí mật trong ý đồ, trong giá cả, trong phương hướng thị trường, phương hướng thị trường công nghệ Việc của một người không tiết lộ cho hai người, việc làm ngày mai không tiết lộ hôm nay Biết nguỵ trang mục tiêu, đánh lạc hướng đối phương, dồn đối phương vào thế bị động, bất ngờ, khiến họ bị tiêu hao và phân tán lực lượng,… để từ đó buộc họ hành động theo

dự kiến của mình, tận dùng thời cơ

- Sự quyết đoán của lãnh đạo, đây là một trong những cơ sở của việc hình thành nghệ thuật quản trị Tất cả những người lãnh đạo non kém và sợ trách nhiệm, luôn đùn đẩy trách nhiệm thì không thể có nghệ thuật quản trị doanh nghiệp Nghệ thuật quản trị đồng nghĩa với sự tiên quyết là mọi việc sẽ phải diễn ra theo dự kiến của mình, nếu người lãnh đạo nhu nhược và không giám quyết thì làm sao có nghệ thuật quản trị được

Sự quyết đoán được dựa trên việc phân tích tỉnh táo các hoàn cảnh để đưa ra quyết định, nó là sản phẩm trí tuệ cao của người lãnh đạo và khác hẳn với sự liều lĩnh của người lãnh đạo chỉ dựa trên các căn cứ vu vơ, các suy luận chủ quan, tuỳ tiện để đưa

ra quyết định

Rõ ràng một diễn viên xiếc biểu diễn một tiết mục nguy hiểm không chỉ là sự liều lĩnh mà nó phải được hình thành dựa trên một quá trình tập luyện khổ công, lâu dài và khoa học

- Sử dụng các mưa kế kinh doanh là sản phẩm trí tuệ của chủ doanh nghiệp nhằm buộc doanh nghiệp đối thủ nhất định phải hành động theo đúng dự kiến của mình đặt ra Mưa kế do chủ doanh nghiệp nghĩ và được tạo lập trên các cơ sở sau:

Trang 34

+ Do nắm chắc được thông tin nội tình của doanh nghiệp đối thủ, phát hiện đúng nhược điểm của họ như những yếu kém, chủ quan, sơ hở bất cẩn của họ Doanh nghiệp đối thủ dù mạnh đến đâu cũng phải có điểm yếu, cần tập trung vào để mà tấn công

+ Ý chí và sự quyết tâm làm giàu của chủ doanh nghiệp, dám quyết, dám chấp nhận mạo hiểm rủi ro, có đạo lý, có tình người trong kinh doanh

+ Vận dụng thuần thục các mưu kế truyền thống

1.5.3 Công cụ và phương tiện của nghệ thuật quản trị kinh doanh

Những mưu kế truyền thống là cơ sở của nghệ thuật quản trị kinh doanh Các mưu

kế truyền thống là các mưu kế kinh doanh đã được con người tổng kết qua nhiều năm tháng và thường giúp cho người dùng nó đạt được thành quả lớn trong kinh doanh bao gồm nhiều mưu kế tương ứng với lực lượng của mỗi bên đối đầu như về vốn, về nhân lực, về công nghệ, về đạo lý, về gián điệp, về quan hệ với khách hàng và thị trường, về tầm nhìn và tính cách của chủ doanh nghiệp, về môi trường kinh doanh của nước sở tại của doanh nghiệp và cũng như sự biến động của thời cơ Các chủ doanh nghiệp cần nắm bắt để đưa vào sử dụng trong con đường kinh doanh của mình Sau đây là một số mưa kế:

- Kinh tế kế

Đó là việc sử dụng các lợi ích kinh tế để nhử cá nhân hoặc doanh nghiệp của đối thủ buộc họ phải cung cấp cho ta các thông tin có lợi cho mình như có hại cho họ nhưng

do ích kỷ, chủ quan mà họ cho là họ có thể khắc phục được mình:

+ Bỏ tiền mua tin tức thời một lần

+ Bỏ tiền để gài gián điệp kinh tế

+ Bỏ tiền giúp doanh nghiệp đối thủ có vốn nhưng đánh họ về mặt đạo lý, quan điểm, thay nếp sống của họ (đây là cách các nước tư bản chủ nghĩa thường sử dụng trong những năm gần đây và không ít người địa phương đã vì lợi ích gia đình, dòng họ

