1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN: HIỆU QUẢ TỪ CÁC GÓI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU pptx

61 394 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiệu Quả Từ Các Gói Chính Sách Của Việt Nam Trong Nỗ Lực Vượt Qua Khủng Hoảng Toàn Cầu
Người hướng dẫn Hồ Thị Khánh Linh
Trường học Trường Đại học Cao Lãnh
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố Cao Lãnh
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bất chấp cuộc khủng hoảng toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ và gay gắt, những con số tăng trưởng lạc quan của các nền kinh tế mới nổi và các quốc gia đang phát triển đã góp một phần đáng kể

Trang 1

TÊN TIỂU LUẬN:

HIỆU QUẢ TỪ CÁC GÓI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC

VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU

Nhóm SV thực hiện: G3-TCNH08A Giảng viên hướng dẫn: Hồ Thị Khánh Linh

CAO LÃNH – 10/2009

Đ I H C Đ NG THÁP

KHOA KINH T

Trang 2

L ỜI NÓI ĐẦU

Có thể nhận định rằng, nền kinh tế Việt Nam đang chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu manh nha từ nửa cuối năm 2007 cho đến nay Không chỉ riêng Việt Nam, mà hầu hết các nước trên Thế giới, đặc biệt là Hoa

Kỳ, Nhật Bản, EU và các cường quốc công nghiệp khác đang phải nỗ lực không ngừng trong cuộc chiến chống lại một trong những cơn đại suy thoái khủng khiếp nhất của mọi thời đại Khủng hoảng, suy thoái, lạm phát, thất nghiệp, phá sản, … đó

là những cụm từ được nhắc đến nhiều nhất trên các phương tiện truyền thông đại chúng trong năm nay

Để đối phó với tình hình kinh tế đang ngày càng trở nên phức tạp hơn, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều gói chính sách nhằm đưa kinh tế của đất nước thoát khỏi cơn bão khủng hoảng, trở lại với mức tăng trưởng khá như kế hoạch tầm

vĩ mô đã đề ra Điều chỉnh về tài chính là việc làm cần thiết để tránh đặt toàn bộ gánh nặng lên bình ổn tỉ giá Tuy nhiên, nếu phụ thuộc quá nhiều vào chính sách thắt chặt tiền tệ sẽ chỉ khiến cho thị trường tài sản suy yếu và gây rủi ro cho các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng cổ phần đã cho vay quá nhiều để đầu tư tài chính và bất động sản Trong thời điểm hiện nay, chênh lệch do lạm phát giữa Việt Nam và các đối tác thương mại đã khiến cho tiền đồng tăng giá Việc để mất khả năng cạnh tranh của đồng tiền quốc gia là một động thái không hề mong đợi trong thời điểm mức thâm hụt thương mại lên cao như vậy

Vậy những nỗ lực và động thái của Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách trong việc cùng lúc giải quyết những vấn đề lớn của nền kinh tế ra sao? Và chúng đã phát huy tác dụng như thế nào?

Trong khuôn khổ một bài tiểu luận kinh tế, chúng tôi xin được phép nêu ra những vấn đề chung nhất, mang tính khái quát nhất xoay quanh 3 nội dung chính:

1 Khủng hoảng tài chính toàn cầu Những tác động của nó đến nền kinh tế Thế giới

2 Khái quát tình hình kinh tế Việt Nam 2008-2009

Trang 3

3 Các gói giải pháp của Chính phủ nhằm kiềm chế lạm phát, kích cầu và bình ổn kinh tế giai đoạn 2008 – 2009 (Phần này chỉ đề cập đến hiệu quả các chính sách tiền tệ của Chính phủ)

Trong quá trình thực hiện tiểu luận, nhóm đã được sự hướng dẫn, động viên chân thành của cô Hồ Thị Khánh Linh - cao học kinh tế, giảng viên khoa Kinh tế, hiện đang giảng dạy tín chỉ “Lý thuyết tài chính tiền tệ” cho lớp ĐHTCNH08A chúng em

Do hiểu biết còn hạn chế, cộng thêm điều kiện thời gian không cho phép, chắc chắn bài tiểu luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong nhận được sự góp ý từ quý thầy cô và các bạn

TP Cao Lãnh, ngày 23 tháng 10 năm 2009

Thay mặt nhóm 3 – ĐHTCNH08A

Nhóm trưởng

Lương Việt Hoàng

Trang 4

N HỮNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG TIỂU LUẬN

- TCTK : Tổng cục Thống kê

- NHNN : Ngân hàng Nhà nước

- NHTM : Ngân hàng thương mại

- NCQLKTTƯ : Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương

- VIR : Vietnam Investment Review

- ADB : Asian Development Bank

- BMI : Business Monitor International Ltd

- IMF : International Monetary Fund

- EIU : Economist Intelligence Unit

- WB : World Bank

- HA : Haver Analytics

- SIV : Structured Inverstment Vehicle

- FED : Federal Reserve System

- OECD : Organization for Economic Cooperation and Development

Trang 5

C HƯƠNG I

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI

I NGUỒN GỐC PHÁT SINH KHỦNG HOẢNG

Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 – 2009 là một cuộc khủng hoảng bao gồm sự đổ vỡ hàng loạt hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ trên quy mô lớn ở nhiều nước trên Thế giới, có nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ diễn ra từ năm 2007

Ngòi nổ của cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ khủng hoảng tín dụng thứ cấp bất động sản tại Hoa Kỳ Bong bóng nhà ở cùng với giám sát tài chính thiếu hoàn thiện của Hoa Kỳ đã dẫn tới một cuộc khủng hoảng tài chính ở quốc gia này từ năm 2007 và bùng phát mạnh từ cuối năm 2008 Thông qua quan hệ tài chính nói riêng và kinh tế nói chung mật thiết giữa Hoa Kỳ với nhiều nước trên Thế giới, dẫn tới những đổ vỡ tài chính, suy thoái kinh tế, làm suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trên Thế giới

Một trong những tác nhân chính gây nên tình trạng khủng hoảng hiện nay

là các ngân hàng thương mại (NHTM) và các tổ chức tài chính Mỹ thông qua hoạt động cho vay dưới tiêu chuẩn và nghiệp vụ chứng khoán hoá mà nhiều chuyên gia gọi là “Cỗ máy đầu tư cấu trúc” (Structured Investment Vehicle – SIV)

Phương thức kinh doanh của các SIV là huy động vốn ngắn hạn thông qua việc phát hành thương phiếu (Commercial Paper) với lãi suất thấp để đầu tư vào các loại chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản (Asset-Backed Securities), đa

số trường hợp là bất động sản với lãi suất cao

Như vậy, nhìn vào thực tế thì các NHTM đã huy động vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn vào một lĩnh vực khá nhạy cảm là bất động sản, mặc dù để đảm bảo khả năng thu hồi nợ họ đã bán các khoản cho vay này cho các tổ chức tài chính và đã để lại cho nền kinh tế, thị trường tài chính rủi ro rất lớn Đó là rủi ro

vỡ nợ khi giá của các tài sản dài hạn là bất động sản xuống thấp hơn giá trị của các khoản nợ ngắn hạn và rủi ro thanh khoản do việc đi vay ngắn hạn nhưng lại

Trang 6

cho vay dài hạn Rủi ro này sẽ tăng lên gấp bội trong điều kiện thiếu sự kiểm soát và giám sát của Chính phủ

