1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài giảng Quản trị chi phí kinh doanh - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh

56 5 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Giảng Quản Trị Chi Phí Kinh Doanh
Tác giả Bùi Thị Thúy Hằng
Trường học Trường Đại Học Công Nghiệp Quảng Ninh
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại bài giảng
Năm xuất bản 2020
Thành phố Quảng Ninh
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Quản trị chi phí kinh doanh cung cấp cho học viên những nội dung về: tổng quan chi phí trong doanh nghiệp; quản trị chi phí kinh doanh; mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm; phân tích mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng và lợi nhuận (CVP);... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

BỘ MÔN QUẢN TRỊ KINH DOANH - KHOA KINH TẾ

BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ CHI PHÍ KINH DOANH

(LƯU HÀNH NỘI BỘ)

Quảng Ninh, 2020

Trang 2

Chương 1 Tổng quan về chi phí trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm và phân loại chi phí kinh doanh

Kinh tế học phân biệt 2 phạm trù là chi phí kinh tế và chi phí tính toán

- Chi phí kinh tế là phạm trù phản ánh hao phí các nguồn lực bằng đơn vị

đo thích hợp

- Chi phí tính toán là phạm trù chi phí mà con người nhận thức và tính toán hao phí nguồn lực cho 1 hoạt động hoặc 1 quá tình nào đó

Trong từ điển kinh tế, người ta đã định nghĩa: “Mọi sự tiêu phí tính bằng

tiền của một doanh nghiệp được gọi là chi phí” hay còn có thể khái niệm rõ ràng

hơn, chẳng hạn như: “chi phí là một khái niệm của kế toán, có chi phí giới hạn trong xí nghiệp, gắn với các mục tiêu của xí nghiệp và chi phí ngoài xí nghiệp, có

cơ sở ở các hoạt động khác hoặc các nguyên nhân khác” Như thế, chi phí là một khái niệm mang tính khái quát cao trong quá trình phát triển của kế toán doanh nghiệp, khái niệm chi phí đã được phát triển thành 3 phạm trù (khái niệm) cụ thể hơn là chi tiêu, chi phí tài chính và chi phí kinh doanh

- Chi tiêu (chi ra): Kosiol, Schulz, Schweitzer và Weber cho rằng chi tiêu là lượng tiền doanh nghiệp đã trả cho một người, một nhóm người hoặc một tổ chức nào đó Như vậy chi tiêu (chi ra) là “mọi khoản tiền đã trả của xí nghiệp” Với ý nghĩa đó, chi tiêu là “sự giảm tiền thanh toán, giảm tiền sec ở ngân hàng, tăng nợ

ở các hình thức nợ, vay ngắn hạn, thay đổi nợ, …” Như vậy, Chi tiêu là một khái

niệm hoàn toàn mang bản chất tài chính, nó mô tả hành động “phải bỏ tiền ra”

dưới mọi hình thức Chi tiêu gắn chặt với các quá trình thanh toán thuần túy tài chính cho nên chỉ được sử dụng trong kế toán tài chính

- Chi phí tài chính: Là sự giảm tài sản ròng, là hao phí của một thời kỳ tính toán được tập hợp ở kế toán tài chính Chi phí tài chính bao gồm những hao phí vật phẩm theo thực tế và quy định liên quan đến việc tạo ra kết qủa của một thời

kỳ, nói cách khác “chi phí tài chính của một thời kỳ xác định là sự chi ra gắn với kết quả của thời kỳ đó Nó là sự hao phí hoặc tiêu phí giá trị của một thời kỳ tính toán nhất định được tập hợp ở kế toán tài chính và có mặt trong tính lãi lỗ cuối năm Như vậy, chi phí tài chính là một phạm trù gắn liền với chi phí và chỉ xuất hiện ở bộ phận kế toán tài chính song có 3 đặc điểm:

+ Gắn với kết quả của 1 kỳ tính toán xác định

+ Phải được tính toán theo các nguyên lý của kế toán tài chính

+ Chỉ xuất hiện ở bộ phận kế toán tài chính

Trang 3

- Chi phí kinh doanh:

Hummel định nghĩa “ chi phí kinh doanh là sự hao phí về vật phẩm hoặc dịch vụ liên quan đến việc tạo ra kết quả và đánh giá được”

Woehe cho rằng: “chi phí kinh doanh là sự hao phí xét trên phương diện giá trị các vật phẩm và dịch vụ để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cũng như để duy trì năng lực sản xuất cần thiết cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đó”

Khái niệm chi phí kinh doanh, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, có thể định nghĩa chi phí kinh doanh như sau: “chi phí kinh doanh là sự tiêu phí giá trị cần thiết có tính chất xí nghiệp về vật phẩm và dịch vụ để sản xuất ra sản phẩm của xí nghiệp”

Khái niệm chi phí kinh doanh mang 3 đặc trưng có tính chất bắt buộc sau:

- Chi phí kinh doanh phải là sự hao phí vật phẩm và dịch vụ gắn với một thời kỳ tính toán cụ thể

- Sự hao phí vật phẩm và dịch vụ phải gắn liền với kết quả của kỳ tính tính toán do sự hao phí đó gây ra

- Những hao phí vật phẩm và dịch vụ liên quan đến kết quả của doanh nghiệp phải được đánh giá theo nguyên lý của kế toán tài chính và tính toán theo các nguyên lý của tính chi phí kinh doanh

Chi phí kinh doanh là một phạm trù gắn liền với chi phí và chỉ xuất hiện ở tính chi phí kinh doanh Như vậy, chi phí kinh doanh khác với chi phí tài chính cả

về nội dung và độ lớn Hình 1.1 mô tả sự khác nhau giữa chi phí tài chính và chi phí kinh doanh

- Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí

về lao động sống và lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến hoạt động SXKD trong một thời kỳ nhất định

Toàn bộ chi phí tài chính của thời kỳ

động có tính chất đặc

biệt

Chi phí tài chính không trùng CPKD

Chi phí tài chính trùng CPKD

Chi phí kinh doanh không trùng chi phí tài chính

Chi phí kinh doanh

bổ sung

Không bình thường

Ngoài kỳ tính toán Chi phí tài chính không là CPKD của kỳ CPKD của kỳ

Hình 1.1 Mối quan hệ giữa chi phí tài chính và chi phí kinh doanh Phân biệt chi phí kinh doanh với các khái niệm chi ra và chi phí tài chính, vì quản trị chi phí kinh doanh được xây dựng trên cơ sở sử dụng số liệu của kế toán

Trang 4

tài chính nên chi phí kinh doanh có quan hệ chặt chẽ với hai khái niệm khác của cùng một phạm trù chi phí là chi ra (chi trả) và chi phí tài chính

Chi ra (thời kỳ) Chi ra nhưng không phải là

chi phí tài chính Chi ra trùng với

chi phí tài chính Chi phí tài chính nhưng

không phải là chi ra Chi phí tài chính (thời kỳ)

Hình 1.2 Mối quan hệ giữa chi ra và chi phí tài chính Chi phí sản xuất kinh doanh không trùng với chi phí tài chính bao gồm: + Chi phí khấu hao kinh doanh hay khấu hao quản trị Khấu hao quản trị hoàn toàn khác về bản chất với khấu hao tài chính

+ Tiền trả lãi vốn kinh doanh bao gồm cả tiền trả lãi cho vốn tự có và vốn đi vay

+ Chi phí rủi ro, tổn thất trong kinh doanh

+ Tiền thuê mượn tài sản

+ Tiền công của chủ doanh nghiệp nhỏ

Ví dụ: Có tài liệu thống kê chi tiêu trong tháng 12/N của DN

(1000 đ)

Thành tiền (1000 đ)

Trang 5

Xác định: Chi tiêu, chi phí tài chính, chi phí kinh doanh của doanh nghiệp trong tháng 12/N

1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh

a Theo yếu tố chi phí (nội dung kinh tế của chi phí)

- Chi phí nguyên vật liệu: Gồm toàn bộ các chi phí về các loại nguyên vật liệu chính, phụ, phụ tùng thay thế, mà doanh nghiệp đã sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Chi phí nhiên liệu: Gồm toàn bộ các chi phí để cung cấp nhiệt lượng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như xăng, dầu, nhớt