để bán rẻ quê hương xứ sở của mình…)

+ Bỏ tiền để làm hư hỏng đội ngũ thuế quan nước sở tại

+ Bỏ tiền để gây chia rẽ nội bộ doanh nghiệp kẻ địch như ký kết đề tài về công nghệ với một hoặc một nhóm chuyên gia đầu ngành của doanh nghiệp địch…

+ Bỏ tiền và giúp đỡ nước đối phương các hoạt động phi kinh tế như môi trường, văn hoám trẻ thơ… để rồi tiếp cận thực địa thu thập thông tin có lợi trong các dịp đi hiện trường…

Kinh tế kế thường được đan cài vào các kế khác, dùng rất hiệu quả nhưng cần nhớ

nó như con dào hai lưỡi, anh dùng nó nếu không cẩn thận thì cũng chính anh lại tự làm hại anh và gia đình anh cho nên phải dùng có mức độ và đừng dồn con người mà mình lợi dụng vào chân tường

Trang 35

- Thân kế

Đó là sử dụng các mối quan hệ quen biết mang tính bạn hữu, người nhà để len sâu vào nội tình doanh nghiệp đối phương mà thu lượm thông tin cần thiết Mọi cơ hội có thể làm quen nhất là làm quen với các nhân vật quan trọng đều phải khai thác tận dụng

để biến nó thành các quan hệ có đi có lại lâu dài, thường xuyên tiếp đó cần nghiên cứu hoàn cảnh và tính cách của người mà ta tiếp cận để sử dụng các kế khác

- Giương đông kích tây kế

Đó là cách tung thông tin, hoả mù nguỵ trang để đánh lạc hướng doanh nghiệp đối đầu khiến họ hiểu sai ý đồ của mình, dẫn đến sai lầm trong việc sử dụng các tiềm năng sau đó bất ngờ đưa ra sản phẩm của mình đã được lặng lẽ chuẩn bị đưa ra thị trường để độc chiếm

Trang 36

CHƯƠNG 2:

QUẢN TRỊ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI

2.1 KHÁI NIỆM VỀ THƯƠNG MẠI VÀ CÁC LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI DỊCH

VỤ

2.1.1 Khái niệm về thương mại

Thương mại là lĩnh vực trao đổi, lưu thông hàng hoá - dịch vụ thông qua mua bán bằng tiền trên thị trường Hoạt động thương mại - dịch vụ gắn liền với lĩnh vực lưu thông, phân phối hàng hoá - dịch vụ làm đối tượng mua bán Nghiên cứu lĩnh vực thương mại - dịch vụ, xét về tính chất và phạm vi có thể chia thành bốn lĩnh vực lớn là thương mại trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ thương mại của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp chuyên mua bán hàng hoá và thương mại quốc

tế

Thị trường là cơ chế để thương mại hoạt động được, tiền tệ là phương tiện trao đổi của hoạt động thương mại Tuy nhiên, dạng nguyên thuỷ của thương mại là hàng đổi hàng, trong đó người ta trao đổi trực tiếp hàng hoá hay dịch vụ mà không cần thông qua các phương tiện thanh toán Ví dụ, một người A đổi một con bò lấy năm tấn thóc của người B chẳng hạn Hình thức này còn tồn tại cho đến ngày nay do nhiều nguyên nhân như do bên bán không tin tưởng vào tỷ giá hối đoái của đồng tiền sử dụng để thanh toán Trong hình thức này không có sự phân biệt rõ ràng giữa người bán và người mua, do người bán mặt hàng X lại đóng vai trò là người mua mặt hàng Y đồng thời điểm

Thương mại tồn tại vì nhiều lý do Nguyên nhân cơ bản của nó là sự chuyên môn hoá và phân chia lao động, trong đó các nhóm người nhất định nào đó chỉ tập trung vào việc sản xuất để cung ứng các hàng hoá hay dịch vụ thuộc về một lĩnh vực nào đó để đổi lại hàng hoá hay dịch vụ của các nhóm người khác Thương mại cũng tồn tại giữa các khu vực là do sự khác biệt giữa các khu vực dịch vụ này đem lại lợi thế so sánh hay lợi thế tuyệt đối trong quá trình sản xuất ra các hàng hoá hay dịch vụ có tính thương mại hoặc do sự khác biệt trong các kích thước của khu vực như dân số chẳng hạn để cho phép thu được lợi thế trong sản xuất hàng hoá Vì thế, thương mại theo các giá cả thị trường đem lại lợi ích cho cả hai khu vực