II DIỄN BIẾN CUỘC KHỦNG HOÁNG TÀI CHÍNH HOA KỲ

Tháng 8 năm 2007, một số tổ chức tín dụng của Mỹ như New Century Financial Corporation phải làm thủ tục xin phá sản Một số khác thì rơi vào tình trạng cổ phiếu của mình bị mất giá mạnh như Countrywide Financial Corporation Nhiều người gửi tiền ở các tổ chức tín dụng này đã lo sợ và đến rút tiền, gây ra hiện tượng đột biến rút tiền gửi khiến cho các tổ chức đó càng thêm khó khăn hơn Nguy cơ khan hiếm tín dụng hình thành

Từ Mỹ, rối loạn này lan sang các nước khác Ở Anh quốc, ngân hàng Northern Rock bị chao đảo vì người gửi tiền xếp hàng dàitrước trụ sở công ty đòi rút tiền gửi của mình

Trước tình hình đó, Cục dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reserve System – FED) đã tiến hành các biện pháp nhằm tăng mức độ thanh khoản của thị trường tín dụng như thực hiện nghiệp vụ thị trường mở mua vào các loại công trái Mỹ, trái phiếu cơ quan Chính phủ Mỹ Tháng 9/2007, Cục dự trữ Liên bang tiến hành giảm lãi suất cho vay liên ngân hàng (Fed fund rates) từ 5,25% xuống còn 4,75% Trong khí đó, Ngân hàng Trung ương Châu Âu đã bơm 205 tỷ dollar Mỹ vào thị trường tín dụng để nâng cao mức thanh khoản

Tháng 12/2007, cuộc khủng hoảng tiến sang nấc trầm trọng hơn khi những báo cáo kinh tế cuối năm cho thấy sự điều chỉnh của thị trường bất động sản diễn ra lâu hơn tự tính và quy mô của khủng hoảng cũng rộng hơn rất nhiều lân so với ước đoán của các chuyên gia kinh tế Tình trạng đói tín dụng trở nên

rõ ràng Hệ thống dự trữ liên bang cố gắng giảm mạnh lãi suất liên ngân hàng vào tháng 12/2007 và tháng 2/2008 nhưng không có hiệu quả như mong đợi

Tháng 3/2008, Ngân hàng dự trữ liên bang New York cố cứu Bear Sterns nhưng không nổi, và công ty này phải chấp nhận để JP Morgan Chase mua lại với giá 10 dollar một cổ phiếu, nghĩa là thấp hơn rất nhiều lần so với giá 130,2 dollar một cổ phiếu trước khi khủng hoảng nổ ra Việc Ngân hàng dự trữ Liên bang New York cứu không nổi Bear Sterns và buộc lòng để công ty này bị bán

Trang 7

đi với mức giá quá rẻ đã

khiến cho sự lo ngại về

năng lực can thiệp của

viện Hoa Kỳ thông qua

Đạo luật Ổn định kinh tế

khẩn cấp 2008 cho phép

bộ trưởng Bộ Tài chính

Hoa Kỳ chi tới 700 tỷ

USD để cứu nền tài chính

của nước này bằng cách

mua lại các khoản nợ xấu

của ngân hàng, đặc biệt là các chứng khoán đảm bảo bằng bất động sản

Tính đến thời điểm này, tổng số ngân hàng bị giải thể ở Mỹ từ đầu năm

2009 đã lên tới con số 98 và đang tiến gần tới mốc 100, tức là gấp 4 lần so với con số 25 ngân hàng phải đóng cửa trong năm 2008 Tính bình quân, mỗi tháng trong năm 2009 đã có hơn 10 ngân hàng tại Mỹ lâm nạn, phần lớn là các ngân

Diễn biến kinh tế Quốc tế năm 2008

2/1: Giá dầu thô lần đầu tiên vượt 100 USD mỗi thùng

16/3: Bear Stears tuyên bố phá sản, báo hiệu chuỗi đổ vỡ của các định chế tài chính vào những tháng tiếp theo

11/7: Giá dầu chạm mức lịch sử 147,27 USD mỗi thùng

7/9: Mỹ chi 200 tỷ USD tiếp quản Freddie Mac và Fannie Mae

14/9: Bank of America mua lại Merrill Lynch

15/9: Lehman Brothers tuyên bố phá sản

16/9: Mỹ giải cứu AIG

21/9: Goldman Sachs và Morgan Stanley thay đổi mô hình hoạt động 28/9: Ngân hàng Bradford & Bingley (Anh) sụp đổ

29/9: Quốc hội Mỹ bác kế hoạch 700 tỷ USD, khiến Dow Jones có mức sụt giảm lớn nhất lịch sử, gần 778 điểm, và phố Wall mất 1.200 tỷ USD 3/10: Hạ viện Mỹ thông qua gói 700 tỷ USD

7/10: Anh chi 88 tỷ USD cứu hệ thống ngân hàng

8/10: Các ngân hàng trung ương đồng loạt hạ lãi suất

12/10: Chính phủ Iceland có nguy cơ sụp đổ 27/10: IMF bơm tiền hỗ trợ hàng loạt nền kinh tế

5/11: Ông Barack Obama đắc cử Tổng thống Mỹ, với đường lối kinh tế được Thế giới kỳ vọng thay đổi hiện trạng kinh tế Mỹ và toàn cầu

10/11: Trung Quốc chi gần 600 tỷ USD kích thích kinh tế

14/11: 15 nước châu Âu thừa nhận lâm vào suy thoái

17/11: Nhật thông báo đã suy thoái

25/11: Mỹ chi thêm 800 tỷ USD hỗ trợ kinh tế

1/12: Mỹ thừa nhận đã suy thoái từ cuối năm 2007

11/12: Vụ lừa đảo 50 tỷ USD của Bernard Madoff vỡ lỡ, với hàng nghìn nạn nhân

Trang 8

hàng địa phương, quy mô nhỏ, không đủ sức chống chọi với những khoản thua lỗ trong hoạt động cho vay tiêu dùng và nhà đất Cũng ở thời điểm cuối quý 2, đã có

416 ngân hàng bị FDIC liệt vào danh sách những nhà băng có nguy cơ đổ vỡ

III ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ĐẾN NỀN KINH TẾ HOA KỲ VÀ KINH TẾ THẾ GIỚI

1 Đối với Hoa Kỳ:

Cuộc khủng hoảng này là nguyên nhân chính làm cho kinh tế Hoa Kỳ rơi vào suy thoái từ tháng 12 năm 2007 Nhiều chuyên gia dự đoán đây sẽ là đợt suy thoái nghiêm trọng nhất ở cường quốc kinh tế này kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai Bình quân mỗi tháng, từ tháng 1 tới tháng 9 năm 2009 có 84 nghìn người lao động Hoa Kỳ bị mất việc làm

Thất nghiệp gia tăng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và tiêu dùng của các hộ gia đình lại càng làm cho các doanh nghiệp khó tiêu thụ được hàng hóa của họ Nhiều doanh nghiệp lớn bị phá sản hoặc có nguy cơ bị phá sản, trong đó bao gồm cả ba nhà sản xuất ô tô hàng đầu Hoa Kỳ là General Motors, Ford Motors và Chrysler LLC Các nhà lãnh đạo 3 hãng ô tô này đã nỗ lực vận động Quốc hội Hoa Kỳ cứu trợ, nhưng không thành công 12/12/2008, GM (General Motors) đã phải tuyên bố tạm thời đóng cửa 20 nhà máy của hãng hoạt động không hiệu quả ở khu vực Bắc Mỹ Tiêu dùng giảm, hàng hóa ế thừa đã dẫn đến mức giá chung của nền kinh tế giảm liên tục, đẩy kinh tế Hoa Kỳ tới nguy cơ có thể bị giảm phát

Chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones lúc đóng cửa ngày 9 tháng 3 năm 2009 là 6.547,05 – mức thấp nhất kể từ tháng 4 năm 1997 Chỉ trong vòng

6 tuần lễ, chỉ số này sụt tới 20%

Suy thoái kinh tế đã đẩy tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo của Mỹ lên mức 13,2% trong năm 2008, từ mức 12,5% trong năm 2007 Đây là mức cao nhất từ năm 1997 tới nay và có khả năng tiếp tục tăng cao hơn trong năm nay do

tỷ lệ thất nghiệp đang leo thang Con số này đồng nghĩa với việc 39,8 triệu người Mỹ sống với thu nhập dưới 22.025USD/năm cho một gia đình có 4 người theo chuẩn nghèo của Mỹ Nếu tính tới yếu tố lạm phát, thu nhập bình quân của

Trang 9

các hộ gia đình tại Mỹ năm 2008 thậm chí còn thấp hơn mức cách đây 1 thập kỷ Đây được xem là một bằng chứng nữa về tác động tiêu cực của suy thoái và tình trạng lương bổng đình trệ kéo dài mà tầng lớp trung lưu ở Mỹ phải đối mặt

Cuộc khủng hoảng còn làm cho dollar Mỹ lên giá Do USD là phương tiện thanh toán phổ biến nhất trên Thế giới hiện nay, nên các nhà đầu tư toàn cầu đã mua dollar để nâng cao khả năng thanh toán của mình, đẩy đồng tiền này lên giá nhanh chóng Điều này khiến cho xuất khẩu của Hoa Kỳ bị thiệt hại nặng nề Bộ Tài chính Mỹ cũng vừa thông báo trong tháng 8/2009, ngân sách của nước này đã thâm hụt thêm 111,4 tỉ USD, nâng mức thâm hụt ngân sách trong 11 tháng của tài khóa hiện nay lên 1.378 tỉ USD Tuy nhiên, mức thâm hụt ngân sách thực tế của tháng 8 vẫn thấp hơn mức dự báo 152 tỉ USD mà các nhà phân tích đưa ra tháng trước và cũng thấp hơn mức thâm hụt 111,91 tỉ USD cách đây một năm

2 Đối với Thế giới:

Bảng 1: Dự báo sản lượng Thế giới 2009 - 2010

(Trích Dự báo triển vọng kinh tế toàn cầu - Nguồn: IMF)

Trang 10

Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩu quan trọng của nhiều nước, do đó khi nền kinh tế suy thoái, xuất khẩu của nhiều nước bị thiệt hại, nhất là những nước theo hướng xuất khẩu ở Đông Á Một số nền kinh tế ở đây như Nhật Bản, Đài Loan, Singapore và Hong Kong rơi vào cơn suy thoái Các nền kinh tế khác đa phần đều tăng trưởng âm hoặc tăng trưởng chậm lại trong năm 2009 theo dự báo của IMF

Theo bảng 1, ta nhận thấy hầu hết các quốc gia phát triển, có nền kinh tế vững mạnh đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Cụ thể là Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Anh, Canada đều được dự báo là sẽ tăng trưởng âm trong năm 2009, thậm chí là Đức tăng trưởng

âm tới 6,2%, Nhật Bản cũng không khá hơn với mức tăng trưởng – 6%

Tình hình này sẽ còn tiếp diễn và gây tác động tiêu cực cho đến tận năm

2010 ở toàn thể các nước sử dụng đồng tiền chung Euro (khối EU) Nguyên nhân của điều này là do các nước châu Âu vốn chịu quan hệ kinh tế mật thiết với Hoa Kỳ nên khi khủng hoảng xảy ra, các nước này chịu tác động nghiêm trọng

cả về tài chính lẫn kinh tế Nhiều tổ chức tài chính bị phá sản đến mức trở thành khủng hoảng tài chính nội bộ ở một số nước như Iceland, Nga Nói về Nga, nước này được dự báo sẽ tăng trưởng âm 6.5% trong năm 2009 và đến 2010 mới

có thể khôi phục nền kinh tế Các nền kinh tế lớn nhất khu vực là Đức và Ý đều rơi vào suy thoái Anh, Pháp, Tây Ban Nha cũng không nằm ngoài quy luật đó

Các nền kinh tế Mỹ Latin cũng có quan hệ mật thiết với kinh tế Hoa Kỳ nên cũng bị ảnh hưởng tiêu cực khi các dòng vốn ngắn hạn rút khỏi khu vực và khi giá dầu giảm mạnh Ecuador tiến đến bờ vực của một cuộc khủng hoảng nợ

Đặc biệt, khối các nước công nghiệp mới Châu Á có mức tăng trưởng bình quân dự kiến trong năm 2009 là – 5,2%, mức tăng trưởng thấp nhất kể từ sau cơn khủng hoảng tài chính châu Á 1997

Xét trên một khía cạnh khác ,sự bền vững của tài chính toàn cầu đang là một mối lo chung của các nhà hoạch định chính sách Rủi ro từ các thị trường mới nổi đang gia tăng một cách nhanh chóng kể từ đầu tháng 10/2008 Rủi ro từ tín dụng và kinh tế vĩ mô cũng ngày càng phình to ra Gánh nặng tài chính đang lớn dần lên là kết quả của những kế hoạch cứu vãn ngân hàng và các gói kích cầu của

Trang 11

Chính phủ Rõ ràng, sự ổn định của nền tài chính Thế giới cần phải có nhiều thực thi chính sách tích cực hơn nữa

Hình 1: Bản đồ tình trạng bền vững của nền tài chính toàn cầu

(Nguồn: Financial Stability Report – IMF Staff Estimates)

Kinh tế các nước trên Thế giới đều tăng chậm lại hoặc có dấu hiệu suy thoái khiến lượng cầu về dầu mỏ cho sản xuất và tiêu dùng giảm, do đó khiến giá dầu giảm Điều này làm cho các nước xuất khẩu dầu mỏ bị thiệt hại Đồng thời, do lo ngại bất ổn xảy ra làm cho nạn đầu cơ lương thực nổ ra, góp phần dẫn tới giá lương thực tăng cao trong khoảng thời gian cuối năm 2007 đầu năm

2008, tạo thành cuộc khủng hoảng giá lương thực toàn cầu

Trang 12

Bảng 2: Chỉ số giá hàng hóa Thế giới 6 tháng đầu năm 2008

(Nguồn: WB-2008)

Tuy nhiên, đến đầu năm 2009, mọi chuyện lại diễn biến theo chiều hướng hoàn toàn ngược lại, chứng tỏ khủng hoảng kinh tế đã chính thức tác động sâu rộng đến nền kinh tế toàn cầu

Trong “Dự báo triển vọng kinh tế toàn cầu 2009-2010” của IMF, giá các mặt hàng đều có biến động sâu sắc trong năm 2009

Bảng 3: Dự báo giá nhiên liệu và tiêu dùng 2009 - 2010

(Trích Dự báo triển vọng kinh tế toàn cầu - Nguồn: IMF)

Bảng 3 cho thấy giá dầu và giá hàng hóa phi dầu đều giảm mạnh trong năm 2009, giá dầu giảm 37,6%, các hàng hóa khác giảm 23,8%, đưa mức giá của các hàng hóa này trở về thời điểm của 2 – 3 năm về trước Giá tiêu dùng trong năm nay, được dự báo tuy không tăng trưởng âm, nhưng mức giá chung