- Chi phí động lực: Gồm toàn bộ các chi phí để cung cấp năng lượng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như điện, hơi nước,

- Chi phí tiền lương: Là toàn bộ số tiền lương chính mà doanh nghiệp thực tế

đã trả cho lao động thực tế làm việc tại doanh nghiệp và tiền lương phụ trả cho lao động thực tế không làm việc nhưng được hưởng theo chế độ quy định của Nhà nước như nghỉ phép, lễ, tết,

- Các khoản trích nộp: Là tiền trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ theo tỷ lệ quy định để hình thành nên các quỹ BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ để sử dụng chi tiêu cho các trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, và các hoạt động của công đoàn

- Chi phí khấu hao TSCĐ: Là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp trích khấu hao của tất cả các loại TSCĐ phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền doanh nghiệp bỏ ra để trả cho các loại dịch vụ mua ngoài như tiền điện, nước, bưu chính viễn thông, phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Các chi phí khác bằng tiền: Là các chi phí khác bằng tiền phát sinh ngoài các yếu tố chi phí trên(các khoản thuế, lệ phí phải nộp, chi phí họat động tài chính, họat động bất thường…)

Cách phân loại này làm cơ sở để lập dự toán chi phí sản xuất theo kế hoạch Đảm bảo cho kế hoạch giá thành sản phẩm phù hợp với các kế hoạch khác như kế hoạch cung cấp vật tư kỹ thuật, kế hoạch lao động, tiền lương, từ đó sẽ định hướng trọng điểm trong công tác quản lý chi phí của doanh nghiệp Cách phân loại này đảm bảo tính thống nhất danh mục chi phí giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành và giữa các ngành trong toàn bộ nền kinh tế, thuận lợi cho việc quản lý của Nhà nước đồng thời thông qua kết cấu chi phí, có thể xác định kết cấu giá trị lao động sống và lao động quá khứ kết tinh trong sản phẩm Tuy nhiên, không làm rõ công dụng và địa điểm bỏ chi phí, khó phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến giá thành và khó tìm biện pháp hạ giá thành sản phẩm

b Theo khoản mục (công dụng kinh tế và địa điểm)

Trang 6

- Chi phí vật tư trực tiếp: Là các khoản chi phí nguyên, nhiên vật liệu trực tiếp như nguyên vật liệu chính, phụ, nhiên liệu, được xuất dùng trực tiếp để sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp trong kỳ

- Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm các khoản tiền lương trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm như tiền lương chính, phụ, các khoản phụ cấp có tính chất tiền lương Ngoài ra còn có các khoản đóng góp như quỹ BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ do chủ sử dụng lao động chịu và được tính vào chi phí kinh doanh theo tỷ lệ quy định với số tiền lương phát sinh của công nhân

- Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí cần thiết cho việc sản xuất sản phẩm như chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí ngoài sản xuất Chi phí sản xuất chung (CPSXC) có ba đặc điểm sau:

+ Bao gồm nhiều khoản mục chi phí khác nhau nên chúng được nhiều bộ phận khác nhau quản lý, và rất khó kiểm soát

+ Có tính chất gián tiếp với từng đơn vị sản phẩm nên không thể tính thẳng vào sản phẩm hay dịch vụ cung cấp

+ Cơ cấu CPSXC bao gồm cả định phí, biến phí và chi phí hỗn hợp, trong

đó định phí thường chiếm tỷ trọng cao nhất

- Chi phí bán hàng: Là những chi phí cần thiết để phục vụ cho công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp như tiền lương nhân viên bán hàng, chi phí quảng cáo,

- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những chi phí cần thiết để phục vụ cho công tác quản lý của doanh nghiệp và của phân xưởng

Cách phân loại này là căn cứ khoa học để doanh nghiệp tính giá thành sản phẩm, từ đó xác định kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Dùng để kiểm tra việc bỏ chi phí theo từng khoản mục đối với từng bộ phận, từng phân xưởng sản xuất Xác định kết cấu giá thành theo khoản mục Giúp xác định lợi nhuận của doanh nghiệp Đồng thời thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh tế

c Theo cách ứng xử của chi phí

* Chi phí biến đổi (biến phí, chi phí khả biến): Là những khoản chi phí có

quan hệ tỷ lệ thuận với sự biến động của mức độ hoạt động như chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp… Như vậy, biến phí có 2 đặc điểm:

+ Tổng biến phí thay đổi khi mức độ họat động (sản lượng) thay đổi

+ Biến phí đơn vị giữ nguyên không đổi khi mức độ họat động (sản lượng) thay đổi

Ví dụ: Có tài liệu thống kê nguyên vật liệu trực tiếp của doanh nghiệp trong năm như sau:

Trang 7

+ Biến phí tỷ lệ (biến phí thực thụ): Là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận trực tiếp với biến động của mức độ hoạt động(sản lượng) như chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí bán hàng,…

+ Biến phí cấp bậc: Là những khoản chi phí chỉ thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi nhiều và rõ ràng(nó quan hệ tỷ lệ nhưng không tuyến tính với sự thay đổi của mức độ hoạt động(sản lượng) như chi phí lao động gián tiếp, chi phí bảo trì

* Chi phí cố định (định phí, chi phí bất biến): Là các khoản chi phí

khôngthay đổi khi có sự thay đổi của mức độ hoạt động trong phạm vi phù hợp như chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí quản lý… Như vậy, định phí có 2 đặc điểm: + Tổng định phí giữ nguyên khi mức độ họat động (sản lượng) thay đổi trong phạm vi phù hợp

+ Định phí trên 1đơn vị sản phẩm thay đổi khi mức độ họat động (sản lượng) thay đổi

Ví dụ: Có tài liệu thống kê chi phí khấu hao của doanh nghiệp trong năm như sau:

21 17,5 Định phí gồm:

+ Định phí tùy ý: Là định phí có thể được thay đổi nhanh chóng bằng hành động quản trị Các nhà quản trị thường quyết định mức độ và số lượng định phí này trong các quyết định hàng năm như chi phí quảng cáo, chi phí nghiên cứu, đào tạo

+ Định phí bắt buộc: Là định phí không thể được thay đổi một cách nhanh chóng bằng hành động quản trị vì chúng thường liên quan đến TSCĐ và cấu trúc

Trang 8

cơ bản của doanh nghiệp như chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí tiền lương bộ máy quản trị doanh nghiệp

* Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó bao gồm cả yếu tố biến phí

và định phí Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của định phí, quá mức độ đó nó lại thể hiện đặc tính của biến phí

Để lập kế hoạch chi phí hỗn hợp, cần thiết phải tách bộ phận dịnh phí và biến phí trong chi phí hỗn hợp Có thể áp dụng 1 trong các phương pháp sau:

- Phương pháp cực đại – cực tiểu:

Thực chất của phương pháp này là quan sát mức độ hoạt động cao nhất và thấp nhất của hoạt động trong phạm vi phù hợp để viết phương trình biểu diễn chi phí hỗn hợp dưới dạng tuyến tính

y = a + bx Trong đó: Y - Chi phí hỗn hợp cần phân tích

x - Mức độ hoạt động (là nguyên nhân gây ra chi phí hỗn hợp)

a  

min max

min max

x x

y y

Trang 9

Với n là số phần tử quan sát

- Phương pháp đồ thị phân tán

Phân tích chi phí hỗn hợp thông qua quan sát và dùng đồ thị để tìm công thức dự toán chi phí hỗn hợp có dạng y = a + b.x từ đó tìm ra các thành phần biến phí và định phí trong chi phí hỗn hợp

Quá trình thực hiện phương pháp này gồm 2 bước:

Bước 1: Vẽ đồ thị và thể hiện chi phí trên trục tung, mức độ hoạt động thể hiện trên trục hoành Các tỷ lệ trên đồ thị cần phải đảm bảo càng chính các càng tốt Căn cứ vào sổ lần quan sát thực nghiệm thống kê, lần lượt vẽ các điểm với các mức độ hoạt động cụ thể tương ứng với chi phí của các mức độ hoạt động này