2.1.2 Các lĩnh vực thương mại dịch vụ

- Thương mại trong nền kinh tế quốc dân

Quá trình phát sinh, tồn tại và phát triển các quan hệ thương mại Cơ chế phát sinh, phát triển của các quan hệ thương mại Sự trao đổi hàng hóa – dịch vụ và lưu thông

Trang 37

hàng hóa dịch vụ Xu hướng phát triển cũng như những đặc thù của nó trong mọi phương thức sản xuất khác nhau Tổng cung – tổng cầu hàng hóa – dịch vụ và sự vận động của quan hệ cung cầu trong nền kinh tế quốc dân Cơ chế tổ chức bộ máy quản lý quá trình thương mại trong nền kinh tế quốc dân Pháp luật của Nhà nước chính sách thương mại của Chính phủ quản lý, điều chỉnh và hoạt động thương mại trong mỗi thời

kỳ

- Quan hệ thương mại của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

Để tiến hành sản xuất kinh doanh, bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải mua các sản phẩm đầu vào; đó là các yếu tố của quá trình sản xuất như nguyên, nhiên vật liệu, máy móc, phụ tùng và sức alo động; đồng thời bán các thành phẩm do doanh nghiệp sản xuất

ra Đây chính là hoạt động thương mại của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh (thường gọi là thương mại doanh nghiệp) hoặc hậu cần vật tư kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Hoạt động thương mại của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào cơ chế quản lý thương mại của nền kinh tế quốc dân và những đặc thù của công nghệ sản xuất thành phẩm ở doanh nghiệp Nghiên cứu thương mại của doanh nghiệp sản xuất đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, chính xác nhu cầu vật tư kỹ thuật cho sản xuất, đảm bảo cho sản xuất liên tục, góp phần hạ giá thành sản phẩm được sản xuất ra và tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả cao, đảm bảo cho doanh nghiệp tái sản xuất liên tục

- Quan hệ thương mại của các doanh nghiệp chuyên mua bán hàng hóa

Đây là hoạt động kinh doanh thương mại hàng hóa Mua để bán hay còn gọi là bán buôn Doanh nghiệp thương mại vừa là người mua hàng hóa, vừa là người bán hàng hóa cho người tiêu dùng Như vậy, doanh nghiệp thương mại là người kinh doanh chuyên nghiệp Nhờ các doanh nghiệp thương mại, hàng hóa được lưu thông rộng khắp trong nền kinh tế quốc dân, thị trường cũng được mở rộng, hàng hóa có thể đến tay người tiêu dùng thuận lợi Là người kinh doanh, doanh nghiệp thương mại muốn kiếm được lợi nhuận phải tìm được thị trường, phải hiểu khách hàng cần hàng hóa gì, ở đâu, lúc nào, số lượng và giá cả Chỉ có thể thỏa mãn nhu cầu và yêu ầu của khách hàng thì doanh nghiệp mới thực hiện giá trị của hàng hóa, mới vù đắp được chi phí kinh doanh và thu lợi nhuận Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, có nhiều người bán, việc chiếm lĩnh thị trường, thị phần đòi hỏi doanh nghiệp thương mại phải hiểu nhu cầu và khả năng của khách hàng, về chất lượng sản phẩm, về mẫu mã, kiểu dáng, giá cả, thời điểm và địa điểm tiêu dùng,…Trao đổi hàng hóa – dịch vụ là lưu thông hàng hóa dịch vụ là mua hàng ở nơi này và bán hàng ở nơi khác; mua của người này bán cho người khác; mua lúc này bán lúc khác; vì thế nó phải tuân theo quy luật của lưu thông hàng hóa, tuân theo quy luật cung cầu… Với môi trường kinh doanh rộng và luôn luôn có những biến đổi

Trang 38

nhanh chóng, khó lường, kinh doanh thương mại có nhũng nét đặc thù riêng của hoạt động kinh doanh và nó đã là một ngành chuyên nghiệp từ phân công lao động xã hội lần thứ ba của nhân loài cho đến ngày nay và vẫn phát triển không ngừng

-Thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế là mối quan hệ trao đồi hàng hóa – dịch vụ giữa một quốc gia với các quốc gia khác trên thế giới Lịch sử phát triển loài người đã chứng tỏ sự phát triển của lực lượng phát triển xã hội và văn minh nhân loài luôn gắn liền với sự phát triển của thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng.Từ khi xuất hiện hàng háo, loài người đã thấy được lợi ích của việc trao đổi hàng hóa giữa các nước Những thương nhân đã mua những sản phẩm của nước mình mang đi các nước gần xa để trao đổi lấy sản phẩm độc đáo mà nước mình không có

Thương mại quốc tế có sự khác biệt với thương mại trong nước ở các điểm sau: Hoạt động buôn bán hàng hóa – dịch vụ vượt khỏi phạm vi biên giới quốc gia, nghĩa là mua ở nước này bán ở nước khác và ngược lại; có sự chuyên trở hàng hóa ra khỏi một đất nước, một vùng lãnh thổ; gắn liền với việc sử dụng đồng tiền quốc tế khác nhau, tức

là gắn liền với thanh toán quốc tế; khác biệt về môi trường kinh doanh như chính trị; pháp luật, kinh tế, văn hóa xã hội, điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng, sự khác biệt này

cả về những cái thông thường nhất như phong tục, tập quán, ngôn ngữ, thủ tục, giao dịch, cách thức đàm phán, ra quyết định cũng như cung cách về quản trị, trao đổi thông tin,… Trong thương mại quốc tế, những nước phát triển cao về lực lượng sản xuất thường xuất khẩu những sản phẩm công nghệ cao, giá đắt, còn các nước có trình độ phát triển thấp thường xuất khẩu các sản phẩm thô, là sản phẩm của công nghiệp khai thác hoặc nông nghiệp, lâm nghiệp, hải sản,… có giá rẻ Sự phát triển các quan hệ thương mại với nước ngoài làm cho thương mại trong quốc gia cũng trở nên phong phú

và sống động hơn Cạnh tranh quốc tế, mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của khu vực

và một mắt xích của thị trường toàn cầu Xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa đang lôi cuốn các nước trên thế giới hội nhập từng bước vào các khối kinh tế khu vực và thế giới

2.1.3 Nhận diện thị trường và đưa ra đối sách kinh doanh

a Nhận diện thị trường

- Thị trường theo nghĩa rộng là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm và tiền tệ nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn của cả hai bên cầu và cung Từ mối quan hệ đó tạo ra số lượng và giá cả tương ứng của sản phẩm theo thông lệ hiện hành Thị trường là nơi kiểm định nhu cầu của cả hai phía cung và cầu

Trang 39

- Thị trường theo nghĩa hẹp, là một nhóm khách hàng có nhu cầu và sức mua chưa được đáp ứng và mong được thoả mãn

Thị trường là tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh liên quan đến hoạt động mua bán hàng hoá

Để nhận diện thị trường, doanh nghiệp phải biết được sản phẩm mình làm ra sẽ có

ai tham gia cung ứng và những khách hàng nào sẽ tiêu thụ; tiềm năng, thủ đoạn của những người bán; khả năng, thị hiếu của người mua

Để nhận diện thị trường người ta căn cứ vào các dấu hiệu Đó là, số người bán (số lượng doanh nghiệp sản xuất loại sản phẩm đem ra xem xét), khả năng chi phối giá, chủng loại sản phẩm, khó khăn thâm nhập thị trường, các giải pháp tuyên truyền quảng cáo, khả năng công nghệ và vốn

Các loại thị trường thể hiện trong bảng 3-1

Khả năng chi phối giá

Chủng loại sản phẩm

Khó khăn thâm nhập thị trường

Tuyên truyền quảng cáo

Công nghệ và vốn

Cạnh tranh

hoàn hảo

Rất nhiều Không có

Giống nhau

Rất ít khó khăn Quảng cáo Như nhau

Độc quyền Một Rất đáng

kể Duy nhất

Rất khó khăn Quảng cáo

Đặc thù lớn

Cạnh tranh

độc quyền

Rất nhiều Ít

Khác nhau

Ít khó khăn

Quảng cáo phân biệt (đề cao)

Công nghệ khác

ít

Thiểu

quyền Một vài

Không đáng kể (ít)

