Giúp trẻ có những biểu tượng ban đầu về hình hình học và một số đối tượng về hình học Hình học là một trong những nội dung cơ bản trong việc hình thành cácbiểu tượng toán cho trẻ mẫu giá
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bậc học mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân
có vai trò cực kỳ quan trọng đặt cơ sở nền tảng ban đầu cho việc hình thành vàphát triển nhân cách con người Việt Nam
Theo Thông tư số: 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo: Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ
em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếptheo và cho việc học tập suốt đời
Trong đó chương trình giáo dục mẫu giáo nhằm giúp trẻ em từ 3 đến 6tuổi phát triển hài hòa về các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹnăng xã hội và thẩm mỹ, chuẩn bị cho trẻ vào học ở tiểu học
Ngay từ nhỏ chúng ta đã được làm quen với toán học Việc hướng dẫn chotrẻ làm quen với toán ngay từ tuổi mầm non là cơ hội giúp trẻ hình thành khảnăng quan sát, tư duy, so sánh, tìm tòi nhận biết thế giới xung quanh về số lượng,kích thước, hình dạng, vị trí trong không gian giữa các vật so với nhau, đồng thờigiúp trẻ giải quyết được nhiều vướng mắc trong cuộc sống
Hình thành biểu tượng toán cho trẻ mẫu giáo là môn học đòi hỏi độ chínhxác cao Muốn làm tốt việc này trước hết đòi hỏi người giáo viên phải có tâmhuyết với nghề say sưa suy nghĩ, tìm tòi, chu đáo, tỉ mỉ, sáng tạo hướng dẫn trẻtham gia vào hoạt động một cách khoa học để trẻ nắm bắt hình thành kĩ năng họctập đối với môn làm quen với biểu tượng toán sơ đẳng
Hình học là một trong những nội dung cơ bản trong toán học Vì vậy, ngay
từ tuổi mầm non trẻ cần được hình thành những biểu tượng ban đầu về hình học
Trang 2Muốn vậy giáo viên cần cung cấp cho trẻ biểu tượng sơ đẳng về hình hình học,nhằm trang bị cho trẻ kiến thức cần thiết như: tính diện tích, chu vi của hình hìnhhọc khi bước vào trường phổ thông.
Hiện nay các trường mầm non có điều kiện đầu tư trang thiết bị ti vi, đầuvideo, xây dựng phòng đa năng với hệ thống máy tính và máy chiếu nối mạnginternet Một số trường còn trang bị thêm máy quay phim, chụp ảnh tạo điềukiện cho giáo viên mầm non có thể ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy.Qua đó người giáo viên mầm non không những phát huy được tối đa khả nănglàm việc của mình mà còn trở thành một người giáo viên năng động, sáng tạo vàhiện đại, phù hợp với sự phát triển của người giáo viên nhân dân trong thời đạicông nghệ thông tin
Nếu trước đây giáo viên mầm non phải rất vất vả để có thể tìm hiểu nhữnghình ảnh, biểu tượng, đồ dùng phục vụ bài giảng thì hiện nay với ứng dụng côngnghệ thông tin giáo viên có thể sử dụng internet để chủ động khai thác tàinguyên giáo dục phong phú, chủ động quay phim chụp ảnh làm tư liệu cho bàigiảng điện tử
Chỉ cần vài cú “nhấp chuột” là hình ảnh những con vật ngộ nghĩnh, nhữngbông hoa đủ màu sắc, những hàng chữ biết đi và những con số biết nhảy theonhạc hiện ngay ra với hiệu ứng của những âm thanh sống động ngay lập tức thuhút được sự chú ý và kích thích hứng thú của trẻ vì được chủ động hoạt độngnhiều hơn để khám phá nội dung bài giảng
Dựa vào đặc điểm nhận thức của lứa tuổi mầm non là chóng nhớ mauquên trẻ lĩnh hội kiến thức là nhờ phương pháp truyền đạt của cô song để tạo ấntượng cho trẻ thì phải thông qua giáo án điện tử
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận vào thực tiễn, chúng tôi quyết định chọn đề
tài: “Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử vào giờ dạy nhằm hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo” làm đề tài nghiên cứu cho mình.
Trang 32 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Làm rõ cơ sở lý luận về việc thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử vào giờ dạy nhằm hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
- Xác định rõ cơ sở khoa học của việc thiết kế bài giảng điện tử vào giờ dạy nhằm nâng cao hiệu quả hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
2.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Thiết kế một số giáo án điện tử nhằm nâng cao hiệu quả hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
- Đề tài là tài liệu tham khảo cần thiết cho sinh viên ngành Giáo dục mầmnon và giáo viên mầm non quan tâm đến vấn đề thiết kế giáo án điện tử nhàmnâng cao hiệu quả hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
3 Mục tiêu nghiên cứu
Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử vào giờ dạy nhằm hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn và lí luận của đề tài
- Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử vào giờ dạy nhằm hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
-Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử vào giờ dạy nhằm hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu thiết kế và sử dụng bài giảng điện tửvào giờ dạy nhằm hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo tại TrườngMầm Non Hùng Vương - Thị xã Phú Thọ - Tỉnh Phú Thọ
Trang 46 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nhóm phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp nhằm đưa ra vấn đề nghiên cứu một cách tổng quát nhất
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Đàm thoại với trẻ để tìm hiểu việc nắm được các biểu tượng hình dạng qua việc giảng dạy bằng bài giảng điện tử của giáo viên
6.2.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu anket
Bằng hệ thống câu hỏi điều tra nhận thức của giáo viên, cán bộ quản límầm non về thực trạng thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử vào giờ dạy nhằmhình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
6.2.4 Phương pháp thử nghiệm sư phạm
Sử dụng phương pháp thử nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính đúng đắn,khoa học của việc thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử vào giờ dạy nhằm hìnhthành biểu tượng hình dạng
Trang 5NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm biểu tượng
Biểu tượng là một khái niệm, một phạm trù được nhiều nhà khoa học quantâm nghiên cứu Tùy theo góc độ nghiên cứu của các nhà khoa học khác nhau màkhái niệm “biểu tượng” cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau
Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng Mac- Lênin thì biểutượng là một hình ảnh của khách thể đã được tri giác, còn lưu lại trong bộ óc conngười và do một tác động nào đó được tác động, nhớ lại Từ những tri giác nhậnthức cảm tính chuyển sang nhận thức cao hơn đó chính là biểu tượng
Theo quan điểm của các nhà tâm lí học thì khái niệm biểu tượng đưa ranhư sau Biểu tượng là những hình ảnh của sự vật hiện tượng nảy sinh ra trong
óc khi sự vật hiện tượng ấy không còn tác động vào các giác quan của ta nhưtrước Các nhà tâm lí học còn chỉ rõ: Biểu tượng là sản phẩm của quá trình trínhớ và tưởng tượng Biểu tượng làm hiện ra trong óc cá nhân một cách nguyênvẹn hoặc có sáng tạo những biểu tượng của sự vật này hay hình tượng mà tri giácđược trước kia mặc dù không có những thuộc tính cụ thể của các sự vật, hiệntượng đó tác động trực tiếp vào các cơ quan cảm giác Biểu tượng là kết quả của
sự chế biến và tổng quát những hình ảnh tri giác đã tạo ra
Từ những khái niệm trên chúng tôi quan niệm: Biểu tượng là những hìnhảnh của sự vật hiện tượng được tái hiện lại trong não bộ của ta khi ta không cònđược tri giác trực tiếp sự vật hiện tượng ấy
Biểu tượng hình dạng của trẻ mẫu giáo chính là biểu tượng của tri giác Do
đó: tri giác chính là cơ sở tạo nên những biểu tượng và phải có sự tri giác hình dạng
Trang 6thì mới có biểu tượng hình dạng Hoạt động tri giác phải được tri giác kĩ lưỡng,chính xác và tổng thể thì biểu tượng mới được hình thành trọn vẹn và chuẩn xác.