Bước 2: Kẻ một đường thẳng nằm trung bình giữa các điểm đã vẽ ở bước 1 sao cho chúng đi qua nhiều điểm nhất Hay nói cách khác, chúng phải thể hiện đặc trưng nhất về chi phí hỗn hợp ở các mức độ hoạt động khác nhau Đường này sẽ cắt trục tung tại điểm a (chính là tổng định phí)

Bước 3: Tính hệ số biến phí trên một đơn vị mức độ hoạt động ở 2 điểm đặc trưng của đồ thị theo công thức

d Theo nguồn chi phí phát sinh

- Chi phí ban đầu (chi phí chủ yếu): Là sự kết hợp giữa chi phí nguyên liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp Chi phí này có tác dụng phản ánh mức chi phí đầu tiên, chủ yếu của sản phẩm, đồng thời phản ánh mức chi phí riêng biệt, cụ thể từng đơn vị sản phẩm mà ta nhận diện ngay trong tiến trình sản xuất, và là cơ

sở lập kế hoạch về lượng chi phí chủ yếu cần thiết nếu muốn sản xuất sản phẩm

đó

- Chi phí chuyển đổi: Là sự kết hợp giữa chi phí nhân công trực tiếp với chi phí sản xuất chung Chi phí này có tác dụng phản ánh mức chi phí cần thiết để chuyển đổi nguyên liệu từ dạng thô sang dạng thành phẩm, và là cơ sở để lập kế hoạch về lượng chi phí cần thiết để chế biến một lượng nguyên liệu nhất định thành thành phẩm

e Theo hình thức tính chi phí vào kết quả

x

a y

x

a y

b  1

1

x

a y

2

x

b b

btb  1  2

Trang 10

- Chi phí trực tiếp: Là chi phí tự bản thân nó được chuyển vào một bộ phận

do có mối quan hệ thực sự chặt chẽ giữa chi phí đó và bộ phận làm phát sinh ra

nó hay nói cách khác, chi phí trực tiếp là những chi phí phát sinh một cách riêng biệt cho một hoạt động cụ thể của doanh nghiệp (một sản phẩm, một dịch vụ): chi phí nguyên liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp Khi bộ phận bị mất đi thì chi phí trực tiếp không tồn tại và ngược lại Các chi phí này có thể tính thẳng vào giá thành một cách trực tiếp mà không ảnh hưởng đến việc sản xuất các sản phẩm khác

- Chi phí gián tiếp: Là chi phí có liên quan đến việc sản xuất nhiều loại sản phẩm hoặc dịch vụ, phải qua quá trình phân bổ mới trở thành chi phí của một bộ phận: Phí sản xuất chung Mối quan hệ giữa một yếu tố chi phí gián tiếp và bộ phận sử dụng nó được hình thành thông qua một mối quan hệ trung gian khác Các chi phí gián tiếp không phát sinh và mất đi cùng với sự phát sinh và mất

đi của một hoạt động sản xuất – kinh doanh cụ thể (ví dụ: chi phí khấu hao tài sản

cố định, chi phí quản trị doanh nghiệp )

f Theo mối liên hệ giữa chi phí với khối lượng sản phẩm, lao vụ hoàn thành sản lượng

- Chi phí biến đổi (biến phí, chi phí khả biến): Là những khoản chi phí thay đổi tương quan với sự thay đổi của khối lượng sản phẩm, lao vụ hoàn thành như chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp…

- Chi phí cố định(định phí, chi phí bất biến): Là các khoản chi phí không có

sự thay đổi khi có sự thay đổi của khối lượng sản phẩm, lao vụ hoàn thành như chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí quản lý…

Cách phân loại này có ý nghĩa trong quản lý chi phí tại doanh nghiệp, là cơ

sở để thiết kế và xây dựng mô hình chi phí trong mối liên hệ giữa chi phí với khối lượng sản phẩm sản xuất và lợi nhuận đồng thời giúp ta quan sát đặc điểm của từng loại chi phí, tính toán và phân tích sự biến động chi phí bình quân đơn vị sản phẩm của doanh nghiệp, là căn cứ để doanh nghiệp tính sản lượng hòa vốn, hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp

* Ý nghĩa của công tác quản trị chi phí sản xuất trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh

- Chi tiêu của doanh nghiệp là sự chi ra, sự giảm đi thuần túy của tài sản, không để các khoản đó dùng vào việc gì và dùng như thế nào? chỉ tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm chỉ tiêu cho các quá trình mua hàng, quá trình sản xuất kinh doanh, chỉ tiêu cho quá trình mua hàng làm tăng tài sản của doanh nghiệp, còn chỉ tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh làm cho các khoản tiêu dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh tăng lên

Chi phí trong kinh doanh bao gồm toàn bộ phận tài sản tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ, số chỉ tiêu dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ và số chỉ tiêu dùng cho quá trình sản xuất tính nhập hoặc

Trang 11

phân bổ vào chi phí trong kỳ Ngoài ra, khoản chi phí phải trả (chi phí trả trước) không phải là chỉ tiêu trong kỳ nhưng được tính vào chi phí trong kỳ

Như vậy, giữa chỉ tiêu và chi phí của doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau, đồng thời có sự khác nhau về lượng và thời điểm phát sinh, mặt khác, chi phí phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nên nó được tài trợ vốn kinh doanh và được bù đắp từ thu nhập hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ tiêu không gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh nên có thể được tài trợ từ những nguồn khác nhau, có thể lấy từ quỹ phúc lợi, trợ cấp từ những nguồn khác nhau,

có thể lấy từ quỹ phúc lợi trợ cấp của Nhà nước và không bù đắp từ thu nhập hoạt động kinh doanh

- Xét về thực chất thì chi phí sản xuất kinh doanh là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định Nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh

Vì vậy, để quản lý có hiệu quả và kịp thời đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, các nhà quản trị doanh nghiệp luôn cần biết số chi phí chi ra cho từng loại hoạt động, từng loại sản phẩm, dịch vụ trong kỳ là bao nhiêu, số chi phí

đã chi đó cấu thành trong số sản phẩm lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành bao nhiêu

1.2 Chi phí trong quản trị chiến lược

1.2.1 Tác nhân tạo chi phí (cost driver)

Tác nhân tạo chi phí là một yếu tố bất kỳ có tác động làm thay đổi mức tổng chi phí Để sản xuất sản phẩm hay dịch vụ chúng ta cần nguyên vật liệu, lao động, điện, nước, máy móc thiết bị… Khi được sử dụng chúng tạo ra chi phí: Chi phí nguyên vật liệu, chi phí lao động, các chi phí khác Với các mức sử dụng khác nhau, chúng tạo ra những mức tổng chi phí khác nhau Đó chính là các tác nhân tạo chi phí

Trong hầu hết các doanh nghiệp, chúng ta đều có thể phân biệt: Tác nhân tạo chi phí theo hoạt động và tác nhân tạo chi phí theo sản lượng

- Theo hoạt động: Việc phân tích chi tiết các hoạt động sẽ xác định tác nhân tạo chí phí

- Theo sản lượng: Tổng chi phí của sản phẩm hình thành từ chi phí biến đổi

và chi phí cố định, trong đó

+ Chi phí biến đổi là một bộ phận của tổng chi phí sẽ thay đổi khi có sự thay đổi trong số lượng tác nhân tạo chi phí Ví dụ: chi phí nguyên vật liệu, chi phí lao động trực tiếp

+ Chi phí cố định là một bộ phận của tổng chi phí mà nó không thay đổi theo sự thay đổi của số lượng tác nhân tạo chi phí Ví dụ: khấu hao, thuế, bảo trì Tổng chi phí cố định và chi phí biến đổi cho từng đơn vị sản phẩm là những khái niệm sẽ được sử dụng nhiều trong các bài sau này

Trang 12

Tóm lại: Đối với các doanh nghiệp, để đạt mức chi phí thấp, thì việc quản trị các tác nhân tạo chi phí là rất quan trọng

1.2.2 Nhóm chi phí (cost pool)

Đó là sự tập hợp chi phí vào trong các nhóm Có nhiều cách để tập hợp chi phí thành nhóm và như vậy cũng có nhiều cách xác định nhóm chi phí:

– Theo dạng chi phí (nhóm chi phí lao động, nhóm chi phí nguyên vật liệu,…)