Tiêu chuẩn khác nhau

Nhiều khó khăn

Nhiều quảng cáo phân biệt

Như nhau

Trang 40

* Số lượng người bán

Là dấu hiệu quan trọng để nhận diện thị trường

Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo có rất nhiều người bán Mỗi người bán chỉ sản xuất một phần rất nhỏ lượng sản phẩm trên thị trường

Trong thị trường độc quyền chỉ có một người bán duy nhất

Trong thị trường thiểu quyền chỉ có một vài người bán và kiểm soát hầu hết lượng cung trên thị trường

* Khả năng chi phối giá

Một doanh nghiệp sản xuất trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo sẽ không có khả năng chi phối giá cả thị trường

Còn một nhà độc quyền sẽ có khả năng kiểm soát giá cả một cách đáng kể

Một doanh nghiệp sản xuất trong điều kiện cạnh tranh độc quyền và thiểu quyền

có khả năng kiểm soát nhưng không đáng kể

* Chủng loại sản phẩm

Các doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo sản xuất ra những sản phẩm giống nhau

Trong cạnh tranh độc quyền, các sản phẩm khác nhau

Trong thị trường thiểu quyền các sản phẩm khác nhau đôi chút

Trong thị trường độc quyền doanh nghiệp sản xuất một loại sản duy nhất

* Khó khăn thâm nhập thị trường

Trong cạnh tranh hoàn hảo, có rất ít khó khăn về thâm nhập thị trường

Trong thị trường thiểu quyền có nhiều khó khăn thâm nhập thị trường

Trong điều kiện độc quyền việc thâm nhập thị trường là rất khó khăn

* Hình thức tuyên truyền quảng cáo

Trong cạnh tranh hoàn hảo cần có tuyên truyền quảng cáo

Trong cạnh tranh độc quyền, doanh nghiệp phải sử dụng các hình thức tuyên truyền quảng cáo nhằm phân biệt sản phẩm của họ để lôi cuốn sự chú ý của khách hàng

Trong thị trường thiểu quyền phải sử dụng nhiều quảng cáo vừa phân biệt rõ sản phẩm của doanh nghiệp cho khách hàng rõ vừa đề cao sản phẩm của mình

Ngày đăng: 21/10/2022, 19:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng1.1. Bảng tổng hợp sử dụng đất KĐTM trung tâm Tp Thanh Hóa............ 13 Bảng 1.2 - Bài giảng Quản trị kinh doanh (Dành cho sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh – Tài chính ngân hàng)
Bảng 1.1. Bảng tổng hợp sử dụng đất KĐTM trung tâm Tp Thanh Hóa............ 13 Bảng 1.2 (Trang 9)
Bảng 3-1     Dấu           hiệu   Cỏc loại  thị trường  Số  lượng người bỏn  Khả năng chi phối giỏ  Chủng  loại sản phẩm  Khú khăn  thõm nhập thị trường  Tuyờn  truyền  quảng cỏo  Cụng  nghệ và vốn  Cạnh tranh  hoàn hảo Rất - Bài giảng Quản trị kinh doanh (Dành cho sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh – Tài chính ngân hàng)
Bảng 3 1 Dấu hiệu Cỏc loại thị trường Số lượng người bỏn Khả năng chi phối giỏ Chủng loại sản phẩm Khú khăn thõm nhập thị trường Tuyờn truyền quảng cỏo Cụng nghệ và vốn Cạnh tranh hoàn hảo Rất (Trang 39)
Cỏc loại thị trường thể hiện trong bảng 3-1. - Bài giảng Quản trị kinh doanh (Dành cho sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh – Tài chính ngân hàng)
c loại thị trường thể hiện trong bảng 3-1 (Trang 39)
Bảng 3-2 - Bài giảng Quản trị kinh doanh (Dành cho sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh – Tài chính ngân hàng)
Bảng 3 2 (Trang 42)
Bảng 3-3 - Bài giảng Quản trị kinh doanh (Dành cho sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh – Tài chính ngân hàng)
Bảng 3 3 (Trang 45)
c. Hệ thống thang, bảng lương ỏp dụng trong cỏc doanh nghiệp - Bài giảng Quản trị kinh doanh (Dành cho sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh – Tài chính ngân hàng)
c. Hệ thống thang, bảng lương ỏp dụng trong cỏc doanh nghiệp (Trang 80)
Bảng 4-3 - Bài giảng Quản trị kinh doanh (Dành cho sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh – Tài chính ngân hàng)
Bảng 4 3 (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w