1.1.2 Khái niệm về biểu tượng hình dạng
Lớp của các hình, các vật thể đồng dạng về hình gọi là hình dạng
1.2 Đặc điểm quá trình phát triển nhận thức của trẻ mầm non
1.2.1 Đặc điểm chung của sự phát triển tư duy của trẻ
1.2.1.1 Trẻ 3- 4 tuổi
Ở tuổi ấu nhi, hầu hết trẻ em đều rất tích cực họat động với đồ vật, nhờ đótrí tuệ, đặc biệt tư duy phát triển khá mạnh Lúc này trẻ đã bắt đầu giải các bàitoán thực tế, nhưng quá trình giải đó không diễn ra trong óc mà diễn ra bằng taytheo phương thức “thử và có lỗi”, được gọi là tư duy bằng tay hay tư duy trựcquan hành động Nói cho đúng hơn đây chỉ là những hành động định hướng bênngoài, làm tiền đề cho sự hình thành những hành động định hướng bên trong, tức
là giúp trẻ giải các bài toán trong óc- tư duy
Đến tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ có một bước ngoặt rất cơ bản Đó là sựchuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong mà thực chất là việcchuyển những hành động định hướng bên ngoài thành những hành động định hướngbên trong theo cơ chế nhập tâm Quá trình tư duy của trẻ đã bắt đầu dựa vào
Trang 7những hình ảnh của sự vật và hiện tượng đã có trong đầu, cũng có nghĩa là chuyển
từ kiểu tư duy trực quan- hành động sang kiểu tư duy trực quan- hình tượng
1.2.1.2 Trẻ 4- 5 tuổi
Giai đọan 4- 5 tuổi là thời kì phát triển mạnh mẽ nhất của tư duy trực quanhình tượng Tư duy phát triển mạnh mẽ là do vốn biểu tượng của trẻ tăng lên,chức năng kí hiệu phát triển mạnh mẽ, lòng ham hiểu biết và hứng thú nhận thứccủa trẻ phát triển Sự phát triển mạnh của tư duy trực quan hình tượng đã giúp trẻmẫu giáo giải quyết được nhiều bài toán thực tiễn đơn giản mà trẻ gặp trongcuộc sống
Tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh sẽ là điều kiện thuận lợi nhấtgiúp trẻ cảm thụ tốt những hình tượng nghệ thuật và tạo ra những tiền đề cầnthiết để làm nảy sinh những yếu tố ban đầu của kiểu tư duy trừu tượng Chính vìthế, giáo viên cần cung cấp những biểu tượng phong phú, đa dạng được hệ thốnghóa và chính xác hóa
1.2.1.3 Trẻ 5- 6 tuổi
Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính của bản chất,những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượngtrong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết
Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo lớn nhu cầu nhận thức đang phát triển mạnh, xuấthiện cả ba loại tư duy, đó là: tư duy trực quan hành động, tư duy trực quan hìnhtượng, tư duy trừu tượng Trong đó, kiểu tư duy trực quan hành động chiếm ưuthế Đặc biệt là có hình thức tư duy trực quan sơ đồ, đây là bước trung gian của
sự chuyển tiếp từ tư duy trực quan hành động đến tư duy lôgic Kiểu tư duy nàytạo ra cho trẻ khả năng phản ánh những mối liên hệ tồn tại khách quan là điềukiện cần thiết để đạt tới tri thức khái quát Chính vì thế, giáo viên mầm non cầnphải cung cấp cho trẻ những biểu tượng về hình dạng một cách phong phú và đadạng được hệ thống và chính xác hóa
Trang 81.2.2 Đặc điểm phát triển trí nhớ của trẻ
có chủ định
1.2.2.3 Trẻ 5- 6 tuổi
Trí nhớ là sự ghi nhớ lại, giữ lại và có thể tái hiện lại những gì trẻ đã thunhận được trong hoạt động sống của mình Ở tuổi mẫu giáo, năng lực ghi nhớ vànhớ lại của trẻ phát triển rất nhanh
Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo lớn lúc này trí nhớ của trẻ đang phát triển mạnh,chủ yếu là trí nhớ không chủ định Trẻ ghi nhớ những gì chủ yếu gây ấn tượngmạnh với trẻ Ở độ tuổi này trí nhớ của trẻ vẫn được đặc trưng bởi trí nhớ hìnhảnh, do đó nếu trẻ tích cực hoạt động thì kết quả ghi nhớ sẽ cao hơn
1.2.3 Đặc điểm phát triển tri giác của trẻ
1.2.3.1 Trẻ 3- 4 tuổi
Trang 9Ở trẻ 3- 4 tuổi đã làm chủ được tri giác của mình, dưới sự hướng dẫn bằnglời nói của người lớn trẻ đã biết quan sát nhất là những đồ vật quen thuộc.
Trẻ tự tổ chức được quá trình tri giác của mình Trong quan sát trẻ rất tò
mò, ham hiểu biết hay đặt câu hỏi Tri giác của trẻ còn mang tính tự kỉ Sự pháttriển tri giác thể hiện ở tính đúng đắn về khối lượng vật thể mà trẻ gọi tên và trigiác được chúng
1.2.3.2 Trẻ 4- 5 tuổi
Lên đến mẫu giáo nhỡ trẻ đã được tiếp xúc nhiều với thế giới xung quanhnhờ đó độ nhạy cảm phát triển, giúp trẻ dễ dàng nhận biết được các dấu hiệu,thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện tượng với mức độ tăng dần, ngày càngchính xác và đầy đủ hơn Một số quan hệ không gian, thời gian được trẻ tri giácchính xác hơn Khả năng quan sát của trẻ cũng phát triển, không chỉ là số lượngvật mà các chi tiết dấu hiệu thuộc tính màu sắc cũng được trẻ chú ý đến Trẻcũng bắt đầu xuất hiện khả năng kiểm tra độ chính xác của mình bằng hành độngthao tác như: tháo, lắp, vặn, mở… cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ được giao.Trẻ luôn có nhu cầu sờ mó, khám phá khi nhìn thấy một đồ vật mới Do đó việc
tổ chức cho trẻ tri giác và hướng dẫn trẻ cùng quan sát cùng với những nhận xétcủa cha mẹ, giáo viên giúp cho trẻ các thói quen làm việc có mục đích, có kếhoạch… chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông sau này
Trang 10trẻ, nếu cho trẻ tham gia tích cực vào hoạt động hấp dẫn thì tri giác của trẻ sẽ ngày càng phát triển và đạt được kết quả tốt.
1.2.4 Đặc điểm phát triển chú ý của trẻ
1.2.4.1 Trẻ 3- 4 tuổi
Ở những trẻ tuổi đầu lên 3, chú ý của trẻ hoàn toàn là chú ý không chủđịnh Trẻ bị đối tượng trạng thái sinh lí của cơ thể chi phối Chúng hoàn toànkhông thể điều khiển chú ý của mình và rất kém chú ý vào lời nói, mà lời nói lại
là điều kiện để có chú ý có chủ định
Chú ý đã không chủ định, lại thường không ổn định nên trẻ 3- 4 tuổithường dễ di chuyển chú ý từ một đối tượng này sang một đối tượng khác rấtnhanh khi có đối tượng chú ý mới, hấp dẫn hơn xuất hiện Đối tượng mới cànggây hứng thú nhiều thì càng lôi cuốn chú ý của trẻ nhiều hơn
Trẻ cuối tuổi lên 3 và đầu tuổi lên 4 đã bắt đầu xuất hiện một vài phẩmchất của chú ý có chủ định do sự phát triển của ngôn ngữ và tư duy như trẻ sẽbền vững hơn với những hoạt động hay đồ vật mà trẻ yêu thích Tuy nhiên, phảiđến 4- 5 tuổi thì những phẩm chất này rõ nét hơn, thời gian của trẻ cũng lâu hơn
1.2.4.2 Trẻ 4- 5 tuổi
Khả năng chú ý của lứa tuổi mẫu giáo nhỡ là chú ý không chủ định tuynhiên khả năng chú ý có chủ định đã bắt đầu hình thành ở trẻ lứa tuổi này Trẻbắt đầu điều khiển chú ý của mình, biết tự giác hướng chú ý của mình vào nhữngđối tượng nhất định
Việc tổ chức các hoạt động cho trẻ có ý nghĩa quyết định đối với sự pháttriển có chủ định như tổ chức cho trẻ quan sát các sự vật xung quanh, khuyếnkhích trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động của trường mầm non Sự chú ýmột cách có chủ định không những gắn liền với những hành động có mục đích
mà còn gắn liền với việc sử dụng ngôn ngữ để điều chỉnh hành vi của trẻ
Trang 11Mặc dù trẻ mẫu giáo nhỡ đã bắt đầu hình thành chú ý có chủ định, nhưngchú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế Trẻ rất khó tập trung vào những hoạtđộng mang tính đơn điệu, không hấp dẫn Trong khi đó hoạt động vui chơi làhoạt động mang tính sáng tạo, đượm màu sắc xúc cảm thường lôi cuốn được trẻkhá lâu, đây chính là cơ sở để tổ chức các hoạt động cho trẻ và việc luôn luônthay đổi các hình thức hoạt động duy trì chú ý trẻ vào những đối tượng một cáchbền vững.