– Theo nguồn chi phí (chi phí của bộ phận sản xuất, bộ phận kế hoạch, bộ phận quản lý kho,…)

1.2.3 Đối tượng nhận chi phí (cost object)

Đối tượng nhận chi phí là một sản phẩm, một dịch vụ nào đó phải nhận tất

cả các chi phí liên quan đến việc quản trị và sản xuất ra chúng

Trong quản trị chi phí, khái niệm này còn bao gồm nhóm sản phẩm, nhóm dịch vụ, nhóm các bộ phận sản xuất, khách hàng, nhà cung ứng dịch vụ …

1.2.4 Ấn định chi phí và phân bổ chi phí

- Ấn định chi phí là đưa các chi phí trực tiếp vào trong nhóm chi phí hay đối tượng nhận chi phí

- Phân bổ chi phí là đưa các chi phí gián tiếp đến nhóm chi phí hay đối tượng nhận chi phí Các chi phí gián tiếp này khó tính được chính xác cho một đối tượng nhận chi phí Vì thế, nó có thể được phân bổ đến đối tượng nhận chi phí

Trên thực tế, để đơn giản và dễ tính toán, các nhà quản trị chi phí chấp nhận

sử dụng phương pháp phân bổ chi phí gián tiếp trung bình trên từng sản phẩm (lấy tổng chi phí gián tiếp đó chia cho số lượng sản phẩm được sản xuất Mỗi sản phẩm nhận phần chi phí giống như nhau) Tuy nhiên, phương pháp này không cho thấy được mức độ sử dụng các yếu tố chi phí cho từng sản phẩm hoặc dịch vụ

Ví dụ: Công ty A sản xuất 5 mẫu motor điện cho các loại quạt máy Mỗi tháng, công ty sản xuất 280 motor cho tất cả 5 mẫu với tổng chi phí là 150 triệu đồng Phân tích chi phí trên 2 mẫu trong số 5 mẫu của công ty cho kết quả trong bảng sau:

Bảng 1.1 Chi phí liên quan trên 2 mẫu motor

Trang 13

- Chi phí gián tiếp không thể tính toán cụ thể cho từng sản phẩm nên công

ty phân bổ trung bình Như vậy, mỗi sản phẩm dù có mức độ phức tạp khác nhau cũng nhận một khoản chi phí gián tiếp giống nhau

- Tổng chi phí của mỗi sản phẩm khác nhau là do sự khác nhau của chi phí trực tiếp

1.3 Chi phí sản phẩm và dịch vụ

1.3.1 Chi phí sản phẩm (product costs)

Bao gồm các chi phí cần thiết để hoàn thành sản phẩm như: nguyên vật liệu trực tiếp, lao động trực tiếp và chi phí sản xuất chung

Đối với các doanh nghiệp thương mại, chi phí sản phẩm bao gồm chi phí mua hàng cộng với chi phí vận chuyển, chi phí bảo quản

Đối với doanh nghiệp dịch vụ, tất cả chi phí được xem là chi tiêu cho các hoạt động

1.3.2 Chi phí thời kỳ (period costs)

Là tất cả chi phí dùng cho quản lý và bán hàng Chi phí này bao gồm: chi phí quản lý chung, chi phí quảng cáo, chi phí xử lý dữ liệu, lương cho nhân viên,…

1.3.3 Các dòng chi phí (cost flows) trong doanh nghiệp

a Trong các doanh nghiệp sản xuất

Doanh nghiệp sản xuất là gì?

Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người Đó là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại Khái niệm doanh nghiệp sản xuất là những doanh nghiệp sử dụng nguồn lực, tư liệu sản xuất kết hợp với ứng dụng khoa học công nghệ để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường

Quá trình sản xuất của một doanh nghiệp là sự kết hợp giữa ba yếu tố cơ bản: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động để tạo ra sản phẩm

Sức lao động: là khả năng của lao động; là tổng thể việc kết hợp, sử dụng

thể lực và trí lực của con người trong quá trình lao động

Đối tượng lao động: là bộ phận của giới tự nhiên mà hoạt động lao động

của con người tác động vào nhằm biến đổi nó theo mục đích của mình Đối tượng lao động gồm hai loại: Loại thứ nhất có sẵn trong tự nhiên (ví dụ: khoáng sản, đất,

Trang 14

đá, thủy sản ), liên quan đến các ngành công nghiệp khai thác; Loại thứ hai đã qua chế biến – có sự tác động của lao động trước đó (ví dụ: thép, phôi, sợi dệt, bông…), là đối tượng lao động của các ngành công nghiệp chế biến

Tư liệu lao động: là một vật hay các vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động của con người lên đối tượng lao động, nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người Trong sản xuất, có hai loại tư liệu lao động là: bộ phận trực tiếp tác động vào đối tượng lao động theo mục đích của con người, tức là công cụ lao động (ví dụ: máy móc, thiết bị sản xuất…); bộ phận gián tiếp cho quá trình sản xuất (ví dụ: nhà xưởng, kho, sân bay, đường xá, phương tiện giao thông…) Trong tư liệu lao động, công cụ lao động giữ vai trò quyết định đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm

Đặc điểm của doanh nghiệp sản xuất

Đặc điểm chung về hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất gồm:

1 Quyết định sản xuất của doanh nghiệp dựa trên những vấn đề chính như: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết để làm ra sản phẩm?

2 Quy trình sản xuất là một chuỗi các công việc được thực hiện theo thứ tự

để tạo ra sản phẩm trên cơ sở kết hợp: nguyên vật liệu; nhân công; máy móc thiết bị; năng lượng và các yếu tố khác

3 Chi phí sản xuất là các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất, bao gồm: chi phí nguyên vật liệu; chi phí nhân công; chi phí khấu hao máy móc nhà xưởng; chi phí năng lượng; chi phí điều hành và phục vụ sản xuất

Hình 1.3 Các dòng chi phí trong doanh nghiệp sản xuất

NVL được mua

NVL được sử dụng

Tồn kho NVL đk

Tồn kho NVL ck

CPNCTT CPSXC

Quy trình sản xuất SPDD tồn

đk

SPDD tồn

ck

Thành phẩm Tồn kho

TP đk

Tồn kho

TP ck

Giá thành sản xuất

Trang 15

4 Chi phí sản xuất gồm: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp (nếu phân theo quan hệ sản phẩm); chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp

và chi phí sản xuất chung (nếu phân theo các khoản mục)

5 Giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí sản xuất tạo ra lượng sản phẩm hoàn thành (thành phẩm) trong một khoảng thời gian nhất định

– Đầu tiên, chi phí cho việc mua nguyên vật liệu để sử dụng trong sản xuất – Chi phí nguyên vật liệu được đưa vào tài khoản sản xuất kết hợp với các yếu tố chi phí lao động và các yếu tố chi phí khác

– Khi sản phẩm hoàn thành, các chi phí tích lũy trong tài khoản sản xuất sẽ được chuyển ra khỏi tài khoản này và đưa vào tài khoản thành phẩm

– Tổng kết tất cả chi phí lại ta có giá vốn hàng bán cho sản phẩm sẵn sàng bán

b Trong các doanh nghiệp thương mại

* Một số khái niệm liên quan

Thương mại là lĩnh vực trao đổi hàng hóa, lưu thông hàng hóa thông qua mua bán bằng tiền trên thị trường

Kinh doanh thương mại là dùng tiền của, công sức, tài năng vào việc mua hàng hóa để bán nhằm mục đích kiếm lời

“Doanh nghiệp thương mại là một đơn vị kinh doanh được thành lập hợp pháp, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực thương mại”

Như vậy, một tổ chức kinh tế được coi là một doanh nghiệp thương mại phải có

đủ hai điều kiện sau:

Phải được thành lập theo đúng luật định;

Phải trực tiếp thực hiện chức năng thương mại với mục đích kiếm lời

Nhiệm vụ của doanh nghiệp thương mại:

Các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực đều có chung nhiệm vụ sau:

Hoạt động kinh doanh đáp ứng nhu cầu của thị trường;

Thực hiện đầy đủ các cam kết đối với khách hàng về sản phẩm, dịch vụ, giải quyết thỏa đáng các mối quan hệ lợi ích với các chủ thể kinh doanh theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi;

