Phát triển năng lực tư duy biện chứng duy vật của học viên Học viện Khoa học Quân sự ở Việt Nam hiện nay.Phát triển năng lực tư duy biện chứng duy vật của học viên Học viện Khoa học Quân sự ở Việt Nam hiện nay.Phát triển năng lực tư duy biện chứng duy vật của học viên Học viện Khoa học Quân sự ở Việt Nam hiện nay.Phát triển năng lực tư duy biện chứng duy vật của học viên Học viện Khoa học Quân sự ở Việt Nam hiện nay.Phát triển năng lực tư duy biện chứng duy vật của học viên Học viện Khoa học Quân sự ở Việt Nam hiện nay.Phát triển năng lực tư duy biện chứng duy vật của học viên Học viện Khoa học Quân sự ở Việt Nam hiện nay.Phát triển năng lực tư duy biện chứng duy vật của học viên Học viện Khoa học Quân sự ở Việt Nam hiện nay.Phát triển năng lực tư duy biện chứng duy vật của học viên Học viện Khoa học Quân sự ở Việt Nam hiện nay.Phát triển năng lực tư duy biện chứng duy vật của học viên Học viện Khoa học Quân sự ở Việt Nam hiện nay.Phát triển năng lực tư duy biện chứng duy vật của học viên Học viện Khoa học Quân sự ở Việt Nam hiện nay.
Trang 1HOÀNG VĂN TUYÊN
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY BIỆN CHỨNG DUY VẬT CỦA HỌC VIÊN HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC CHUYÊN NGÀNH: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử
HÀ NỘI - 2022
Trang 2HOÀNG VĂN TUYÊN
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY BIỆN CHỨNG DUY VẬT
CỦA HỌC VIÊN HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC CHUYÊN NGÀNH: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết
quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ
theo quy định!
Tác giả
Hoàng Văn Tuyên
Trang 5
MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
5
1.2 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ CHỦ YẾU CỦA CÁC CÔNG
TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN CẦNTIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
24
CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY BIỆN CHỨNG DUY
VẬT CỦA HỌC VIÊN HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
30
2.1 TƯ DUY BIỆN CHỨNG DUY VẬT, NĂNG LỰC TƯ DUY
BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ THỰC CHẤT PHÁT TRIỂNNĂNG LỰC TƯ DUY BIỆN CHỨNG DUY VẬT CỦA HỌCVIÊN HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆNNAY
30
2.2 TẦM QUAN TRỌNG VÀ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY BIỆN CHỨNG DUYVẬT CỦA HỌC VIÊN HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ ỞVIỆT NAM HIỆN NAY
51
CHƯƠNG 3 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY BIỆN CHỨNG DUY
VẬT CỦA HỌC VIÊN HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN
SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ MỘT
SỐ YÊU CẦU ĐẶT RA
75
3.1 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TƯ DUY BIỆN CHỨNG DUY
VẬT CỦA HỌC VIÊN HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ ỞVIỆT NAM HIỆN NAY
75
3.2 MỘT SỐ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN 109
Trang 6NAM HIỆN NAY
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC TƯ DUY BIỆN CHỨNG DUY VẬT CỦA HỌC VIÊN HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
120
4.1 NÂNG CAO NHẬN THỨC, TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC
CHỦ THỂ TRONG QUẢN LÝ, GIÁO DỤC, RÈN LUYỆNPHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY BIỆN CHỨNG DUYVẬT CỦA HỌC VIÊN HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰHIỆN NAY
120
4.2 TIẾP TỤC CHUẨN HÓA CHƯƠNG TRÌNH, NỘI DUNG,
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO ĐỂ PHÁT TRIỂNNĂNG LỰC TƯ DUY BIỆN CHỨNG DUY VẬT CỦA HỌCVIÊN HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ HIỆN NAY
129
4.3 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY CÁC MÔN
TRỰC TIẾP RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TƯ DUY BIỆNCHỨNG DUY VẬT CỦA HỌC VIÊN HỌC VIỆN KHOAHỌC QUÂN SỰ HIỆN NAY
134
4.4 PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG CỦA HỌC
VIÊN HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ HIỆN NAYTRONG RÈN LUYỆN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUYBIỆN CHỨNG DUY VẬT
141
4.5 XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP, RÈN LUYỆN PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY BIỆN CHỨNG DUY VẬT CỦAHỌC VIÊN HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ HIỆN NAY
148
Trang 7VIẾT ĐẦY ĐỦ VIẾT TẮT
Quan hệ quốc tế về quốc phòng QHQT về QP
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận án
Tư duy biện chứng duy vật là loại hình tư duy phát triển ở trình độ cao nhất
so với các hình thức tư duy trong lịch sử, có vai trò quan trọng trong quá trình nhậnthức và hoạt động thực tiễn của con người Nhân loại đang đồng hành cùng với sựphát triển của kinh tế tri thức, phân công lao động, hội nhập quốc tế trong thời đạivăn minh công nghiệp lần thứ tư - sản phẩm tư duy của con người, chính nó, đã vàđang đặt ra những thời cơ và thách thức to lớn đối với mỗi quốc gia dân tộc trongquá trình dựng nước đều không thể không quan tâm đến việc giữ nước, bằng cáchnày hay cách khác phải tổ chức xây dựng một lực lượng để đảm bảo sự trường tồncủa dân tộc mình Nhất là đối với các quốc gia đi theo con đường XHCN việc giànhchính quyền chỉ là bước đầu, yêu cầu xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạngtrong thời kỳ quá độ là một tất yếu khách quan Lịch sử hình thành, phát triển củadân tộc Việt Nam đã trở thành truyền thống dựng nước, phải đi đôi với giữ nước,xây dựng phải gắn liền với bảo vệ Tổ quốc, việc thường xuyên suy nghĩ kế sách bảo
vệ Tổ quốc từ khi đất nước chưa lâm nguy luôn gắn liền với quá trình tồn tại vàphát triển của người Việt Nam
Học viên Học viện KHQS hôm nay sẽ là những cử nhân - sĩ quan NNQS vàQHQT về QP ngày mai, không phải ai khác, chính họ sẽ là những người trực tiếpthực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, phiên dịch, biên dịch và quan hệ đối ngoại quân sự,quốc phòng, đáp ứng yêu cầu phát triển Ngành, hiện đại hóa quân đội, bảo vệ vữngchắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ mới, học viên Học viện KHQS cầnphải tích cực tích lũy tri thức, rèn luyện phát triển năng lực tư duy BCDV để cótrình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường; hợptác, phân công lao động quốc tế diễn ra sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, đan xentrong cả đối tượng và đối tác Theo đó, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổquốc có bước phát triển mới, sau khi ra trường học viên Học viện KHQS thực hiệnnhiệm vụ nắm bắt tình hình trong nước và quốc tế, tham mưu cho cấp trên tronghoạch định chiến lược, sách lược đối nội, đối ngoại về quân sự, quốc phòng Để
Trang 9hoàn thành nhiệm vụ được giao, học viên Học viện KHQS phải được trang bị đầy
đủ phẩm chất, năng lực của người cán bộ cách mạng, trong đó, năng lực tư duyBCDV là một phẩm chất không thể thiếu, nó giúp cho học viên nhận thức, tiếp thuhiệu quả tri thức, vận dụng vào học tập, rèn luyện đảm bảo chuẩn đầu ra trở thànhngười đảng viên, cán bộ sĩ quan, cử nhân NNQS và QHQT về QP
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phát triển năng lực tư duy BCDV chohọc viên Học viện KHQS, những năm qua Thường vụ, Đảng ủy, Ban Giám đốc Họcviện và lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị đã thường xuyên quan tâm, chú trọngđến vấn đề này; đa số học viên đã tích cực học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyệnnăng lực tư duy BCDV góp phần nâng cao chất lượng GD-ĐT Bên cạnh đó, việcphát triển năng lực tư duy BCDV của học viên vẫn còn tồn tại những hạn chế nhấtđịnh cả về mặt nhận thức trong lãnh đạo, quản lý, giáo dục, rèn luyện, cũng như sự
nỗ lực trong học tập, rèn luyện của từng học viên Thực trạng này do nhiều nguyênnhân khác nhau cần được nhận thức đầy đủ Trước yêu cầu mới của nhiệm vụ cáchmạng, đang đặt ra sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đào tạo ở Học viện KHQS
“tập trung đổi mới căn bản, toàn diện theo hướng “chuyên môn hoá, chuyên sâu” vềquy trình, chương trình, nội dung đào tạo ở tất cả các bậc học, ngành học, bám sátchuẩn đầu ra các đối tượng đào tạo, sát thực tiễn”…[25, tr 9], trong đó việc pháttriển năng lực tư duy BCDV có vai trò rất quan trọng, giúp người học viên Học việnKHQS - sĩ quan tương lai hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao
Vì vậy, nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn phát triển năng lực tư duyBCDV, làm cơ sở để nâng cao chất lượng đào tạo sĩ quan NNQS và QHQT về QP
ở Học viện KHQS là vấn đề lớn, còn nhiều khó khăn, phức tạp, song có giá trị thiết
thực và cần thiết Với lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Phát triển năng lực tư
duy biện chứng duy vật của học viên Học viện Khoa học Quân sự ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ triết học của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở luận giải một số vấn đề lý luận, phân tích thực trạng năng lực tưduy BCDV của học viên Học viện KHQS ở Việt Nam hiện nay, luận án đề xuất một
Trang 10số giải pháp cơ bản nhằm phát triển năng lực tư duy BCDV, góp phần nâng cao chấtlượng đào tạo sĩ quan của Học viện KHQS trong tình hình mới.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án và chỉ ranhững vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Luận giải một số vấn đề lý luận về phát triển năng lực tư duy BCDV của họcviên Học viện KHQS ở Việt Nam hiện nay
Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực tư duy BCDV của học viên Học việnKHQS và một số yêu cầu đặt ra hiện nay
Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển năng lực tư duy BCDV củahọc viên Học viện KHQS ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Năng lực tư duy BCDV của học viên Học viện KHQS ở Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về tư duy; quan điểm của Đảng về giáo dục, đào tạo; những thành tựu nghiên cứu trong
và ngoài nước liên quan đến vấn đề này
Trang 114.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử vào nghiên cứu lĩnh vực phát triển năng lực tư duy quân sự; đồngthời, sử dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu khoa học như: hệ thống - cấu trúc,phân tích - tổng hợp, khái quát hóa - trừu tượng hóa, lịch sử - lôgic, quan sát, thống kê,điều tra, chuyên gia… để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đã xác định
5 Những đóng góp mới của luận án
Khái quát phạm trù trung tâm phát triển năng lực tư duy BCDV của học viênHọc viện KHQS ở Việt Nam, chỉ rõ tầm quan trọng và những yếu tố ảnh hưởng đếnphát triển năng lực tư duy BCDV của đối tượng này
Đánh giá cơ sở khoa học và đưa ra các nhận định chính xác về thực trạngnăng lực tư duy BCDV của học viên Học viện KHQS ở Việt Nam hiện nay
Khái quát một số yêu cầu đặt ra cần giải quyết đối với phát triển năng lực tưduy BCDV của học viên Học viện KHQS ở Việt Nam hiện nay
Đề xuất một số giải pháp phát triển năng lực tư duy BCDV của học viên Họcviện KHQS ở Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa và giá trị của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận vàthực tiễn phát triển năng lực tư duy BCDV của học viên Học viện Khoa học Quân
sự, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ sĩ quan của Quân đội nhândân Việt Nam hiện nay
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu,giảng dạy và học tập ở các học viện, nhà trường trong Quân đội
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình đã công bố của tácgiả có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dungcủa luận án được kết cấu thành 4 chương 11 tiết
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Vấn đề tư duy, năng lực tư duy, năng lực tư duy biện chứng duy vật là chủ
đề luôn được nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước quan tâm nghiên cứu.Hiện nay, có nhiều công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến vấn đề này đãđược công bố rộng rãi trên tài liệu, sách, tạp chí, luận án Các công trình khoa họcliên quan đến vấn đề này không chỉ dừng lại ở góc độ nghiên cứu lý luận về nguồngốc, bản chất, đặc trưng của tư duy và năng lực tư duy BCDV mà còn đi sâu nghiêncứu phân tích, luận giải, vận dụng giải quyết vấn đề thực tiễn trên các lĩnh vực khácnhau của đời sống xã hội nói chung và hoạt động quân sự, quốc phòng nói riêng.Chẳng hạn, có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về tư duy BCDV trong hoạtđộng kinh tế, giáo dục - đào tạo, quốc phòng, an ninh, đối ngoại Tuy nhiên chođến nay, vấn đề phát triển năng lực tư duy BCDV vẫn là chủ đề hấp dẫn, còn nhiềunội dung cần được tiếp tục nghiên cứu bổ sung, vận dụng và làm sáng tỏ Trongkhuôn khổ đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án, nghiên cứu sinh xin trìnhbày khái lược về tình hình nghiên cứu trên phương diện lý luận về tư duy và thựctrạng năng lực tư duy BCDV, giải pháp phát triển năng lực tư duy BCDV
1.1.1 Công trình nghiên cứu liên quan đến những vấn đề lý luận về phát triển năng lực tư duy biện chứng duy vật
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học được công bố đềcập đến vấn đề lý luận về phát triển năng lực tư duy BCDV Ở đây nghiên cứu sinhchỉ lược khảo một số công trình tiêu biểu tập trung nghiên cứu năng lực tư duy, pháttriển năng lực tư duy BCDV dưới góc độ triết học
Tác giả M M Rodentan trong cuốn sách: Nguyên lý lôgic biện chứng, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, năm 1962, được bố cục gồm 9 chương, dưới góc độ của khoa học lôgic đã nghiên cứu vạch rõ phạm vi, đối tượng nghiên cứu của lôgic biện
chứng, kiến thức cơ bản hình thức và quy luật của tư duy, vai trò của lôgic học đốivới quá trình tư duy, phân biệt lôgic hình thức và lôgic biện chứng, những hạn chế
Trang 13của lôgic hình thức Ông khẳng định rằng, biện chứng là lôgic của sự biến hóa, pháttriển, nên nó khắc phục được tính hạn chế của lôgic hình thức; nó mở đường chotính năng động, mềm dẻo của quá trình tư duy phản ánh sự vận động, phát triển củabản thân hiện thực Bên cạnh đó, ông còn phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa tư duy
và hiện thực khách quan Ông khẳng định rằng: những quy luật lôgic không thuầntúy là những quy luật của bản thân tư duy mà suy cho cùng là phản ánh tính quyluật của thế giới hiện thực Tư duy BCDV là tư duy phản ánh sự vật, hiện tượngtrong tính hiện thực khách quan vốn có của nó, diễn tả lôgic khách quan của sự vậnđộng, phát triển bằng lôgic của các khái niệm, phán đoán, suy lý, tư duy BCDVphải dựa vào quy luật của sự phát triển biện chứng, đó chính là quy luật của phépbiện chứng, đồng thời là những quy luật của TDBC và lôgic biện chứng
Trong cuốn sách Lôgic học, tác giả Gorki Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội,
1974, được bố cục thành 10 chương đã nêu ra đối tượng, ý nghĩa nghiên cứu, nộidung cơ bản của lôgic học, tác giả cho rằng, chỉ có thể tư duy đúng đắn khi chúng tavận dụng những tư tưởng có nội dung chân thực đã được chứng minh phù hợp vớinhững quy luật của lôgic học Đánh giá về vai trò của lôgic học tác giả cho rằng,các quy luật của lôgic hình thức có vai trò quan trọng trong tư duy và nhận thứckhoa học; nó giúp cho chủ thể nhận thức khắc phục được sai lầm để nâng cao trình
độ và năng lực tư duy, phản ánh chính xác hiện thực khách quan
Tác giả A.P Séptulin trong cuốn: Phương pháp nhận thức biện chứng,
Nhà xuất bản sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội, 1987, bố cục thành 7 chươngvới 12 nguyên tắc nhận thức biện chứng, tác giả đã đi sâu phân tích chức năngphương pháp luận của triết học Mác - Lênin, khẳng định và lý giải phép biệnchứng với tư cách là phương pháp nhận thức và cải tạo thế giới Ông đã phântích và tập trung luận giải bản chất, những nguyên tắc của phương pháp tư duyBCDV, trên cơ sở đó đề ra những yêu cầu, định hướng đối với chủ thể nhận thứctrong quá trình nghiên cứu khách thể; đồng thời chỉ ra mối liên hệ giữa phươngpháp biện chứng với phương pháp của khoa học cụ thể Ông khẳng định rằng,nhận thức, phương pháp nhận thức biện chứng là kết quả của lịch sử phát triểnnhận thức; các quy luật của hoạt động nhận thức được thể hiện qua các quy luật,
Trang 14phạm trù của phép biện chứng trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới chủthể tư duy phải tuân thủ các nguyên tắc của phép biện chứng.
Tập thể tác giả thuộc Viện Triết học; Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (cũ),
Trong cuốn sách: Lịch sử phép biện chứng, chịu trách nhiệm xuất bản là tác giả Ê.V.
Ôidécman, gồm 6 tập, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 1998, đã tập trung phân tích sự pháttriển của phép biện chứng gắn liền với sự hình thành, phát triển của tư duy biện chứng;
đã chỉ ra phép BCDV là hình thức phát triển cao nhất của tư duy biện chứng, các tácgiả đã khái quát hệ thống lịch sử đấu tranh giữa hai phương pháp tư duy: phương pháp
tư duy biện chứng và phương pháp tư duy siêu hình, sự chiến thắng của phương pháp
tư duy BCDV Các tác giả cũng chỉ rõ tính chất phản khoa học của phép biện chứngduy tâm, làm sáng tỏ sự phụ thuộc của tư duy BCDV vào điều kiện kinh tế xã hội vàcác thành tựu khoa học; đồng thời công trình đã khẳng định tính đúng đắn, khoa học,cách mạng của tư duy BCDV trong việc nhận thức, lý giải vấn đề thực tiễn đặt ra
Các tác giả Lê Hữu Nghĩa và Phạm Duy Hải trong cuốn, Tư duy khoa học
trong giai đoạn cách mạng khoa học - công nghệ, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội,
1998, được trình bày với 2 chương, các tác giả đã tập trung phân tích và làm sáng tỏvấn đề tư duy, bản chất, đặc điểm chủ yếu của tư duy khoa học cũng như một số đặctrưng của tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng khoa học công nghệ: tính trừutượng, khái quát cao; tính đa dạng; tốc độ nhanh; tính khổng lồ và tính nhân văn của
tư duy khoa học ngày nay Trên cơ sở đó, các tác giả đã tập trung làm rõ vai tròquan trọng của việc phát huy tư duy khoa học trong giai đoạn hiện nay
Nguyễn Trọng Chuẩn và Đỗ Minh Hợp trong cuốn sách: Vấn đề tư duy trong
triết học Hêghen, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội, 1999, các tác giả trên đã tập trung
phân tích, phê phán quan điểm sai lầm của Hêghen về tư duy, chỉ ra những sai lầmcần phê phán và loại bỏ; khẳng định “hạt nhân hợp lý” của nó cho sự ra đời của tưduy khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin sau này Trong công trình khoa học: “Vấn
đề rèn luyện và nâng cao năng lực tư duy cho cán bộ trong điều kiện hiện nay”, Tạp
chí Lý luận Chính trị, số 12/2006, tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn đã khẳng định rằng,
vấn đề cơ bản của triết học, nhất là triết học hiện đại là mối quan hệ biện chứnggiữa tư duy và tồn tại Vì vậy khái niệm tư duy là một trong những khái niệm trung
Trang 15tâm của triết học, sự hình thành, phát triển, nghiên cứu nó đã diễn ra trong suốt quátrình phát triển của lịch sử triết học Tư duy đó vận động, biến đổi, phát triển ra saocòn phụ thuộc vào năng lực của chủ thể nhận thức, tức là năng lực con người đangtiến hành hoạt động nhận thức Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, người cán