1.2.4.3 Trẻ 5- 6 tuổi
Khả năng chú ý phát triển mạnh mẽ ngay từ giai đoạn mẫu giáo bé nhưngchú ý có chủ định chỉ được bắt đầu hình thành ở trẻ mẫu giáo nhỡ Ở trẻ mẫugiáo lớn chú ý có chủ định bắt đầu phát triển mạnh, chú ý của trẻ đã phát triểnbền vững và tập trung hơn thể hiện ở thời gian chơi của trẻ được lâu hơn, trẻ cóthể chú ý vào nhiều đối tượng cùng một lúc, trẻ dễ tập trung vào những đốitượng sinh động hấp dẫn, còn đơn điệu thì trẻ dễ chán Chính đặc điểm này củatrẻ mẫu giáo nói chung và trẻ 5- 6 tuổi nói riêng là một trong những cơ sở khoahọc để giáo viên mầm non tổ chức các hoạt động cho trẻ và việc luôn thay đổicác hình thức hoạt động cho phép duy trì chú ý của trẻ vào những đối tượng mộtcách bền vững
1.2.5 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ
1.2.5.1 Trẻ 3- 4 tuổi
Số lượng từ ngữ trong giai đoạn 3- 4 tuổi khoảng từ 800- 1926 từ Ngônngữ của trẻ được xây dựng từ câu ngắn đến câu có nhiều âm tiết Ngôn ngữ củatrẻ thể hiện giọng điệu rõ nét Ngôn ngữ của trẻ thường kèm theo các hình thứchoạt động tư duy khác nhau, kích thích hoạt động Trẻ thường nhắc đi nhắc lạimột từ trong câu trọn vẹn
Ngôn ngữ màu sắc cảm xúc rõ nét Ngôn ngữ của trẻ có ưu thế rõ nét thểhiện hứng thú cá nhân, hoạt động cá nhân của trẻ
Trang 121.2.5.2 Trẻ 4- 5 tuổi
Ở giai đoạn 4- 5 tuổi, ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh mẽ Trẻ sử dụngkhá thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt và trong hoạt động hàng ngày Trẻ sửdụng được phong phú các từ loại, bắt đầu biết lĩnh hội và tập sử dụng những cấutrúc ngữ pháp như câu đơn Cảm xúc ngôn ngữ được hình thành và thể hiện quagiọng nói, ngữ điệu nhưng đôi khi còn bị nhầm lẫn hay nói ngọng Ngôn ngữ củatrẻ còn gắn liền với tình huống, hoàn cảnh và sự việc, hiện tượng đang diễn ratrước mắt trẻ
Sự phát triển ngôn ngữ của mỗi trẻ còn phụ thuộc vào hoàn cảnh, môitrường sống của trẻ đó Dựa trên những đặc điểm phát triển của các quá trìnhnhận thức của trẻ 4- 5 tuổi chúng ta có thể xây dựng phương pháp, biện pháp,hình thức tổ chức, phương tiện dạy học phù hợp tạo điều kiện tốt nhất cho sựphát triển về mọi mặt cho trẻ
1.2.5.3 Trẻ 5- 6 tuổi
Ở giai đoạn 5- 6 tuổi, ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh mẽ Trẻ sử dụngtiếng mẹ đẻ thành thạo trong sinh hoạt và họat động hàng ngày Trẻ bắt đầu biếtlĩnh hội và tập sử dụng những cấu trúc ngữ pháp như câu đơn, cuối 5 tuổi trẻ cóthể diễn tả đúng các từ chỉ thời gian, kết nối tình huống hiện tại với quá khứ tạothành văn cảnh Đáng lưu ý là ngôn ngữ của trẻ vẫn còn gắn liền với tình huống,hoàn cảnh, sự việc, hiện tượng đang diễn ra trước mắt trẻ Tuy nhiên mỗi đứa trẻ
là một cá thể riêng biệt và môi trường giáo dục có ảnh hưởng rất lớn đến sự pháttriển ngôn ngữ của trẻ Vì thế gia đình và trường mầm non có vai trò quan trọngtrong sự hình thành và phát triển ngôn ngữ cho trẻ nói chung và ngôn ngữ toánhọc nói riêng
1.3 Đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo về hình dạng các vật và các hình hình học
Một trong các tính chất của các vật trong môi trường xung quanh là hìnhdạng của vật
Trang 13Ngay từ khi còn nhỏ tuổi, trẻ đã có khả năng nhận biết về hình dạng cácvật trong môi trường xung quanh Hình dạng của bất kì sự vật nào đều có thể quy
về dạng các hình hình học nhất định hoặc được biểu thị như một sự kết hợp một
số hình hình học sắp xếp theo một kiểu nào đó trong không gian
Vì vậy các hình hình học là những mẫu chuẩn trẻ sử dụng chúng để xácđịnh hình dạng các vật xung quanh và các phần của các vật
Trẻ em nhận biết hình dạng các vật thể và các hình hình học là nhờ có sựtham gia tích cực của các giác quan Sau đó dùng lời nói để khái quát nhữngnhận biết đó
Việc nhận biết hình dạng vật thể với việc nhận biết các hình hình học có mốiquan hệ tương hỗ với nhau Lúc đầu trẻ chưa nhận ra các hình hình học, với trẻ cáchình được coi như các vật bình thường và trẻ gọi tên tương ứng của các vật
Trẻ ở các lứa tuổi khác nhau thì khả năng nhận biết về hình dạng vật thể
và các hình hình học cũng khác nhau Hệ số thụ cảm về hình dạng vật thể và cáchình hình học được tăng theo kinh nghiệm cảm giác của trẻ và nhờ có sự tácđộng của các nhà giáo dục
1.3.1 Đặc điểm nhận thức của trẻ 3- 4 tuổi
Trang 14Trẻ đã có khả năng gọi đúng tên, phân biệt được các hình dạng khác nhaucủa các vật thể.
Trẻ có thể nhận biết gọi đúng tên một số các hình hình học nhờ sự tácđộng của người lớn và trẻ vẫn thường so sánh hình dạng các hình hình học vớicác đồ vật thường gặp hàng ngày Ví dụ: Hình tròn giống cái bánh xe, cái đĩa…
Việc trẻ nhận biết hình dạng các vật thể và các hình hình học có sự thamgia tích cực của các giác quan là tay và mắt Song do hoạt động của tay còn vụng
về, khả năng quan sát của mắt còn hạn chế nên việc hoạt động của tay mới dừnglại ở việc cầm nắm, chưa có ý thức Quan sát của mắt chỉ tập trung vào một dấuhiệu nào đó của vật (hình dạng, kích thước, màu sắc…) chứ trẻ chưa thấy nhữngdấu hiệu chi tiết đặc trưng cho vật
Ở lứa tuổi này trẻ chưa có khả năng so sánh, phân biệt các hình hình học, đặc biệt là các hình có sự khác nhau ít như hình vuông và hình chữ nhật
Cũng ở lứa tuổi này do vốn ngôn ngữ và kinh nghiệm sống còn ít, việcdiễn đạt còn gặp nhiều khó khăn và thiếu chính xác nên việc cô giáo hướng dẫntrẻ dùng lời nói để khái quát sự cảm giác hình dạng các vật thể và các hình hìnhhọc là điều quan trọng giúp trẻ khắc sâu việc nhận biết các hình
Vì vậy ngay từ khi còn nhỏ (2- 3 tuổi) cần cho trẻ được tiếp xúc với các đồvật có hình dạng là các hình hình học Đối với trẻ 3- 4 tuổi phải cho trẻ hoạtđộng nhận biết các hình hình học như là một tiêu chuẩn dựa vào đó để tri giáccác sự vật
1.3.2 Đặc điểm nhận thức của trẻ 4- 5 tuổi
Trẻ đã có khả năng nhận biết các hình hình học như là một tiêu chuẩn đểtrẻ dựa vào đó để so sánh, cảm giác các vật thường gặp trong cuộc sống hàngngày Trẻ có thể lựa chọn các hình học theo mẫu và theo tên gọi
Khả năng nhận biết các hình hình học và các vật thể bằng các giác quanphát triển hơn: Trẻ đã chủ động dùng các ngón tay để cầm nắm, khảo sát hình; sựhoạt động của mắt đã bắt đầu tập trung quan sát các dấu hiệu riêng đặc trưng cho
Trang 15từng hình Vì vậy trẻ 4- 5 tuổi có khả năng so sánh phân biệt các hình học phẳngtheo đường bao của chúng nếu được sự hướng dẫn tổ chức của các nhà giáo dục.