Bảo toàn và tăng trưởng vốn, mở rộng kinh doanh;

Bảo vệ môi trường, bảo vệ sản xuất, bảo đảm an ninh, an toàn và trật tự xã hội;

Chấp hành pháp luật, thực hiện chế độ hạch toán thống kê thống nhất và thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước

Trang 16

* Chức năng của doanh nghiệp thương mại

- Thực hiện chức năng lưu chuyển hàng hóa từ nguồn hàng đến lĩnh vực tiêu dùng

Sản xuất ra sản phẩm là khâu đầu tiên, nhưng sản phẩm mới chỉ là sản phẩm ở trạng thái khả năng, chỉ khi nào sản phẩm được đưa vào quá trình sử dụng (trong sản xuất hoặc tiêu dùng cá nhân) thì sản phẩm mới thực sự trở thành sản phẩm và quá trình sản xuất mới hoàn thành

Thực hiện chức năng lưu thông hàng hóa một cách chuyên nghiệp, các doanh nghiệp thương mại tổ chức quá trình lưu thông một cách hợp lý, nhanh chóng, đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Doanh nghiệp thương mại là người cung ứng hàng hóa cho khách hàng, do đó cần phải quan tâm đến giá trị sử dụng của hàng hóa (sử dụng như thế nào? Sử dụng làm gì? Đối tượng sử dụng? Thời gian và địa điểm mua bán?) và chi phí lưu thông hàng hóa để có giá cả hợp

lý, khách hàng có thể chấp nhận được

Chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông

Quá trình sản xuất theo nghĩa rộng gồm 4 khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi (lưu thông) và tiêu dùng Bốn khâu này có quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau trong đó mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng là mối quan hệ cơ bản nhất

Kinh doanh thương mại nằm ở khâu trung gian giữa một bên là sản xuất và phân phối, một bên là tiêu dùng sản phẩm Trong quá trình trao đổi hàng hóa, lưu thông sản phẩm từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng, các doanh nghiệp thương mại phải thực hiện phân loại, chọn lọc, đóng gói, vận chuyển, dự trữ, bảo quản sản phẩm, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, sửa chữa, lắp ráp, bảo hành sản phẩm…Đây chính là chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong quá trình lưu thông Chức năng này nhằm hoàn thiện sản phẩm ở dạng tốt nhất để sản phẩm thích hợp với nhu cầu của người tiêu dùng

Như vậy, kinh doanh thương mại có chức năng lưu thông hàng hóa là chức năng kinh tế chủ yếu, nhưng gắn rất chặt chẽ với chức năng kỹ thuật sản phẩm, tức là chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông Mặt khác, trong quá trình thực hiện lưu thông hàng hóa, các doanh nghiệp thương mại còn phải thực hiện việc tổ chức sản xuất, đầu tư, khai thác tạo nguồn hàng để tạo ra các sản phẩm thay thế hàng ngoại nhập có giá cả phải chăng để chủ động trong nguồn hàng và thích hợp với nhu cầu của khách hàng

Chức năng dự trữ hàng hóa và điều hòa cung – cầu

Chức năng của kinh doanh thương mại là mua bán hàng hóa vào để cung ứng đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, đúng chất lượng, số lượng, ở những nơi thuận tiện cho khách hàng Nhờ có hàng hóa dự trữ mà doanh nghiệp thương mại có thể thỏa mãn đầy đủ, kịp thời về nhu cầu hàng hóa của khách hàng Nhờ có hệ thống mạng lưới rộng (kho, trạm, cửa hàng, quầy hàng, siêu thị, đại lý…) mà doanh nghiệp

Trang 17

thương mại có thể đảm bảo thuận lợi cho khách hàng mua những hàng hóa cần thiết, vừa tiết kiệm được thời gian, vừa không phải đi quá xa

Để thỏa mãn nhu cầu và khả năng của khách hàng, doanh nghiệp thương mại phải mua những mặt hàng có chất lượng tốt, đúng yêu cầu của khách hàng, nhưng phải ở nơi có nguồn hàng phong phú, nhiều, rẻ, sau khi cộng với chi phí lưu thông đưa đến thị trường bán, khách hàng vẫn có thể chấp nhận được Điều này, một cách tự nhiên, kinh doanh thương mại thực hiện việc điều hòa cung cầu

từ nơi có hàng hóa nhiều, phong phú, rẻ đến nơi có hàng hóa ít, khan hiếm, đắt hoặc mua hàng khi thời vụ và bán hàng quanh năm, cung cầu hàng hóa được điều hòa

Quy trình trong các doanh nghiệp này đơn giản hơn Hàng hóa được mua,

và chi phí mua được ghi vào tài khoản tồn kho Khi hàng được bán, các chi phí này được chuyển đến tài khoản giá vốn hàng bán

Hình 1.4 Các dòng chi phí trong doanh nghiệp thương mại

c Trong doanh nghiệp dịch vụ

Phân biệt giữa hoạt động sản xuất và hoạt động dịch vụ:

Những năm gần đây, quản trị tác nghiệp được sử dụng khá phổ biến trong các doanh nghiệp Những khái niệm và những kỹ thuật được sử dụng trong quản trị sản xuất trong thế giới công nghiệp đã ngày càng được sử dụng rât thành công trong các doanh nghiệp dịch vụ Đó là khái niệm được dùng để phản ánh chung cho cả hai loại quá trình là quá trình sản xuất và quá trình dịch vụ Lý do giải thích cho xu hướng mới đó là cả hai loại quá trình này đều có những chức năng chung như hoạch định, thiết kế, tổ chức, kiểm tra hệ thông sản xuất hoặc dịch vụ Bất kỳ hoạt động nào của sản xuât hay dịch vụ đều cần thực hiện những chức năng trên Hơn nữa, ngày nay các doanh nghiệp thường tham gia kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm cả hoạt động sản xuất và hoạt động cung cấp dịch vụ Xu hướng sử dụng khái niệm quản trị tác nghiệp bao trùm được cả hai loại hoạt động trên trong doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp xây dựng được nhưng chiến lực phat triển thích hợp với cả sản xuât và dịch vụ Ngoài ra cung còn cần tính đến xu hướng dịch chuyển cơ cầu kinh tế của các nước trong thời đại ngày nay, đó là khi trình độ kinh tế phát triển càng cao thì vai trò và tỷ trọng của khu vực dịch vụ

Hàng hóa tồn kho

Hàng hóa được mua

Giá thành sản xuất

Trang 18

càng tăng Đó cũng là lý do các doanh ngiệp càng ngày càng quan tâm tới quá trình dịch vụ và quản trị nó

Tuy có những chức năng chung và xu hướng vận dụng những khái niệm, phương pháp quản trị chung nhưng do đặc điểm của quá trình này có những nét đặc thù cần phải nghiên cứu và vận dụng thỏa đáng Những điểm khác biệt giữa quá trình sản xuât và quá trình cung cấp dịch vụ thương bao gồm:

- Đặc điểm đầu vào và đầu ra;

- Mối quan hệ của doanh nghiệp với khách hàng;

- Sự tham gia của khách hàng trong quá trình biến đổi;

- Thời gian từ khi sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ đến khi tiêu dùng;

- Khả năng đo lường, đánh giá năng suất, chất lượng

Sự khác biệt này được tổng hợp tại bảng 1 – 2

Bảng 1.2 Sự khác biệt giữa hoạt động sản xuất và dịch vụ

1 Đầu ra Có thể dự trữ Hữu hình Không thể dự trữ Vô hình

chuẩn hóa

Không đồng đều, không ổn định

4 Tiêu chí đánh giá về chất

5 Đánh giá trả công Trực tiếp, dễ dàng Gián tiếp, khó

6 Quan hệ với khách hàng Gián tiếp Trực tiếp

8 Có thể cấp bằng sáng chế Thông thường Không có

Những đặc trưng trên đòi hỏi khi thiết kế, hoạch định và quản trị hệ thống sản xuất/tác nghiệp của mỗi doanh nghệ cần phải nghiên cứu và giải quyết và tìm

ra phương pháp quản trị thích hợp và hiệu quả

Thường không có hoặc có rất ít tồn kho Chi phí nguyên vật liệu, lao động

và chi phí sản xuất chung được ấn định đến đối tượng nhận chi phí là dịch vụ

Thông thường, trong các doanh nghiệp có ba tài khoản tồn kho:

- Đối với các doanh nghiệp sản xuất: Tồn kho nguyên vật liệu (NVL), tồn kho sản phẩm dở dang (SPDD), tồn kho thành phẩm (TP)

- Đối với doanh nghiệp thương mại: Chỉ có tồn kho sản phẩm

- Đối với doanh nghiệp dịch vụ: Chỉ có tồn kho nguyên vật liệu

Khái niệm tồn kho dùng để trình bày cách thức các dòng chi phí đi vào quy trình sản xuất, sau đó đi vào thành phẩm và cuối cùng hình thành giá sản xuất Mỗi tài khoản tương ứng đều có tồn đầu kỳ và cuối kỳ Cân đối chung ta có:

Trang 19

Tồn đầu kỳ + phát sinh trong kỳ = hoàn thành và chuyển ra + tồn cuối kỳ

1.5 Các dòng chi phí trong doanh nghiệp dịch vụ

Ví dụ: Một doanh nghiệp sản xuất có tài liệu như sau:

* Tồn đầu kỳ của doanh nghiệp:

- Nguyên vật liệu 20 triệu đồng

- Lao động trực tiếp 100 triệu đồng

- Chi phí sản xuất chung 120 triệu đồng

- Hoàn thành và chuyển ra 270 triệu đồng

Tồn kho NVL ck NVL được mua

Chi phí dịch vụ CPNCTT CPSXCT

Trang 20

Hãy tính giá thành sản xuất cho doanh nghiệp trên?

1.4 Chi phí đối với việc hoạch định và xây dựng quyết định

1.4.1 Chi phí liên quan

* Chi phí chênh lệch (differential cost)

Chi phí chênh lệch là chi phí có ở phương án này nhưng chỉ có một phần hoặc không có ở phương án khác

Các loại chi phí chênh lệch được xem là chi phí tăng thêm, mặc dù số tăng này chỉ có do chênh lệch chi phí một loại nào đó ở phương án mới lớn hơn chi phí cùng loại ở phương án trước đó Ngược lại, nếu chênh lệch giảm đi thì chi phí tăng và chi phí giảm giữa các phương án khác nhau Chi phí chênh lệch có thể là chi phí biến đổi hoặc chi phí cố định Nó hữu ích đối với nhà quản trị doanh nghiệp vì dựa vào đây nhà quản trị có thể đưa ra quyết định lựa chọn theo nguyên tắc: Nếu đầu ra là xác định thì sẽ chọn phương án có chi phí đầu tư thấp hơn, ngược lại nếu đầu vào là như nhau và hữu hạn thì ưu tiên cho phương án có lợi ích thu được lớn nhất trong các phương án có thể có

* Chi phí cơ hội (opportunity cost)

Chi phí cơ hội là lợi ích bị mất đi khi lựa chọn một phương án hành động này mà không lựa chọn các phương án hành động khác (Hành động khác ở đây

là phương án tối ưu nhất có sẵn bị bỏ lỡ so với phương án được lựa chọn)

Khái niệm chi phí cơ hội được sử dụng để đo lường những tác động kinh tế tiềm năng của một quyết định

Chú ý: Khi quyết định lựa chọn một phương án hành động nào đó, doanh nghiệp sẽ bỏ lỡ rất nhiều cơ hội để thực hiện phương án khác và do đó cũng có thể

“tuột” mất nhiều mức lợi ích khác nhau Nhưng không phải tất cả trong số đó đều được xem là chi phí cơ hội mà chỉ có mức lợi ích lớn nhất sẵn có bị bỏ lỡ so với phương án được lựa chọn mới là chi phí cơ hội của doanh nghiệp Chẳng hạn doanh nghiệp có 4 phương án có thể được thực hiện với 4 mức lợ nhuận trung bình hàng năm tương ứng là 1 tỷ, 2 tỷ, 3 tỷ, 4 tỷ Nếu doanh nghiệp quyết định lựa chọn phương án 4 với lợi nhuận thu được hàng năm là lớn nhất (4 tỷ) thì không phải cả 3 phương án bỏ lỡ đều là chi phí cơ hội mà chỉ có phương án 3 có lợi nhuận cao nhất (3 tỷ) mới được coi là chi phí cơ hội của doanh nghiệp do việc lựa chọn phương án 4 thay vì 3 phương án còn lại

* Chi phí chìm (sunk cost)

Chi phí chìm là những chi phí luôn luôn xuất hiện trong tất cả các quyết định của nhà quản trị hoặc trong các phương án sản xuất kinh doanh khác nhau Chi phí chìm là chi phí mà nhà quản trị phải chấp nhận trong các quyết định khác nhau

Chi phí chìm là một loại chi phí mà doanh nghiệp phải gánh chịu dù chọn phương án hành động nào Chi phí chìm không bao giờ thích hợp với việc ra

Trang 21

quyết định vì chúng không có tính chênh lệch ẩn trong mọi phương án nên không cung cấp thông tin hữu ích để lựa chọn

1.4.2 Yêu cầu đối với các thông tin chi phí cho việc xây dựng quyết định

- Chính xác

Các thông tin chi phí chính xác sẽ bảo đảm kết quả tính toán chi phí, từ đó

sẽ có các quyết định phù hợp về chiến lược sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp

Thông tin chi phí thường được lấy từ các dữ liệu kế toán Như vậy, để đạt yêu cầu chính xác, doanh nghiệp cần một hệ thống kiểm tra kế toán nội bộ chặt chẽ Hệ thống này là một tập họp các chính sách và quy trình hoạt động xử lý các

dữ liệu tài chính nhằm mục đích tránh những sai lầm

Trang 22

Chương 2 Quản trị chi phí kinh doanh 2.1 Khái niệm và vai trò của quản trị chi phí kinh doanh

- Quản trị chi phí giúp doanh nghiệp có thể cải thiện chất lượng sản phẩm hay dịch vụ của mình mà không làm thay đổi chi phí

- Quản trị chi phí giúp người ra quyết định nhận diện được các nguồn lực có chi phí thấp nhất trong việc sản xuất và cung ứng hàng hóa hoặc dịch vụ

Bảng 2.1 So sánh vai trò của quản trị chi phí và kế toán chi phí

- Ghi chép chi phí - Ghi chép các chi phí phát

sinh

- Phân tích các thông tin liên quan đến chi

phí

- Nhận diện các cơ hội kinh doanh

2.1.3 Quản trị chi phí trong môi trường kinh doanh hiện nay

- Môi trường kinh doanh toàn cầu

Hiện nay, môi trường kinh doanh đã mở rộng đến thị trường thế giới, làm cho các doanh nghiệp phải chịu sức ép canh tranh trên quy mô toàn cầu Vì vậy,

Trang 23

doanh nghiệp cần nhiều thông tin về quản trị chi phí hơn để có thể xây dựng chiến lược cạnh tranh và kinh doanh có hiệu quả

- Công nghệ sản xuất

Để cạnh tranh một cách hiệu quả, các doanh nghiệp phải chấp nhận thay đổi công nghệ sản xuất Điều này không những giúp cho doanh nghiệp có thể kiểm soát được các dòng chi phí vào (chi phí NVL, lao động, chi phí khác) mà còn có thể xây dựng các quyết định cho đầu ra sản xuất (giá bán, sản lượng, doanh thu, lợi nhuận, tồn kho)

- Định hướng khách hàng

Một thay đổi quan trọng của môi trường kinh doanh hiện nay là sự thay đổi liên tục thị hiếu của khách hàng đối với sản phẩm/dịch vụ Họ thích sản phẩm có chất lượng cao, có nhiều tính năng mới, mẫu mã đa dạng, các dịch vụ kèm theo phải phong phú Vì vậy, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là phải thỏa mãn các yêu cầu này với chi phí thấp nhất Vai trò của quản trị chi phí, vì thế, trở nên rất quan trọng vì nếu không quản lý và phân tích tốt, sản phẩm tuy có chất lượng cao nhưng giá cũng sẽ cao, khách hàng sẽ không thích nữa