Trang 13

đều tăng chậm lại, đặc biệt là với các nước phát triển, chỉ dao động trong khoảng

xê dịch dưới 0,1%

Tuy nhiên, theo những diễn biến mới nhất từ thị trường dầu thô Thế giới, giá dầu trong tháng 9-10/2009 liên tiếp có những đợt tăng giá, tính đến thời điểm ngày 22/10/2009, giá dầu đã vượt mức 81USD/thùng nhờ sự trượt giá mạnh của đồng USD

Áp lực lạm phát trở nên căng thẳng từ giữa năm 2007 kéo dài cho tới

khoảng cuối năm 2008 Các nền kinh tế mới nổi có giai đoạn lạm phát danh nghĩa lên tới 9% (khoảng giữa năm 2008)

Hình 2: Biểu đồ tỉ lệ lạm phát toàn cầu

(Nguồn: BFM, HA & IMF)

Tuy nhiên kể từ đầu năm 2009, tình hình lạm phát gần như đã xoa dịu đi mức độ suy yếu chung của nền kinh tế Cụ thể là tỉ lệ lạm phát toàn cầu giữ ở mức dưới 6% và có xu hướng giảm rõ rệt Thậm chí các nền kinh tế phát triển như Nhật Bản đang có chiều hướng giảm phát (tỉ lệ lạm phát dưới 0%) vì giá dầu vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với một năm về trước, mặc dù hiện tại chúng đang nhích giá từng ngày Tỉ lệ lạm phát cơ bản nói chung giữ ở mức trung bình,

Trang 14

nhưng không đồng đều ở tất cả các quốc gia Tỉ lệ lạm phát giảm mạnh ở Trung Quốc và khu vực Trung Đông

IV NHỮNG TÍN HIỆU LẠC QUAN CỦA NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU

1 Hoa Kỳ - Sự trở lại của nền kinh tế số 1 Thế giới

Từ giữa năm 2009, những tín hiệu lạc quan cho sự trở lại của nền kinh tế

Mỹ đã dần được biểu hiện

“Kinh tế Mỹ sẽ thoát khỏi suy thoái với mức tăng trưởng GDP 2% trong quý 3 và quý 4 năm nay nhờ hoạt động sản xuất gia tăng của các doanh nghiệp” Đó là dự báo được đưa ra trong báo cáo UCLA Anderson Forecast do

Trường Quản lý thuộc Đại học California, Mỹ, thực hiện

Theo báo cáo này, tăng trưởng GDP trong năm 2010 của Mỹ sẽ diễn ra chậm chạp do tốc độ sản xuất của các doanh nghiệp chững lại so với thời điểm làm đầy kho hàng hiện nay

Bên cạnh đó, báo cáo cũng nhận định tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ sẽ ở mức bình quân 10% trong năm tới Báo cáo UCLA Anderson Forecast được đưa ra chỉ một ngày sau khi Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) dự báo suy thoái kinh tế Mỹ

có thể đã kết thúc, nhưng quá trình phục hồi và tạo việc làm sẽ diễn ra chậm chạp

Các nhà nghiên cứu thực hiện bản báo cáo này dự báo, kinh tế Mỹ tăng trưởng 2,1% trong quý 3 này, tăng 2,3% trong quý 4 tới, và tăng bình quân 2% trong năm 2010 “Tới cuối năm 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ có thể sẽ được cải thiện đáng kể, lên mức 3%”, báo cáo viết Tuy nhiên, có thể phải mất 4-5 năm nữa, Mỹ mới có thể hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này, và điều đó sẽ khiến cho nền kinh tế số 1 Thế giới phải đối mặt với thách thức từ những nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc

2 Nhật Bản – Suy thoái đã rời khỏi đất nước mặt trời mọc

Kinh tế Nhật Bản tăng trưởng dương trở lại trong quý 2 sau 5 quý liền liên tục co cụm Sự hồi phục của lĩnh vực xuất khẩu và chi tiêu của người dân đã giúp nước này thoát khỏi cuộc suy thoái tồi tệ nhất thời hậu chiến tranh

Số liệu thống kê do Văn phòng Nội các Nhật Bản công bố ngày 17/8 cho thấy, GDP quý 2 của Nhật đã tăng 3,7% so với cùng kỳ năm ngoái, sau khi sụt

Trang 15

giảm tới 11,7% trong quý 1 Nếu so với quý 1, GDP quý 2 của Nhật tăng trưởng 0,9% Đóng góp nhiều nhất vào tăng GDP quý 2 của Nhật là tăng trưởng xuất khẩu của nước này Thống kê cho thấy, xuất khẩu của Nhật trong quý 2 tăng 6,3% so với quý 1 Riêng xuất khẩu ròng đóng góp 1,6% vào mức tăng GDP quý 2 của nước này so với quý 1

Chi tiêu dùng cũng là một nhân tố quan trọng nữa giúp GDP của Nhật tăng trưởng dương trở lại trong quý 2 Gói kích thích kinh tế trị giá 25.000 tỷ Yên (tương đương 263 tỷ USD) của Thủ tướng Taro Aso đã thúc đẩy người dân tại đất nước mặt trời mọc ít thắt lưng buộc bụng hơn, mạnh dạn chi tiêu trong sản xuất và tiêu dùng Do đó, chi tiêu dùng đã tăng 0,8% trong quý 2 và đóng góp 0,5% vào tăng trưởng GDP

Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn ở mức cao Tỷ lệ thất nghiệp tại Nhật hiện tại là 5,4% và được dự báo có thể lên tới mức kỷ lục 5,8% vào năm sau, nếu các doanh nghiệp còn duy trì hoạt động sản xuất ở mức thấp như hiện nay Thậm chí, nhiều chuyên gia còn dự báo, liệu Nhật Bản – sự thần kỳ của Châu Á

có trở thành một Thụy Sỹ thứ hai - một đất nước giàu có, nhưng không có tầm quan trọng lớn trên trường Quốc tế, và cũng không giành được nhiều sự chú ý từ phần còn lại của Thế giới

3 Kinh tế Ấn Độ tăng tốc:

Cơ quan Thống kê Trung ương Ấn Độ (CSO) ngày 1/9/2009 cho biết, GDP quý 2 của nước này đã tăng 6,1% so với cùng kỳ năm ngoái, so với mức tăng 5,8% đạt được trong quý 1 Đây là lần đầu tiên GDP của Ấn Độ tăng tốc từ năm 2007 tới nay

Sự cải thiện tăng trưởng GDP trên cho thấy, những ảnh hưởng tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đối với kinh tế Ấn Độ có thể đã kết thúc Việc ít phụ thuộc vào hoạt động xuất khẩu hơn so với nhiều nước khác đã giúp Ấn Độ vượt qua cơn bão kinh tế này tốt hơn Trong thời kỳ từ 2003-2008, kinh tế Ấn Độ tăng bình quân 8,8% mỗi năm Các chuyên gia dự báo, kinh tế nước này có thể tăng trưởng 6% trong năm tài khóa hiện tại, nhưng cho rằng, mục tiêu này có thể được vượt qua

Trang 16

Ấn Độ và Trung Quốc đang được đánh giá là hai nền kinh tế Châu Á đang

có tốc độ phát triển cao, là lực đỡ chính cho suy giảm kinh tế toàn cầu

4 Kinh tế Thế giới phục hồi nhanh hơn mong đợi:

Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế - OECD cho biết tín hiệu phục hồi đã khá rõ ràng ở Mỹ, GDP dự kiến tăng 1,6% trong quý III và đạt tốc độ 2,4% vào

3 tháng cuối năm Tốc độ tăng trưởng khu vực đồng tiền chung châu Âu sẽ phục hồi về mức 2% vào quý IV, đặc biệt là đà khởi sắc mạnh mẽ ở Pháp và Đức Kinh tế Nhật có phần khó khăn hơn, tăng trưởng 1,1% trong quý III và có thể tiếp tục rơi về vùng âm (giảm 0,9%) trong quý cuối năm Anh được dự báo đi sau tất cả các thành viên trong khối, hiện chưa phát đi tín hiệu tăng trưởng nào cho cả năm nay

OECD là một tổ chức đã từ lâu được xem là “sân chơi” dành riêng cho các đại gia kinh tế Đóng góp của OECD vào kinh tế toàn cầu là rất đáng kể, tiêu biểu có thể kể đến Mỹ, Nhật Bản, Ý, Pháp, Đức, Anh, Tây Ban Nha – các cường quốc kinh tế của Thế giới Do vậy, những dự báo lạc quan của OECD về sự phục hồi của nền kinh tế đã tác động tích cực đến tâm lý chung của những nhà hoạch định chính sách và dân chúng

Bảng 4: Tỉ lệ đóng góp vào OECD của các nước thành viên

(Nguồn: OECD Annual Report)

Đánh giá của OECD về tăng trưởng của các nền kinh tế thành viên lạc quan hơn rất nhiều so với cách đây vài tháng Trong báo cáo công bố hồi tháng

Trang 17

6, tổ chức này dự báo GDP của Mỹ vẫn âm 1,9% trong quý III, thậm chí còn tệ hơn vào quý IV (giảm 2,4%) Trong lĩnh vực thương mại Quốc tế, OECD dự báo mọi khó khăn nhất có thể đã qua và tín hiệu phục hồi đã le lói

Bất chấp cuộc khủng hoảng toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ và gay gắt, những con số tăng trưởng lạc quan của các nền kinh tế mới nổi và các quốc gia đang phát triển đã góp một phần đáng kể trong việc vực dậy nền kinh tế toàn cầu Trung Quốc – nền kinh tế mới nổi của Châu Á vẫn giữ tốc độ tăng trưởng bình quân trên 7.5%, Ấn Độ 5,4% Các nước đang phát triển của châu Á trung bình sẽ tăng trưởng 5,5% trong năm 2009 và tiếp tục giữ đà tăng trưởng thần kỳ này đến năm 2010, với dự báo mức tăng trưởng chung 7%

Tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ ở Trung Quốc (14% trong quý II) là lực đỡ cho thương mại toàn cầu Dựa trên tốc độ tăng trưởng hiện nay và những xu hướng trên thị trường tiền tệ, các chuyên gia dự báo rằng, kinh tế Trung Quốc có thể vượt Mỹ vào năm 2039 Và nếu Trung Quốc để đồng Nhân dân tệ của nước này lên giá 2% mỗi năm, thì mục tiêu trên có thể đạt được vào năm 2026

Trong khi đó, nguy cơ lạm phát quay trở lại hiện không còn quá lớn Thậm chí, thiểu phát là vấn đề đáng lưu tâm không chỉ đối với Nhật Bản Vì thế, OECD gợi ý sớm nhất vào giữa 2010 mới tiến hành các bước thắt chặt trở lại Các Chính phủ cần duy trì những biện pháp hỗ trợ nền kinh tế trong bối cảnh thất nghiệp tiếp tục leo thang và thị trường nhà đất vẫn còn yếu ớt OECD khuyến cáo rằng chính sách lãi suất thấp ở mức phi lý như hiện nay vẫn cần được duy trì thêm một thời gian nữa, cho đến khi nền kinh tế hoàn toàn phục hồi và đứng vững

Trang 18

Hình 3: Tỉ lệ lạm phát của Hoa Kỳ, Nhật Bản và Eurozone

(Nguồn: BFM, HA & IMF)

Thời kỳ tồi tệ nhất của cơn đại khủng hoảng đã đi qua Tuy nhiên để lạc quan về viễn cảnh của nền kinh tế Thế giới là quá sớm Trước mắt, các nhà hoạch định chính sách cần phải vạch ra những mục tiêu cụ thể trong ngắn hạn để vượt qua suy thoái, tiếp tục tăng trưởng nhanh, bền vững; đồng thời phải kết hợp với các mục tiêu mang tầm vĩ mô, trung hạn và dài hạn, tránh để nền kinh tế quốc gia nói riêng

và nền kinh tế khu vực, toàn cầu phải gánh chịu một cuộc khủng hoảng tương tự trong tương lai Đây cũng là bài học kinh nghiệm quý báu dành cho các nước trong quá trình đi lên, hội nhập và phát triển

Trang 19

C HƯƠNG II

ẢNH HƯỞNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH

TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

I TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ VIỆT NAM 2008

Trang 20

Hình 4: Chỉ số tăng trưởng kinh tế Thế giới, Việt Nam và Trung Quốc

(Nguồn: caohockinhte.info)

Tình hình phát triển kinh tế - xã hội nước ta trong năm 2008 đã chịu tác động tương tác giữa quá trình hội nhập kinh tế Quốc tế với nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác Nền kinh tế toàn cầu biến động phức tạp: giá dầu tăng mạnh và giá lương thực leo thang đến tháng 8/2008; khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ vào tháng 9/2008 và nền kinh tế Thế giới lún sâu vào suy thoái

Hình 5: Chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam

(Nguồn: Tổng cục Thống kê – TCTK)

Trang 21

Hình 6: Giá xăng dầu thị trường trong nước và Thế giới

(Nguồn: Tổng cục Thống kê – TCTK)

Trước tình hình lạm phát gia tăng từ quý III/2007, từ tháng 4-2008 Chính phủ đã có bước ngoặt chuyển hướng chính sách từ thúc đẩy tăng trưởng sang kiềm chế lạm phát Từ tháng 10-2008, nền kinh tế lại phải gồng mình chống đỡ tác động hết sức tiêu cực của cơn bão khủng hoảng và suy thoái toàn cầu Một lần nữa, Chính phủ lại chuyển hướng chính sách, tập trung chống suy giảm kinh

tế cùng tiếp tục duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội Chính sách tiền

tệ được nới lỏng dần và từ tháng 12-2008, một gói kích thích kinh tế được chính thức triển khai nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, phát triển kết cấu hạ tầng, kích thích tiêu dùng và giảm thiểu khó khăn xã hội

2004 2005 2006 2007 2008

Tốc độ tăng trưởng (%) GDP 7,79 8,44 8,23 8,46 6,18

Trang 22

Công nghiệp - xây dựng 3,93 4,21 4,17 4,19 2,54

Dịch vụ 2,94 3,42 3,34 3,57 2,90

Bảng 5: Tăng trưởng GDP giai đoạn 2004-2008

Nguồn: TCTK và tính toán Viện NCQLKTTƯ)

Trong bối cảnh có những biến động không thuận của Thế giới, tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta năm 2008 đã chậm lại, còn 6,2% so với 8,5% của năm

2007 Đây là mức tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 2000; hơn nữa tăng trưởng quý IV/2008 chỉ đạt 5,7% so với 6,5% của ba quý đầu năm 2008 Dẫu vậy, việc đạt được mức tăng trưởng 6,2% vẫn đáng được ghi nhận, nhất là so với nhiều nước đang phát triển và trong khu vực Đặc biệt, trong khi tăng trưởng của khu vực công nghiệp - xây dựng sụt giảm đáng kể (6,1% so với 10,2% năm 2007), thì khu vực nông - lâm - thủy sản lại có tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2007 (4,1% so với 3,8%), thể hiện ý nghĩa to lớn của khu vực này trong phát triển đất nước cũng như trong giải quyết các vấn đề xã hội trong tình hình khó khăn Vốn đầu tư xã hội vẫn chiếm tỷ trọng cao, bằng 40,9% GDP, tuy đã thấp hơn so với tỷ lệ 46,5% GDP năm 2007 Mức đầu tư cao chủ yếu do vốn đầu tư khu vực FDI và khu vực ngoài nhà nước tăng mạnh, tương ứng 48,7% và 19,3%

so với năm 2007 Vốn đầu tư khu vực nhà nước giảm mạnh (-11,9%), phù hợp với chính sách kinh tế vĩ mô thắt chặt

Năm 2008 là năm đầu tiên vốn đầu tư nhà nước, đã từng có tỷ trọng lớn nhất trong nhiều năm, trở thành có tỷ trọng nhỏ nhất trong tổng vốn đầu tư xã hội Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư của khu vực nhà nước, nhất là của các tập đoàn và các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) quy mô lớn vẫn là một dấu hỏi lớn Đặc biệt, sau hơn hai năm dòng vốn FDI ồ ạt đổ vào Việt Nam, nền kinh tế đã và đang bộc lộ nhiều bất cập, cản trở khả năng hấp thụ vốn hiệu quả Hơn nữa, việc thu hút FDI còn tiềm ẩn khá nhiều rủi ro và thách thức Quy hoạch và phân cấp quản lý nhà nước về đầu tư vẫn còn nhiều bất cập

Thương mại Quốc tế năm 2008 có bước chuyển biến mới Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 62,7 tỉ USD, tăng 29,1%; tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 80,7 tỉ USD, tăng 28,6% so với năm 2007 Nước ta đã trở thành một nền

Trang 23

kinh tế có độ mở cao xét theo tỷ trọng xuất nhập khẩu trên GDP (160,7% GDP và 177,5% GDP nếu tính cả thương mại dịch vụ) Tuy nhiên, thương mại dịch vụ chưa thật phát triển, năm 2008 chỉ bằng 10,5% thương mại hàng hóa, mức thấp hơn nhiều tỷ lệ trên 20% của Thế giới Cũng đã bắt đầu xuất hiện xu thế đa dạng hóa mặt hàng để đối phó với rủi ro trên thị trường Thế giới Tuy nhiên, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu vẫn phụ thuộc vào các nhóm hàng khoáng sản và nông - lâm - thủy sản thô, sơ chế; hàng công nghiệp chế biến chủ yếu vẫn là gia công lắp ráp

Một đặc trưng của năm 2008 là tình trạng bất ổn kinh tế vĩ mô Lạm phát

leo thang, thậm chí trong “Báo cáo bối cảnh kinh tế Thế giới và dự báo kinh tế

vĩ mô 2009”, Bộ Kế hoạch đầu tư còn dự báo lạm phát sẽ lên đến 30% trong

năm 2008; thâm hụt thương mại hàng hóa và thâm hụt cán cân vãng lai lớn (lần lượt là 14,4 % GDP và 9,5% GDP), rủi ro hệ thống tài chính ngân hàng tăng Tình hình kinh tế vĩ mô đã trở nên ổn định hơn từ tháng 8-2008 Đặc biệt lạm phát giảm nhanh trong quí IV/2008, dẫn đến lạm phát cả năm còn gần 20%, tuy vẫn cao song đã thấp hơn nhiều mức tháng 8-2008

Tốc độ tăng trưởng giảm đồng nghĩa với tình trạng doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô sản xuất, cắt giảm lao động Vào tháng 7-2008, tổng số người thất nghiệp ở thành thị tăng 2,7% so với năm 2007, đưa tỷ lệ thất nghiệp của khu vực thành thị lên 4,7% so với 4,6% năm 2007 Con số người thất nghiệp, mất việc làm và phải giảm giờ làm còn tăng cao hơn nữa trong nửa cuối năm 2008 Hơn nữa, lạm phát cao càng làm giảm thu nhập thực của đa số dân cư và có tác động rất xấu đến nhóm người nghèo, thu nhập thấp

Vấn đề đảm bảo an sinh xã hội năm 2008 đã được Chính phủ đặc biệt quan tâm Bên cạnh hệ thống chính sách hỗ trợ xã hội có tính thường xuyên, nhiều biện pháp cụ thể, thiết thực đã được thực hiện nhằm giảm thiểu thiệt hại

và khó khăn cho người nghèo, thu nhập thấp và các nhóm xã hội dễ bị tổn thương khác Tuy nhiên, các chương trình hỗ trợ xã hội thường triển khai chậm, không hiếm trường hợp không đúng đối tượng, trong khi lại thiếu những đánh giá về hiệu lực, hiệu quả chương trình

Trang 24

Những kết quả đáng ghi nhận về kinh tế - xã hội cũng như những khó

khăn nền kinh tế phải trải qua trong năm 2008 đã để lại nhiều bài học chính sách

Hiệu lực, hiệu quả chính sách còn phụ thuộc vào sự phối hợp giữa các bộ, các cơ quan hữu quan cũng như mối quan hệ thông tin minh bạch, có tính giải trình cao giữa nhà nước với thị trường, công chúng Những đặc thù riêng của Việt Nam càng đòi hỏi chính sách phải có sự giải trình, rà soát thận trọng và được minh chứng

Trong điều kiện Việt Nam, việc kết hợp chặt chẽ các chính sách kinh tế vĩ

mô với các biện pháp vi mô cũng có thể rất cần thiết khi xử lý các vấn đề kinh tế

- tài chính “đột ngột” phát sinh theo chiều hướng xấu Song cũng cần chuẩn bị

cả cách thức/lộ trình rút bỏ các biện pháp đó, nhất là các biện pháp có tính hành chính, một cách chu đáo và được giải trình nghiêm túc

Các chính sách kinh tế thường khó có tác động cùng chiều, nhất là trong bối cảnh bất ổn kinh tế vĩ mô, đối với các mục tiêu và các nhóm xã hội khác nhau Chính vì vậy, cần cả sự hỗ trợ đối với người nghèo, nhóm xã hội dễ bị tổn thương và cả ý chí chính trị vượt qua các nhóm trục lợi/nhóm đặc quyền

Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái lan rộng toàn cầu, những bài học đó vẫn là những gợi ý có giá trị cho việc lựa chọn mục tiêu chính sách và cách thức thực thi chính sách một cách có hiệu lực và hiệu quả

II DỰ BÁO KINH TẾ VIỆT NAM 2009

Năm 2009 là năm thứ ba đánh dấu sự hội nhập khá toàn diện của kinh tế Việt Nam với nền kinh tế Thế giới Năm 2009, Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện các cam kết song phương, vùng và các cam kết trong khuôn khổ WTO với tư cách là một thành viên chính thức Năm 2009 cũng là năm thứ tư triển khai thực

Trang 25

hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2010 với gói chính sách kích cầu trong bối cảnh nền kinh tế nước ta còn tiếp tục bị tác động bởi cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

Tuy nhiên, năm 2009 kinh tế Thế giới được dự báo tiếp tục đà suy giảm

và tăng trưởng chậm hơn so với năm 2008 do tác động mạnh và chưa có dấu hiệu cải thiện rõ rệt của cuộc suy thoái kinh tế kinh tế toàn cầu

Sự suy giảm của kinh tế Thế giới là nhân tố có thể tác động bất lợi cho nền kinh tế nước ta, một nền kinh tế vốn dĩ dựa nhiều vào đầu tư nước ngoài và xuất khẩu Mặt khác, trong nước, việc thực thi chính sách kích thích kinh tế, ở một chừng mực nhất định nào đó, sẽ gây áp lực làm tăng lạm phát Do vậy, mục tiêu tăng trưởng kinh tế do Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, Kỳ họp thứ 4 (ngày 06-11-2008) đặt ra cho năm 2009 sẽ là khó khả thi, nếu như các tác động tiêu cực tới nền kinh tế Việt Nam trở thành hiện thực

và việc thực thi chính sách kích cầu không đạt được hiệu quả mong muốn

Để làm sáng tỏ nhận định trên, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương đã tiến hành dự báo một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của Việt Nam trong năm 2009 Dự báo dựa trên triển vọng kinh tế Thế giới và những tác động tới nền kinh tế Việt Nam cũng như những phân tích diễn biến nội tại nền kinh tế Việt Nam trong năm 2009 có tính tới những điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp với các cam kết WTO, khu vực và song phương cũng như chính sách kinh tế vĩ mô nhằm ngăn chặn đà suy giảm tăng trưởng kinh tế, giảm bớt tốc độ tăng của lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô

Kịch bản

Cơ bản

Kịch bản Lạc quan

Kịch bản

Bi quan Giả định về mức tăng

GDP thực của các đối tác thương mại +0,5 +1,0 +0,0 Giá dầu thô Thế giới -50,0 -45,0 -60,0

Tỷ giá hối đoái danh nghĩa +5,0 +3,0 Cung tiền tệ (M2) +25,0 +15,0

Kết quả

Trang 26

GDP (giá 1994) 4,69 5,56 3,39 Lạm phát (CPI) (mức trung bình) 9,4 8,9 8,2 Nhịp tăng xuất khẩu (%) -12,2 -7,2 -25,5

Bảng 6: Giả định và kết quả dự báo một số chỉ tiêu

kinh tế vĩ mô của Việt Nam năm 2009

(Nguồn: Dự báo của Viện NCQLKTTƯ)

Trong bảng 6, một số giả định cụ thể về triển vọng của nền kinh tế Thế giới và nền kinh tế Việt Nam được dùng để xây dựng các kịch bản dự báo kinh

tế vĩ mô và mô phỏng chính sách cho năm 2009 Các giả định cho năm 2009 được so với năm 2008

Nhìn chung, các kết quả dự báo từ mô hình kinh tế lượng vĩ mô cho thấy, trong năm 2009 nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng với tốc độ thấp hơn năm

2008, lạm phát cao và thâm hụt ngân sách ở mức tương đối lớn điều này một phần do tác động của việc thực thi gói chính sách kích cầu của Chính phủ Một

số chỉ tiêu dự báo trong đó có chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng GDP theo kịch bản cơ

bản thấp xa so với các chỉ tiêu đề ra trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

năm 2009 Hơn nữa, ngay cả với kịch bản lạc quan, thì nền kinh tế cũng sẽ chỉ

tăng với tốc độ khoảng 5,56%, trong khi đó, mức thâm hụt ngân sách lên đến 9,4% GDP Điều này cho thấy mục tiêu tăng trưởng GDP cần được Quốc hội và Chính phủ xem xét lại một cách thận trọng để điều chỉnh khi thực thi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009 cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, xét cả trong nước cũng như bối cảnh Quốc tế

Kết quả dự báo từ mô hình cũng cho thấy, lạm phát vẫn đứng ở mức cao, mặc dù thấp hơn so với mức năm 2008 và nhập siêu còn lớn, chưa thể khắc phục ngay trong ngắn hạn (Bảng 6)

Các dự báo của các tổ chức Quốc tế cũng cho thấy khả năng tăng trưởng của nền kinh tế của Việt Nam sẽ thấp hơn nhiều mức tăng trưởng của năm 2008 IMF (2009) và WB (2009) dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2009 tương ứng đạt 3,3% và 5,5% so với năm 2008 Dự báo của ADB (2009) và EIU (2009) cũng cho thấy, trong năm 2009, Việt Nam sẽ đạt mức tăng trưởng trung

Trang 27

bình, tương ứng, là 4,5%; và 0,3%/năm Như vậy, khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng GDP trên 5,5% năm 2009 dường như khó trở thành hiện thực Tuy nhiên, tại thời điểm đó, tất cả chỉ là những dự báo mang tính chất tham khảo và định hướng cho nền kinh tế

III KINH TẾ VIỆT NAM 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2009

Bước vào năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức Sự suy thoái ngày càng nặng nề của kinh tế Thế giới đã thu hẹp thị trường xuất khẩu, thị trường vốn và tác động tiêu cực đến kinh tế - xã hội của nước ta

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị, Chính phủ và Quốc hội đã đề ra nhiều chính sách, giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu tổng quát của Nghị quyết kỳ họp

thứ 4, Quốc hội khóa XII là: Tiếp tục kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô,

duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, bền vững, chủ động ngăn ngừa suy giảm, bảo đảm an sinh xã hội; đẩy mạnh hợp tác và hội nhập kinh tế Quốc tế một cách chủ động và hiệu quả; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; tạo điều kiện thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010

Quý I/2009, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước chỉ đạt 3,1%, bằng 41% tốc độ tăng của quý I/2008 và là quý có tốc độ tăng thấp nhất trong những năm gần đây; nhưng ước tính quý II/2009 tổng sản phẩm trong nước tăng 4,5%, bằng 79% tốc độ tăng của quý II/2008 và cao hơn tốc độ tăng của quý I/2009 là 1,4 điểm phần trăm Tính chung 6 tháng đầu năm 2009, tổng sản phẩm trong nước tăng 3,9% so với 6 tháng đầu năm 2008, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,25%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,48%; khu vực dịch vụ tăng 5,5%

Theo dự báo của Bộ KHĐT, căn cứ vào tình hình kinh tế Thế giới, tình hình kinh tế - xã hội của các tháng đầu năm, dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) quý IV/2009 có thể đạt khoảng 6,8% so với cùng kỳ năm trước Trên cơ

sở đó, dự kiến tốc độ tăng trưởng GDP cả năm 2009 có thể đạt 5,2% (Hình 7)

Trang 28

Hình 7: Tốc độ tăng trưởng GDP từ năm 1997-2010 (%)

(Nguồn: Tổng cục thống kê, E là con số ước tính)

Sản xuất công nghiệp: đang dần ổn định và có chiều hướng phát triển

tích cực Tính chung 8 tháng năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 5,6%

so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm khu vực kinh tế Nhà nước tăng 1,9%; khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng 7,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 6% (dầu mỏ và khí đốt tăng 12,8%, các sản phẩm khác tăng 5,1%) Đặc biệt, giá trị sản xuất công nghiệp tháng 9/2009 ước đạt 62.559 tỷ đồng, tăng 12.5%

so với cùng kỳ, nâng mức giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm lên 505.972 tỷ đồng, tăng 6,5% so với cùng kỳ Đây là tín hiệu rất đáng lạc quan, thể hiện tín hiệu phục hồi của ngành công nghiệp trước tác động của cuộc khủng hoảng toàn cầu

Dịch vụ: Thị trường bán lẻ và dịch vụ trong nước mặc dù bị ảnh hưởng

của dịch cúm A/H1N1, đặc biệt đối với hoạt động khách sạn nhà hàng và du lịch nhưng do giá cả tương đối ổn định nên vẫn đạt mức tăng khá Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng năm 2009 ước tính đạt 742,7

nghìn tỷ đồng, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước

Du lịch: Khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu cùng với sự

bùng phát dịch cúm A/H1N1 đã tác động mạnh đến lượng khách Quốc tế đến Việt Nam trong nhiều tháng qua Khách Quốc tế đến nước ta 8 tháng năm 2009 ước tính

đạt 2479,9 nghìn lượt người, giảm 17,7% so với cùng kỳ năm trước

Trang 29

Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 20/8/2009 đạt 10,4 tỷ USD, giảm 81,6% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm: Vốn đăng ký mới 5,6 tỷ USD của 504 dự án được cấp phép mới (giảm 89,2% về vốn và giảm 60% về số dự án so với cùng kỳ năm trước); vốn đăng ký bổ sung 4,8 tỷ USD của 149 lượt dự án được cấp phép

từ các năm trước Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 8 tháng năm 2009 ước tính đạt 6,5 tỷ USD, giảm 8,5% so với cùng kỳ năm 2008

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến ngày 15/8/2009 ước tính bằng

60,8% dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 62,6%; thu từ dầu thô bằng 52,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 62%

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/8/2009 ước tính bằng

57,9% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 58,9%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể (gồm cả chi cải cách tiền lương) bằng 59,5%; chi trả nợ và viện trợ bằng 61,8%

Hình 8: Biểu đồ tương quan Thu – Chi 8 tháng đầu năm 2009

(Nguồn: TCTK)

Xuất khẩu: Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu tháng 8/2009 ước tính đạt 4,7 tỷ

USD, giảm 2,2% so với tháng trước, một số mặt hàng chủ yếu có kim ngạch giảm nhiều là: Dầu thô giảm 23,1% (lượng giảm 26,2%); hàng dệt may giảm 4%; giày dép giảm 3,2% Tính chung 8 tháng năm 2009, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu đạt 37,3 tỷ USD, giảm 14,2% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 18,7 tỷ USD, giảm 5,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 18,6 tỷ USD, giảm 21,1%

Trang 30

Thị trường xuất khẩu chủ yếu của một số mặt hàng chính trong 7 tháng năm 2009 như sau: Hàng thuỷ sản xuất sang thị trường EU đạt 593 triệu USD, giảm 3% so với cùng kỳ năm trước; sang Nhật Bản đạt 388 triệu USD, giảm 15%; sang Mỹ đạt 376 triệu USD, tăng 10% Hàng dệt may xuất sang Mỹ đạt 2,8 tỷ USD, giảm 4,5%; sang EU đạt 966 triệu USD, giảm 1%; sang Nhật Bản đạt 513 triệu USD, tăng 16%

Hình 9: Biểu đồ thị trường xuất khẩu thủy sản

(Nguồn: TCTK)

Nhập khẩu: Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu tháng 8/2009 ước tính đạt 6,2

tỷ USD, giảm 1,9% so với tháng trước Tính chung 8 tháng năm 2009, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu đạt 42,4 tỷ USD, giảm 28,2% so với cùng kỳ năm 2008

Trong 7 tháng năm 2009, kim ngạch nhập khẩu máy móc từ một số thị trường giảm so với cùng kỳ năm 2008, trong đó thị trường lớn nhất là Trung Quốc với 2,1 tỷ USD, giảm 6,2%; tiếp đến là Nhật Bản với 1,3 tỷ USD, giảm 21,9%; Hàn Quốc 439 triệu USD, giảm 22,7%

Ngày đăng: 14/03/2014, 17:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Dự báo sản lượng Thế giới 2009 - 2010 - TIỂU LUẬN: HIỆU QUẢ TỪ CÁC GÓI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU pptx
Bảng 1 Dự báo sản lượng Thế giới 2009 - 2010 (Trang 9)
Hình 1: Bản đồ tình trạng bền vững của nền tài chính toàn cầu - TIỂU LUẬN: HIỆU QUẢ TỪ CÁC GÓI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU pptx
Hình 1 Bản đồ tình trạng bền vững của nền tài chính toàn cầu (Trang 11)
Bảng 2: Chỉ số giá hàng hóa Thế giới 6 tháng đầu năm 2008 - TIỂU LUẬN: HIỆU QUẢ TỪ CÁC GÓI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU pptx
Bảng 2 Chỉ số giá hàng hóa Thế giới 6 tháng đầu năm 2008 (Trang 12)
Hình 2: Biểu đồ tỉ lệ lạm phát toàn cầu - TIỂU LUẬN: HIỆU QUẢ TỪ CÁC GÓI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU pptx
Hình 2 Biểu đồ tỉ lệ lạm phát toàn cầu (Trang 13)
Bảng 4: Tỉ lệ đóng góp vào OECD của các nước thành viên - TIỂU LUẬN: HIỆU QUẢ TỪ CÁC GÓI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU pptx
Bảng 4 Tỉ lệ đóng góp vào OECD của các nước thành viên (Trang 16)
Hình 3: Tỉ lệ lạm phát của Hoa Kỳ, Nhật Bản và Eurozone - TIỂU LUẬN: HIỆU QUẢ TỪ CÁC GÓI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU pptx
Hình 3 Tỉ lệ lạm phát của Hoa Kỳ, Nhật Bản và Eurozone (Trang 18)
Hình 4: Chỉ số tăng trưởng kinh tế Thế giới, Việt Nam và Trung Quốc - TIỂU LUẬN: HIỆU QUẢ TỪ CÁC GÓI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU pptx
Hình 4 Chỉ số tăng trưởng kinh tế Thế giới, Việt Nam và Trung Quốc (Trang 20)
Hình 6: Giá xăng dầu thị trường trong nước và Thế giới - TIỂU LUẬN: HIỆU QUẢ TỪ CÁC GÓI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU pptx
Hình 6 Giá xăng dầu thị trường trong nước và Thế giới (Trang 21)
Hình 7: Tốc độ tăng trưởng GDP từ năm 1997-2010 (%) - TIỂU LUẬN: HIỆU QUẢ TỪ CÁC GÓI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU pptx
Hình 7 Tốc độ tăng trưởng GDP từ năm 1997-2010 (%) (Trang 28)
Hình 8: Biểu đồ tương quan Thu – Chi 8 tháng đầu năm 2009 - TIỂU LUẬN: HIỆU QUẢ TỪ CÁC GÓI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU pptx
Hình 8 Biểu đồ tương quan Thu – Chi 8 tháng đầu năm 2009 (Trang 29)
Hình 9: Biểu đồ thị trường xuất khẩu thủy sản - TIỂU LUẬN: HIỆU QUẢ TỪ CÁC GÓI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU pptx
Hình 9 Biểu đồ thị trường xuất khẩu thủy sản (Trang 30)
Bảng 7: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2009. - TIỂU LUẬN: HIỆU QUẢ TỪ CÁC GÓI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU pptx
Bảng 7 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2009 (Trang 31)
Hình 12: Mô hình đường LM - TIỂU LUẬN: HIỆU QUẢ TỪ CÁC GÓI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU pptx
Hình 12 Mô hình đường LM (Trang 37)
Bảng 8: Những dấu mốc thay đổi lãi suất cơ bản - TIỂU LUẬN: HIỆU QUẢ TỪ CÁC GÓI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU pptx
Bảng 8 Những dấu mốc thay đổi lãi suất cơ bản (Trang 50)
Hình 16: Biểu đồ phân bổ gói kích thích kinh tế của Chính phủ - TIỂU LUẬN: HIỆU QUẢ TỪ CÁC GÓI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU pptx
Hình 16 Biểu đồ phân bổ gói kích thích kinh tế của Chính phủ (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w