bộ không thể chỉ dựa vào tư duy cảm tính mà cần chủ động thu nhận, phân tích, xử
lý thông tin, để từ đó lựa chọn và đưa ra các quyết định tối ưu nhằm đạt được mụcđích, thực hiện các nhiệm vụ được giao trên cơ sở tư duy lý tính
Nguyễn Văn Dũng trong công trình: Phát triển năng lực tư duy lý luận của cán
bộ chính trị cấp trung đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ
Triết học, Học viện CTQS, Hà Nội, 2001, tác giả đã nghiên cứu và làm sáng tỏ bảnchất, đặc điểm cơ bản của tư duy, phát triển năng lực tư duy lý luận ở đội ngũ cán
bộ chính trị cấp trung đoàn Theo tác giả NLTD lý luận của cán bộ chính trị cấptrung đoàn gồm 05 yếu tố: năng lực nhận thức; năng lực vận dụng lý luận; năng lựctổng kết thực tiễn quân sự; năng lực kết hợp giữa trí tuệ với phẩm chất nhân cách vànăng lực đấu tranh tư tưởng lý luận Tác giả đề xuất ba giải pháp cơ bản để pháttriển NLTD cho đội ngũ cán bộ này
Tác giả E.V.IIencôv trong cuốn: Lôgic học biện chứng, Nhà xuất bản Văn hóa
-Thông tin, 2003, trong 3 phần tác giả đã trình bày các vấn đề lịch sử và lý luận về tưduy biện chứng dưới dạng bút ký Ông đã phân tích, luận chứng một cách có hệ thống,sâu sắc về cuộc tranh luận trong lịch sử triết học giữa các trào lưu triết học duy vật vàduy tâm, biện chứng và siêu hình về bản chất của tư duy và khoa học về tư duy Trên
cơ sở đó, ông đã chỉ ra sai lầm, hạn chế cũng như những đóng góp của các nhà triết họctrong việc giải quyết vấn đề bản chất của tư duy và đối tượng của lôgic học Ông dẫnlời V.I.Lênin và khẳng định, lôgic học biện chứng “Không chỉ là khoa học về “tư duy”
mà còn là khoa học về sự phát triển của tất cả các sự vật, vật chất lẫn tinh thần” Theoông, mâu thuẫn trong quá trình hình thành, phát triển của môn khoa học này chỉ đượcgiải quyết một cách đúng đắn, khoa học trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về
sự thống nhất biện chứng giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học Tácgiả khẳng định rằng, chỉ có cách hiểu như vậy mới cho chúng ta cách tiếp cận đúng đắn
để nghiên cứu và thấy được hết giá trị, ý nghĩa của môn học này
Trang 16Trần Thành và các tác giả trong cuốn: Tư duy lý luận với hoạt động của
người cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn, Nhà xuất bản CTQG, Hà Nội, 2003, đã
phân tích một cách hệ thống về bản chất, kết cấu, đặc điểm của tư duy lý luận, vaitrò của tư duy lý luận đối với hoạt động của người cán bộ Các tác giả khẳng định,
tư duy BCDV là hình thức phát triển cao nhất của tư duy lý luận, tư duy BCDV cótính trừu tượng hóa, khái quát hóa, tính khoa học, tính gợi mở, sáng tạo và tính phêphán sâu sắc Phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước
ta hiện nay là nhiệm vụ quan trọng để nâng cao trình độ TDBC cho đội ngũ này, nó
có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay
Nguyễn Mạnh Cương trong bài: “Về bản chất của tư duy”, Tạp chí Triết học,
số 1/2004, đã phân tích, làm rõ nguồn gốc, bản chất, đặc điểm, lịch sử hình thành và
phát triển tư duy BCDV Trong bài viết của mình, tác giả khẳng định tư duy biệnchứng mác xít là hình thức tư duy phát triển cao nhất trong lịch sử, tác giả đã phântích sự phụ thuộc của tư duy vào hệ thống tri thức và hoạt động thực tiễn của mỗichủ thể và khẳng định nếu thiếu vốn tri thức, chủ thể nhận thức sẽ không có tư duysáng tạo Đặc biệt, tác giả đã phân tích mối quan hệ biện chứng, sự khác nhau giữa
tư duy chính xác và tư duy BCDV trong quá trình nhận thức
Trần Thị Ngọc Anh trong công trình nghiên cứu: Lôgic của sự hình thành,
phát triển khái niệm, Luận án tiến sĩ Triết học Trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn, Hà Nội, 2004, đã đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống các quy luậttrong quá trình hình thành khái niệm; phân tích bản chất đặc điểm, vị trí, vai trò củakhái niệm trong quá trình tư duy; lôgic của sự hình thành khái niệm; đồng thời tácgiả đã khảo sát sự hình thành của một số khái niệm khoa học; đề xuất một số giảipháp cho việc hình thành khái niệm và việc lĩnh hội các khái niệm Trên cơ sở đó,tác giả đưa ra một số biện pháp cụ thể giúp cho việc nâng cao năng lực tiếp nhận vàvận dụng khái niệm trong môi trường sư phạm đạt hiệu quả
Vũ Văn Viên trong công trình khoa học: “Tư duy lôgic - bộ phận hợp thành
của tư duy khoa học”, Tạp chí Triết học, số 12/2006, đã luận giải một cách khoa
học làm rõ tư duy lôgic là một bộ phận hợp thành của tư duy khoa học Tác giảkhẳng định: tư duy khoa học chính là sự thống nhất giữa tư duy biện chứng và tư
Trang 17duy lôgic, trong đó TDBC đóng vai trò là phương pháp luận chỉ đạo, còn tư duylôgic là tổng hợp các thao tác lôgic vào giải quyết chính xác các vấn đề cụ thể Trên
cơ sở làm rõ bản chất của tư duy khoa học, nó là giai đoạn cao của quá trình nhậnthức, được thực hiện bằng một cách tiếp cận nhất định, thông qua các thao tác tưduy lôgic xác định của chủ thể nhằm sản xuất ra tri thức mới dưới dạng các kháiniệm, phạm trù, quy luật, lý thuyết, với mục đích phản ánh ngày càng chính xáchơn, đầy đủ hơn về đối tượng cũng như việc vận dụng hiệu quả nhất các tri thức đã
có vào thực tiễn; tác giả đã đi sâu phân tích các yếu tố hợp thành tư duy khoa học vàkhẳng định vai trò to lớn của tư duy lôgic trong tư duy khoa học; đồng thời khẳngđịnh lôgic học chính là khoa học về tư duy, việc học tập lôgic học có ý nghĩa quantrọng, nó giúp cho con người không những nắm vững mà còn rèn luyện các kỹnăng, kỹ xảo tư duy, nâng cao khả năng vận dụng các quy luật, quy tắc của lôgic vànhận thức vào hoạt động thực tiễn
Đặng Hữu Toàn trong bài “Ph Ăngghen xây dựng và phát triển triết học duy
vật biện chứng”, Tạp chí Triết học, số 11/2010, Tác giả khẳng định: Ph Ăngghen đã
dành cả cuộc đời để nghiên cứu khoa học và cùng với C Mác tạo nên cuộc cách mạng
vĩ đại trong lịch sử triết học bằng việc xây dựng, phát triển chủ nghĩa DVBC và chủnghĩa DVLS; gắn kết chức năng thế giới quan với chức năng phương pháp luận củatriết học thành một thể thống nhất trong việc xem xét thế giới tự nhiên, đời sồng xã hội
và tư duy con người, thành khoa học không chỉ “giải thích thế giới”, mà còn “cải tạothế giới” và do vậy, làm cho triết học như V.I Lênin nhận xét, trở thành “chủ nghĩaduy vật triết học hoàn bị, thành công cụ nhận thức vĩ đại”, chủ nghĩa DVBC và phépBCDV trở thành cơ sở phương pháp luận không chỉ cho các khoa học xã hội, mà còncủa cả khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật
Trần Nhâm trong bài: “Sự kết hợp các mặt đối lập trong tư duy biện chứng Hồ
Chí Minh”, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 7/2011, đã chỉ rõ sự kết hợp các mặt đối lập
là điều kiện tất yếu của quá trình TDBC nhằm phản ánh các mặt đối lập trong hiệnthực và kết hợp các mặt đối lập ấy trong tư duy để hình thành một khái niệm mới,đánh dấu sự xuất hiện một quá trình mới, ở đây vấn đề kết hợp các mặt đối lập trởthành một nguyên tắc lý luận về sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập,
Trang 18đồng thời khi vận dụng vào thực tế, lại giúp chúng ta nhận rõ một sự kết hợp nhưvậy trong chiến lược, cũng như trong sách lược, trong chính trị, quân sự, ngoại giao.
Nguyễn Xuân Thắng trong công trình “Hồ Chí Minh - Tầm nhìn thời đại”,
Tạp chí Lý luận Chính trị, số 6/2016, theo tác giả, tầm nhìn thời đại Hồ Chí Minh
bao hàm những nội dung cơ bản, toàn diện, sâu sắc về cách mạng Việt Nam, đó là:tầm nhìn thời đại trong việc tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc; tầm nhìn thờiđại trong việc xác lập kiến tạo mô hình xã hội gắn với thiết chế hiện đại; tầm nhìntrong việc xác định con đường phát triển của cách mạng Việt Nam; tầm nhìn trongxây dựng nhân cách, phẩm giá con người Việt Nam có khả năng hội nhập vào khuvực và toàn cầu; tầm nhìn trong quan hệ quốc tế và giải quyết các vấn đề quốc tế
Như vậy, qua các công trình khoa học nêu trên, các tác giả đã phân tích, làm
rõ những vấn đề như nguồn gốc, bản chất, đặc điểm, vai trò của tư duy; lịch sử hìnhthành, phát triển của tư duy BCDV; mối quan hệ giữa nội dung và phương pháp,trình độ và năng lực của tư duy, các nguyên tắc và các quy luật của tư duy và tư duyBCDV… thông qua đó, các tác giả đã góp phần làm sâu sắc thêm những vấn đề lýluận về tư duy và tư duy BCDV, đặt cơ sở thế giới quan, phương pháp luận để xâydựng phương pháp tư duy khoa học và sử dụng phương pháp ấy trong nhận thức vàcải tạo thế giới Đồng thời, đó cũng là nguồn tài liệu phong phú, đa dạng để nghiêncứu sinh kế thừa, nghiên cứu những vấn đề lý luận về phát triển năng lực tư duyBCDV của học viên Học viện KHQS hiện nay
1.1.2 Công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng năng lực tư duy biện chứng duy vật
Về thực trạng phát triển năng lực tư duy BCDV, đã có nhiều công trìnhnghiên cứu về ưu điểm, hạn chế; về nguyên nhân của những căn bệnh giáo điều,kinh nghiệm và chủ quan trong tư duy; đặc biệt về thực trạng năng lực tư duy ở độingũ cán bộ, sinh viên và học viên Trong khuôn khổ luận án, tác giả chỉ đề cập kháiquát một số công trình tiêu biểu liên quan
Nguyễn Văn Linh trong cuốn: Đổi mới tư duy và phong cách, Nhà xuất bản
Sự thật, Hà Nội, 1987, đã tập trung phân tích và chỉ rõ những hạn chế tư duy lý luậncủa Đảng trong thời kỳ thực hiện cơ chế kinh tế tập trung quan lưu bao cấp Trên cơ
Trang 19sở đó, tác giả của cuốn sách luận giải sự cần thiết phải đổi mới nội dung, phươngpháp tư duy và phong cách tư duy của Đảng và của đội ngũ cán bộ lãnh đạo nướcta; đồng thời, đưa ra những nội dung giải pháp cần thực hiện trong đổi mới tư duy,đặc biệt là đổi mới tư duy kinh tế trong công cuộc xây dựng CNXH.