- Tổ chức quản trị

Do mục tiêu là nhắm đến thỏa mãn thị hiếu của khách hàng nên các hoạt động sản xuất và kinh doanh cũng chuyển dịch theo hướng khách hàng Vì thế, tổ chức của doanh nghiệp cũng thay đổi và hình thành các nhóm hoạt động hoặc bộ phận chức năng (nghiên cứu phát triển, tổ chức sản xuất, giao hàng, bảo hành, sửa chữa) Theo đó, thực tế việc quản trị chi phí cũng sẽ có những thay đổi cho phù hợp Từng nhóm/bộ phận sẽ có các chi phí hoạt động của mình Các báo cáo về chi phí sẽ phản ảnh hoạt động của các nhóm/bộ phận hợp lý hay chưa hợp lý

Bảng 2.2 So sánh môi trường kinh doanh trước đây và hiện nay

Trọng tâm là chất lượng, tính năng và sự thỏa mãn của khách hàng đối với sản phẩm

2 Quy trình sản xuất Sản lượng cao, tồn kho

lớn

Sản lượng ít, tồn kho thấp, giảm thiểu chi phí

3

Công nghệ sản xuất Dây chuyền lắp ráp tự

động, sử dụng công nghệ riêng biệt ở mỗi công đoạn

Hệ thống robot, sử dụng công nghệ liên kết nhau thông qua hệ thống mạng

4 Kỹ năng lao động Yêu cầu thấp Yêu cầu cao

5 Thị trường tiêu thụ Chủ yếu là trong nước Tiêu thụ trên toàn cầu

2.2 Chiến lược quản trị chi phí của các doanh nghiệp

Trang 24

2.2.1 Kỹ thuật bắt chước

Để áp dụng kỹ thuật này, doanh nghiệp phải xác định các nhân tố thành công của mình, nghiên cứu thực tế thực hiện tốt nhất của một doanh nghiệp khác (hay có thể là một đơn vị khác ngay trong doanh nghiệp) về chúng, sau đó thực hiện việc cải thiện trong quy trình sản xuất kinh doanh của mình Công cụ này giúp doanh nghiệp nhận diện các cơ hội, các điều kiện để cải thiện hoạt động mà không làm tăng chi phí

2.2.2 Quản trị chất lượng

Đây là một hệ thống hoạt động với mục tiêu là đảm bảo chất lượng sản phẩm/dịch vụ luôn đáp ứng sự mong đợi của khách hàng Hệ thống này nghiên cứu việc tăng thêm các tính năng cho sản phẩm, gia tăng độ tin cậy, độ bền vững của sản phẩm, phát triển dịch vụ khách hàng tốt nhất Quản trị chi phí làm nhiệm

vụ phân tích tất cả thông tin vể chi phí của các phương án hoạt động, đánh giá tác động của chúng trong việc đảm bảo chất lượng sản phẩm, thu nhận và xem xét mọi ý kiến phản hồi của khách hàng Mục đích của việc quản trị chất lượng là xây dựng lòng trung thành của khách hàng đối với sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp

và giúp doanh nghiệp cải thiện chất lượng sản phẩm, cạnh tranh ngày càng hiệu quả hơn

2.2.3 Quản trị theo hoạt động

Quản trị chi phí theo hoạt động được sử dụng để cải thiện tính chính xác của các phân tích chi phí Nó giúp cho việc tính toán chi phí của từng sản phẩm được chính xác Việc phân tích chi tiết các hoạt động sẽ cho thấy các hoạt động đó được thực hiện trong từng công việc riêng biệt ở doanh nghiệp như thế nào Ngày nay, nhiều doanh nghiệp xem đây là công cụ chiến lược cho sự thành công của mình Chúng ta sẽ phân tích chi tiết phương pháp này trong phần 2.3

Chú ý:

- Quản trị chi phí khác với kế toán chi phí

- Các thông tin trong quản trị chi phí bao gồm cả thông tin chi phí và thông tin phi chi phí

- Nhà quản trị chi phí không chỉ cần kiến thức về kế toán mà còn cần có hiểu biết về tài chính, kỹ thuật – công nghệ sản xuất, môi trường kinh doanh, môi trường xã hội, thậm chí còn cần phải hiểu được tâm lý khách hàng

2.3 Phương pháp tính toán chi phí kinh doanh

2.3.1 Tính toán chi phí theo phương pháp truyền thống

Tính toán chi phí truyền thống là một phương pháp được sử dụng khi chi phí cho lao động chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản phẩm Phần chi phí sản xuất chung (các chi phí không thể xác định một cách trực tiếp trong từng sản phẩm) chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ Do đó, chúng sẽ được tính toán và phân bổ vào chi phí sản

Trang 25

phẩm dựa trên cơ sở sản lượng được sản xuất hoặc một tác nhân nào đó như số giờ máy, số giờ lao động trực tiếp

Theo phương pháp này, một tác nhân chi phí thích hợp được chọn làm cơ sở phân bổ

• Nếu là doanh nghiệp có chi phí lao động trực tiếp lớn, tác nhân thích hợp thường được chọn là số giờ lao động trực tiếp

• Nếu là doanh nghiệp có chi phí cho máy móc công nghệ lớn, sẽ là số giờ máy

* Chú ý:

Phương pháp tính toán chi phí truyền thống chỉ có thể áp dụng để tính toán chi phí sản xuất chung của sản phẩm trong trường hợp doanh nghiệp có chi phí lao động cao, công nghệ đơn giản, chủng loại sản phẩm ít

2.3.2 Tính toán chi phí theo mức hoạt động(Phương pháp ABC)

ABC là phương pháp tính toán để ấn định chi phí đến sản phẩm/dịch vụ dựa trên mức sử dụng hay tiêu thụ các nguồn lực của các hoạt động để sản xuất ra sản phẩm đó

Phương pháp ABC được hình thành là do chi phí sản xuất chung chỉ liên quan một cách gián tiếp đến sản phẩm cuối cùng Vì vậy, khi phân bổ chúng cho sản phẩm phải dựa trên một cơ sở hợp lý Cơ sở đó là các hoạt động được thực hiện cho sản phẩm đó

b Các hoạt động và các tác nhân tạo chi phí trong ABC

- Hoạt động (activity) là công việc được thực hiện trong tổ chức Hoạt động

là hành động, chuyển động hay kết quả của công việc Ví dụ: Lắp ráp các linh kiện vào bộ mạch, xử lý & kiểm tra nguyên vật liệu, may các phần rời rạc lại để thành cái áo, cưa, bào, đục gỗ để đóng ra bàn ghế…

- Nguồn lực (resource) là một yếu tố kinh tế được sử dụng để thực hiện các hoạt động Thí dụ: lao động, NVL là nguồn lực để thực hiện hoạt động

- Tác nhân tạo chi phí (cost driver) là bất kỳ yếu tố nào mà nó có tác động làm thay đổi chi phí của một hoạt động (đã gặp khái niệm này ở chương trước)

Trang 26

Giả định chính của hệ thống ABC là sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp được thực hiện bởi các hoạt động Các hoạt động này sử dụng các nguồn lực từ đó tạo ra chi phí Các nguồn lực được phân bổ đến hoạt động, sau đó đến đối tượng nhận chi phí Với ABC, chi phí sản xuất chung được phân bổ đến đối tượng nhận chi phí bằng cách xác định các hoạt động, các nguồn lực, chi phí của chúng và số lượng cần thiết để sản xuất ra sản phẩm

c Các bước trong thiết kế hệ thống ABC

Có ba bước chủ yếu trong việc thiết kế hệ thống tính toán chi phí ABC Bước 1: Xác định các chi phí nguồn lực và phân tích các hoạt động

- Hầu hết chi phí nguồn lực đều được ghi chép trong sổ cái kế toán như mua NVL, xử lý NVL, chi phí nhà xưởng, máy móc thiết bị, lương nhân viên, …

- Phân tích các hoạt động: là xác định và mô tả những việc phải làm trong đơn vị để sản xuất ra sản phẩm Công việc này bao gồm: Thu thập dữ liệu, điều tra, quan sát, phỏng vấn và liệt kê các công việc được thực hiện để có được những thông tin cần thiết cho việc phân tích