Trẻ có khả năng nhận biết được hình dạng của một số hình khối thôngdụng: Khối cầu, khối vuông, khối chữ nhật
1.3.3 Đặc điểm nhận thức của trẻ 5- 6 tuổi
Khả năng nhận biết, phân biệt các hình hình học bằng các hoạt động củatay và mắt của trẻ theo đường bao được tiến triển hoàn thiện:
Trẻ đã chủ động sờ mó vật bằng cả hai tay, cầm nắm vật bằng các đầungón tay biết đưa mắt quan sát theo đường bao của vật, phần chủ yếu đặc trưngcho hình dạng của vật Đó chính là điều kiện giúp trẻ khảo sát hình đầy đủ đúng
Ngôn ngữ của trẻ phát triển hơn, có sự kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quanthị giác, xúc giác và ngôn ngữ đã tạo điều kiện giúp trẻ thu nhận các kiến thức vềhình dạng chính xác hơn, giúp trẻ củng cố nhớ lâu điều mà mình cảm giác được.Lời nói còn giúp cho nhận thức của trẻ được tổng quát hơn
Trẻ có thể hiểu được các tính chất đơn giản của các hình hình học, có thểphân biệt được các hình các vật theo các nhóm phù hợp và gọi tên được cácnhóm cơ bản của chúng theo dấu hiệu Ví dụ: Nhóm có đường bao cong, nhóm
có đường bao thẳng
Có khả năng đối chiếu hình dạng các vật trong thực tế với các hình hình học
1.4 Vai trò của hình hình học đối với sự hình thành biểu tượng toán cho trẻ mẫu giáo
1.4.1 Giúp trẻ có những biểu tượng ban đầu về hình hình học và một số
đối tượng về hình học
Hình học là một trong những nội dung cơ bản trong việc hình thành cácbiểu tượng toán cho trẻ mẫu giáo, được tổ chức ở các lớp mẫu giáo ở các trườngmầm non và được nâng cao dần về mặt kiến thức từ việc dạy trẻ nhận biết và gọitên các hình (khối) đến dạy trẻ khảo sát các hình (khối) và cuối cùng là đến việcdạy trẻ phân biệt hình (khối)
Trang 16Ngay từ khi còn nhỏ tuổi trẻ đã có khả năng nhận biết về hình dạng cácvật trong môi trường xung quanh như cái ô, quả bóng, cái cốc, cái bảng,… bằngtrực quan của mình trẻ có thể nhận ra hình hình học một cách tổng thể Khi lêncác lớp trên thì việc nhận biết về các hình dần được hình thành và chính xác hóadần thông qua việc quan sát các vật mẫu, sờ xung quanh các vật mẫu, phân biệtcác hình đó với nhau và qua lời hướng dẫn, giải thích của giáo viên.
Đồng thời ở trường mầm non, trẻ được khám phá khoa học qua các hoạtđộng của trẻ, khám phá môi trường xung quanh thì trẻ đã được làm quen với cácloại hình hình học khác nhau như hình tam giác (lá cờ, biển báo giao thông, …),hình chữ nhật (bảng, bàn, …), hình vuông (tấm phản vuông, …), khối cầu (quảbóng, …), khối trụ (cái cốc, cái hộp, …), khối vuông, khối chữ nhật (xúc xắc,hộp phấn, …) nhưng trẻ chưa nhận ra được đặc điểm toán học của các hình vàkhối trên mà chỉ là những biểu tượng sơ đẳng làm nền tảng cho sự hình thành vàphát triển kiến thức về hình hình học ở các cấp học tiếp theo Song các biểutượng toán học mà trẻ được làm quen thông qua hoạt động làm quen với môitrường xung quanh tạo nền tảng ban đầu giúp trẻ mở rộng và nâng cao lên đếnvới toán học nói chung và với hình hình học nói riêng
Việc hình thành những biểu tượng ban đầu về hình hình học có trong môitrường xung quanh có tầm quan trọng đáng kể, vì điều đó giúp trẻ có đượcnhững định hướng đầu tiên trong không gian, gắn liền việc học tập với môitrường xung quanh và chuẩn bị học tiếp môn hình học ở các bậc học trên
1.4.2 Rèn kĩ năng thực hành và phát triển năng lực trí tuệ của trẻ
Khi học về các hình và khối, trẻ được hoạt động với các đồ vật đó là cáchình mẫu và các khối mẫu để trẻ nhận biết được đặc điểm tổng thể và gọi đượctên các hình (khối), phân biệt và so sánh được các hình (khối) với nhau: Theotừng lứa tuổi mà trẻ làm quen với các hình (khối) mang tính hệ thống từ đơn giảnđến phức tạp Ví dụ: dạy trẻ lớp 3 - 4 tuổi là dạy trẻ nhận biết dấu hiệu hình dạngcủa bốn hình: hình tròn, hình vuông, hình tam giác, hình chữ nhật không phụ
Trang 17thuộc vào màu sắc và kích thước của hình Chẳng hạn: hình tam giác là hình có
ba cạnh, không lăn được … Khi học lên lớp trên kiến thức hình học được mởrộng thêm nhiều như dạy trẻ nhận biết các khối ở lớp 5 - 6 tuổi như khối cầu vàkhối trụ qua bề mặt bao khối, khối vuông và khối chữ nhật qua số mặt và hìnhdạng các mặt bao khối Qua việc học tập và rèn các kỹ năng trên trẻ được hìnhthành thêm các kỹ năng như phân tích, tổng hợp, dự đoán, … Điều này thể hiện
rõ qua việc dạy trẻ phân biệt hình (khối) Các vấn đề toán học được đưa ra ở mức
độ khá cao đòi hỏi trẻ phải suy luận mới có thể tìm ra đúng lời giải của bài toán
Ví dụ: dạy trẻ phân biệt khối vuông và khối chữ nhật
- Cô chọn khối, trẻ gọi tên, nêu màu sắc
- Cô gọi tên, trẻ chọn khối, nêu màu sắc
- Cho trẻ dùng bàn tay sờ xung quanh khối và lăn khối Lúc này trẻ dùng
tư duy của mình để phân tích đặc điểm, tính chất của khối (khối vuông và khốichữ nhật có mặt bao phẳng và không lăn được,…)
- Qua đó trẻ có thể suy luận và tổng hợp được về sự giống và khác nhaugiữa khối vuông và khối chữ nhật (khối vuông và khối chữ nhật đều có mặt baophẳng, không lăn được nhưng các mặt của khối vuông đều là hình vuông còn cácmặt của khối chữ nhật là hình chữ nhật)
1.4.3 Tích lũy những hiểu biết trong đời sống sinh hoạt và học tập
Các kiến thức hình hình học ở mầm non được thông qua hoạt động thựchành là hoạt động với đồ vật để tích lũy những hiểu biết cho trẻ, song những kiếnthức, kỹ năng hình học được hình thành ở trẻ qua con đường thử nghiệm rất cầnthiết cho cuộc sống (ví dụ như trẻ có thể hình dung được ngôi nhà có mái dạnghình tam giác, trần nhà có dạng hình chữ nhật hoặc hình vuông) và hữu ích choviệc học tập các tuyến kiến thức khác trong môn toán học sơ đẳng ở trường mầmnon như biểu tượng về tập hợp, số và phép đếm, kích thước, định hướng trongkhông gian và thời gian, … cũng như các hoạt động khác ở trường mầm non
Trang 18Ngoài ra các yếu tố hình học giúp trẻ phát triển năng lực trí tuệ rèn luyệnnhững đức tính và phẩm chất tốt như: cần cù, cẩn thận, chu đáo, khéo léo, chínhxác, … Nhờ vậy mà trẻ có thêm tiền đề để tiếp thu các hoạt động học tập ởtrường mầm non và học môn toán ở bậc học phổ thông.
1.5 Đặc điểm phát triển các biểu tượng về hình dạng vật thể và các hình hình học ở trẻ mầm non
1.5.1 Trẻ 3- 4 tuổi
Ở lứa tuổi mẫu giáo 3- 4 tuổi sự tri giác của trẻ ngày càng trở nên phongphú, biểu tượng hình dạng của trẻ ngày càng đa dạng và chính xác Trẻ đã có khảnăng phân biệt và nói đúng hình dạng của các vật quen thuộc như: cái đĩa cóhình tròn, ô gạch có dạng hình vuông… Trẻ ba tuổi vẫn thường bị lôi cuốn bởicác thao tác với đồ vật hơn là việc nhận biết hình dạng của vật Vì vậy trẻ thườngchỉ thực hiện nhiệm vụ lựa trọn vật theo hình dạng cho trước sau khi đã thỏa mãnnhững hứng thú khác của trẻ Tuy nhiên trẻ ba tuổi có khả năng hiểu và thực hiệnnhiệm vụ tìm vật theo hình dạng mà không cần kiểm tra bằng mắt
Với các hình hình học, những quan sát thực tiễn cho thấy trẻ nhỏ không trigiác chúng như những hình chuẩn, mà thường coi chúng như những đồ chơithông thường, và nếu những hình đó giống với những đồ chơi quen thuộc với trẻthì trẻ sẽ gọi chúng bằng tên gọi của đồ chơi đó, như: hình ô van trẻ gọi là quảtrứng, khối chữ nhật- cái hộp, hình vuông- cái khăn… Dưới tác động dạy họccủa người lớn trẻ bắt đầu không đồng nhất các hình hình học với đồ vật nữa, màchỉ so sánh chúng với các đồ vật quen biết Ví dụ: hình ô van như là quả trứng,hình tròn như là cái vòng… Và dần dần trẻ bắt đầu lĩnh hội các hình hình họcnhư những hình mẫu để sử dụng khi xác định hình dạng của các vật Ví dụ: cáivòng, cái đĩa có dạng hình tròn, cửa sổ có dạng hình chữ nhật…
Trẻ ba tuổi bắt đầu nhận biết chính xác các hình hình học mà không phụthuộc vị trí sắp đặt của chúng trong không gian Tuy nhiên do trẻ thường tri giácqua loa chúng nên trẻ hay nhầm lẫn các hình tương đối giống nhau, như: hình ô
Trang 19van là hình tròn, hình vuông là hình chữ nhật… ngay cả khi các hình đó ở trướcmặt trẻ, nhưng trẻ lại phân biệt và lựa trọn các vật theo hình mẫu khá chính xácnếu đó là những hình rất khác nhau như: hình tròn và hình vuông, hình tròn vàtam giác.
Trong quá trình hình thành những biểu tượng về các hình hình học, việckhảo sát các hình hình học đóng một vai trò quan trọng Vì vậy ngay từ bé cầnhoàn thiện các biện pháp khảo sát hình dạng vật thể dựa trên cơ sở cảm giác- vậnđộng cho trẻ Trong quá trình khảo sát hình dạng, sự phối hợp giữa các giác quannhư: thị giác, xúc giác và lời nói có tác dụng thúc đẩy sự tri giác và nhận biếthình dạng của vật một cách chính xác Tuy nhiên mức độ khảo sát của trẻ 3- 4tuổi còn rất thấp, trẻ còn chưa biết nhìn vật liên tục theo đường bao quanh vật màkhông nhìn kĩ càng hình dạng của vật Vì vậy trẻ chỉ nhận biết được những đặcđiểm bên ngoài của hình như: màu sắc, kích thước, các góc… mà không nắmđược hình dạng chung của toàn bộ vật Trong quá trình khảo sát hình dạng cácthao tác của tay trẻ đóng một vai trò to lớn trong việc nhận biết hình dạng củavật, nhưng trẻ 3- 4 tuổi còn chưa biết tìm hiểu hình dạng của vật bằng chuyểnđộng của các đầu ngón tay dọc theo đường bao quanh vật, trẻ thường dùng cảlòng bàn tay để nắm bắt và thực hiện các thao tác khác nhau với vật Vì vậy cầndạy trẻ các biện pháp khảo sát hình dạng của vật và các hình hình học theođường bao quanh của chúng Mặt khác cần dạy trẻ phân biệt, nhận biết và nắmđược tên gọi của một số hình hình học, sử dụng chúng như các hình chuẩn để sosánh và xác định hình dạng của các vật có xung quanh trẻ
1.5.2 Trẻ 4- 5 tuổi
Biểu tượng về hình dạng vật thể và các hình hình học của trẻ mẫu giáo 4-5tuổi đã chính xác và phong phú hơn, các biện pháp khảo sát hình dạng của trẻngày càng được hoàn thiện Trẻ không còn đồng nhất các hình hình học với các
đồ vật giống chúng, mà đã biết sử dụng các hình hình học như những hình chuẩn
để so sánh, lựa chọn, xác định hình dạng của mọi vật xung quanh, khả năng phân
Trang 20biệt, nhận biết các hình hình học của trẻ đã ở mức cao hơn, trẻ ít nhầm lẫn giữahình tròn và hình ô van, giữa hình vuông và chữ nhật…
Càng lớn hoạt động nhận biết của trẻ càng phát triển Đồng thời việc phứctạp và mở rộng dần nội dung dạy trẻ làm tăng những yêu cầu đối với hoạt độngtrí tuệ của trẻ Đa số trẻ thực hiện đúng nhiệm vụ tìm những vật có dạng hìnhtròn hay hình vuông, hoặc tìm dấu hiệu chung của các vật Việc thực hiện cácnhiệm vụ này đòi hỏi trẻ em phải thực hiện các thao tác tư duy phức tạp như: sosánh, phân tích, khả năng tách dấu hiệu chung của các vật ra khỏi những dấuhiệu khác, hiểu từ “hình dạng” như một khái niệm khái quát
Như vậy, biểu tượng hình dạng được hình thành từ những nội dung quenthuộc với trẻ sẽ có một chất lượng mới- như một dấu hiệu chung cho nhiều vậtxung quanh trẻ Trong quá trình tìm hiểu vật, trẻ 4- 5 tuổi đã tích cực sờ nắn vậtbằng một tay, nhưng các đầu ngón tay của trẻ vẫn chưa tham gia vào quá trình sờnắn vật Hơn nữa trẻ vẫn chưa biết nhìn lần lượt theo đường bao quanh vật Vìvậy trẻ vẫn chưa nhận biết chính xác hình dạng của vật
1.5.3 Trẻ 5- 6 tuổi
Những biểu tượng hình dạng của trẻ 5- 6 tuổi ngày càng phát triển, cànglớn thì quá trình tri giác của trẻ ngày càng hoàn thiện Nhờ vậy mà trẻ nhận biếthình dạng cùng những chi tiết của nó ngày càng chính xác hơn Hơn nữa, nộidung nhận biết càng phức tạp thì trí tuệ của trẻ càng phải hoạt động tích cực hơn
Vì vậy óc suy luận của trẻ mẫu giáo lớn càng phát triển, nhiều trẻ đã có khả năngtạo ra sự thay đổi hình dạng, khả năng tạo hình mới từ những hình đã biết Ví dụ:trẻ biết chắp ghép từ những hình đã biết thành ngôi nhà khác nhau…
Nếu trẻ mẫu giáo bé và nhỡ chỉ dễ dàng thực hiện các nhiệm vụ lựa chọnvật theo hình mẫu, thì trẻ mẫu giáo lớn hoàn toàn vừa sức để thực hiện cácnhiệm vụ dạng này chỉ theo lời hướng dẫn của giáo viên và dựa trê n những biểutượng đã có về hình dạng của các vật khác nhau Ví dụ: cô nói tên hình và yêucầu trẻ nói tên những vật có hình dạng tương tự Điều đó chứng tỏ
Trang 21trẻ đã có vốn biểu tượng hình dạng khá phong phú, mặt khác kĩ năng so sánh,ghi nhớ, tái tạo, ứng từ- khái niệm với những từ phản ánh những biểu tượng cụthể ở trẻ đã phát triển.
Ở lứa tuổi mẫu giáo lớn 5- 6 tuổi trình độ khảo sát hình dạng của trẻ đãcao hơn, điều này cho phép trẻ tìm hiểu hình dạng của vật một cách có trình tự
và có hệ thống bằng hai tay, các đầu ngón tay và mắt trẻ đã tích cực chuyển độnglần lượt theo đường bao quanh vật, theo các cạnh và trên bề mặt vật dường như
mô hình hóa hình dạng của vật, điều đó có tác dụng giúp trẻ nhận biết hình dạngvật một cách chính xác Trong ý thức trẻ lớn đã có sự tách rời các hình hình họckhỏi các đồ vật, và trẻ đã sử dụng chúng như những hình chuẩn để xác định hìnhdạng của các vật xung quanh
Trong quá trình hình thành những biểu tượng hình dạng cho trẻ, lời nóicủa giáo viên đóng một vai trò quan trọng trong việc hướng trẻ chú ý tới những
khía cạnh cơ bản của vật nghiên cứu Lời nói đúng lúc và chính xác của giáo viêntrong quá trình tri giác vật có tác dụng làm sâu sắc hơn những biểu tượng về vật củatrẻ và giúp trẻ ghi nhớ những điều quan sát Bằng lời nói giáo viên hướng dẫn trẻ tựđưa ra những kết luận cần thiết trong quá trình nghiên cứu vật và diễn đạt chúngbằng lời Lời nói có tác dụng nâng sự tri giác cảm nhận hình dạng vật của trẻ lênmức độ khái quát Vì vậy trong quá trình trẻ tìm hiểu vật, tuyệt đối giáo viên khôngnên vội vã tách lời nói với sự tri giác cảm giác, mà cần hướng dẫn trẻ thực hiệntrình tự các thao tác khảo sát vật, giảng giải chúng cho trẻ và thông qua hệ thốngcâu hỏi giáo viên giúp trẻ diễn đạt bằng lời nói những điều nhận biết được trong quátrình khảo sát và giúp trẻ tự đưa ra những kết luận khái quát
Sự phát triển các biểu tượng hình dạng ở trẻ nhỏ là một quá trình phức tạp.Việc trẻ nắm và sử dụng được các hình chuẩn cho thấy mức độ phát triển trí tuệcủa trẻ mầm non Việc phát triển ở trẻ khả năng nhận biết hình dạng, phân tíchhình dạng của các vật, nhóm vật theo hình dạng, nắm được các hình hình học và
có khả năng sử dụng các hình chuẩn vào việc xác định
Trang 22hình dạng của các vật trong môi trường xung quanh là những chỉ số cho sự pháttriển trí tuệ của trẻ, điều đó góp phần tích cực chuẩn bị cho trẻ vào trường phổthông.
Việc làm quen trẻ với hình dạng vật thể nhằm giúp trẻ thấy được sự phongphú, đa dạng và vẻ đẹp của thế giới xung quanh trẻ, hơn nữa những kiến thức vềhình dạng vật thể là phương tiện giúp trẻ định hướng dễ dàng hơn trong môitrường xung quanh trẻ
1.6 Nội dung và phương pháp hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
1.6.1 Nội dung hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
1.6.1.1 Nội dung hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ 3- 4 tuổi
- Nhận biết, gọi tên các hình: hình vuông, hình tam giác, hình tròn, hình chữ nhật và nhận dạng các hình đó trong thực tế
- Sử dụng các hình học để chắp ghép
1.6.1.2 Nội dung hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ 4- 5 tuổi
- So sánh sự khác nhau và giống nhau của các hình: hình vuông, hình tam giác, hình tròn, hình chữ nhật
- Chắp ghép các hình hình học để tạo thành các hình mới theo ý thích và theo yêu cầu
1.6.1.3 Nội dung hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ 5- 6 tuổi
- Nhận biết, gọi tên khối cầu, khối vuông, khối chữ nhật, khối trụ và nhận dạng các khối hình đó trong thực tế
- Chắp ghép các hình hình học để tạo thành các hình mới theo ý thích và theo yêu cầu
- Tạo ra một số hình hình học bằng các cách khác
1.6.2 Phương pháp hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
1.6.2.1 Trẻ mẫu giáo bé 3- 4 tuổi
Trang 23Trước khi dạy trẻ cô cho trẻ chơi với các đồ chơi có hình dạng vuông,tròn, tam giác, chữ nhật, trong các đồ chơi mà cô có thể giới thiệu tên gọi cáchình cho trẻ biết.
Trên giờ học: Dạy trẻ nhận biết các hình vuông, tròn, tam giác, chữ nhật,
cô giáo tổ chức hướng dẫn theo trình tự sau:
- Cho trẻ chọn hình theo mẫu
- Gọi tên hình
- Yêu cầu trẻ chọn hình theo tên gọi
- Luyện tập nhận biết các hình bằng tay sờ đường bao hình (không nhìn)
- Luyện tập nhận biết các hình trên trong các hình có màu sắc, kích thướckhác nhau
Ngoài giờ học: trong các hoạt động khác cô tiếp tục cho trẻ luyện tập nhậnbiết gọi tên mỗi hình trong các hình có màu sắc kích thước khác nhau cô cho trẻnhận biết tên gọi những đồ vật có hình dạng đã học
1.6.2.2 Trẻ mẫu giáo nhỡ 4- 5 tuổi
* Dạy trẻ cách phân biệt các hình vuông, tròn, tam giác, chữ nhật chủ yếu bằng các dấu hiệu nổi bật về đường bao hình
- Dạy trẻ phân biệt hình tròn với các hình vuông, tam giác, chữ nhật bằngcách cô cho trẻ chơi lăn hình, sờ xung quanh đường bao hình để phát hiện sự khác nhau giữa chúng
- Hình tròn lăn được, sờ xung quanh thấy nhẵn, cong Các hình kia không lăn được vì sờ thấy không cong, không nhẵn vì có góc
- Dạy trẻ phân biệt giữa các hình vuông, hình chữ nhật và tam giác bằngcách thông qua đặc điểm của mỗi hình Cô cho trẻ dùng que tính chơi xếp cáchình qua đó nhận xét giống, khác nhau giữa các hình về số cạnh, về mối quan hệ
độ dài các cạnh trong mỗi hình
Ngoài giờ học :
Trang 24Dạy trẻ phân biệt hình vuông, tròn, tam giác, chữ nhật trong các hoạt độngvui chơi hoặc hoạt động khác.
Ví dụ : Tìm xung quanh lớp có các đồ vật có hình dạng đã học, hoặc trò
chơi ghép hình, gấp hình
* Dạy trẻ phân biệt các khối vuông, cầu, trụ, khối chữ nhật
Trong quá trình này cô sẽ giới thiệu tên khối
- Trong các giờ học dạy trẻ nhận biết khối, cô hướng dẫn trẻ theo trình tự sau: + Chọn khối theo mẫu
+ Gọi tên các khối đã chọn
+ Tìm các khối theo tên gọi
+ Luyện tập nhận biết khối bằng cách sờ xung quanh
- Ngoài giờ học : Cô cho trẻ luyện tập nhận biết các hình khối trên ở cáctrò chơi lắp ghép xây dựng, cho trẻ luyện tập gọi tên những đồ vật có hình dạngcác khối đã học
1.6.2.3 Trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi
* Cô tiếp tục cho trẻ luyện tập nhận biết hình khối qua chọn hình theomẫu, gọi tên hình đã chọn, tìm khối theo tên gọi Cho trẻ luyện tập nhận biết cáckhối với các màu sắc, kích thước khác nhau, nhận biết các dạng khối ở đồ vậtxung quanh trẻ
* Dạy trẻ phân biệt các khối cầu, khối vuông, khối trụ, khối chữ nhật qua dấu hiệu của các bề mặt bao khối : Về số lượng và các hình dạng bao khối
- Dạy trẻ phân biệt khối cầu và khối trụ, cô cho trẻ chơi và lăn 2 khối này
từ đó trẻ thấy khối cầu lúc nào cũng lăn được còn khối trụ có lúc chỉ đứng màkhông lăn được
- Sờ tay vào thì khối cầu luôn tròn, còn khối trụ không tròn (có 2 đầu bẹt)
- Hoặc cô cho trẻ đặt chồng 2 khối cầu và trụ lên nhau từ đó trẻ thấy 2 khối cầu không đặt được lên nhau còn 2 khối trụ đặt được lên nhau
Trang 25- Để trẻ thấy rõ hơn sự khác nhau của 2 khối này cô cho trẻ nắm khối cầu
và khối trụ
- Dạy trẻ phân biệt khối vuông và khối chữ nhật bằng cách cho trẻ:
+ Quan sát phân biệt dấu hiệu các bề mặt bao khối (đều có 6 mặt nhưng 6mặt đều vuông - 6 mặt chữ nhật )
+ Tổ chức cho trẻ chơi dán kín các mặt của từng khối để trẻ nhận biết,phát hiện là khối vuông muốn dán kín dùng 6 mặt hình vuông Khối chữ nhật muốn dán kín phải dùng 6 hình chữ nhật
- Ngoài giờ học trong các giờ hoạt động tạo hình xây dựng cô cho trẻ tạo các đồ vật có hình dạng các khối đã học
+ Tiếp theo cho trẻ tìm đồ vật xung quanh có hình dạng các khối đã học
1.7 Thực trạng thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
1.7.1 Mục đích điều tra
Tìm hiểu thực trạng việc hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫugiáo ở trường mầm non hiện nay, trên cơ sở đó thiết kế một số giáo án diện tửnhằm góp phần nâng cao hiệu quả hình thành biểu tượng này ở trẻ
1.7.2 Vài nét khách thể điều tra
Điều tra được tiến hành trên 6 giáo viên dạy trẻ ở các lớp 3 độ tuổi tạitrường mầm non Hùng Vương- Thị xã Phú Thọ- Tỉnh Phú Thọ
Trường Mầm non Hùng Vương nằm trên địa bàn phường Hùng
Vương-TX Phú Thọ Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ỦyĐảng, chính quyền địa phương Sự chỉ đạo trực tiếp về chuyên môn nghiệp vụcủa phòng GD&ĐT thị xã Phú Thọ Sự ủng hộ nhiệt tình của hội cha mẹ họcsinh trong mọi hoạt động của nhà trường
Cơ sở vật chất của nhà trường nhìn chung đầy đủ, sạch đẹp đáp ứng cho100% các cháu được sinh hoạt bán trú tại trường, đảm bảo được yêu cầu củachương trình giáo dục mầm non
Trang 26Bảng 1.1 Bảng thống kê trẻ ở từng độ tuổi trường mầm non Hùng Vương
Lê Thị Bình Yên
Nguyễn Thị Len
Trần Thị Lành
Phạm Kim Ngân
Đinh Thị Hoàng Yến
Thân Thị Quỳnh Giang
Trang 27Chức vụ phân công đảm Trình độ đào tạo
Chúng tôi tiến hành điều tra trẻ mẫu giáo 5 tuổi A2 và 5 tuổi A3 của trường mầmnon Hùng Vương, trẻ ở hai lớp đều có tâm lí phát triển bình thường
1.7.3 Thời gian điều tra
Thời gian điều tra tiến hành trong vòng 7 tuần (Từ ngày 17/04/2015)
02/03/2015-1.7.4 Nội dung điều tra
Thực trạng chương trình hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo Quan niệm của giáo viên mầm non về việc sử dụng bài giảng điện tử nhằm
hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
Những khó khăn của giáo viên thường gặp phải trong quá trình thiết kế giáo án điện tử nhằm hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
Thực trạng mức độ hứng thú của trẻ mẫu giáo khi tham gia tiết học hình thành biểu tượng hình dạng
1.7.5 Phương pháp điều tra
- Dùng phiếu trưng cầu ý kiến giáo viên
- Trao đổi với giáo viên mầm non về việc sử dụng bài giảng điện tử vào giờ dạy nhằm hình thành BTHD cho trẻ mẫu giáo
Trang 28- Dự giờ, quan sát việc hình thành BTHD cho trẻ mẫu giáo
- Xây dựng bài tập đo mức độ hình thành BTHD cho trẻ mẫu giáo
- Dùng toán thống kê để xử lí kết quả thu được
- Phương pháp điều tra bằng phiếu anket
1.7.6 Phân tích kết quả điều tra
1.7.6.1 Thực trạng việc dạy học hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
Qua việc khảo sát quá trình giảng dạy của giáo viên về nội dung hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo tôi thấy
- Lượng kiến thức trong các nội dung hoạt động ở các lớp phù hợp với đặcđiểm nhận thức của trẻ
- Trẻ nhận biết và gọi tên, phân biệt được các hình (khối) và vận dụng những kiến thức đã được học vào trong các trò chơi
Song giáo viên chưa thực sự gây hứng thú học ở trẻ, đồ dùng của cô cầnphải đa dạng hơn nữa Khả năng của trẻ mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận biết cáchình và các khối chứ trẻ chưa phân biệt được các hình và các khối với nhau, trẻchưa hiểu được đặc điểm toán học về các hình và các khối Do đó, giáo viênmầm non cần phải có phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc điểm nhận thức,điều kiện địa phương của trẻ ở trường mầm non mình đang công tác và quantrọng là mỗi giáo viên cần phải nắm vững phương pháp dạy để hình thành biểutượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
1.7.6.2 Qua phương pháp anket
* Mục đích khảo sát
Tìm hiểu những ý kiến của giáo viên mầm non về thực trạng thiết kế và sửdụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng cho trẻ MG ở trường mầmnon Hùng Vương- Thị xã Phú Thọ- Tỉnh Phú Thọ
* Nội dung khảo sát
Trang 29Nhận thức của giáo viên mầm non về việc thiết kế và sử dụng bài giảngđiện tử vào giờ dạy nhằm hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
Bảng 1.3 Nhận thức ý nghĩa của việc thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
Liên kết hình ảnh với lời nói một cách tự nhiên 7 42
Trang 30Qua bảng tổng hợp trên ta thấy: Khó khăn lớn nhất mà giáo viên thườnggặp phải khi dạy trẻ hình thành BTHD cho trẻ mẫu giáo là chọn bài giảng thíchhợp, nhưng đôi lúc là vì máy móc nó có thể gây ra một số tình huống bất lợi chotiến trình bài giảng như: mất điện, máy bị treo, vius… và mỗi khi có sự cố nhưvậy người giáo viên khó có thể hoàn toàn chủ động điều khiển tiến trình bàigiảng theo như ý muốn.
Trang 31Giáo viên mầm non có vai trò rất to lớn trong việc nâng cao hiệu quả hìnhthành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo thông qua giáo án điện tử.
Qua việc nghiên cứu thực trạng khả năng nhận thức biểu tượng về hìnhdạng cho trẻ mẫu giáo, chúng tôi nhận thấy một số ưu điểm nổi bật:
- Giáo viên đã xác định được tầm quan trọng, mức độ cần thiết của việc dạy trẻ hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo thông qua giáo án điện tử
- Thông qua giáo án trẻ nhận dạng và gọi tên các hình: hình tròn, hìnhvuông, hình tam giác, hình chữ nhật; Chỉ ra các điểm giống, khác nhau giữa haihình (tròn và tam giác, vuông và chữ nhật); Gọi tên và chỉ ra các điểm giống,khác nhau giữa hai khối cầu và khối trụ, khối vuông và khối chữ nhật
Những kết luận trên chính là cơ sở lý luận để chúng tôi làm căn cứ địnhhướng, làm “Kim chỉ nam” trong quá trình thiết kế và sử dụng bài giảng điện tửvào giờ dạy nhằm hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
Trang 32Chương 2 THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ VÀO GIỜ
DẠY NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG HÌNH DẠNG
CHO TRẺ MẪU GIÁO
2.1 Cấu trúc của một tiết học
Phần 1: Ôn kiến thức cũ hoặc làm quen với kiến thức mới
Chỉ cho trẻ ôn những kiến thức có liên quan trực tiếp đến nội dung bàihọc tiết đó, hướng sự chú ý của trẻ vào nhiệm vụ chuẩn bị giải quyết
Nội dung kiến thức đơn giản, thời gian ngắn
Phần 2: Hình thành tri thức biểu tượng mới
Trong giai đoạn này trẻ trực tiếp tham gia vào các hoạt động với đồ vật vàthông qua các hoạt động đó trẻ lĩnh hội tri thức mới Khi đó, các tri thức cần có ởtrẻ được biến thành các việc làm cụ thể Vì vậy:
Khi định hướng hoạt động cho trẻ thì hướng dẫn rõ ràng, dễ hiểu giúp trẻnhớ nhiệm vụ cần làm
Khi tổ chức trẻ hoạt động cô cần kết hợp việc làm mẫu với lời hướng dẫn
Cô hướng dẫn trẻ tự rút ra nhận xét, cô chính xác hóa kết quả
Phần 3: Luyện tập, củng cố
Cô tổ chức cho trẻ vận dụng những điều vừa lĩnh hội được thông qua:
Hệ thống các bài tập từ đơn giản đến phức tạp
Tổ chức một số trò chơi
Cho trẻ liên hệ thực tế
Cho trẻ tạo ra sản phẩm mới bằng các phượng tiện khác: vẽ, nặn, cắt, xé,
dán… 2.2 Cấu trúc một giáo án hoạt động học toán có chủ đích
- Chủ đề
- Tên bài học: Bài gì
- Đối tượng (Lứa tuổi; số lượng )
Trang 33- Thời gian dạy: ( theo lứa tuổi trẻ )
Ngày soạn; Ngày dạy; người dạy
* Mục đích, yêu cầu( Mục tiêu : Phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ,tình cảm xã hội, thẩm mĩ )
-Mục đích bài dạy:
-Yêu cầu (kiến thức, kĩ năng, giáo dục):
+ Kiến thức ( những kiến thức dạy mới, những kiến thức cần củng cố , ứng dụng )
+ Kỹ năng ( những kỹ năng mới cần hình thành và những kỹ năng cũ cần luyện tập )
+ Giáo dục cho trẻ
* Chuẩn bị
- Địa điểm tổ chức, đội hình dạy trẻ : Cách sắp xếp trẻ trong giờ học( trẻ ngồi theo hình vòng cung, vòng tròn, hay đứng quanh cô, )
- Ghi cụ thể tên, số lượng , kích thước, hình dạng , các loại
+Đồ dùng dành cho giáo viên
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của trẻ
-Trình bày rõ trình tự các hoạt động sẽ tiến hành -Trình bày rõ các hoạt động
- Cách thức giáo viên hướng dẫn trẻ thực hiện -Trình tự các hành động, các
Trang 34từng hoạt động, thực hiện từng nhiệm vụ học thao tác mà trẻ cần thực hiện
- Ghi rõ hệ thống các câu hỏi, lời hướng dẫn, yêu cầu của giáo viên
giảng giải của giáo viên
- Cách thức giáo viên thực hiện hành động mẫu, - Dự kiến kết quả hành động
- Ghi rõ hệ thống bài tập hay các trò chơi và
cách sử dụng chúng khi dạy trẻ
- Dự kiến các tình huống có thể xảy ra và cách - Dự kiến các tình huống có
2.3 Vai trò của GAĐT trong đổi mới giáo dục mầm non hiện nay
Chương trình GDMN ban hành kèm theo Thông tư số 17/2009/TT BộGD&ĐT ngày 25/07/2009 là chương trình có sự kế thừa những ưu việt của cácchương trình chăm sóc, giáo dục trẻ trước đây, được phát triển trên các quanđiểm đáp ứng sự đa dạng của các vùng miền, các đối tượng trẻ, hướng đến sựphát triển toàn diện và tạo cơ hội cho trẻ phát triển tối đa những khả năng tiềm
ẩn, đặt nền tảng cho việc học tập ở các cấp học tiếp theo Theo đó, GDMN chútrọng đến việc đổi mới các phương pháp dạy học, trang bị, đổi mới phương tiệndạy học đáp ứng yêu cầu của thời đại, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế Thay
vì thiết kế giáo án thông thường theo kiểu truyền thống những năm gần đây, cácgiáo viên mầm non ở Việt Nam bước đầu được tiếp cận với việc thiết kế GAĐT
So với giáo án dạy học truyền thống thì GAĐT có tính tương tác cao, dựatrên công nghệ tự động hóa, tạo điều kiện cho trẻ được hoạt động tương tác cùngvới máy tính và tương tác với nhau, từ đó phát triển ở trẻ sự mạnh dạn, tự tin, ghinhớ, chú ý có chủ định, có tinh thần hợp tác, biết làm chủ nhận thức của mình
Trang 35Hơn nữa, so với các phương tiện dạy học cũ, việc thiết kế GAĐT trên máy
vi tính với sự hỗ trợ của hệ thống dạy học đa phương tiện là một bước đột phá,đem đến cho trẻ nhiều kênh thông tin hấp dẫn, đa dạng, phong phú hơn với cáchình ảnh sống động, các âm thanh đa chiều đồng thời đảm bảo được nguyên tắctrực quan trong dạy học mầm non Nội dung bài giảng điện tử được minh họabằng những âm thanh và hình ảnh sống động, những hình ảnh phức tạp được tựđộng hóa đã thu hút sự tập trung chú ý, khắc sâu khả năng ghi nhớ của trẻ, giúptrẻ tiếp thu bài học một cách nhẹ nhàng theo phương châm “Chơi mà học, họcbằng chơi” Đặc biệt qua GAĐT, giáo viên có thể xây dựng được những thínghiệm đơn giản, mô tả những quá trình khó quan sát như: quá trình nảy mầmcủa hạt, sự phát triển của cây, vòng đời của động vật, côn trùng, ví dụ: conbướm, con ếch… Nếu trước đây, với những hoạt động học không thể cho trẻ trigiác được như: các hình ảnh về môi trường xung quanh (sấm sét, mây, mưa… ),giáo viên chỉ có thể sử dụng phương pháp dùng lời nói, để giảng giải cho trẻnghe, thì việc sử dụng GAĐT sẽ rất hữu hiệu Bởi ngoài việc cho trẻ nghe các
âm thanh do sấm, sét, mưa… tạo ra trẻ còn có thể quan sát chúng qua nhữnghình ảnh sống động như thật đang trải ra trước mặt trẻ, từ đó các biểu tượng hìnhthành ở trẻ sẽ được khắc sâu hơn Ngoài ra, giáo viên có thể lồng phim vàochương trình máy tính như: các cảnh quay về thế giới động vật, thế giới tự nhiên,đường phố, danh lam thắng cảnh… để cho trẻ xem cảnh thực mà đối tượng tồntại
Mặt khác, dựa trên phần mềm sẵn có giáo viên có thể xử lí hình ảnh trênmáy với rất nhiều trạng thái của đối tượng mà khi vẽ hoặc chụp thì không miêu
tả rõ nét được các chương trình trên máy tính còn giúp giáo viên làm những hoạtcảnh cho trẻ xem, ứng dụng trong các hoạt động giáo dục phát triển ngôn ngữ,hay hoạt động làm quen với chữ cái, chữ số…
Ngoài ra, việc thiết kế và sử dụng GAĐT trong tổ chức hoạt động họctrong trường mầm non cũng chính là một việc làm thể hiện tinh thần học hỏi, cầu
Trang 36tiến của giáo viên và khẳng định được khả năng của giáo viên trong việc tổ chứchoạt động giáo dục phù hợp với xu thế phát triển của thời đại Tuy nhiên, GAĐTchỉ thực sự phát huy vai trò của mình khi giáo viên biết sử dụng phù hợp.
2.4 Những điều cần lưu ý khi thiết kế giáo án điện tử
Mặc dù hiện nay giáo án điện tử có vai trò rất quan trọng trong đổi mớigiáo dục nói chung và đổi mới giáo dục mầm non nói riêng, nhưng GAĐT khôngthể thay thế toàn bộ vai trò của người giáo viên mà cần xác định GAĐT chỉ làmột loại hình bài giảng góp phần nâng cao chất lượng dạy học Vì thế, giáo viênmầm non phải là người chủ động trong mọi tình huống ngay từ khâu lập kếhoạch hoạt động, chuẩn bị các điều kiện, thực hiện kế hoạch, soạn giáo án, thiết
kế GAĐT cũng như các tình huống có thể nảy sinh ở các khâu
Việc thiết kế GAĐT cần đảm nội dung, phương pháp của từng lĩnh vựcgiáo dục theo chương trình GDMN và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻtừng độ tuổi
GAĐT phải có tính mở, phát huy tối đa tích cực, sáng tạo của trẻ và giáoviên tạo điều kiện cho trẻ được tham gia các hoạt động trải nghiệm, kích thíchtính ham hiểu biết, nhu cầu học tập ở trẻ
Thời gian tập trung chú ý của trẻ mỗi độ tuổi có sự khác nhau như: trẻ 3- 4tuổi: 20- 25 phút, trẻ 4- 5 tuổi: 25- 30 phút, trẻ 5- 6 tuổi: 30- 35 phút Vì vậy, cầnlựa chọn hệ thống dạy học đa phương tiện cho các nội dung giáo dục phù hợpvới thời gian trên hoạt động học của trẻ ở từng độ tuổi
Nội dung các kiến thức đưa vào GAĐT phải được chọn lọc chính xác, dễhiểu bao gồm cả kênh hình, kênh tiếng và kênh chữ (kí hiệu, chữ cái, từ) kíchthích hoạt động tương tác giữa cô và trẻ, giữa trẻ với máy tính, tránh lạm dụngchỉ trình chiếu một chiều, không được hoạt động sẽ dễ gây sự nhàm chán ở trẻ
2.5 Thiết kế giáo án điện tử và sử dụng bài giảng điện tử vào giờ dạy nhằm hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
2.5.1 Mục đích, ý nghĩa
Trang 37Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, ngành giáo dục mầm non là mắtxích đầu tiên trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực công nghệthông tin và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy Việc thiết
kế giáo án điện tử đưa vào phục vụ giảng dạy chính là việc làm quan trọng khẳngđịnh việc góp phần thực hiện nhiệm vụ đó
Việc xây dựng giáo án điện tử phục vụ việc giảng dạy của giáo viêm mầmnon nói chung và dạy trẻ hình thành biểu tượng hình dạng nói riêng giúp chongười giáo viên mầm non phát huy được tối đa khả năng làm việc của mình đồngthời trở thành một người giáo viên năng động, sáng tạo và hiện đại, phù hợp với
sự phát triển của người giáo viên nhân dân trong thời đại công nghệ thông tin.Tích cực chuẩn bị giáo án điện tử và sử dụng bài giảng điện tử vừa là biện phápđổi mới phương pháp và hình thức dạy học, vừa tiết kiệm được thời gian chongười giáo viên mầm non, vừa tiết kiệm được chi phí cho nhà trường mà vẫnnâng cao được tính năng động hiệu quả của giờ dạy Đây còn là một biện pháp
ưu việt phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ
Việc ứng dụng công nghệ thông tin nói chung, chuẩn bị giáo án điện tử và
sử dụng bài giảng điện tử vào giờ dạy nói riêng sẽ đem lại nhiều lợi ích cho việcđổi mới phương pháp giáo dục trẻ, khuyến khích sự tập trung của trẻ vào bài học
để việc học của trẻ đạt kết quả tốt hơn
Tích cực chuẩn bị giáo án điện tử và sử dụng bài giảng điện tử có thể tạo
ra một biến đổi về chất trong hiệu quả giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quả hìnhthành biểu tượng hình dạng cho trẻ, tạo ra môi trường giáo dục mang tính tươngtác cao giữa học sinh và giáo viên
2.5.2 Yêu cầu
Thiết kế giáo án điện tử phục vụ việc nâng cao hiệu quả hình thành biểutượng hình dạng cho trẻ cũng đòi hỏi tuân thủ những quy tắc nhất định nhằm tạonên hiệu quả rõ rệt khi ứng dụng giáo án diện tử vào bài dạy