Trong Luận án tiến sĩ Triết học: Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa ở đội ngũ cán
bộ nước ta trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1994, tác giả Trần Văn Phòng trong công trình đã tập trungphân tích và làm sáng tỏ bản chất và những biểu hiện chủ yếu của bệnh “kinhnghiệm chủ nghĩa”: Hạ thấp lý luận, suy nghĩ giản đơn, đại khái, yếu về lôgic, thiếutính hệ thống và hướng vào quá khứ là chủ yếu, lấy tiêu chuẩn của cán bộ thế hệtrước áp đặt cho thế hệ sau Đồng thời, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân ở căn
“bệnh” trong tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ nước ta là: thường được phát sinh từnhững tri thức thông thường; không nắm được thực chất, mối liên hệ biện chứnggiữa kinh nghiệm với lý luận và thực tiễn Tác giả cho rằng, để khắc phục được căn
“bệnh” trên cần có loại “thuốc đặc trị”; từ đó, đề xuất ba phương hướng cơ bản đểkhắc phục và ngăn ngừa căn bệnh này ở đội ngũ cán bộ Việt nam
Tác giả Đào Văn Tiến trong công trình: Nâng cao năng lực tư duy sáng
tạo của đội ngũ sĩ quan cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay,
Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội, 1998, đã tập trunggiải quyết các nội dung cơ bản của tư duy như, tư duy, năng lực tư duy sáng tạo
là gì, nghiên cứu luận giải về cấu trúc của tư duy sáng tạo, gồm ba bộ phận: nănglực ghi nhớ, tái hiện; năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa trong quá trình phảnánh sự vật, hiện tượng; năng lực liên tưởng, so sánh và suy luận tạo lập tri thứcmới Sự khác nhau giữa tư duy sáng tạo với tư duy siêu hình, tư duy biện chứngduy tâm, đặc điểm của tư duy sáng tạo của đội ngũ cán bộ sĩ quan cấp phân đội.Trên cơ sở đó, khảo sát thực trạng và nguyên nhân hạn chế trong tư duy vàkhẳng định tính tất yếu của việc nâng cao năng lực đó, đề xuất ba giải pháp cơbản nâng cao năng lực tư duy sáng tạo của đội ngũ sĩ quan cấp phân đội
Nguyễn Bá Dương trong Luận án tiến sĩ Tríết học, Học viện Chính trị quân
sự, Hà Nội năm 2000 về Đặc điểm quá trình phát triển tư duy biện chứng duy vật
Trang 20của sĩ quan phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam trong nhận thức nhiệm vụ bảo
vệ Tổ quốc hiện nay, đã đi sâu phân tích năm đặc trưng cơ bản của tư duy BCDV đó
là: Tư duy BCDV là loại hình tư duy phát triển cao nhất so với các hình thức tư duytrong lịch sử; phản ánh hiện thực đang vận động, biến đổi; phản ánh đúng nhữngmâu thuẫn vốn có của thế giới khách quan; tư duy biện chứng có tính khách quan;
nó là tư duy khoa học, cách mạng, có tính phê phán và chiến đấu cao, luôn tạo rasản phẩm kép, Theo tác giả, chỉ có tư duy BCDV mới đem lại “chìa khóa” để giúpcon người mở cửa tiến lên phía trước; muốn nhận thức và cải tạo hiện thực hiệu quảthì con người phải có tư duy BCDV Nó là đối tượng để ta nhận thức, đồng thời làcông cụ giúp mỗi chúng ta trong tiếp nhận tri thức của nhân loại, chuyển hóa vào
cải tạo thực tiễn đáp ứng nhu cầu của mình và xã hội loài người Trong cuốn: Sĩ
quan trẻ với tư duy về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thời kỳ hội nhập WTO, Nhà xuất
bản QĐND, Hà Nội, 2008, với bố cục năm chương, tác giả đã phân tích và làm sáng
tỏ bản chất, đặc trưng, vai trò, đặc điểm phát triển tư duy BCDV của sĩ quan trẻtrong nhận thức nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thời kỳ Việt Nam hội nhập WTO Đồngthời, đánh giá tình hình, nhân tố tác động đến quá trình phát triển tư duy BCDV; đềxuất định hướng, triển vọng và bốn giải pháp phát triển tư duy BCDV của sĩ quantrẻ trong nhận thức nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thời kỳ Việt Nam hội nhập WTO
Các tác giả Bùi Thanh Quất, Bùi Trí Tuệ và Nguyễn Ngọc Hà trong bài:
“Đối tượng, phương pháp nghiên cứu và đặc điểm của lôgic biện chứng”, Tạp chí Triết học, số 7/2001, đã phân tích đối tượng, phương pháp nghiên cứu và đặc điểm
của lôgic học biện chứng Các tác giả cho rằng, tư duy biện chứng và lôgic biệnchứng có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau: tư duy biện chứng vừa là đốitượng nghiên cứu, vừa là công cụ nghiên cứu của lôgic biện chứng; lôgic biệnchứng có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện, phát triển tư duy biện chứng;nghiên cứu lôgic biện chứng có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà khoa học tựnhiên trong việc khái quát các tri thức chuyên ngành, khắc phục tính biện chứng tựphát của tư duy
Nguyễn Thanh Bình trong bài: “Bàn về năng lực tư duy khoa học của đội ngũ
cán bộ”, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 5/2008, đã phân tích bản chất của năng lực, tư
Trang 21duy và năng lực tư duy khoa học, theo tác giả năng lực tư duy khoa học là khảnăng của chủ thể tư duy trên con đường nhận thức chân lý, thể hiện không chỉ ởkhả năng phản ánh thế giới mà còn là việc biết đặt ra những vấn đề mới và biếttìm ra giải pháp giải quyết vấn đề một cách hiệu quả nhất Cấu trúc của năng lực
tư duy gồm: năng lực phản ánh ý thức ở trình độ cao; năng lực suy nghĩ vậndụng các khái niệm, phạm trù theo nguyên tắc lôgic chặt chẽ nhất định nhằm đạttới chân lý; năng lực sáng tạo đề xuất những khuynh hướng nhận thức mới nhằm
bổ sung, đổi mới nhận thức đang có Cán bộ có năng lực tư duy khoa học đó lànhững cán bộ có trình độ học vấn, sự am hiểu thực tế, khả năng nắm bắt và giảiquyết các vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra; có nhận thức nhạy bén và chínhxác các quy luật xã hội và quy luật kinh tế và biết vận dụng sáng tạo vào điềukiện cụ thể của đất nước; ở khả năng tiếp thu và cụ thể hóa nghị quyết vào tổchức thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ cónăng lực tư duy khoa học chúng ta cần có giáo dục, đào tạo con người toàn diện,nghiêm túc, có chất lượng cao và đặc biệt là phải gắn học đi đôi với hành
Song Thành trong bài: “Phương pháp luận Hồ Chí Minh với vấn đề xây
dựng chủ thuyết phát triển của Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị, số
2/2010, đã nêu ra một số nét cơ bản định hướng trong nghiên cứu, vận dụngphương pháp luận của Hồ Chí Minh nên tiếp cận theo hai hướng: thứ nhất là tưtưởng về phương pháp; thứ 2 là tư tưởng về hành động - phương pháp Do vậytrong nghiên cứu vận dụng phương pháp luận Hồ Chí Minh cần tập trung bámsát cơ sở thực tiễn; vận dụng sáng tạo và kết hợp nhuần nhuyễn BCDV mác xítvới yếu tố biện chứng của triết học phương Đông; dĩ bất biến, ứng vạn biến; phảicoi nhân tố con người là vấn đề số một, luôn chú ý phát huy nhân tố chủ quancủa con người; phương pháp nghệ thuật dự báo của Người
Nguyễn Ngọc Hà và các tác giả của cuốn sách Đặc điểm tư duy và lối sống
của con người Việt Nam hiện nay: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản
Khoa học xã hội, năm 2011 Cuốn sách đã nghiên cứu một cách có hệ thống chặtchẽ cả về lý luận và thực tiễn, được chia thành bốn phần cơ bản Cụ thể, phần thứnhất, các tác giả phân tích những vấn đề lý luận chung về tư duy, các kiểu tư duy,
Trang 22vai trò của tư duy đối với hoạt động nhận thức của con người Việt Nam Phần thứhai, nội dung cuốn sách tập trung nghiên cứu về đặc điểm của tư duy và lối sốngcon người Việt Nam với cách tiếp cận dựa trên quan điểm của chủ nghĩa DVBC để
lý giải sự hình thành tư duy, lối sống của con người Việt Nam trong lịch sử Phần 3,cuốn sách đề cập tới những yếu tố ảnh hưởng đến sự biến đối về tư duy và lối sống củacon người Việt Nam; đặc điểm của tư duy mới và đặc điểm của lối sống mới của conngười Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế Cuối cùng cuốn sách đã đề
ra phương hướng và các giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục đổi mới tư duy và xây dựnglối sống mới của con người Việt Nam hiện trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Trần Hậu Tân trong công trình: Kết hợp nâng cao năng lực tư duy lý luận với
năng lực thực tiễn của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay,
Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện CTQS, Hà Nội, 2014 Theo tác giả đây là quátrình các chủ thể đồng thời tác động làm cho năng lực tư duy lý luận và năng lựcthực tiễn của chính trị viên ngày càng ràng buộc, quy định, tác động, chuyển hóa,phát triển đồng bộ, giúp họ hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ chủ trì về chính trị,đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị ở phân đội Chính trị viên cần rèn
luyện tư duy lý luận với năng lực thực tiễn vì trong hiện thực, các quan hệ xã hội đan
xen và thường được che đậy bởi những tấm màn “tinh vi rất khó phát hiện” đặc biệt
là quan hệ đối tác, đối tượng trong hội nhập và mở rộng quan hệ quốc tế, vì sự pháttriển của truyền thông đại chúng, đang ngập tràn thông tin từ nhiều nguồn, nhiềuchiều, nhiều mục đích khác nhau Nếu Chính trị viên không có một tư duy đa chiềukhách quan, độc lập và có tính phản biện thì không thể hoàn thành nhiệm vụ Do đócần rèn luyện nâng cao năng lực tư duy lý luận với năng lực thực tiễn của chính trịviên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay là cần thiết theo ba giải pháp
Vũ Văn Ban trong cuốn: Một số vấn đề về nâng cao năng lực tư duy lý luận
của giáo viên trẻ trong các học viện, trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Nxb QĐND, Hà Nội, 2017 Nâng cao năng lực tư duy lý luận của giáo viên trẻ
là quá trình từng bước tạo ra sự chuyển biến về chất của các yếu tố như: tư chất vềtrí tuệ; phẩm chất sáng tạo; tri thức khoa học; kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng sửdụng phương pháp tư duy khoa học, đây là quá trình giải quyết tốt 5 yếu tố tác
Trang 23động Tác giả phân tích thực trạng, các nguyên nhân khách quan và nguyên nhânchủ quan, xác định ba yêu cầu, và đưa ra ba nhóm giải pháp nâng cao năng lực tưduy lý luận của giáo viên trẻ, đó là: nhóm giải pháp về nâng cao năng lực tư duy lýluận; về phương thức nâng cao năng lực tư duy lý luận và về điều kiện nâng caonăng lực tư duy lý luận.
Cao Thị Hà trong công trình: Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội
ngũ giảng viên các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện CTQG, Hà Nội, 2017, đã phân tích
tính tất yếu và sự cần thiết phải nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũgiảng viên các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Tác giả khẳng định,
giảng viên các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có vai trò quan trọng
trong rèn luyện, nâng cao năng lực TDBC, tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ cấp
cơ sở; phân tích thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ này, chỉ ra nhữngyếu kém và nguyên nhân khách quan, chủ quan của yếu kém trong tư duy của họ;trên cơ sở đó đề xuất ba nhóm giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực tư duycủa đội ngũ giảng viên các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, theo batiêu chí: năng lực nhận thức về tư duy lý luận chuyên môn, học vấn; năng lựcvận dụng nhuần nhuyễn tư duy lý luận và năng lực về tinh thần và thái độ củachủ thể tư duy
Ngô Huy Đức trong bài: “Nâng cao năng lực tư duy của cán bộ lãnh đạo cấp
chiến lược”, Tạp chí Cộng sản, số 4/2018, đã nêu ra sáu thách thức đối với cán bộ lãnh
đạo cấp chiến lược: tập trung vào các yếu tố cốt lõi, các quá trình lớn; có quy môrộng, toàn diện, gián tiếp; tập trung vào việc hoạch định đường lối, chính sách lớn;phải đối mặt với những vấn đề mới chưa rõ; phải ứng xử với các bất định và thayđổi nhanh chóng của môi trường và có tính dài hạn cần tạo dựng thể chế toàn diện
về con người, tài lực, vật lực Tác giả cho rằng, để nâng cao năng lực tư duy hiệnnay cần quán triệt và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là vận dụng các nguyên
lý, quy luật vào tiến hành cách mạng XHCN phù hợp với điều kiện thực tiễn đấtnước và khái quát năm nguyên lý cơ bản cấu thành cách thức tư duy của cán bộlãnh đạo chiến lược là: nguyên lý về tính mở; tính chỉ định; tính đa chiều; tính hợp
Trang 24trội; tính phản trực cảm Theo tác giả cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược cần làm tốtviệc tăng khả năng nắm bắt; tự thích nghi; tích cực hành động tạo ra cục diện mớithông qua tự học hỏi, bồi đắp và tôi luyện.
Trần Hải Minh trong bài “Vai trò của triết học Mác- Lênin trong rèn luyện tư
duy biện chứng cho sinh viên hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp
chí Triết học, số 11/2020, tác giả khẳng định: sự cần thiết phải học tập, rèn luyện tư
duy biện chứng và triết học Mác - Lênin, có vai trò cung cấp cho sinh viên nội dungcốt lõi, hạt nhân của tư duy biện chứng và những nguyên tắc phương pháp luậnBCDV trong nhận thức và hoạt động, sinh viên vận dụng vào thực hành, thực tậpnhằm hình thành, phát triển năng lực tư duy biện chứng của mình
Lê Huy Vịnh trong bài “Tư duy mới của Đảng về tăng cường quốc phòng, an
ninh, bảo vệ Tổ quốc”, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 4/2021, theo tác giả, Đảng ta
tiếp tục khẳng định: quốc phòng, an ninh mang bản chất giai cấp sâu sắc Đó là bảnchất giai cấp công nhân, do Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thực hiện, dưới
sự lãnh đạo của Đảng Quốc phòng, an ninh là lĩnh vực trực tiếp diễn ra cuộc đấutranh giai cấp, đấu tranh dân tộc quyết liệt, phức tạp Trong giai đoạn cách mạnghiện nay, bản chất đó được thể hiện ở mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh
Lê Hữu Nghĩa trong bài “Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong văn kiện
Đại hội XIII của Đảng” Tạp chí Triết học, số 6/2021, bài viết tập chung phân tích
luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản trong văn kiện Đại hội XIII, đólà: Đánh giá những thành tựu của nhiệm kỳ XII và cơ đồ đất nước sau 35 năm đổimới - những bài học kinh nghiệm; quan điểm chỉ đạo; bối cảnh mới, tầm nhìn mới
và mục tiêu phát triển đất nước; tiếp tục bổ sung, phát triển; nắm vững và xử lý tốtcác mối quan hệ lớn; những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030,các nhiệm vụ trọng tâm; các đột phá chiến lược
Như vậy, các công trình khoa học nêu trên đã đi sâu nghiên cứu thực trạngcủa năng lực tư duy BCDV trên cả những thành công, tích cực; đồng thời đã phântích những hạn chế, những căn “bệnh” trong tư duy và hậu quả của nó đối với xãhội; khẳng định sự cần thiết phải đổi mới, phát triển, nâng cao năng lực tư duyBCDV trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Trang 251.1.3 Công trình nghiên cứu liên quan đến giải pháp phát triển năng lực
tư duy biện chứng duy vật
Đào Duy Tùng trong cuốn sách: Bàn về đổi mới tư duy, Nhà xuất bản Sự
thật, Hà Nội, 1987, bố cục thành 4 chương với 6 nội dung, tác giả đã phản ánh sựcần thiết phải đổi mới tư duy, tư duy lý luận về con đường đi lên CNXH là do sự lạchậu về kinh tế, chính trị, xã hội; sự yếu kém trong nhận thức về con đường đi lênCNXH; chỉ ra phương hướng, nội dung, biện pháp để đổi mới tư duy; đồng thờikhẳng định, đổi mới tư duy là yêu cầu bức thiết, là mệnh lệnh của cuộc sống và
là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp đổi mới đất nước Tác giả của cuốn sách
đã nhấn mạnh, muốn kết hợp đổi mới nội dung, phương pháp tư duy, thì phảinắm vững tư duy biện chứng mácxít, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, kháiquát lý luận, kiểm tra lại hệ thống tri thức; tích cực nghiên cứu lịch sử tư duydân tộc và tư duy nhân loại; đổi mới công tác thông tin; khắc phục chủ nghĩa cánhân, xuất phát từ thực tiễn, giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra
Tác giả Nguyễn Văn Phương trong công trình: Vai trò của tư duy lôgic trong
phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho đội ngũ sĩ quan chính trị cấp phân đội,
Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội, 2000, theo tác giảnội hàm của mỗi hình thức tư duy gồm bốn bộ phận là: đối tượng, nội dung, ngônngữ và hình thức tổ chức, kết cấu của tư tưởng Tác giả khẳng định tư duy lôgic cóbốn đặc điểm là: tư duy lôgic mang tính hệ thống; phản ánh cái tất yếu khách quan;mang tính chặt chẽ và chính xác cao Đồng thời tác giả cho rằng cấu trúc năng lực
tư duy sáng tạo của học viên gồm ba bộ phận: năng lực ghi nhớ, tái hiện; năng lựckhái quát hóa, trừu tượng hóa và năng lực liên tưởng, so sánh, suy luận để tạo ra trithức mới
Nguyễn Thị Bích Thủy trong công trình: Vai trò của tư duy biện chứng đổi
với cán bộ lãnh đạo kinh tế trong quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay, Luận án
tiến sĩ Triết học, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001, đã phân tích bảnchất, đặc điểm của tư duy BCDV; đưa ra định nghĩa về tư duy BCDV của đội ngũcán bộ kinh tế hiện nay; phân tích năm vai trò của tư duy BCDV đối với đội ngũcán bộ kinh tế: vai trò ra quyết định; tổ chức thực hiện; phát hiện và giải quyết các
Trang 26mối quan hệ; kiểm tra và tổng kết rút kinh nghiệm, đồng thời đánh giá thực trạng tưduy BCDV của đội ngũ này và đề xuất yêu cầu và ba giải pháp cơ bản nâng caotrình độ tư duy BCDV của đội ngũ cán bộ lãnh đạo kinh tế ở nước ta hiện nay -người lãnh đạo kinh tế phải là nhà biện chứng duy vật.
Hồ Bá Thâm, Phát triển năng lực tư duy của người cán bộ lãnh đạo hiện nay,
Nxb CTQG, Hà Nội, 2003 Tác giả định nghĩa về năng lực tư duy và khẳng định có bayếu tố cấu thành năng lực tư duy, đó là: năng lực ghi nhớ, tái hiện những hình ảnh docảm tính đem lại; năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa trong phân tích, tổng hợp vànăng lực tưởng tượng và liên tưởng để tìm bản chất của vấn đề đi từ chưa biết đến biết,vạch ra cái mới Trên cơ sở phân tích 5 yếu tố cơ bản tác động ảnh hưởng tới năng lực
tư duy, như: yếu tố bẩm sinh; yếu tố trình độ, phương thức và môi trường của tồn tại xãhội; trình độ khoa học và nghệ thuật của xã hội mà loài người đã đạt được trong quátrình sáng tạo và sử dụng; yếu tố tiếp thu tri thức một cách tự giác và sự suy ngẫm, thửnghiệm tri thức vào hoạt động thực tiễn và yếu tố nhu cầu lợi ích, động cơ cảm xúc tâm
lý của chủ thể Tác giả phân tích thực trạng năng lực tư duy và yêu cầu nâng cao năng
lực tư duy của người cán bộ lãnh đạo, theo tác giả để phát triển năng lực tư duy ở mỗi
người, chúng ta cần khai thác, phát huy hiệu quả, vai trò của các yếu tố ảnh hưởng tới
nó, phải thấy được tầm quan trọng của từng yếu tố để có cơ chế bồi dưỡng, sử dụngphù hợp mới phát huy được tác dụng của nó và đưa ra năm giải pháp cơ bản để phát
triển năng lực tư duy của người cán bộ.
Trần Nhâm trong cuốn sách: Tư duy lý luận với sự nghiệp đổỉ mới, Nhà xuất
bản CTQG, Hà Nội, 2004, với 8 chương tác giả đã phân tích và luận giải đặc thùcủa tư duy triết học mácxít và vai trò của TDBC đối với công cuộc xây dựngCNXH hiện nay Tác giả cho rằng, tư duy BCDV là hệ thống những khái niệm,nguyên lý, quy luật, phạm trù phản ánh bản chất, quy luật vận động và phát triểncủa hiện thực khách quan; nó là thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho hoạtđộng nhận thức và cải tạo thế giới Trên cơ sở đó, tác giả khẳng định rằng, trong sựnghiệp đổi mới đất nước hiện nay, tư duy triết học phải được xem xét dưới góc độphương pháp luận quan trọng trong thực tiễn, đối tượng nghiên cứu và lý thuyết khoahọc Do vậy, chúng ta cần khắc phục những sai lầm trong tư duy như: tư duy siêu hình,
Trang 27máy móc, chiết trung, ngụy biện, cần xác lập tính đúng đắn, khoa học, cách mạng của
tư duy BCDV đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước trong giai đoạn hiện nay và bản thân Đảng phải đổi mới tư duy, trước hết là
tư duy kinh tế để lãnh đạo đất nước vững bước trên con đường đi tới tương lai
Trần Văn Phòng trong bài: “Giải pháp nâng cao năng lực tư duy biện
chứng chống bệnh giáo điều, kinh nghiệm và chủ quan duy ý chí”, Tạp chí Lý
luận chính trị, số 8/2007, tác giả khẳng định: Nâng cao năng lực tư duy biện
chứng, chống bệnh giáo điều, kinh nghiệm, chủ quan duy ý chí trong cán bộ,đảng viên vẫn là một nhiệm vụ cấp bách Để công việc này có hiệu quả phải thựchiện đồng bộ năm giải pháp: một là, trau dồi phương pháp luận BCDV; hai là,tăng cường tổng kết thực tiễn; ba là, dân chủ hóa đời sống xã hội; bốn là, nângcao trình độ hiểu biết về khoa học công nghệ hiện đại cho cán bộ đảng viên ; năm
là, nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên
Trần Viết Quang trong công trình: Triết học với việc xây dựng năng lực tư duy
biện chứng cho sinh viên sư phạm ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học
viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2008, tác giả đã phân tích những vấn đề lý luậnchung về năng lực TDBC, đặc thù của nghề dạy học, những yếu tố ảnh hưởng tới nănglực TDBC; đồng thời, phân tích thực chất và đặc thù và vai trò của giảng dạy triết họcvới việc bồi dưỡng, rèn luyện năng lực TDBC cho sinh viên sư phạm Trên cơ sở đó,tác giả khảo sát và phân tích thực trạng, nguyên nhân làm hạn chế việc giảng dạy triếthọc; đề xuất bốn giải pháp cơ bản nhằm phát huy hơn nữa vai trò giảng dạy triết họctrong bồi dưỡng, rèn luyện năng lực TDBC cho sinh viên sư phạm nước ta hiện nay
Trần Văn Riễn trong công trình: Phát triển tư duy biện chứng duy vật của học
viên đào tạo sĩ quan khoa học kỹ thuật Quân sự hiện nay, Nhà xuất bản QĐND, Hà
Nội, 2013, đã phân tích lý luận về tư duy BCDV và thực chất phát triển tư duy BCDVcủa học viên đào tạo sĩ quan khoa học kỹ thuật Quân sự hiện nay Trên cơ sở đó, tácgiả tập trung phân tích 05 đặc điểm, thực trạng, những vấn đề đặt ra, những nhân tố tácđộng và yêu cầu đối với quá trình phát triển tư duy BCDV của học viên đào tạo sĩ quankhoa học kỹ thuật quân sự - đảng viên, cán bộ, kỹ sư khoa học kỹ thuật quân sự tươnglai; đề xuất năm giải pháp cơ bản: Hoàn thiện mục tiêu, mô hình và đổi mới nội dung,
Trang 28chương trình và phương pháp đào tạo; nâng cao chất lượng giảng dạy các môn lý luậncủa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Lô gic học; khắc phục biểu hiệnduy tâm siêu hình, chủ quan trong học tập và dân chủ hóa trong học tập, rèn luyện,nhằm phát triển tư duy BCDV của học viên Học viện Kỹ thuật Quân sự hiện nay.
Hoàng Thúc Lân là tác giả của công trình: Phát triển năng lực tư duy biện
chứng cho sinh viên Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản CTQG - ST, Hà Nội, 2014,
tác giả đã phân tích năng lực TDBC, đặc điểm, thực chất, yêu cầu, vai trò và nhữngyếu tố cơ bản ảnh hưởng đến việc phát triển năng lực TDBC đối với sinh viên đạihọc sư phạm - giáo viên tương lai; mục đích của việc phát triển năng lực tư duybiện chứng cho sinh viên Việt Nam hiện nay là nhằm phát triển cho họ năng lựcnhận thức và vận dụng phương pháp luận BCDV, năng lực tư duy lôgic, năng lựctổng kết thực tiễn trong học tập, nghiên cứu, rèn luyện nghiệp vụ chuyên môn, tổnghợp tri thức đã có, sáng tạo ra tri thức mới để trở thành người lao động chất lượngcao đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước; đồng thời, phân tích thực trạng phát triển năng lực TDBC cho sinh viên đạihọc sư phạm hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất ba giải pháp cơ bản: Hoànthiện mục tiêu, mô hình, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học;hoàn thiện môi trường giáo dục đại học và phát huy vai trò tích cực, chủ động củasinh viên trong việc tự rèn luyện phát triển năng lực tư duy biện chứng, nhằm pháttriển năng lực TDBC cho sinh viên đại học sư phạm Việt Nam hiện nay
Nguyễn Hiền Lương trong công trình “Tư duy và vấn đề rèn luyện, nâng cao
năng lực tư duy của nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí
Triết học, số 6/2015, tác giả đã phân tích hệ thống lý luận về tư duy biện chứng,
năng lực tư duy biện chứng; với bốn đặc điểm và năm thao tác tư duy Vấn đề rènluyện, nâng cao năng lực tư duy của nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Namhiện nay; trên cơ sở đó tác giả đề xuất hai giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hơn nữanăng lực TDBC của nguồn lực chất lượng cao là: có kế hoạch cụ thể để xây dựngnguồn nhân lực chất lượng cao Việt Nam theo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh và nguồn nhân lực chất lượng cao phải chăm lo học tập,nâng cao trình độ các môn lý luận chính trị, đặc biệt là triết học duy vật biện chứng
Trang 29Nguyễn Hùng Oanh - Nguyễn Đình Bắc trong bài “Tư duy sáng tạo và tầmnhìn chiến lược của Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam”,
Tạp chí Triết học, số 5/2016 Bài viết tập trung phân tích và luận giải những dấu ấn
nổi bật và sâu sắc nhất từ tư duy sáng tạo và tầm nhìn chiến lược của chủ tịch Hồ ChíMinh trong cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam trên các khía cạnh: lựa chọncon đường đi cho cách mạng giải phóng dân tộc, chuẩn bị và tiến hành cách mạnggiải phóng dân tộc, đảm bảo các điều kiện cần và đủ cho sự ra đời của nhà nước mớisau thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc Qua đó góp phần khẳng định công lao tolớn của Người đối với sự nghiệp cách mạng nước ta
Tác giả Dương Quỳnh Hoa trong công trình: Phát triển năng lực tư duy biện
chứng cho sinh viên khối ngành kỹ thuật ở Việt Nam hiện nay trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin về triết học, Luận án tiến sĩ KHGD,
Đại học sư phạm Hà Nội, 2016 đã phân tích và làm sáng tỏ hệ thống khái niệm tưduy, tư duy lý luận, những yếu tố ảnh hưởng tới tư duy lý luận Theo tác giả, nghiêncứu về cấu trúc của năng lực TDBC theo ba cách tiếp cận; một là từ cấu trúc của tưduy biện chứng có 05 bộ phận (tri thức khoa học; kinh nghiệm, vốn sống thực tiến;phương pháp luận biện chứng duy vật; tính lôgic và yếu tố thực tiễn mang tính khoahọc của tư duy biện chứng); hai là, xét theo quá trình tư duy giải quyết vấn đề thìnăng lực TDBC, gồm bốn bước; ba là, xét theo chức năng hoạt động của tư duykhoa học thì năng lực TDBC duy vật, gồm bốn bộ phận, đó là: năng lực phươngpháp luận chung; năng lực tư duy lôgic; năng lực tổ chức, tổng kết thực tiễn và nănglực tích lũy tri thức Đặc biệt tác giả phân tích vai trò của giảng dạy môn Nhữngnguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin trong rèn luyện tư duy lý luận cho sinh
viên và đề xuất 5 nhóm biện pháp cơ bản nhằm phát triển năng lực TDBC cho sinh
viên khối ngành kỹ thuật ở Việt Nam thông qua dạy - học học phần Những nguyên
lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin về triết học
Lê Thị Thanh Hà trong bài viết: “Phát huy vai trò của tư duy phản biện trong đổi
mới ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 10/2016, Theo tác giả, tư duy được
tiếp cận từ ba góc độ Đổi mới, mở cửa hội nhập với thế giới là tất yếu khách quan
để xây dựng thành công CNXH, ở đó diễn ra sự tác động hai chiều đến con người
Trang 30và xã hội Việt Nam, do đó cần thiết phải phát huy vai trò của tư duy phản biện trước
sự tác động của những làn “gió độc” bay vào từ hội nhập, phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN Tư duy phản biện bao gồm: tư duy tự phản biện lại nhậnthức suy nghĩ của chính bản thân mình; tư duy phản biện ngoại cảnh, đó là sự tiếpnhận thông tin có lý trí thông qua sự phân tích, đánh giá, nhận định, đặt câu hỏi đểxác định có hay không, đúng hay sai về thông tin tiếp nhận Tác giả đề nghị hai giảipháp cơ bản phát huy vai trò của tư duy phản biện trong đổi mới ở Việt Nam hiện nay là:nâng cao nhận thức, phẩm chất, năng lực phản biện; tạo môi trường xã hội dân chủ thúcđẩy con người dám tranh luận, phản biện với tinh thần xây dựng và trách nhiệm công dân
Nguyễn Anh Quốc - Trịnh Thanh Tùng trong bài viết: “Bốn quan điểm cótính phương pháp luận của V.I Lênin trong phần kết luận “Chủ nghĩa duy vật và chủ
nghĩa kinh nghiệm phê phán”, Tạp chí Triết học số 1/2020 Tác phẩm “Chủ nghĩa
duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, bút ký phê phán một triết học phảnđộng để đấu tranh về tư tưởng nhằm chống lại “chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”của Makhơ, Avênariut và những người theo chủ nghĩa Ma - khơ ở Nga Từ đó giảiquyết những vấn đề, những yêu cầu cấp bách của thực tiễn lịch sử, chính trị, xã hộicũng như phong trào cách mạng vô sản Nga và khái quát về mặt triết học nhữngthành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên để tiếp tục bảo vệ, phát triển triết họcMác Nội dung hết sức quan trọng của tác phẩm đó là bốn quan điểm mà V.I Lênin
đã tổng kết lại trong phần kết luận đó là: khi xem xét, đánh giá bất kỳ trường pháitriết học nào, không nên tin vào họ nói về mình mà cần phải so sánh những cơ sở lýluận của triết học đó với những cơ sở lý luận của chủ nghĩa DVBC về giải quyếtnhững vấn đề cơ bản của triết học; xem xét, xác định vị trí của trường phái đó trongtrào lưu triết học để vạch ra những nguồn gốc, tiền đề lý luận của nó, từ đó hiểu bảnchất, khuynh hướng; xem xét thái độ của trường phái triết học với thành tựu khoahọc tự nhiên và phải đứng trên lập trường nguyên tắc và tính đảng trong triết học
Vũ Hoàng Công trong bài viết: “Tư duy triết học trong các văn kiện Đại hội
Đảng thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 10/2021, Theo tác giả, các văn
kiện của Đại hội Đảng toàn quốc, trong đó cốt lõi là Báo cáo chính trị, là sự kết tinhtrí tuệ của toàn Đảng, thể hiện tầm nhìn, khát vọng của Đảng và nhân dân trong
Trang 31phát triển đất nước, được hình thành trên nền tảng vận dụng sáng tạo lý luận chủnghĩa Mác - Lênin nói chung, triết học Mác - Lênin nói riêng vào thực tiễn ViệtNam Bài viết tập trung làm rõ sự vận dụng tư duy biện chứng duy vật vào xâydựng các văn kiện Đại hội Đảng trong thời kỳ đổi mới để xác định mâu thuẫn, tìm
ra xu hướng, động lực và giải pháp phát triển đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Như vậy, vấn đề giải pháp phát triển năng lực TDBC đã được các nhà khoa họctrong và ngoài nước bàn đến ở nhiều góc độ khác nhau Các công trình nghiên cứu trên đãgóp phần làm rõ thực chất, biểu hiện, đặc trưng của tư duy lý luận, tư duy BCDV; thựctrạng và những giải pháp phát triển năng lực tư duy BCDV cho cán bộ, sinh viên và họcviên ở nước ta hiện nay Tư duy BCDV giúp các lãnh đạo, chỉ huy quân sự có tư duy linhhoạt, mềm dẻo trong nắm chắc tình hình mọi mặt, nhận định, dự báo sát đúng về âm mưu,thủ đoạn của đối tượng, đối tác để chủ động xác định các phương án tác chiến phù hợp,bảo đảm hợp đồng, phối hợp phát huy nhân tố con người với vũ khí sẽ giành thắng lợi
1.2 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ CHỦ YẾU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.2.1 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình nghiên cứu đã công
bố liên quan đến đề tài luận án
Công trình nghiên cứu lý luận về năng lực tư duy biện chứng duy vật
Vấn đề lý luận chung về tư duy và phát triển năng lực tư duy BCDV đã đượccác tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau với nội dung khá phong phú Cáccông trình khoa học đã tập trung phân tích và làm sáng tỏ nhiều khía cạnh về tưduy, tư duy BCDV, phát triển năng lực tư duy BCDV; từ nguồn gốc, bản chất, đặcđiểm, cấu trúc, chức năng, lịch sử hình thành và phát triển của tư duy, tư duyBCDV; mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và phương pháp, giữa trình độ vànăng lực tư duy; các nguyên tắc, quy luật của tư duy và phát triển năng lực tư duyBCDV; mối quan hệ giữa tư duy hình thức và tư duy biện chứng duy vật, phân biệt
tư duy biện chứng duy vật với các loại hình tư duy khác Các tác giả đã trình bàykhá rõ thực chất của TDBC và tầm quan trọng, sự cần thiết phát triển năng lựcTDBC trong học tập, nghiên cứu, trong các lĩnh vực đời sống xã hội tương đối toàn
Trang 32diện Thông qua đó, các tác giả với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã nghiên cứu,phân tích làm rõ các khái niệm, vai trò của năng lực TDBC đối với việc phát triểnnhân cách, phẩm chất con người, đã góp phần làm sâu sắc thêm những vấn đề lýluận chung về tư duy và tư duy BCDV, giúp người đọc hiểu đầy đủ hơn về TDBC,khẳng định tính khách quan, toàn diện, tính lịch sử - cụ thể, tính thống nhất biệnchứng giữa lý luận và thực tiễn, khoa học, cách mạng, tính gợi mở, sáng tạo, tínhphê phán sâu sắc của tư duy BCDV, tư duy BCDV là hình thức tư duy phát triểncao nhất trong lịch sử tư duy triết học, đặt cơ sở thế giới quan, phương pháp luận đểxây dựng phương pháp tư duy khoa học và sử dụng phương pháp ấy trong nhậnthức và cải tạo thế giới, đồng thời, thông qua các công trình nghiên cứu là nguồn tưliệu bổ ích để tác giả luận án có thể kế thừa, chọn lọc, đặt ra và gợi mở nhiều vấn đề
lý luận cần được tiếp tục quan tâm nghiên cứu và giải đáp nhằm hướng dẫn conngười tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới ngày càng hiệu quả hơn
Công trình nghiên cứu thực trạng về năng lực tư duy biện chứng duy vật
Các công trình nghiên cứu thực trạng về tư duy, phát triển năng lực tư duyBCDV, tuy cách tiếp cận và nội dung có những điểm khác nhau, song điểm chung vềthực trạng của các công trình nêu trên là: Phân tích làm rõ thực trạng ưu điểm; thựctrạng hạn chế và nguyên nhân, luận giải, điều tra, khảo sát những vấn đề thực trạng vềnăng lực và trình độ năng lực tư duy, nguyên nhân khách quan, chủ quan gắn với từngđối tượng là cán bộ, sinh viên, học viên, đi sâu hơn vào từng lĩnh vực chuyên ngành vềkinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục - đào tạo, quốc phòng, an ninh, đối ngoại Từ kếtquả nghiên cứu thực trạng, các công trình đã chỉ rõ những yếu tố tác động, ảnh hưởng,đưa ra một số tiêu chí để xem xét đánh giá thực chất phát triển năng lực tư duy BCDV,đồng thời, thông qua các công trình nghiên cứu, các tác giả đặt ra và gợi mở nhiều vấn
đề thực tiễn cần được tiếp tục quan tâm nghiên cứu và giải quyết để tư duy phản ánhđúng biện chứng khách quan của sự vận động, phát triển Kết quả nghiên cứu của cáccông trình trên chỉ ra tính tất yếu khách quan của sự phát triển năng lực tư duy BCDV,
dự báo xu hướng vận động, biến đổi của tình hình, các mâu thuẫn cần giải quyết, cungcấp những tư liệu, gợi mở nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra để nghiên cứu sinh tiếp thu kếthừa, tiếp tục nhận thức tốt thực trạng đối tượng nghiên cứu đã xác định
Trang 33Công trình nghiên cứu đề xuất các giải pháp về phát triển năng lực tư duy biện chứng duy vật
Trên cơ sở đặc điểm đối tượng và yêu cầu hoạt động thực tiễn của chủ thể
mà tác giả công trình sau khi phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng, các tácgiả đã đưa ra được các quan điểm, đề xuất phương hướng, giải pháp khắc phụcnhững hạn chế, nhược điểm trong cách nghĩ, cách hướng dẫn, chỉ đạo của chủ thểnhằm tiếp tục tạo sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan duy vật biện chứng vớiphương pháp luận biện chứng duy vật tạo nên công cụ không chỉ giải thích thế giới,
mà còn nhận thức và cải tạo thế giới Kết quả phát triển năng lực nhận thức thúcđẩy trình độ ghi nhớ, hiểu biết của con người đạt những nấc thang mới tiến lên, nó
sẽ tạo ra của cải vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Các côngtrình nghiên cứu đã góp phần quan trọng xây dựng hệ thống giải pháp phát triểnnăng lực tư duy biện chứng duy vật; đồng thời đã gợi mở nhiều vấn đề mới nẩy sinhtrong nhận thức và thực tiễn cần được quan tâm, tiếp tục nghiên cứu các giải phápthiết thực, cụ thể hơn để phù hợp với đối tượng cải tạo Đó là nguồn tài liệu phongphú để nghiên cứu sinh kế thừa, gợi mở hướng xác định giải pháp có giá trị khoahọc trong luận án của mình
1.2.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận về năng lực tư duy biện chứng duy vật cần tập trung làm rõ
Vấn đề phát triển năng lực tư duy BCDV của một số đối tượng cụ thể đãđược bàn tới, tùy vào cách tiếp cận khác nhau, nhưng tác giả của các công trình đãchưa luận giải sâu sắc về nguồn gốc, bản chất của chiến tranh, quân đội, vị trí, vaitrò của các hình thức, phương pháp đấu tranh cách mạng, đặc biệt là phương pháphòa bình trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó,vai trò của năng lực tư duy BCDV khi nghiên cứu về âm mưu, thủ đoạn chiến lượccủa đối phương để chủ động tham mưu, tổ chức hóa giải mâu thuẫn từ sớm giữa cácquốc gia, dân tộc không để dẫn đến xung đột bạo lực diễn ra là thượng sách, phùhợp với văn minh nhân loại đang rất cần ở học viên Học viện KHQS - sĩ quan tươnglai cần rèn luyện cho mình có phẩm chất, năng lực và phương pháp tư duy hệ thốngchỉnh thể, đa chiều, vượt trước, lý luận khoa học, tư duy mở Tuy nhiên, nhữngcông trình nghiên cứu trên đều chưa trực tiếp đề cập tới vấn đề phát triển năng lực
Trang 34tư duy BCDV của học viên Học viện KHQS ở Việt Nam hiện nay, đây thực sự làmột khoảng trống, cần được nghiên cứu, luận giải thấu đáo, do đó, vấn đề lý luậnđặt ra trong luận án là: cần đi từ khái niệm công cụ như: tư duy, tư duy BCDV, cấutrúc của tư duy BCDV và các yếu tố hợp thành năng lực tư duy BCDV của học viênHọc viện KHQS để tiến tới khái quát, trình bày và phân tích nội hàm khái niệmtrung tâm của luận án là phát triển năng lực tư duy BCDV của học viên Học việnKHQS ở Việt Nam hiện nay
Nghiên cứu thực trạng về năng lực tư duy biện chứng duy vật cần tập trung đánh giá, khảo sát những vấn đề sau
Thực trạng năng lực tư duy BCDV cho học viên Học viện KHQS nóichung và học viên NNQS và QHQT về QP nói riêng đảm bảo mọi học viên cóquan điểm duy vật kết hợp với phương pháp biện chứng trong tiếp thu và vậndụng phương pháp luận BCDV làm công cụ nâng cao năng lực hiểu biết, tích lũytri thức, rèn luyện kỹ năng thực hành trong quá trình học tập và công tác củamình Hoạt động quân sự, quốc phòng diễn ra nhiều yếu tố bất ngờ ngẫu nhiên,việc nắm sớm, biết trước về đối tượng, đối tác thể hiện trình độ năng lực sức suynghĩ, phương pháp tư duy làm việc khoa học của học viên - cán bộ sĩ quan tươnglai, đảm bảo quyết định tới sự thắng lợi hay thất bại trong hoạt động quân sự.Tuy nhiên, khảo sát và đánh giá thực trạng về năng lực tư duy BCDV của họcviên Học viện KHQS ở Việt Nam hiện nay đã chưa được đề cập đến Tiếp đó, từthực trạng phát triển năng lực tư duy BCDV của học viên Học viện KHQS vàđặc điểm mang tính đặc thù của học viên, phân tích những yếu tố tác động tới sựphát triển năng lực tư duy BCDV của học viên Học viện KHQS để làm rõ vai tròcủa nó đối với học viên - sĩ quan tương lai Đến nay, chưa có nhà khoa học nào
đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn
về phát triển năng lực tư duy BCDV cho đối tượng học viên - cán bộ, sĩ quantương lai làm nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng hiện nay
Đối tượng nghiên cứu tác động của học viên Học viện KHQS - sĩ quan đốingoại quốc phòng tương lai trong quan hệ với những con người “tinh hoa” của đốiphương, trong quan hệ với Việt Nam họ có thể là đối tác hay đối tượng hoặc vừa
Trang 35là đối tác, đối tượng của quan hệ trong lĩnh vực quốc phòng Học viên - cán bộnghiên cứu, phiên dịch, biên dịch sử dụng ngoại ngữ làm công cụ để thực hiệnnhiệm vụ, muốn hoàn thành nhiệm vụ được giao họ cần tiếp thu đầy đủ giá trị vậtchất và ý nghĩa của khái niệm ngôn ngữ để chuyển tải đúng, đủ giá trị đến ngườinghe, người đọc trong môi trường quân sự, hoạt động quân sự giữa khái niệm vớihiện thực khách quan thường bị phản ánh sai lệch, bóp méo thông tin nhằm nghibinh đánh lừa đối phương Để bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc tất yếulực lượng làm nhiệm vụ nghiên cứu, phiên dịch, biên dịch ngoại ngữ cần đượcgiáo dục, bồi dưỡng, phát triển toàn diện nhân cách, có phương pháp tư duy nhiềuchiều, tư duy kiểm chứng, phối kiểm trong quan hệ quốc tế về quốc phòng.
Đề xuất các giải pháp phát triển năng lực tư duy biện chứng duy vật cần gắn với đối tượng nghiên cứu
Giải quyết hiệu quả một công việc với một đối tượng cụ thể không thể khôngliên hệ với đối tượng khác trong tính cấu trúc, hệ thống của nó, trong hoạt độngquân sự, quốc phòng để không hy sinh đến tính mạng đòi hỏi chủ thể tiến hành nóphải có kiến thức nền sâu rộng, thành thục kĩ năng chuyên môn, nghiệp vụ, thấuhiểu về đối tượng tác động cải tạo mới hoàn thành nhiệm vụ được giao Không đơnthuần là nghiên cứu tư duy biện chứng mà phải nghiên cứu năng lực tư duy BCDV
là tổng hợp những phẩm chất của tư duy, thể hiện ở khả năng nắm vững và vậndụng một cách chủ động, nhuần nhuyễn, sáng tạo phương pháp và phương phápluận BCDV cũng như các nguyên tắc, phạm trù của lôgic biện chứng mácxít nhằmgiải quyết một cách hiệu quả những vấn đề nhận thức và thực tiễn đang đặt ra
Nghiên cứu sinh cho rằng, phát triển năng lực tư duy BCDV thực chất là quátrình giải quyết mâu thuẫn tạo nên sự thống nhất giữa năng lực tiếp thu tri thức, vậndụng phương pháp luận BCDV để đạt đến một trình độ hiểu biết, tạo ra nội năngmới nâng cao sức tư duy, suy nghĩ Xác định các giải pháp chỉ mang tính khả thi khi
tư duy phản ánh đúng bản chất của hiện thực khách quan, vận dụng sáng tạo “cábiệt hóa” vào đối tượng, hoàn cảnh, điều kiện, thời gian cụ thể Thực hiện thắng lợinhiệm vụ quân sự, đối ngoại quốc phòng do vai trò quyết định ở chủ thể trong sửdụng thế giới quan và phương pháp luận vào nhận thức và hoạt động thực tiễn
Trang 36Kết luận chương 1
Vấn đề tư duy BCDV luôn được các nhà khoa học trong và ngoài nước đặcbiệt quan tâm, nghiên cứu Các công trình nói trên đã khai thác, tiếp cận dưới cácgóc độ khác nhau, song đều đi đến thống nhất chung về nguồn gốc, bản chất, cấutrúc, đặc trưng và đặc điểm của tư duy BCDV Tư duy BCDV phản ánh đúng đắn
sự vận động, phát triển của thế giới khách quan, nhờ sự thống nhất giữa thế giớiquan duy vật và phương pháp biện chứng, tư duy BCDV khắc phục được những hạnchế, bất cập của các hình thức tư duy đã tồn tại trong lịch sử Tư duy BCDV trởthành công cụ giúp con người trong nhận thức và cải tạo hiện thực xây dựng cuộcsống ấm no, tư do, hạnh phúc
Trên cơ sở đó, các công trình nghiên cứu ấy đã góp phần làm sâu sắc thêmnhững vấn đề thực trạng vận dụng lý luận vào cải tạo thế giới Các tác giả đã khẳngđịnh rằng, tư duy BCDV là hình thức tư duy phát triển cao nhất trong lịch sử; tưduy BCDV đối lập với tư duy siêu hình, vượt lên trên tư duy biện chứng duy tâmcủa Hêghen, trở thành công cụ nhận thức và cải tạo thực tiễn hiệu quả nhất Bêncạnh đó, các công trình của các nhà khoa học đi sâu xác định giải pháp nhận thức vàhoạt động thực tiễn của những đối tượng, những chuyên ngành cụ thể Sản phẩmkhoa học của các nhà nghiên cứu về tư duy, tư duy BCDV là những nguồn tư liệuphong phú, đa dạng, bổ ích để nghiên cứu sinh kế thừa, chọn lọc, nghiên cứu pháttriển năng lực tư duy BCDV cho học viên Học viện KHQS ở Việt Nam hiện nay
Thông qua nghiên cứu tổng quan các công trình khoa học nêu trên, nghiêncứu sinh nhận thấy rằng, cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu mộtcách có hệ thống, toàn diện về thực trạng và giải pháp cơ bản về phát triển năng lực
tư duy BCDV của học viên Học viện KHQS ở Việt Nam hiện nay Trong khi đó,phát triển năng lực tư duy BCDV của học viên Học viện KHQS ở Việt Nam hiệnnay đang đặt ra cấp thiết nhằm góp phần đào tạo nguồn nhân lực thực hiện thắng lợinhiệm vụ đối ngoại quốc phòng trong thời kỳ mở cửa hội nhập quốc tế, tiến hànhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam xãhội chủ nghĩa hiện nay
Trang 37Chương 2 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY BIỆN CHỨNG DUY VẬT CỦA HỌC VIÊN HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY -
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
2.1 TƯ DUY BIỆN CHỨNG DUY VẬT, NĂNG LỰC TƯ DUY BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ THỰC CHẤT PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY BIỆN CHỨNG DUY VẬT CỦA HỌC VIÊN HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1.1 Tư duy biện chứng duy vật và năng lực tư duy biện chứng duy vật
2.1.1.1 Tư duy biện chứng duy vật
Trong triết học Mác - Lênin, tư duy “là sản phẩm cao nhất của cái vật chấtđược tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới kháchquan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận” [97, tr.1295] Tư duy trở thành mộttrong những khái niệm trung tâm của triết học, sự hình thành, phát triển của nó gắnliền với quá trình giải quyết vấn đề cơ bản của triết học trong lịch sử, nhất là triết họchiện đại về mối quan hệ biện chứng giữa tư duy và tồn tại Theo Từ điển Tiếng Việt:
“Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ratính quy luật của sự vật bằng những hình thức như: biểu tượng, khái niệm, phánđoán và suy lý” [111, tr.1369]
Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con người vàphản ánh khái quát, gián tiếp, tích cực và sáng tạo về thế giới khách quan Ở giaiđoạn nhận thức lý tính, sự vật, hiện tượng được tư duy con người phản ánh gián tiếpthông qua các hình thức khái niệm, phán đoán và suy luận Khái quát hóa, trừutượng hóa là hai thao tác cơ bản của tư duy có mối liên hệ mật thiết với nhau Tínhkhái quát, gián tiếp của tư duy biểu hiện ở chỗ nó đi từ một hình thức liên hệ và phụthuộc lẫn nhau này đến một hình thức khác sâu sắc hơn, chung hơn Tùy theo mụcđích, yêu cầu và nhiệm vụ khác nhau, tư duy phản ánh sự vật, hiện tượng trênnhững góc độ khác nhau và do đó hình thành những loại hình tư duy cũng rất khácnhau Chẳng hạn, về phạm vi phản ánh, có loại hình tư duy kinh tế, chính trị, quânsự; về cấp độ tư duy, có tư duy kinh nghiệm, lý luận, khoa học; về phương pháp tư
Trang 38duy, có tư duy biện chứng và siêu hình Trong mỗi loại hình tư duy chủ thể luôntích cực tiếp nhận, tích lũy tri thức, sáng tạo trong tư duy.
Tư duy và ngôn ngữ có mối liên hệ mật thiết với nhau, để tư duy, con ngườikhông thể thiếu bộ não sống, phát triển bình thường và ngôn ngữ phản ánh nhậnbiết về đối tượng, thông qua hoạt động thực tiễn Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vậtchất chứa đựng thông tin phản ánh nội dung tư duy, thông qua nhiều hình thức khácnhau con người dùng ngôn ngữ làm phương tiện để thể hiện sự hiểu biết và tìnhcảm của mình Con người dùng ngôn ngữ để giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm, kháiquát hoá, trừu tượng hoá, nghiên cứu khoa học và phát triển lý luận, qua đó, làmcho trình độ hiểu biết của con người ngày càng đầy đủ hơn Kết quả và hình thứcbiểu đạt của tư duy được ghi lại nhờ ngôn ngữ Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất và hìnhthức biểu hiện của tư duy Đồng thời, nội dung của tư tưởng phản ánh là hiện thựctrực tiếp đối tượng bằng ngôn ngữ, là phương tiện giao tiếp, trao đổi thông tin giữangười với người để thu nhận và lưu trữ tri thức của các thế hệ nối tiếp trong lịch sử
Tư duy có chức năng tiếp thu, khái quát, tạo dựng thông tin; còn ngôn ngữ có chứcnăng biểu đạt nội dung phản ánh và là công cụ chuyển tải thông tin Tư duy là nộidung, quyết định việc sử dụng hình thức ngôn ngữ; ngược lại ngôn ngữ có tính độclập tương đối tác động trở lại tư duy Ngôn ngữ phong phú sẽ giúp tư duy linh hoạt,mềm dẻo; ngôn ngữ nghèo nàn sẽ làm tư duy cứng nhắc và nhận thức sai lệch
Tư duy hình thành, phát triển trong quá trình nhận thức và hoạt động thựctiễn cùng với sự hoàn thiện của bộ não người Quá trình đó đi từ thấp đến caotheo quy luật khách quan của nhận thức, gắn liền với hai phương pháp tư duy đốilập nhau là phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng Cuộc đấu tranhgiữa hai phương pháp này diễn ra trong suốt quá trình phát triển của triết học.Phương pháp tư duy siêu hình xem xét, nghiên cứu sự vật trong trạng thái tĩnhtại, biệt lập không vận động không phát triển Tư duy siêu hình “chỉ nhìn thấynhững sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sựvật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phátsinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những
sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà
Trang 39không thấy rừng” [4, tr 37] Phương pháp tư duy siêu hình dần không đáp ứngđược những đòi hỏi của nhận thức, nó bị phương pháp TDBC phủ định và thaythế Phương pháp TDBC là phương pháp tư duy linh hoạt, mềm dẻo; phản ánhcác sự vật trong sự vận động, biến đổi, phát triển và tiêu vong; không chỉ nhìnthấy sự vật trong trạng thái tĩnh mà còn thấy sự vật trong trạng thái động Khẳngđịnh tính đúng đắn của TDBC, Ph Ăngghen đã nêu một cách vắn tắt cái cốt lõitrong TDBC như sau: “Phương pháp biện chứng là phương pháp mà điều cănbản là nó xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng, trong tư tưởng,trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động,
sự phát sinh và tiêu vong của chúng” [4, tr 38]
Để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tư duy BCDV, cần làm rõ mối quan
hệ giữa biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan Biện chứng khách quan làbiện chứng tự thân vốn có của thế giới khách quan, còn biện chứng chủ quan là biệnchứng của tư duy chi phối hoạt động của tư duy biện chứng Sở dĩ có tư duy biệnchứng vì tư duy bên cạnh việc phản ánh đúng biện chứng khách quan vốn có của sựvật, chủ thể còn phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo các nguyêntắc, quan điểm, phương pháp luận BCDV vào nhận thức và cải tạo thực tiễn Tư duybiện chứng vận hành theo những quy luật biện chứng, lấy sự vật làm cơ sở và vậndụng biện chứng của sự vật vào trong tư duy để nhận thức đúng bản chất của nó.Biện chứng chủ quan phản ánh và bị quy định bởi biện chứng khách quan Ph.Ăngghen viết: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giới tựnhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì phản ánh sự chiphối, trong toàn bộ giới tự nhiên, của sự vận động thông qua những mặt đối lập, tức
là những mặt, thông qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hóacuối cùng của chúng từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia, tương tự với nhữnghình thức cao hơn, đã quy định sự sống của giới tự nhiên” [3, tr 694], sau này,V.I.Lênin đã khẳng định “Biện chứng của sự vật sản sinh ra biện chứng của ý niệm,chứ không phải ngược lại” [48, tr 209] Tư duy BCDV là một hiện tượng mang tínhlịch sử; quá trình hình thành, phát triển của TDBC đã trải qua ba hình thức: tư duybiện chứng chất phác cổ đại; tư duy biện chứng duy tâm và tư duy BCDV
Trang 40Lịch sử hình thành, phát triển của tư duy BCDV gắn liền với lịch sử hìnhthành, phát triển của tư duy nhân loại, xuất hiện từ khi con người bắt đầu tìm hiểucác sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh mình, suy xét, cảm nhận và đánhgiá về chúng, nhiều nhà tư tưởng, văn hóa, triết học thời kì cổ đại ở Ấn Độ, TrungQuốc, Hy Lạp…đã có TDBC Theo quan điểm của các nhà biện chứng thời đó, thếgiới là một chỉnh thể thống nhất, giữa các bộ phận của nó có mối liên hệ chằngchịt và luôn tác động qua lại với nhau; trong đó, mọi sự vật, hiện tượng không cócái gì là “bất biến”, đứng yên như cũ, tất cả đều vận động, biến hóa, sinh thành,phát triển và tiêu vong.
Ph Ăngghen cho rằng: “Trong quan niệm đó…, chúng ta thấy một bức tranh
về sự chằng chịt vô tận của những mối liên hệ và những sự tác động qua lại, trong
đó không có cái gì là đứng nguyên, không thay đổi mà tất cả đều vận động, biếnđổi, phát sinh và mất đi”[4, tr 35] Tuy nhiên, sự xuất hiện TDBC trong thời kỳ cổđại mới chỉ là sự khởi đầu lịch sử phát triển phép biện chứng và lịch sử tư tưởngnhân loại, theo Ph Ăngghen, dưới hình thức này, tư duy biện chứng xuất hiện vớitính chất thuần phác tự nhiên chưa bị khuấy đục bởi những trở ngại đáng yêu Làquan niệm biện chứng chất phác, thuần phát, tự nhiên, TDBC của các nhà triết học
cổ đại chưa phải là phương pháp tư duy khoa học mà chỉ là những yếu tố biệnchứng rời rạc, tản mạn, chủ yếu dựa trên sự cảm thụ trực tiếp thế giới xung quanh,bằng “trực quan sinh động”, chưa đạt đến trình độ phân tích để hiểu sâu sắc về nó
Từ nửa sau thế kỷ XV trở đi, khoa học tự nhiên phát triển và từng bước đisâu phân tích, chia nhỏ giới tự nhiên thành nhiều mảng phân biệt, cố định nó đểnghiên cứu, việc đó đã đưa đến những thành tựu vĩ đại trong nhận thức thế giới, trithức của con người về các bộ phận riêng rẽ của thế giới trong trạng thái “tĩnh tại”của chúng ngày càng trở nên đầy đủ hơn, sâu sắc hơn Tuy nhiên, một số nhà triếthọc đã tuyệt đối hóa phương pháp phân tích và xem nó là phương pháp duy nhất đểnhận thức thế giới; từ đó đã ra đời phương pháp tư duy siêu hình, và phương phápnày đã thống trị trong nhận thức, tư duy triết học thế kỷ XVII - XVIII, nửa đầu thế
kỷ XIX cho đến khi triết học Mác ra đời Phương pháp tư duy siêu hình là kết quảcủa việc tuyệt đối hóa một mặt, một phương diện, một khía cạnh nào đó của nhận