Bước 2: Ấn định chi phí nguồn lực đến các hoạt động

Khi thực hiện các hoạt động sẽ phải sử dụng các nguồn lực, việc này tạo ra chi phí Nếu thực hiện nhiều hoạt động sẽ phải sử dụng nhiều nguồn lực, chi phí tăng lên Đây là mối quan hệ nhân quả và là cơ sở cho tính toán theo ABC

Chi phí nguồn lực được ấn định vào các hoạt động một cách trực tiếp hoặc ước tính

- Trực tiếp: Yêu cầu phải đo lường thực tế mức sử dụng các nguồn lực của hoạt động đó Ví dụ: Cần bao nhiêu chi phí cho điện để vận hành máy trong dây chuyền sản xuất sản phẩm A

- Ước tính: Nếu không có sẵn các đo lường trực tiếp, nhà quản trị phải ước tính mức tiêu thụ của từng hoạt động trong các hoạt động đã phân tích Ví dụ: ước tính số giờ máy hoạt động cần thiết cho việc lắp ráp một xe hơi

Bước 3: Ấn định chi phí hoạt động đến đối tượng nhận chi phí

Một khi đã biết chi phí các hoạt động, cần phải đo lường mức độ tiêu thụ các hoạt động đó trên mỗi sản phẩm được sản xuất Gọi đó là tác nhân tạo chi phí dạng hoạt động (ví dụ: Số giờ máy hoạt động, số máy móc sử dụng, số NVL được kiểm tra và xử lý) Hoạt động nào tiêu thụ nhiều thì sẽ có chi phí cao và ngược lại

Các tác nhân hoạt động sẽ giải thích tại sao chi phí sản xuất chung của từng sản phẩm lại khác nhau mà điều này thì phương pháp truyền thống không giải thích cụ thể được

d Ưu điểm

- Cung cấp các thông tin chi phí một cách chính xác, giúp nhà quản trị có thể đánh giá đúng lợi nhuận, doanh thu cho doanh nghiệp mình

Trang 27

- Giúp doanh nghiệp nhận diện các cơ hội để cải thiện hoặc nâng cao lợi thế cạnh tranh thông qua việc xây dựng các chiến lược về chi tiêu, giá cả, dịch vụ khách hàng, phát triển sản phẩm

e Hạn chế

- Có thể bỏ sót chi phí: Trong ABC, các chi phí như quảng cáo, tiếp thị, R&D, bảo hành… không được xem là chi phí sản phẩm mà là chi phí thời kỳ Nhưng thực tế, đây lại là các chi phí bổ sung cho từng sản phẩm riêng biệt

- Tăng chi tiêu và tốn thời gian:Để phát triển và thực hiện hệ thống ABC thường làm tăng thêm một khoản chi tiêu cho doanh nghiệp và mất nhiều thời gian Theo các doanh nghiệp đã thành công trong việc sử dụng hệ thống này, họ mất khoảng hơn một năm để chuẩn bị và thực hiện chúng

Ví dụ: Công ty Z sản xuất và bán hai loại máy in: Máy loại tốt và loại thường Trong quý 2/năm N, bộ phận kế toán báo cáo các thông tin về hai loại sản phẩm như:

STT Khoản mục ĐVT Máy in loại tốt Máy in loại thường

Ban Giám Đốc công ty rất hài lòng với mức bán và lợi nhuận được báo cáo

Họ quyết định trong 6 tháng cuối năm sẽ tập trung nguồn lực nhiều hơn cho loại máy tốt do nhận định đây là sản phẩm có lợi nhuận cao hơn Tuy nhiên, bộ phận quản trị chi phí cho rằng quyết định này chưa chính xác Qua khảo sát họ đã ghi nhận được các hoạt động, nhóm chi phí và tác nhân hoạt động dự tính cho cả năm như sau:

STT Hoạt động dự trù, 1000 đ Nhóm chi phí Tác nhân hoạt động tạo chi

Mức tiêu thụ các tác nhân hoạt động trong quý 2/N + 1 như sau:

STT Tác nhân hoạt động ĐVT Máy tốt Máy thường Tổng cộng

Trang 28

4 Số lệnh đóng gói lệnh 5.000 10.000 15.000

* Chú ý:

- Phương pháp tính ABC được áp dụng cho các doanh nghiệp có chi phí nguyên vật liệu, chi phí kỹ thuật cao, công nghệ tiên tiến, sản phẩm đa dạng, quy trình sản xuất phức tạp

* So sánh PP ABC và PP truyền thống

Giống nhau:

+ Có cùng đối tượng tính giá thành

+ Cách tập hợp chi phí trực tiếp như nguyên vật liệu trực tiếp, NCTT được tập hợp trực tiếp vào đối tượng tính giá

+ Chi phí nhân công trực tiếp của hai phương pháp này có giống một phần

là tiêu thức phân bổ chi phí luôn gắn liền với số lượng sản xuất

phân xưởng, đội sản xuất…

Tập hợp dựa trên hoạt động

2 Tiêu thức phân

bổ

Dựa trên sản lượng sản phẩm sản xuất ra hoặc chi phí tiền lương của lao động trực tiếp đối với chi phí sản xuất chung, giờ máy…

- Dựa trên nhiều tiêu thức phân bổ

- Tiêu thức lựa chọn là nguồn sinh phí ở mỗi hoạt động

4 Kiểm soát chi phí Kiểm soát trên cơ sở trung

tâm chi phí: Phân xưởng, phòng ban đơn vị

Kiểm soát chặt chẽ hơn theo từng hoạt động

5 Chi phí kế toán Chi phí thấp, đơn giản Khá phức tạp, chi phí

khá cao để duy trì phương pháp này

6 Cung cấp thông

tin cho quản trị

Chỉ cung cấp thông tin về mức chi phí

Cung cấp thông tin về quá trình và nguyên nhân phát sinh chi phí

Ngày đăng: 21/10/2022, 19:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Mối quan hệ giữa chi ra và chi phí tài chính - Bài giảng Quản trị chi phí kinh doanh - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Hình 1.2. Mối quan hệ giữa chi ra và chi phí tài chính (Trang 4)
Bảng 1.1. Chi phí liên quan trên 2 mẫu motor - Bài giảng Quản trị chi phí kinh doanh - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Bảng 1.1. Chi phí liên quan trên 2 mẫu motor (Trang 12)
Hình 1.3. Các dịng chi phí trong doanh nghiệp sản xuất - Bài giảng Quản trị chi phí kinh doanh - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Hình 1.3. Các dịng chi phí trong doanh nghiệp sản xuất (Trang 14)
Hình 1.4. Các dịng chi phí trong doanh nghiệp thương mại c. Trong doanh nghiệp dịch vụ - Bài giảng Quản trị chi phí kinh doanh - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Hình 1.4. Các dịng chi phí trong doanh nghiệp thương mại c. Trong doanh nghiệp dịch vụ (Trang 17)
Bảng 2.2. So sánh môi trường kinh doanh trước đây và hiện nay - Bài giảng Quản trị chi phí kinh doanh - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Bảng 2.2. So sánh môi trường kinh doanh trước đây và hiện nay (Trang 23)
Hình 2.1. Phương pháp kết chuyển tuần tự. - Bài giảng Quản trị chi phí kinh doanh - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Hình 2.1. Phương pháp kết chuyển tuần tự (Trang 38)
Ví dụ: Có tài liệu thống kê tình hình SXKD của 2 DN trong năm như: Chỉ tiêu Doanh nghiệp A Doanh nghiệp B - Bài giảng Quản trị chi phí kinh doanh - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
d ụ: Có tài liệu thống kê tình hình SXKD của 2 DN trong năm như: Chỉ tiêu Doanh nghiệp A Doanh nghiệp B (Trang 45)
Hình 4.1. Mơ hình điểm hòa vốn - Bài giảng Quản trị chi phí kinh doanh - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Hình 4.1. Mơ hình điểm hòa vốn (Trang 47)
Hình 4.2. Đồ thị điểm hồ vốn (chi phí, sản lượng, lợi nhuận) - Bài giảng Quản trị chi phí kinh doanh - Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh
Hình 4.2. Đồ thị điểm hồ vốn (chi phí, sản lượng, lợi nhuận) (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm