Qua thu thập và phân tích dữ liệu khảo sát bằng các phương pháp phân tích và kiểm định thang đo, kết quả đề tài đã xác định được 5 nhóm nhân tố có khả năng gây chậm tiến độ cho dự án và
Trang 1HỒ CÔNG MẠCH
PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG CHẬM TIẾN ĐỘ CỦA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KỸ THUẬT XÂY DỰNG
Đà Nẵng – 2022
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA -
HỒ CÔNG MẠCH
PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG CHẬM TIẾN ĐỘ CỦA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÔNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Phân tích nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp khắc phục tình trạng chậm tiến độ của các dự án đầu tư công trên địa bàn TP Đà Nẵng” là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là
trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Học viên cam đoan
Hồ Công Mạch
Trang 4PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG CHẬM TIẾN ĐỘ CỦA CÁC DỰ ÁN
ĐẦU TƯ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG
Học viên: Hồ Công Mạch Chuyên ngành: Kỹ thuật xây dựng
Mã số: 8.58.02.01 Khóa: K39 Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN
Tóm tắt: Hiện nay, các dự án chậm tiến độ là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm
tăng chi phí đầu tư, giảm hoặc không còn hiệu quả đầu tư, tác động tiêu cực đến nền kinh
tế Đây là một vấn đề rất lớn trong giai đoạn hiện nay ở Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói
chung Đà Nẵng là một thành phố có tốc độ phát triển hạ tầng nhanh, các dự án đầu tư
công ngày càng nhiều, chính vì vậy chậm trễ tiến độ là một vấn đề cần được quan tâm
Đề tài được thực hiện nghiên cứu hơn 150 mẫu khảo sát với 30 yếu tố làm chậm tiến độ
của các dự án đầu tư công trên địa bàn Đà Nẵng Qua thu thập và phân tích dữ liệu khảo
sát bằng các phương pháp phân tích và kiểm định thang đo, kết quả đề tài đã xác định
được 5 nhóm nhân tố có khả năng gây chậm tiến độ cho dự án và mức độ ảnh hưởng của
từng nhóm nhân tố: (1) liên quan đến nhà thầu thi công; (2) liên quan đến chủ đầu tư; (3)
liên quan đến yếu tố ngoại vi; (4) liên quan đến pháp lý; (5) liên quan đến đơn vị tư vấn
Qua đó, đề tài đề xuất một số giải pháp để giải quyết những tác động nhằm giảm thiểu
ảnh hưởng tiến độ đến các dự án đầu tư công trên địa bàn TP.Đà Nẵng
Từ khóa – Chậm tiến độ; dự án đầu tư công; Đà Nẵng; nhân tố; giải pháp khắc phục
ANALYSIS AND PROPOSAL OF SOLUTIONS TO SOLVE THE
DELAYED SCHEDULE OF STATE'S INVESTMENT PROJECTS
IN DA NANG CITY
Abstract: In the present age, delayed projects are one of the main reasons that level up
investment costs, reduce or lose investment efficiency and create negative impacts on the
economy This is currently a tremendous problem in Da Nang and the country as a whole
Da Nang is a city that has seen a fast development of infrastructure and a significant rise
in the State's investment projects Hence, the slow progress of projects is an issue that
deserves attention
The topic was conducted to study more than 150 surveys with 30 factors that slow down
the progress of the State's investment projects in Da Nang Through collection and
analysis of survey data using scale analysis and testing methods, the results have
identified 5 factor groups that potentially cause the delay of projects and the level of
influence of each group Accordingly, the topic proposes certain solutions to mitigate
impacts of progress on the State's investment projects in Da Nang city
Key words - delay; State's invesment projects; Da Nang City; factors; situation
Trang 5MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH
LỜI CAM ĐOAN 1
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 1
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
6 Cấu trúc của luận văn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÔNG VÀ TÌNH HÌNH CHẬM TIẾN ĐỘ CỦA CÁC DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 4
1.1 Tổng quan về dự án đầu tư công 4
1.1.1 Khái niệm về dự án đầu tư công 4
1.1.2 Phân loại vốn đầu tư công 4
1.1.3 Trình tự thực hiện dự án đầu tư xây dựng 5
1.1.4 Sự khác nhau của dự án đầu tư công và dự án thuộc khu vực tư nhân 5
1.2 Khái niệm và hậu quả của chậm tiến độ 6
1.2.1 Khái niệm chậm tiến độ 6
1.2.2 Hậu quả của chậm tiến độ 7
1.3 Tổng quan hình hình chậm tiến độ của các dự án đầu tư công 7
1.4 Phân tích một vài dự án của thành phố bị chậm tiến độ 8
Trang 61.4.1 Dự án Nhà làm việc các Ban quản lý và các đơn vị trực thuộc TP Đà
Nẵng 8
1.4.2 Dự án Trụ sở làm việc Trung tâm xúc tiến du lịch 10
1.4.3 Dự án Nhà máy nước Hòa Liên Đà Nẵng 12
1.5 Sự khác nhau giữa các dự án đầu tư công trên địa bàn TP Đà Nẵng với những vùng khác 13
1.6 Kết luận chương 1 14
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT, CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VÀ QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 15
2.1 Các nghiên cứu về yếu tố gây chậm tiến độ dự án 15
2.2 Các yếu tố được chọn 19
2.3 Mô hình nghiên cứu 20
2.4 Giả thiết nghiên cứu 21
2.4.1 Nhóm yếu tố liên quan đến chủ đầu tư 22
2.4.2 Nhóm yếu tố liên quan đến nhà thầu thi công 22
2.4.3 Nhóm yếu tố liên quan đến đơn vị tư vấn 23
2.4.4 Nhóm yếu tố liên quan đến tác động ngoại vi 24
2.4.5 Nhóm yếu tố liên quan đến pháp lý 24
2.5 Xây dựng bảng câu hỏi khảo sát 24
2.6 Xác định kích thước mẫu, lựa chọn kỹ thuật lấy mẫu và thu thập dữ liệu 26 2.6.1 Xác định kích thước mẫu nghiên cứu 26
2.6.2 Lựa chọn kỹ thuật lấy mẫu 26
2.6.3 Thu thập dữ liệu 28
2.7 Các phương pháp phân tích và kiểm định thang đo 28
2.7.1 Phương pháp thống kê mô tả 28
2.7.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 28
2.7.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 29
2.7.4 Phân tích tương quan Pearson 30
2.7.5 Phân tích hồi quy đa biến 30
2.8 Quy trình nghiên cứu 31
Trang 72.9 Kết luận chương 2 34
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Kết quả chọn mẫu 35
3.2 Thống kê mô tả 35
3.2.1 Thống kê thời gian làm việc của khách thể trong lĩnh vực xây dựng 35
3.2.2 Đánh giá chung tình trạng chậm tiến độ 36
3.2.3 Đánh giá, xếp hạng các yếu tố gây chậm tiến độ 37
3.3 Kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 39
3.3.1 Phân tích độ tin cậy của thang đo yếu tố liên quan đến chủ đầu tư (CDT) 39
3.3.2 Phân tích độ tin cậy của thang đo yếu tố liên quan đến nhà thầu (NT) 40 3.3.3 Phân tích độ tin cậy của thang đo yếu tố đơn vị tư vấn (TV) 40
3.3.4 Phân tích độ tin cậy của thang đo yếu tố ngoại vi (NV) 41
3.3.5 Phân tích độ tin cậy của thang đo yếu tố pháp lý (PL) 42
3.3.6 Kết luận 43
3.4 Phân tích nhân tố khám phá EFA 43
3.4.1 Kiểm định KMO và Bartlett 43
3.4.2 Trị số Eigenvalue và tổng phương sai trích 44
3.4.3 Hệ số tải nhân tố (Factor Loading) 45
3.4.4 Kết luận 47
3.5 Tương quan pearson 47
3.6 Hồi quy tuyến tính đa biến 48
3.6.1 Kiểm tra trị số Durbin-Watson 48
3.6.2 Kiểm tra độ phù hợp của mô hình hồi quy 48
3.6.3 Kiểm tra ý nghĩa của hệ số hồi quy và kiểm tra đa cộng tuyến VIF 49
3.7 Kết luận 49
3.8 Đề xuất một số giải pháp khắc phục tình trạng chậm tiến độ 50
3.8.1 Một số giải pháp đối với yếu tố chủ đầu tư 50
3.8.2 Một số giải pháp đối với yếu tố nhà thầu thi công 53
Trang 83.8.3 Một số giải pháp đối với yếu tố đơn vị tư vấn 55
3.8.4 Một số giải pháp đối với yếu tố ngoại vi 55
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC 01 59
PHỤ LỤC 02 62
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SPSS: Phần mềm Statistical Package for the Social Sciences
UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 103.4 Thống kê độ tin cậy hệ số Cronbach’s Alpha (CDT) 39 3.5 Thống kê hệ số tương quan biến tổng (CDT) 39 3.6 Thống kê độ tin cậy hệ số Cronbach’s Alpha (NT) 40 3.7 Thống kê hệ số tương quan biến tổng (NT) 40 3.8 Thống kê độ tin cậy hệ số Cronbach’s Alpha (TV) 40 3.9 Thống kê hệ số tương quan biến tổng (TV) 41 3.10 Thống kê độ tin cậy hệ số Cronbach’s Alpha (NV) 41 3.11 Thống kê hệ số tương quan biến tổng (NV) 41 3.12 Thống kê độ tin cậy hệ số Cronbach’s Alpha (PL) 42 3.13 Thống kê hệ số tương quan biến tổng (PL) 42
3.17 Nhân tố sau khi loại bỏ các biến quan sát thông qua EFA 47
3.20 Kiểm tra độ phù hợp của mô hình hồi quy 48 3.21 Kiểm tra ý nghĩa của hệ số hồi quy và đa cộng tuyến VIF 49
Trang 111.2 Trụ sở làm việc Trung tâm xúc tiến du lịch 10
3.1 Mô tả thời gian làm việc của những người được phỏng vấn 36 3.2 Mô tả tần suất chậm tiến độ của các dự án 37
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đà Nẵng là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương, là đầu tàu kinh tế tại khu vực miền Trung Đầu tư xây dựng có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển của thành phố Đà Nẵng Đây là lĩnh vực tạo ra của cải vật chất lớn cho nền kinh tế Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế thì nhu cầu đầu tư xây dựng lại càng phát triển hơn bao giờ hết
Tuy nhiên, thực tế cho thấy quá trình quản lý xây dựng các dự án đầu tư công trên địa bàn thành phố Đà Nẵng vẫn còn nhiều hạn chế và gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt
là vấn đề dự án đầu tư xây dựng bị mất kiểm soát tiến độ Đến cuối năm 2020, thành phố có 76 dự án trọng điểm, mang tính động lực cần tập trung triển khai trong giai đoạn 2016-2020, gồm: 51 dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách, vốn Trung ương hỗ trợ có mục tiêu; 7 dự án đầu tư từ nguồn vốn của các Bộ, ngành; 18 dự án đầu tư từ nguồn vốn của Nhà đầu tư Đối với 51 dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách và vốn Trung ương hỗ trợ có mục tiêu thì hết năm 2020 mới chỉ có 2 dự án hoàn thành, là dự án Bãi đỗ xe tại
số 255 Phan Châu Trinh giai đoạn 1 và Nhà ở công nhân Khu công nghiệp Hòa Cầm (giai đoạn 1)
Có thể thấy rằng các dự án trọng điểm của thành phố trong giai đoạn 2016-2020 đa
số đều bị chậm tiến độ, gây ra ảnh hưởng tiêu cực đối với cá nhân và xã hội, như: làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, chưa đạt mục tiêu tạo hạ tầng kinh tế đáp ứng môi trường kinh doanh thuận lợi nhằm đảm bảo ổn định nền kinh tế - xã hội Chính vì vậy cần phải thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành dự án đầu tư công trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và đề xuất các giải pháp khắc phục tình trạng này để áp dụng vào các dự án sau này nhằm đưa dự án vào khai
thác hoạt động đúng kế hoạch, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư Do đó, đề tài “Phân tích nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp khắc phục tình trạng chậm tiến độ của các dự án đầu tư công trên địa bàn TP Đà Nẵng” mang tính cấp thiết trong giai đoạn
hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chậm tiến độ hoàn thành các dự án đầu tư công trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nhằm khám phá vai trò của từng nhân tố và tác động qua lại giữa các nhân tố này từ đó đề xuất một số giải pháp cho từng nhóm nhân tố gây chậm tiến độ
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các dự án xây dựng được đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trang 13Phạm vi nghiên cứu chỉ xem xét đến các nguyên nhân chính yếu xuất phát từ các bên trực tiếp tham gia quản lý và thực hiện dự án như chủ đầu tư, nhà thầu tư vấn, nhà thầu thi công và một số nguyên nhân đến từ bên ngoài như yếu tố ngoại vi hay yếu tố pháp lý
Dự án trong nghiên cứu này cũng được xác định là các dự án đầu tư công không phân biệt quy mô
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng để tìm ra nguyên nhân chính yếu dẫn đến tình trạng chậm tiến độ của các dự án đầu tư công trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Nghiên cứu định tính được học viên sử dụng là kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung
và phỏng vấn sâu một số nhà quản lý Mục đích nhằm đánh giá nội dung và hình thức của các câu hỏi trong thang đo nháp để hoàn chỉnh thành thang đo chính thức sử dụng trong nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng được thực hiện qua các giai đoạn: thiết kế mẫu nghiên cứu, thu thập thông tin từ mẫu khảo sát nhà quản lý, nhà thầu tư vấn, nhà thầu thi công thực hiện các dự án đầu tư công trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Phân tích dữ liệu khảo sát bằng phần mềm xử lý SPSS 22.0 nhằm khẳng định các yếu tố cũng như các giá trị và độ tin cậy của các thang đo; kiểm định độ phù hợp của
mô hình nghiên cứu
Từ kết quả nghiên cứu định lượng, tìm ra được các nhân tố chính yếu gây chậm tiến
độ của các dự án đầu tư công trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Sau đó tham khảo ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm lâu năm về quản lý xây dựng để tổng hợp các đề xuất giải pháp cho từng nhân tố gây chậm tiến độ Cuối cùng, tiến hành phân tích ưu nhược điểm của từng giải pháp, chọn ra được một vài giải pháp đơn giản và hiệu quả nhất
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài mà học viên nghiên cứu mang tính thực tế cao, gắn liền với thực trạng hiện nay của các dự án đầu tư công trong Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng
Trong phạm vi đề tài chưa thể đề cập được hết các vấn đề tồn tại một cách toàn diện trên nhiều lĩnh vực của công tác quản lý tiến độ dự án đầu tư xây dựng
Tuy nhiên, về khuôn khổ nhất định, đề tài đã đưa ra các giải pháp một cách tổng quát để hạn chế mức thấp nhất dẫn đến việc chậm tiến độ dự án từ đó áp dụng cho các
dự án khác sẽ triển khai thực hiện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng và tại Việt Nam nói chung
Trang 146 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, bảng biểu và phụ lục, bố cục của luận văn được chia thành 3 chương
Chương 1: Tổng quan về dự án đầu tư công và tình hình chậm tiến độ của các dự án trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Nội dung chương 1 là đánh giá tình hình chậm tiến độ của các dự án đầu tư công trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và phân tích một số dự án trọng điểm bị chậm tiến độ Chương 2: Cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu liên quan và quy trình nghiên cứu Nội dung chương 2 là trình bày một số nghiên cứu trước đây về các nhân tố gây chậm tiến độ của các dự án đầu tư Chương này cũng trình bày quy trình nghiên cứu, xác định kích thước mẫu, lựa chọn kỹ thuật lấy mẫu và thu thập dữ liệu Trong quy trình này học viên nêu đề xuất phương pháp nghiên cứu và các giả thiết nghiên cứu Nêu cụ thể về mẫu dữ liệu nghiên cứu, xây dựng thang đo và phương pháp phân tích, phương pháp hồi quy và kiểm định mô hình để xác định kết quả nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Nội dung Chương 3 trình bày kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tiến độ thi công của các dự án đầu tư công trên địa bàn Đà Nẵng Từ kết quả nghiên cứu, học viên đánh giá và xếp hạng được mức độ ảnh hưởng của 5 nhóm nhân tố đến tiến độ của
dự án và đề xuất một số giải pháp về quản lý dự án đầu tư công tại Đà Nẵng, góp phần giải quyết tình trạng chậm tiến độ
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÔNG VÀ TÌNH HÌNH CHẬM TIẾN ĐỘ CỦA CÁC DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
1.1 Tổng quan về dự án đầu tư công
1.1.1 Khái niệm về dự án đầu tư công
Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 của Quốc hội ban hành ngày 18/6/2014 có nêu:
“Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để
tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng
nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong
thời hạn và chi phí xác định”
Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14, thay thế Luật Đầu tư công số 49/2014/QH14,
có hiệu lực từ ngày 1/1/2020 đã quy định tại Khoản 13 Điều 4 về Dự án đầu tư công “là
dự án sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư công” và tại Khoản 22 Điều 4: “Vốn
đầu tư công quy định tại Luật này bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước; vốn từ nguồn thu
hợp pháp của cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư theo quy
định của pháp luật”
1.1.2 Phân loại vốn đầu tư công
a) Vốn ngân sách nhà nước:
Vốn ngân sách nhà nước là nguồn vốn sử dụng để đầu tư vào các hoạt động đầu tư
công từ ngân sách trung ương hoặc địa phương để thực hiện xây dựng hạ tầng kinh
- Vốn ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu cho địa phương là vốn thuộc ngân
sách trung ương bổ sung cho địa phương để đầu tư chương trình, dự án đầu tư công
theo nhiệm vụ cụ thể
b) Vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập
dành để đầu tư:
Đây là nguồn vốn được lấy từ nguồn thu tại các cơ quan nhà nước hoặc đơn vị sự
nghiệp công lập được cấp có thẩm quyền quyết định sử dụng để đầu tư vào các đối tượng
đầu tư công phù hợp
Trang 16Nguồn vốn đầu tư công này phụ thuộc rất nhiều vào nguồn thu của các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập, do đó nguồn vốn này thường không thường xuyên
và chủ yếu được phân bổ khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền
1.1.3 Trình tự thực hiện dự án đầu tư xây dựng
Trình tự thực hiện đầu tư dự án xây dựng được quy định tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP của Chính Phủ ban hành ngày 03/3/2021 như sau:
a) Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng phục vụ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng; lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi để phê duyệt/quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị
dự án;
b) Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; vận hành, chạy thử; nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng; bàn giao công trình đưa vào sử dụng
và các công việc cần thiết khác;
c) Giai đoạn kết thúc xây dựng gồm các công việc: Quyết toán hợp đồng xây dựng, quyết toán dự án hoàn thành, xác nhận hoàn thành công trình, bảo hành công trình xây dựng, bàn giao các hồ sơ liên quan và các công việc cần thiết khác
1.1.4 Sự khác nhau của dự án đầu tư công và dự án thuộc khu vực tư nhân
Chủ
đầu tư
Là các cơ quan nhà nước, các đơn vị
sự nghiệp công lập được giao nhiệm
vụ quản lý dự án bởi người quyết định
đầu tư và phải tuân theo quy định của
pháp luật, công khai bằng văn bản
Người quyết định đầu tư được toàn quyền lựa chọn chủ đầu tư theo ý muốn Thường thì người quyết định đầu tư sẽ là chủ đầu tư
Nguồn
vốn
Chủ đầu tư chỉ được Nhà nước giao
vốn theo kế hoạch đầu tư công trung
hạn và Kế hoạch vốn đầu tư hàng năm
được Hội đồng Nhân dân thông qua
phụ thuộc vào dự toán ngân sách dành
cho đầu tư hàng năm của Chính phủ
hoặc Chính quyền địa phương
Nguồn vốn của dự án được xác định
rõ ràng cụ thể ngay từ đầu và thường không bị giới hạn giải ngân theo năm
Pháp
lý
Phải tuân thủ nghiêm ngặt hàng loạt
các quy định của Luật Ngân sách,
Luật Xây dựng, Luật Đầu tư công và
Luật Đấu thầu và các Luật có liên
Chỉ phải tuân thủ một số điều của Luật Xây dựng liên quan đến quy hoạch, việc sử dụng đất và bảo vệ môi trường
Trang 17quan đối với các dự án có tính chất
quy mô lớn, ảnh hưởng đến kết cấu hạ
tầng khác
Chi
phí
đầu tư
Phải tuân theo các quy định do nhà
nước ban hành trong quá trình lập
thẩm định và phê duyệt Tổng mức
đầu tư, dự toán
Được toàn quyền xác định chi phí đầu tư phù hợp với thực tế và bảo đảm mục tiêu và hiệu quả đầu tư của
dự án
1.2 Khái niệm và hậu quả của chậm tiến độ
1.2.1 Khái niệm chậm tiến độ
Chậm tiến độ trong dự án xây dựng có thể được định nghĩa là sự vượt quá thời gian
so với thời gian dự kiến hoàn thành toàn bộ dự án từ bước lập dự án cho đến khi nghiệm thu hoàn thành đưa vào sử dụng
Chậm tiến độ trong dự án xây dựng xuất hiện trong tình huống vì một số lý do nào
đó, có thể do chủ đầu tư, nhà thầu hay các bên liên quan khác, làm cho công việc không thể hoàn thành theo thời gian dự định
Tại Việt Nam, chậm tiến độ trong các dự án xây dựng nói chung là một vấn đề mà gần đây các phương tiện thông tin đại chúng thường hay đề cập Chậm tiến độ trong dự
án xây dựng mang lại rất nhiều hậu quả Đối với chủ đầu tư, chậm tiến độ có thể làm phát sinh chi phí như những chi phí phát sinh do lãi vay ngân hàng, chi phí thời gian vì
dự án kéo dài và các ảnh hưởng khác Đối với nhà thầu thi công, chậm tiến độ đồng nghĩa với chi phí tăng cao trong đó có thể là thời gian làm việc dài hơn, gia tăng các chi phí nhân công, chi phí nguyên vật liệu, chi phí thiết bị, mất uy tín trong kinh doanh và các ảnh hưởng xấu
Chậm tiến độ nghiêm trọng và chậm tiến độ không nghiêm trọng (Critical & NonCritical delay): Độ nghiêm trọng của chậm tiến độ được xét dựa trên chậm tiến độ
có hay không ảnh hưởng đến toàn bộ tiến độ của dự án Thực tế, có nhiều chậm tiến độ không ảnh hưởng đến đến sự hoàn thành của toàn bộ dự án hay các mốc quan trọng, các chậm tiến độ này được xem là chậm tiến độ không quan trọng Chậm tiến độ có thể gây ảnh hưởng đến tiến độ của toàn dự án được xem là chậm tiến độ nghiêm trọng
Ngoài ra, có thể phân chia thành 2 dạng chậm tiến độ cơ bản là chậm tiến độ có thể tha thứ được và chậm tiến độ không thể tha thứ được
Chậm tiến độ không thể tha thứ được: là dạng chậm tiến độ gây ra do nhà thầu không tuân thủ hợp đồng đã được thỏa thuận hoặc do các bên cung cấp dịch vụ cho nhà thầu gây ra chậm tiến độ Nhà thầu thường phải chịu trách nhiệm chính và phải đền bù khoảng thời gian chậm trễ cho chủ đầu tư Nguyên nhân gây ra chậm tiến độ loại này có thể là
do thầu phụ chậm tiến độ, nhà thầu quản lý công trình không hiệu quả, tài chính của nhà
Trang 18thầu không đáp ứng được yêu cầu, thiếu lao động, không đáp ứng được kế hoạch thi công đề ra và các nguyên nhân khác
Chậm tiến độ có thể tha thứ được: là chậm tiến độ gây ra bởi việc hành động hay không hành động của chủ đầu tư Khi nhà thầu gặp dạng nhân tố gây ra chậm tiến độ loại này, họ có thể kéo dài thời gian thi công hoặc được đền bù do sự chậm tiến độ vì dạng chậm tiến độ này làm nhà thầu phát sinh các chi phí thêm Sự chậm tiến độ này thường được gây ra bởi các tình huống không lường được và không phải là lỗi của nhà thầu như: thiên tai, động đất, dịch bệnh, lũ lụt…
1.2.2 Hậu quả của chậm tiến độ
Hậu quả của chậm tiến độ gây ảnh hưởng khác nhau cho các bên tham gia vào dự
án Một trong các hậu quả thường gặp là mất thời gian, tiền bạc và khả năng dự án bị thu hồi Đối với chủ đầu tư, chậm tiến độ có nghĩa là mất nguồn thu có được từ dự án hoặc tiếp tục phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng hiện hữu Đối với nhà thầu, chậm tiến độ sẽ dẫn đến việc mất thêm tiền để chi trả cho các trang thiết bị và người lao động Ngoài ra, vốn ứng trước của nhà thầu đã chi vào các dự án rất khó để thu hồi Đối với công chúng, các dự án xây dựng và các dự án cơ sở hạ tầng chưa được đưa vào để sử dụng đúng theo quy hoạch làm cho người dân phải tiếp tục sử dụng chia sẻ các cơ sở hạ tầng hiện hữu
và cũ kỹ Đối với Nhà nước, Chính phủ bị mất các nguồn thu do chậm đưa vào sử dụng các công trình và cơ sở hạ tầng mới Đối với bản thân dự án, chậm tiến độ khiến hầu hết các dự án phải chịu thêm gánh nặng chi phí gia tăng khi hoàn thành muộn hơn kế hoạch Trong một nghiên cứu khác, Aibinu và Jagboro (2002) xác định các hậu quả của chậm tiến độ bao gồm: kế hoạch thực hiện bị vi phạm; vượt dự toán; các bên tranh chấp, phải nhờ đến trọng tài tham gia phân xử; dự án bị đình chỉ hoặc hủy bỏ và các bên tiến hành kiện tụng lẫn nhau khi nghiên cứu những ảnh hưởng của chậm tiến độ trong xây dựng đối với các dự án trong ngành công nghiệp xây dựng ở Nigeria Kết quả này cũng được Sambasivan và Soon (2007) xác nhận trong nghiên cứu nguyên nhân và hậu quả của chậm tiến độ của các công trình xây dựng công nghiệp ở Malaysia Trong khi đó, Koushki và Kartam (2004) kết luận rằng chậm tiến độ ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện dự án của các nhà thầu và góp phần tác động tiêu cực trong xây dựng như tranh chấp hợp đồng, năng suất thấp và tăng chi phí xây dựng, ảnh hưởng đến mục tiêu các
dự án
1.3 Tổng quan hình hình chậm tiến độ của các dự án đầu tư công
Đến cuối năm 2020, thành phố có 76 dự án trọng điểm, mang tính động lực cần tập trung triển khai trong giai đoạn 2016-2020, gồm: 51 dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách, vốn Trung ương hỗ trợ có mục tiêu; 7 dự án đầu tư từ nguồn vốn của các Bộ, ngành; 18 dự án đầu tư từ nguồn vốn của Nhà đầu tư Đối với 51 dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách và vốn Trung ương hỗ trợ có mục tiêu thì hết năm 2020 mới chỉ có 2 dự
Trang 19án hoàn thành, là dự án Bãi đỗ xe tại số 255 Phan Châu Trinh giai đoạn 1 và Nhà ở công
nhân Khu công nghiệp Hòa Cầm (giai đoạn 1) Đến cuối năm 2020, vốn đầu tư công của
Thành phố giải ngân được 3.594 tỷ đồng (đạt 31% kế hoạch) là rất chậm
1.4 Phân tích một vài dự án của thành phố bị chậm tiến độ
1.4.1 Dự án Nhà làm việc các Ban quản lý và các đơn vị trực thuộc TP Đà Nẵng
Hình 1.1 Nhà làm việc các ban quản lý và đơn vị sự nghiệp trực thuộc
Số ngày chậm tiến độ
Nguyên nhân
01/02/2020 30/4/2020 89
- Kết quả khảo sát chưa đúng với thực tế
- Thay đổi thiết kế trong quá trình thi công
- Dự toán thiếu, dẫn đến phát sinh công việc
- Thời tiết xấu, mưa kéo dài
Dự án này có quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng ngày 18/7/2017 và giao
cho Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp là chủ
đầu tư kiêm điều hành dự án Dự án được phê duyệt với thời gian thi công là 595 ngày,
bắt đầu khởi công vào ngày 16/6/2018 và hoàn thành vào 01/02/2020, tuy nhiên dự án
bị chậm tiến độ và được phê duyệt gia hạn đến 30/4/2020
Trang 20Quy mô xây dựng: Công trình có tổng diện tích sàn xây dựng 25.722 m2, diện tích xây dựng là 3.279 m2 bao gồm sân bãi, cây xanh - cảnh quan, tường rào cổng ngõ, hệ thống hạ tầng kỹ thuật ngoài nhà Khối công trình với quy mô 6 tầng gồm tầng bán hầm cao 3m với diện tích sử dụng 3.432m2 bố trí bãi đỗ xe, phòng kỹ thuật, phòng máy bơm
và phòng máy phát điện, tầng 1 cao 4,2m với diện tích sử dụng 3.561m2, bố trí khu vực văn phòng, khu vệ sinh, sảnh, khu lễ tân, hành lang và cầu thang kèm theo Các tầng 2 đến 6 mỗi tầng cao 3,6m đều bố trí khu vực văn phòng, khu vệ sinh, sảnh, hành lang và cầu thang kèm theo, riêng tầng 4 có bố trí thêm sân vườn ngoài trời và có diện tích sử dụng Tầng 2 là 3.740m2, tầng 3 và tầng 4 mỗi tầng là 3.184m2, tầng 5 và tầng 6 mỗi tầng
có diện tích sử dụng là 3.418 m2, tầng áp mái với diện tích sàn sử dụng 307 m2 bố trí phòng kỹ thuật, bể nước mái, sảnh, hành lang và cầu thang kèm theo
b) Nguyên nhân gây chậm tiến độ
Nguyên nhân thứ nhất là sự khác biệt giữa các điều kiện thực tế so với khi khảo sát thiết kế Công trình thiết kế móng là móng cọc mặc dù đơn vị tư vấn khảo sát thiết kế cũng đã khảo sát để thiết kế móng cọc nhưng trong quá trình thi công cọc thử có sự sai khác với khảo sát, phải tăng thêm chiều sâu ép cọc dẫn đến công trình phải tạm dừng thi công mất 19 ngày từ ngày 30/6/2018 đến 20/7/2018 để chờ tính toán lại chiều dài cọc thử và thí nghiệm lại cọc thử, chờ kết quả thí nghiệm cọc thử Ngoài ra cùng với việc sau khi có biên bản chấp thuận cho ép cọc đại trà, đơn vị thiết kế cũng đã điều chỉnh thiết kế chiều dài ép cọc từ 3 phân vùng cọc dài 17m, 20m, 29m thành 6 phân vùng cọc dài 17m, 20m, 22m, 23m, 25m và 34m dẫn đến mất thêm 8 ngày để đúc cọc chờ đủ cường độ ép vận chuyển đến công trình để ép đại trà
Nguyên nhân thứ 2 là do thay đổi thiết kế cụ thể là trong quá trình thiết kế, đơn vị thiết kế đã bố trí máy phát điện trong tầng hầm của tòa nhà nhưng đã không lường trước được thời tiết mưa ngập dẫn đến ngập trên diện rộng cụ thể là đợt mưa lớn vào ngày 8,9,10/12/2018 đã làm ngập toàn bộ khuôn viên công trình, vỉa hè, đường Võ Văn Ninh
và toàn bộ tầng hầm đang thi công Do đó để đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và an toàn về thiết bị điện vào mùa mưa lụt cho công trình nên đã di dời các máy phát điện ra ngoài tầng hầm công trình và bổ sung nhà máy phát điện tại vị trí ngoài sân vườn công trình làm kéo dài thêm thời gian thi công hạng mục này là 14 ngày
Nguyên nhân thứ 3 là do dự toán thiếu chính xác, các sai sót trong thiết kế và công việc phát sinh dẫn đến điều chỉnh một số công việc như bổ sung vật liệu chống thấm hố thang máy, điều chỉnh bổ sung kích thước bố trí lại kết cấu thép dầm một số vị trí, bổ sung chi tiết thép sàn bậc cấp, bổ sung thiết kế ram dốc, phần cơ điện, và một số điều chỉnh khác như thay đổi vật liệu mái đón cho phù hợp, bổ sung giàn thép trung gian trên trần hội trường lớn để đảm bảo độ ổn định của trần thạch cao, bổ sung các thanh thép
Trang 21hộp tại mặt đứng tòa nhà để đảm bảo thẩm mỹ kiến trúc, bổ sung thoát nước sê nô quanh nhà tại tầng 2… dẫn đến kéo dài thời gian thi công thêm 10 ngày
Ngoài các nguyên nhân trên là do thời tiết xấu, mưa kéo dài ảnh hưởng đến quá trình thi công là 40 ngày (theo nhật ký công trình) trong đó công trình phải tạm dừng hẳn là
6 ngày (ngày 03/10/2018, 09/12/2018 đến ngày 13/12/2018) Do đó cũng làm kéo dài thêm thời gian thi công tại dự án
1.4.2 Dự án Trụ sở làm việc Trung tâm xúc tiến du lịch
Hình 1.2 Trụ sở làm việc Trung tâm xúc tiến du lịch a) Mô tả dự án
Số ngày chậm tiến độ
Nguyên nhân
28/7/2019 30/5/2020 307
- Kết quả khảo sát chưa đúng với thực tế
- Thay đổi thiết kế trong quá trình thi công
- Nhà thầu tập kết vật tư, thiết bị chậm trễ
- Vị trí thi công không thuận lợi
Trang 22Dự án này có quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng ngày 28/10/2017 và giao cho Sở du lịch thành phố Đà Nẵng là chủ đầu tư Dự án được phê duyệt với thời gian thi công là 210 ngày, bắt đầu khởi công vào ngày 18/12/2018 và hoàn thành vào 28/7/2019 Sau đó UBND thành phố có công văn số 5399/UBND-HTPTĐT ngày 10/8/2019 cho gia hạn tiến độ hoàn thàn đến hết ngày 18/1/2020 Tuy nhiên dự án vẫn chưa hoàn thành đúng tiến độ được gia hạn và UBND thành phố chấp nhận gia hạn lần 2 theo công văn
số 2601/ UBND-HTPTĐT ngày 20/04/2020 về việc bổ sung điều khối lượng và gia hạn tiến độ đến hết ngày 30/5/2020
Quy mô xây dựng: Trụ sở làm việc Trung tâm xúc tiến du có quy mô 5 tầng + tầng hầm với tổng diện tích sàn xây dựng 1.104m2 Trong đó tầng hầm với diện tích 124m2
bố trí khu vực để xe; Tầng 1 với diện tích 210m2 bố trí Quầy giao dịch, và khu vực không gian đa năng triển lãm, chiếu phim và trưng bày; Tầng 2 với diện tích 217m2 bố trí phòng Giám đốc, Phó Giám đốc, phòng Xúc tiến thị trường, phòng hành chính sự nghiệp, kế toán; Tầng 3 với diện tích 204m2 bố trí phòng truyền thông du lịch và phòng truyền thông mạng, phòng Phó Giám đốc và phòng Đào tạo dịch vụ; Tầng 4 với diện tích 225,2m2 bố trí phòng sinh hoạt chuyên đề và phòng hội nghị kết hợp phòng họp; Tầng 5 diện tích 124m2 bố trí kho lưu trữ, ấn phẩm
b) Nguyên nhân gây chậm tiến độ
Nguyên nhân thứ nhất là sự khác biệt giữa các điều kiện thực tế so với khi khảo sát thiết kế Đơn vị tư vấn khảo sát phần ngầm không đo đạc kỹ dẫn đến sai sót cụ thể là kích thước được phê duyệt và hiện trạng thực tế thửa đất tại công trình có sự sai khác, trong quá trình thực hiện biện pháp ép cừ để triển thi công phần móng thì phát hiện có
sự chồng lấn móng nhà của hộ dân lân cận sang khu đất thuộc dự án đang xây dựng nên không triển khai thi công cừ và móng theo hồ sơ thiết kế được phê duyêt Do đó công trình phải tạm dừng thi công từ ngày 28/1/2019 để chờ điều chỉnh, bổ sung phê duyệt lại báo cáo kinh tế kỹ thuật để đảm bảo thi công phần móng theo hiện trạng thực tế Với thời gian tạm dừng thi công như trên tính từ khi khởi công đến khi tạm dừng thì công công trình mới chỉ thi công được 30 ngày và tạm dừng cho đến khi triển khai lại làm phát sinh tiến độ lên 180 ngày
Nguyên nhân thứ 2 liên quan đến hồ sơ thiết kế - dự toán, bên cạnh việc khảo sát sai khác so với thiết kế như trên dẫn đến dự án còn phát sinh thêm vấn đề thay đổi kết cấu,
dự án còn phát sinh thêm một số công tác thuộc phần cơ điện làm phát sinh chi phí lên 113.699.000 đồng Đồng thời trong trong quá trình điều chỉnh thì không điều chỉnh đồng
bộ, đơn vị thẩm tra không phát hiện và điều chỉnh kịp thời, chủ đầu tư cũng thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra rà soát hồ sơ Ngoài ra, còn có các yếu tố liên quan đến nhà thầu như cung cấp tập kết thiết bị, vật tư chậm trễ dẫn đến kéo dài thời gian 73,5 ngày
Trang 23Ngoài những nguyên nhân trên dự án cũng liên quan đến yếu tố khách quan như ảnh hưởng của thời tiết và điều kiện làm việc tại công trường không thuận lợi do công trường nằm ở vị trí bên hông chợ Hàn nơi có mật độ giao thông lớn thường xuyên tập trung đông người xe chở vật liệu hay bê tông chỉ được vận chuyển sau 22h Ngoài ra dự án này còn có yếu tố liên quan đến trở ngại do các quy định của nhà nước vào những ngày
Lễ, Tết cơ quan nhà nước có thẩm quyền có yêu cầu ngừng các phương tiện, máy móc thi công trên các tuyến đường nội thị làm tăng tiến độ lên 17,5 ngày
1.4.3 Dự án Nhà máy nước Hòa Liên Đà Nẵng
Hình 1.3 Nhà máy nước Hòa Liên Đà Nẵng a) Mô tả dự án
- Dịch bệnh COVID-19
- Chậm đền bù GPMB
- Mưa, lũ, bão kéo dài
Dự án nhà máy nước Hòa Liên được phê duyệt UBND TP Đà Nẵng phê duyệt đầu
tư xây dựng với tổng mức đầu tư hơn 1.170 tỉ đồng Mục tiêu đầu tư là xây dựng nhà máy nước có công suất 120.000m3/ngày để cung cấp bổ sung nguồn nước sạch của TP
Trang 24Đà Nẵng Dự án này được UBND TP Đà Nẵng giao cho BQLDA Đầu tư xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp Đà Nẵng điều hành
Dự án nhà máy nước Hòa Liên được khởi công vào ngày 25/3/2020 Dự án là công trình hạ tầng kỹ thuật cấp 1 được thiết kế và xây dựng với các hạng mục đập dâng trọng lực bằng bê-tông cốt thép, với cao trình +12m, cao trình đỉnh cửa van +8m, cao trình đáy tràn +3m, cao trình mực nước chết +5,5m Diện tích xây dựng 13.606m2 Phần mở rộng hạ lưu, xây kè, rọ đá có diện tích 10.332m2 Trạm bơm nước thô, bao gồm các hạng mục chính như: Nhà trạm bơm, nhà điều hành, nhà kho, nhà đặt máy phát điện, nhà bảo vệ, nhà để xe, tường rào cổng ngõ trong phạm vi diện tích khu đất 3.174m2, trong đó diện tích xây dựng 727m2
Thời gian hoàn thành dự án theo hợp đồng là vào ngày 25/6/2021 với 4 hạng mục chính Tuy nhiên, thời gian thi công dự án này chậm tiến độ Ban QLDA đã xin gia hạn thời gian hoàn thành dự án Cụ thể, dự kiến hoàn thành xây lắp, lắp đặt thiết bị trạm bơm nước thô, khu vực nhà máy xử lý nước, tuyến ống nước thô vào ngày 30/6/2021 Hoàn thiện và vận hành chạy thử vào ngày 30/10/2021 Hoàn thành xây lắp, lắp đặt thiết bị cho đập dâng Nam Mỹ vào ngày 30/10/2021 và bắt đầu tích nước cuối tháng 10/2021 Hoàn thiện, vận hành vào ngày 15/12/2021 Tuy nhiên, đến thời hạn gia hạn như nói trên dự án này vẫn chưa thể hoàn thành
b) Nguyên nhân gây chậm tiến độ
Nguyên nhân thứ nhất là do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 Công trình được khởi công xây dựng vào đúng thời điểm dịch bệnh bùng phát trên toàn thế giới nói chung
và Việt Nam nói riêng Từ đầu năm 2020 đến cuối năm 2021, Đà Nẵng có 4 đợt dịch lớn, phải thực hiện phong tỏa giãn cách toàn thành phố Đợt dịch đầu tiên vào đầu tháng
3, tiếp đó là đợt dịch bùng phát vào cuối tháng 7 và trong tháng 8, đợt dịch thứ 3 bùng phát vào khoảng tháng 2/2021, đợt dịch thứ 4 là vào hồi đầu tháng 5/2021
Nguyên nhân thứ 2 là do chậm triển khai đền bù giải phóng mặt bằng Người dân
có đất bị thiệt hại không chịu di dời chỗ ở vì các nguyên nhân như đơn giá đền bù không thỏa đáng, mặt bằng các khu tái định cư chưa hoàn thành, người dân chưa nhận được đất thực tế, khu tái định cư Nam Mỹ thì vẫn chỉ là khu đất trống, không điện, không nước còn khu tái định cư trung tâm xã Hòa Bắc giai đoạn 2 thì mới chỉ có trên sơ đồ Ngoài những nguyên nhân trên dự án cũng liên quan đến yếu tố khách quan như ảnh hưởng của thời tiết, mưa lũ kéo dài
1.5 Sự khác nhau giữa các dự án đầu tư công trên địa bàn TP Đà Nẵng với những vùng khác
Sự khác nhau đầu tiên là về yếu tố chủ đầu tư, tại mỗi vùng miền thì cơ cấu tổ chức các Ban QLDA được thành lập do UBND tỉnh/thành phê duyệt có cách vận hành và làm
Trang 25việc khác nhau, đây là yếu tố về mặt năng lực quản lý của chủ đầu tư Mỗi tỉnh sẽ có các chính sách ưu đãi và chế độ làm việc cho các cán bộ của Ban QLDA khác nhau, trình
độ chuyên môn con người cũng khác nhau, vì vậy chất lượng quản lý dự án của mỗi tỉnh
sẽ khác nhau
Sự khác nhau thứ 2 là về nguồn vốn, đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách thì phải tuân theo dự toán ngân sách nhà nước được duyệt qua các năm, mỗi tỉnh sẽ có mức ngân sách được duyệt khác nhau vì vậy nguồn tiền dành cho dự án cũng sẽ bị hạn chế
Sự khác nhau thứ 3 là về yếu tố đặc điểm vùng miền, đối với các thành phố lớn có dân cư tập trung đông đúc như Đà Nẵng thì sẽ khó khăn đối với các dự án triển khai do vướn mặt bằng thi công Mặc dù có các tỉnh mật độ dân số thưa thớt hơn Đà Nẵng nhưng vẫn có nhiều nơi có mật độ dân số cao hơn như Hà Nội, Hồ Chí Minh,… Tại các thành phố có mật độ cao hơn Đà Nẵng thì việc thi công cũng sẽ khó khăn hơn
Sự khác nhau thứ 4 là về vật liệu thi công, tại mỗi tỉnh sẽ có các mỏ khoáng sản khác nhau dẫn đến việc giá vật liệu đến chân công trình cũng sẽ khác nhau Ví dụ như tại Đà Nẵng thì có thế mạnh về khai thác cát, đá,…
1.6 Kết luận chương 1
Có thể thấy hầu hết các dự án đầu tư công đều bị chậm tiến độ so với kế hoạch đề
ra Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này bao gồm cả nguyên nhân khách quan
và chủ quan Nguyên nhân đầu tiên đến từ đơn vị tư vấn thiết kế Kết quả khảo sát địa hình, địa chất chưa sát với thực tế làm tăng thời gian thi công do phải lập và phê duyệt lại phương án thi công phù hợp Nguyên nhân thứ 2 là do Phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng chưa thực sự thỏa đáng nên người dân không chịu bàn giao mặt bằng thi công Nguyên nhân thứ 3 do Đơn vị tư vấn lập tiến độ thi công chưa sát với thực tế, chưa lường hết được các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thi công Nguyên nhân thứ 4
là về phía nhà thầu thi công khi triển khai thi công gặp các yếu tố chưa lường hết được
ở khâu thiết kế hoặc kết quả khảo sát địa hình – địa chất chưa chính xác Nguyên nhân thứ 5 là do thay đổi thiết kế trong quá trình thi công, hoặc dự toán lập thiếu dẫn đến phát sinh thêm hạng mục Một nguyên nhân khách quan khác cũng ảnh hưởng lớn đến tiến
độ thi công là tình hình dịch bệnh covid-19 và mưa lũ kéo dài
Chậm tiến độ gây ảnh hưởng không tốt cho tất cả các bên tham gia vào dự án và cũng ảnh hưởng đến người dân sinh sống ở khu vực lân cận công trình hoặc nằm trong diện đền bù giải phóng mặt bằng Học viên cho rằng việc tìm ra nguyên nhân gây chậm tiến độ của các dự án đầu tư công trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, từ đó nghiên cứu các giải pháp khắc phục là một việc cần thiết
Trang 26CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT, CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN VÀ QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Các nghiên cứu về yếu tố gây chậm tiến độ dự án
Có rất nhiều nghiên cứu đi tìm nguyên nhân của việc chậm tiến độ các dự án, trải dài trong khoảng thời gian từ những năm 1990 đến năm 2010 Các nghiên cứu này có thể phân thành 02 loại chính: nghiên cứu tìm những nguyên nhân cụ thể hoặc nghiên cứu tìm những nhóm nguyên nhân của việc chậm tiến độ các dự án
Ogunlana và Promkuntong (1996) [1] đã nghiên cứu nguyên nhân sự chậm trễ trong các dự án xây dựng tại Bangkok, Thái Lan và so sánh kết quả với các nghiên cứu khác trên thế giới, từ đó tìm ra các nguyên nhân gây ra sự chậm trễ trong xây dựng ở các nước đang phát triển Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng nguyên nhân gây chậm trễ của ngành xây dựng ở các nước đang phát triển phải đối mặt, bao gồm: (i) Các vấn đề về thiếu hụt hoặc bất cập trong cơ sở hạ tầng ngành công nghiệp (chủ yếu là việc cung cấp các nguồn nguyên vật liệu); (ii) Các vấn đề gây ra bởi khách hàng và phía tư vấn và (iii) Các vấn
đề gây ra do nhà thầu thiếu năng lực thực hiện
Cũng với cách tiếp cận để tìm các nguyên nhân của sự chậm trễ, Al-Momani (2000) [2] tiến hành phân tích định lượng về sự chậm trễ trong xây dựng ở Jordan Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nguyên nhân chính của sự chậm trễ trong xây dựng công trình công cộng có liên quan đến vấn đề thiết kế, thay đổi người sử dụng, thời tiết, điều kiện thi công, chậm bàn giao công trình, các vấn đề về kinh tế và sự gia tăng về số lượng công trình Tương tự, Odeh và Battaineh (2002) [3] nghiên cứu nguyên nhân của sự chậm trễ các dự án xây dựng ở Jordan từ quan điểm của các nhà thầu xây dựng và tư vấn cho thấy sự can thiệp của chủ đầu tư, sự thiếu kinh nghiệm của nhà thầu, tài chính
và thanh toán, năng suất lao động, ra quyết định chậm, quy hoạch không phù hợp và quá nhiều nhà thầu phụ là những yếu tố quan trọng nhất của sự chậm trễ
Tổng quát hơn, Sambasivan và cộng sự (2007) [4] xác định 10 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự chậm trễ từ một danh sách 28 nguyên nhân khác nhau và 06 tác động của sự chậm trễ 10 nguyên nhân quan trọng bao gồm: (i) Lập kế hoạch không đầy đủ của nhà thầu; (ii) Giám sát thực hiện kém; (iii) Kinh nghiệm yếu kém của nhà thầu; (iv) Tài chính yếu kém của đối tác và khả năng thanh toán cho các công việc đã hoàn thành; (v) Vấn đề với các nhà thầu phụ; (vi) Thiếu hụt nguyên liệu; (vii) Thiếu hụt cung lao động; (viii) Thiết bị lạc hậu và hư hỏng; (ix) Thiếu sự phối hợp giữa các bên và (x) Các sai lầm trong giai đoạn thi công Ở cách tiếp cận theo từng nhóm nguyên nhân ảnh hưởng đến chậm tiến độ các dự án, Ogunlana và Promkuntong (1996) [1] đi tìm nguyên nhân của sự chậm trễ trong các dự án xây dựng tại Bangkok, Thái Lan, bao gồm: (i) Vấn đề thiếu hụt hoặc bất cập trong cơ sở hạ tầng ngành công nghiệp (chủ yếu là cung cấp các nguồn lực); (ii) Vấn đề gây ra bởi chủ đầu tư và tư vấn; (iii) Vấn đề gây ra do nhà thầu
Trang 27thiếu năng lực Các nguyên nhân phát sinh từ các bên liên quan đến dự án cũng được Ahmed và cộng sự (2003) [5] thừa nhận và bổ sung một số nguyên nhân gây chậm trễ khác như từ chính phủ, các nhà cung cấp nguyên vật liệu, hoặc thời tiết
Sau đó, Chan và Kumaraswamy (1997) [6] đã nghiên cứu những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thời gian xây dựng các dự án ở Hồng Kông Nghiên cứu đưa ra 83 yếu
tố chậm trễ được tập hợp thành 08 nhóm lớn để khảo sát Các nhóm khác nhau được phân loại trên cơ sở: (i) Vai trò của các bên trong ngành công nghiệp xây dựng (khách hàng/chủ đầu tư, tư vấn hoặc nhà thầu) và (ii) Loại dự án Kết quả cho thấy 05 nguyên nhân chủ yếu và phổ biến của sự chậm trễ là yếu kém trong quản lý rủi ro và giám sát; những điều kiện ảnh hưởng đến dự án mà không lường trước được; sự chậm trễ trong việc ra quyết định liên quan đến dự án; các nhu cầu khác nhau của khách hàng và sự thay đổi thời gian thực hiện dự án
Ở một cách phân loại khác, Odeyinka và Yusif (1997) [7] đã phân loại các nguyên nhân của sự chậm trễ thành các yếu tố có tác động trực tiếp và các yếu tố có tác động gián tiếp trong nghiên cứu về những nguyên nhân của sự chậm trễ của các dự án xây dựng ở Nigeria Các yếu tố trực tiếp gây ra sự chậm trễ đến từ nhóm: (i) Khách hàng bao gồm sự thay đổi trong đơn đặt hàng, ra quyết định và các vấn đề về dòng tiền; (ii) Nhóm nhà thầu (do khó khăn về tài chính, vấn đề quản lý nguyên liệu, lập và thực thi
kế hoạch chưa chính xác, thiếu kiểm tra giám sát hoạt động, vấn đề về quản lý thiết bị
và tình trạng thiếu nhân lực); (iii) Yếu tố gián tiếp có liên quan đến sự chậm trễ của dự
án được xác định là thời tiết khắc nghiệt, thiên tai, các tranh chấp lao động và đình công; (iv) Tư vấn chậm hoàn thành các bản vẽ thiết kế
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Majid và McCaffer (1998, dẫn theo Claire và cộng sự, 2004) [8] đã phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến sự chậm trễ thành 12 nhóm: sự chậm trễ liên quan đến nguyên vật liệu; sự chậm trễ liên quan đến lao động; sự chậm trễ liên quan đến thiết bị; sự chậm trễ liên quan đến tài chính; quy hoạch không phù hợp; thiếu kiểm soát; sự chậm trễ liên quan đến nhà thầu phụ; phối hợp kém; giám sát không đầy đủ; phương pháp xây dựng không đúng; tình trạng thiếu nhân viên kỹ thuật và giao tiếp kém
Chi tiết hơn, Alaghbari và cộng sự (2005) [9] đề cập những yếu tố có thể gây ra sự chậm trễ trong các dự án xây dựng ở Malaysia như sau: (i) Trách nhiệm của nhà thầu, gồm: sự chậm trễ trong việc cung cấp nguyên vật liệu cho công trường; thiếu nguyên liệu trên công trường; sai lầm trong xây dựng và làm việc khiếm khuyết; lao động thiếu
kỹ năng và kinh nghiệm; thiếu lao động tại chỗ; năng suất lao động thấp; vấn đề tài chính; vấn đề phối hợp với những người khác; nhà thầu phụ thiếu các kỹ năng; thiếu cán
bộ của nhà thầu tại công trường; quản lý công trường kém; thiếu thiết bị và công cụ trên công trường (ii) Trách nhiệm của tư vấn, gồm: sự vắng mặt của nhân viên tư vấn tại
Trang 28công trường; các chuyên gia tư vấn thiếu kinh nghiệm; đội ngũ nhân viên công trường của nhà tư vấn thiếu kinh nghiệm quản lý và giám sát; trì hoãn, chậm đưa ra quyết định; tài liệu không đầy đủ; chậm trễ trong việc đưa ra hướng dẫn (iii) Trách nhiệm của chủ đầu tư, gồm: thiếu kiến thức làm việc; chậm trễ trong việc đưa ra quyết định; thiếu sự phối hợp với các nhà thầu; sửa đổi hợp đồng (thay thế và bổ sung các công việc mới cho
dự án và thay đổi thông số kỹ thuật); vấn đề tài chính (các khoản thanh toán bị chậm trễ, khó khăn tài chính và các vấn đề kinh tế) (iv) Các yếu tố bên ngoài, gồm: thiếu nguyên liệu trên thị trường; thiếu trang thiết bị và các công cụ trên thị trường; điều kiện thời tiết xấu; điều kiện công trường kém (vị trí, mặt bằng, …); điều kiện kinh tế kém (tiền tệ, lạm phát, …); những thay đổi về pháp luật và các quy định; các cơ quan công ích (đường giao thông, các tiện ích và dịch vụ công cộng)
Tổng quát hơn, Assaf và Al-Hejji (2006) [10] đã tiến hành một cuộc khảo sát về thời gian thi công của các dự án xây dựng lớn ở Vương quốc Ả Rập Saudi Cuộc khảo sát chỉ ra 73 nguyên nhân khác nhau của sự chậm trễ, phân theo nhóm nhà thầu, nhà tư vấn và chủ đầu tư Nghiên cứu đã xác định được nguyên nhân quan trọng nhất là do sự chậm trễ trong việc chuẩn bị và phê duyệt bản vẽ thi công, sự chậm trễ trong tiến độ thi công của nhà thầu và thanh toán của chủ đầu tư Ngoài ra, việc thay đổi thiết kế dự án cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự chậm trễ của công trình Al-Kharashi (2009) [11]
đã chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến việc các dự án trong khu vực công tại Vương quốc
Ả Rập Saudi hoàn thành không đúng tiến độ kế hoạch ban đầu trong vòng 03 thập kỷ Nghiên cứu này khảo sát 07 nhóm đối tượng khảo sát khác nhau: khách hàng, nhà thầu,
tư vấn, nhà cung cấp vật tư, người lao động, hợp đồng và các yếu tố liên quan đến mối quan hệ Nghiên cứu đã chỉ ra rằng chậm tiến độ của bất cứ một dự án nào cũng đều ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí đầu tư của chính dự án đó và ảnh hưởng nghiêm trọng đến
kế hoạch chi tiêu của Chính phủ, của nhà thầu và dẫn đến 03 hệ quả: (i) Thời gian thi công sẽ dài hơn; (ii) Chi phí đầu tư xây dựng phát sinh tăng; (iii) Vốn lưu động của nhà thầu sẽ “chôn” vào dự án chậm tiến độ
Bảng câu hỏi của nghiên cứu được Al-Kharashi thiết kế để khảo sát với thang đo 05 bước từ 0 đến 4 với ý nghĩa từ Không có tác động đến tác động mạnh được gửi đến những người có liên quan Kết quả khảo sát bao gồm: 40% nhà thầu, 36% tư vấn, 24% chủ đầu tư, trong đó có 81% có ít nhất 10 năm kinh nghiệm, 86% có bằng cử nhân, 14%
có bằng thạc sỹ Hầu hết nội dung được hỏi liên quan đến các dự án trị giá hơn 20 triệu USD Kết quả, ngoài 112 nguyên nhân do nhóm nghiên cứu gợi ý trong bảng câu hỏi, những người được phỏng vấn đã cung cấp thêm 18 nguyên nhân khác có liên quan Nghiên cứu đã nhận diện và ước lượng được các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện
dự án đầu tư công tại Ả Rập Saudi Đặc biệt hơn, nghiên cứu đã chỉ ra 03 ảnh hưởng rất quan trọng của việc chậm tiến độ:
Trang 29Sai lầm trong việc đầu tư chậm tiến độ hôm nay sẽ dẫn đến khủng hoảng trong xây dựng, có liên quan đến vật liệu và lao động
Quá trình đầu tư dự án công có nhiều chủ thể tham gia, mỗi chủ thể đều có ảnh hưởng khác nhau đến thời gian xây dựng công trình Trong đó, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh đến trình độ quản lý của chủ đầu tư (trong trường hợp này là cơ quan Chính phủ)
Sự thiếu am hiểu về kỹ thuật của chủ đầu tư dẫn đến việc không giám sát được các đơn
vị tư vấn và cũng không hiểu được những gì đang xảy ra tại công trình
Sự bất đồng giữa 03 bên liên quan (chủ đầu tư – nhà thầu – tư vấn) là nguyên nhân sâu xa của việc chậm tiến độ Trong đó, thiếu các phương tiện để đo lường chất lượng công trình là nguyên nhân cần quan tâm
Đây là một nghiên cứu kế thừa các nghiên cứu trước đó và khá toàn diện về sự chậm trễ của dự án đầu tư công tại Ả Rập Saudi Nghiên cứu cho rằng trình độ quản lý của chủ đầu tư, sự phối hợp giữa 03 bên có liên quan và số lượng cũng như chất lượng của vật liệu và lao động là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tiến độ của dự án Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn hạn chế khi chỉ khảo sát các dự án lớn (trên 20 triệu USD)
mà bỏ qua các dự án quy mô nhỏ Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng chưa đề cập đến các yếu tố ngoại vi vốn có những ảnh hưởng nhất định đến tiến độ dự án Nhìn chung, các nghiên cứu trước đó về chậm tiến độ các dự án đầu tư đều xoay quanh các nhóm yếu tố chính như sau: nhóm yếu tố bên trong bao gồm nhóm yếu tố liên quan đến chủ đầu tư, nhóm yếu tố liên quan đến nhà thầu, nhóm yếu tố liên quan đến tư vấn; nhóm yếu tố bên ngoài bao gồm nhóm yếu tố liên quan đến chính sách (của Chính phủ) và nhóm yếu tố liên quan đến các yếu tố ngoại vi khác
Vũ Quang Lãm (Tạp chí Phát triển và Hội nhập số 23 – tháng 07/2015) [1] đã chỉ
ra 37 yếu tố gây chậm tiến độ và vượt dự toán đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước
37 yếu tố đó được nhóm thành 5 nhóm nhân tố đại diện với phương sai giải thích 62,8% là: Vấn đề liên quan đến chủ đầu tư, vấn đề liên quan đến nhà thầu, vấn đề liên quan đến đơn vị tư vấn, vấn đề liên quan đến yếu tố ngoại vi, vấn đề liên quan đến tính pháp lý Qua 214 kết quả khảo sát, hầu hết những người tham gia phỏng vấn đều cho rằng tình trạng vượt dự toán và chậm trễ tiến độ của các dự án đầu tư công tại VN là thường xuyên và rất thường xuyên xảy ra (với tỷ lệ lựa chọn là 83,6% của tổng số người được hỏi)
Nghiên cứu đã chỉ ra có sự tương đồng khá lớn giữa các yếu tố gây chậm trễ và vượt
dự toán của dự án đầu tư công ở nhóm nhà thầu và tư vấn: Đó là yếu tố yếu kém năng lực trong tư vấn và thi công (do thiếu kinh nghiệm, không đầy đủ thiết bị, sai lầm trong khảo sát, tổ chức thi công không phù hợp) Cụ thể:
Trang 30- Đối với nhà thầu: Biện pháp tổ chức thi công không phù hợp (36%), thiếu kinh nghiệm và không quan tâm đến tiến độ thi công (38,3%), không đầy đủ thiết bị thi công (40,7%) và thiếu nhân lực thi công (37,9%) cùng với đặt giá chào thầu theo hướng quá thấp (38,3%) là những yếu tố ảnh hưởng mạnh đến tình trạng chậm trễ
và vượt dự toán của dự án đầu tư công tại VN
- Đối với tư vấn: Vấn đề thiếu kinh nghiệm trong thiết kế, thiết kế không phù hợp, thiếu hỗ trợ cho chủ đầu tư và sai lầm trong khảo sát địa chất cũng thuộc về yếu tố năng lực yếu kém cũng giống như bên nhà thầu Đó là những vấn đề cốt yếu được nhiều chuyên gia đánh giá là ảnh hưởng mạnh đến tình trạng chậm trễ và vượt dự toán của dự án đầu tư công tại VN
- Đối với chủ đầu tư: Khả năng tài chính của chủ đầu tư; năng lực quản lý dự án, kéo dài thời gian phê duyệt là những vấn đề được các chuyên gia đánh giá là ảnh hưởng mạnh đến tình trạng chậm trễ và vượt dự toán của dự án đầu tư công tại
VN Trong đó, đáng chú ý là có trên 30% các chuyên gia cho rằng việc ký quá nhiều hợp đồng phụ, đặt giá mời thầu theo hướng thấp và đặc biệt là không có các biện pháp thúc đẩy hoàn thành hợp đồng trước thời hạn đã ảnh hưởng tới việc chậm trễ tiến độ và vượt dự toán
Lâm Long Thịnh, Hà Duy Khánh, Phạm Đức ( Tạp chí Khoa học và Công nghệ Xây dựng số 32 – tháng 01/2017) [2] đã chỉ ra 34 nguyên nhân có khả năng gây chậm tiến
độ dự án ở các tỉnh thuộc đồng bằng Sông Cửu Long Nghiên cứu cũng đề xuất 5 nhóm nhân tố chính gây chậm tiến độ với phương sai giải thích 62,9% là: Nguyên nhân từ chủ đầu tư, nguyên nhân từ đơn vị tư vấn giám sát, nguyên nhân từ đơn vị tư vấn thiết kế, nguyên nhân từ đơn vị thi công, nguyên nhân liên quan đến thủ tục, nguyên nhân khác
2.2 Các yếu tố được chọn
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và kế thừa từ các nghiên cứu của các tác giả khác nhau về các nhân tố ảnh hưởng đến tiến độ dự án, khảo sát ý kiến chuyên gia (nghiên cứu định tính) và phân tích từ số liệu thực tế, đề tài đã chọn được 30 yếu tố chính gây chậm tiến độ của các dự án đầu tư công trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Cụ thể như sau:
1) Có quá nhiều công việc phát sinh do chủ đầu tư yêu cầu
2) Bộ phận thẩm định dự án chưa làm hết khả năng dẫn đến còn nhiều sai sót
3) Phương án đền bù giải phóng mặt bằng chưa thỏa đáng
4) Năng lực của bộ phận được giao quản lý dự án
5) Khó khăn về nguồn vốn đầu tư cho dự án
6) Chậm trễ trong việc nghiệm thu và thanh toán
Trang 317) Không có các biện pháp thúc đẩy hoàn thành hợp đồng trước thời hạn
8) Khả năng tài chính của nhà thầu không ổn định
9) Đặt giá chào thầu theo hướng thấp
10) Thiếu sự phối hợp giữa các nhà thầu
11) Thiếu công nhân có kỹ thuật và kinh nghiệm
12) Thiếu nhân công làm việc trong những ngày chủ nhật, lễ, tết
13) Tổ chức công trường yếu kém, biện pháp thi công chưa hiệu quả
14) Không đầy đủ thiết bị, phương tiện thi công
15) Đơn vị tư vấn lập tiến độ dự án không hợp lý
16) Nhiều lỗi trong hồ sơ thiết kế
17) Chậm trễ trong việc hỗ trợ chủ đầu tư khi thay đổi thiết kế
18) Hồ sơ thiết kế không đầy đủ, không rõ ràng
19) Sai lầm trong khảo sát địa hình, địa chất
20) Tư vấn giám sát quá cứng nhắc, thiếu linh hoạt
21) Tư vấn giám sát thiếu kinh nghiệm dẫn đến sai phạm lớn
22) Điều kiện địa chất, thủy văn không lường trước
23) Ảnh hưởng bởi yếu tố thời tiết
24) Quá trình thi công gặp hang caster, cổ vật, khảo cổ, túi bùn,…
25) Rủi ro trong thi công xây dựng như: Tai nạn, cháy nổ, sự cố trông trình,…
26) Ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa – xã hội
27) Thủ tục pháp lý phức tạp
28) Khó khăn trong đấu thầu
29) Cơ quan quản lý chậm ra quyết định
30) Quy định pháp luật hay thay đổi
2.3 Mô hình nghiên cứu
Từ 30 yếu tố được chọn, sau khi đánh giá và phân loại, học viên đã nhóm các yếu
tố được chọn thành 5 nhóm yếu tố, cụ thể như sau:
- Nhóm yếu tố liên quan đến chủ đầu tư: 7 yếu tố
- Nhóm yếu tố liên quan đến nhà thầu thi công: 7 yếu tố
Trang 32- Nhóm yếu tố liên quan đến đơn vị tư vấn: 7 yếu tố
- Nhóm yếu tố liên quan đến tác động ngoại vi: 5 yếu tố
- Nhóm yếu tố liên quan đến pháp lý: 4 yếu tố
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
2.4 Giả thiết nghiên cứu
Từ mô hình nghiên cứu đề xuất, học viên tiếp tục xây dựng giả thiết nghiên cứu bao gồm 5 biến phụ thuộc và 1 biến độc lập Trong đó:
- Biến phụ thuộc là biến chậm tiến độ
- Biến độc lập là các nhân tố bao gồm: (1) Nhóm yếu tố liên quan đến chủ đầu tư; (2) Nhóm yếu tố liên quan đến nhà thầu; (3) Nhóm yếu tố liên quan đến đơn vị tư vấn; (4) Nhóm yếu tố liên quan đến tác động ngoại vi; (5) Nhóm yếu tố liên quan đến pháp lý
Mối quan hệ giữa biến phụ thuộc với các biến độc lập được diễn giải như sau:
- H1: Nhóm yếu tố liên quan đến chủ đầu tư tương quan cùng chiều với tình trạng chậm tiến độ
- H2: Nhóm yếu tố liên quan đến nhà thầu thi công tương quan cùng chiều với tình trạng chậm tiến độ
- H3: Nhóm yếu tố liên quan đến đơn vị tư vấn tương quan cùng chiều với tình trạng chậm tiến độ
Dự án đầu tư
công tại TP
Đà Nẵng
Liên quan đến chủ đầu tư
Liên quan đến nhà thầu
Liên quan đến tác động ngoại vi
Liên quan đến đơn vị tư vấn
Liên quan đến pháp lý
CHẬM TIẾN ĐỘ
Trang 33- H4: Nhóm yếu tố tác động ngoại vi tương quan cùng chiều với tình trạng chậm tiến độ
- H5: Nhóm yếu tố pháp lý tương quan cùng chiều với tình trạng chậm tiến độ
2.4.1 Nhóm yếu tố liên quan đến chủ đầu tư
1) Có quá nhiều công việc phát sinh do chủ đầu tư yêu cầu: Công việc phát sinh trong quá trình thi công do chủ đầu tư hay nhà thầu không dự tính được khối lượng công việc mà phát sinh thêm trong quá trình thi công điều này dẫn đến chậm trễ tiến độ cho công trình
2) Bộ phận thẩm định dự án chưa làm hết khả năng dẫn đến còn nhiều sai sót: Do năng lực của thẩm định viên, hoặc thẩm định viên thực hiện thẩm định quá nhiều dự án dẫn đến việc không thể thẩm định chính xác được toàn bộ dự án Sai sót trong thẩm định
sẽ dẫn đến chậm tiến độ khi thay đổi thiết kế
3) Phương án đền bù giải phóng mặt bằng chưa thỏa đáng: Thủ tục GPMB còn phức tạp và giá đất GPMB theo định mức của nhà nước còn thấp nên người dân không chịu bàn giao mặt bằng Chậm GPMB sẽ chậm triển khai thi công làm chậm tiến độ dự án 4) Năng lực của bộ phận được giao quản lý dự án: CĐT/BQLDA thiếu năng lực trong việc quản lý dự án có thể dẫn đến những sai sót trong việc điều hành làm kéo dài thời gian thực hiện
5) Khó khăn về nguồn vốn đầu tư cho dự án: Thời gian gần đây, giá các mặt hàng năng lượng, vật tư, nguyên liệu sản xuất tăng đột biến và liên tục biến động, trong khi
hệ thống quy định về định mức, giá xây dựng, suất vốn đầu tư không theo kịp Kinh phí
dự phòng cho dự án thấp, dẫn đến khó khăn khi có các hạng mục hoặc sự cố phát sinh
Cơ quan nhà nước giải ngân vốn chậm làm cho nhà thầu không đủ khả năng chi trả cho đội ngũ kỹ thuật và máy móc thiết bị Dự án triển khai chậm có thể bị cắt vốn
6) Chậm trễ trong việc nghiệm thu và thanh toán: Chủ đầu tư chậm trễ thực hiện nghiệm thu giai đoạn khi có yêu cầu nghiệm thu của nhà thầu làm tăng thời gian chờ nghiệm thu để thực hiện chuyển giai đoạn thi công
7) Không có các biện pháp thúc đẩy hoàn thành hợp đồng trước thời hạn: Chủ đầu
tư không có kinh nghiệm trong quản lý hợp đồng xây dựng, hợp đồng không phạt nặng
về tiến độ dẫn đến việc nhà thầu thi công chậm trễ
2.4.2 Nhóm yếu tố liên quan đến nhà thầu thi công
1) Khả năng tài chính của nhà thầu không ổn định: Nhà thầu không đủ khả năng tài chính để mua vật tư thiết bị hoặc chi trả cho kỹ thuật khi cơ quan nhà nước giải ngân chậm, hoặc không đủ khả năng tài chính để thay đổi biện pháp thi công khi có sự cố
Trang 342) Đặt giá chào thầu theo hướng thấp: Nhà thầu đề xuất giá thấp và sử dụng các biện pháp thi công không đảm bảo an toàn và tiến độ
3) Thiếu sự phối hợp giữa các nhà thầu: Các nhà thầu không phối hợp với nhau khi thực hiện thi công, hoặc có sự mâu thuẫn giữa các nhà thầu làm tăng thời gian thi công
so với kế hoạch
4) Thiếu công nhân có kỹ thuật và kinh nghiệm: Nhà thầu trả lương thấp hoặc chế
độ làm việc không tốt nên khó giữ được công nhân kỹ thuật có kinh nghiệm dẫn đến việc không bố trí kịp thời nhân lực
5) Thiếu nhân công làm việc trong những ngày chủ nhật, lễ, tết: Đây là vấn đề khách quan mà đa số các nhà thầu đều gặp phải Do không có chính sách ưu đãi hoặc thưởng vào các dịp lễ tết cho công nhân ở lại làm
6) Tổ chức công trường yếu kém, biện pháp thi công chưa hiệu quả: Công nghệ thi công là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự thành công của dự án xây dựng Công nghệ thi công mới sẽ giúp đẩy nhanh tiến độ và giảm chi phí cho dự án 7) Không đầy đủ thiết bị, phương tiện thi công: Không có máy móc thiết bị dự phòng khi gặp sự cố hoặc điều chuyển máy móc thiết bị đi thi công các công trình khác
2.4.3 Nhóm yếu tố liên quan đến đơn vị tư vấn
1) Đơn vị tư vấn lập tiến độ dự án không hợp lý: Sai sót trong quá trình lập tiến độ
dự án ít khi xảy ra, tuy nhiên nó ảnh hưởng lớn đến tiến độ khi có sai sót
2) Nhiều lỗi trong hồ sơ thiết kế: Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến chậm tiến độ do phải liên tục điều chỉnh thiết kế
3) Chậm trễ trong việc hỗ trợ chủ đầu tư khi thay đổi thiết kế: Sự thiếu hợp tác của đơn vị tư vấn thiết kế khi có thay đổi thiết kế cũng ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện dự án
4) Hồ sơ thiết kế không đầy đủ, không rõ ràng: Hồ sơ thiết kế không đầy đủ làm cho nhà thầu và đơn vị tư vấn giám sát khó thống nhất được các vấn đề chưa có chỉ dẫn kỹ thuật cụ thể trong thiết kế, dẫn đến kéo dài thời gian thi công
5) Sai lầm trong khảo sát địa hình, địa chất: Đơn vị tư vấn không có đủ kinh nghiệm trong khảo sát địa hình, địa chất dẫn đến xảy ra sự cố khi thi công phải thay đổi thiết kế
và biện pháp thi công Vấn đề này ít khi xảy ra nhưng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ nếu có sai sót
6) Tư vấn giám sát quá cứng nhắc, thiếu linh hoạt: TVGS thiếu năng lực có thể làm chậm tiến độ dự án
Trang 357) Tư vấn giám sát thiếu kinh nghiệm dẫn đến sai phạm lớn: TVGS không phát hiện sai sót dẫn đến sự cố trong thi công cũng làm chậm tiến độ dự án
2.4.4 Nhóm yếu tố liên quan đến tác động ngoại vi
1) Điều kiện địa chất, thủy văn không lường trước: Quá trình khảo sát địa hình địa chất chưa đầy đủ làm xuất hiện các sự cố về địa chất, thủy văn làm tốn thời gian khắc phục sự cố
2) Ảnh hưởng bởi yếu tố thời tiết: Mưa kéo dài, mưa trái mùa, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt kéo dài… có thể là những nguyên nhân làm kéo dài thời gian thực hiện dự án, làm
hư hại công trình trong giai đoạn thi công nhất là các dự án trong giai đoạn hoàn thiện 3) Quá trình thi công gặp hang caster, cổ vật, khảo cổ, túi bùn,…: Làm tăng thời gian thực hiện dự án vì phải xử lý hang caster, túi bùn; đối với cổ vật, khảo cổ thì phải làm việc với cơ quan chức năng để bàn giao cổ vật…
4) Rủi ro trong thi công xây dựng như: Tai nạn, cháy nổ, sự cố trông trình,… 5) Ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa – xã hội: Sự phản đối của người dân đối với dự án làm tăng thêm thời gian để tuyên truyền, vận động người dân Ví dụ như các công trình đường dây, trạm phát sóng, có một vài hộ dân cho rằng trạm phát sóng sẽ ảnh hưởng đến não và thực hiện ngăn cản việc thi công hoặc lén phá hoại công trình
2.4.5 Nhóm yếu tố liên quan đến pháp lý
1) Thủ tục pháp lý phức tạp: Đối với các dự án lớn thì quy trình thực hiện phải trải qua rất nhiều bước và phải làm việc với nhiều ban ngành liên quan
2) Khó khăn trong đấu thầu: Hồ sơ mời thầu lập sai dẫn đến việc không lựa chọn được nhà thầu và phải thực hiện đấu thầu lại Chủ đầu tư chưa có chuyên môn cao trong đấu thầu khiến khâu đấu thầu diễn ra khó khăn
3) Cơ quan quản lý chậm ra quyết định
4) Quy định pháp luật hay thay đổi
2.5 Xây dựng bảng câu hỏi khảo sát
Bảng câu hỏi bao gồm 2 phần chính:
Phần đầu tiên là câu hỏi đánh giá chung về tình hình chậm tiến độ của các dự án đầu
tư công trên địa bàn TP Đà Nẵng hiện nay đang diễn ra như thế nào Thang đo được phát triển dưới hình thức thang đo đơn hướng Likert năm bậc từ 1 đến 5 tương ứng với các mức độ: “không xảy ra”, “ít xảy ra”, “trung bình”, “thường xuyên”, “rất thường xuyên”
Phần thứ hai là khảo sát đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố gây ảnh hưởng đến tình trạng chậm tiến độ dự án Trong phần này gồm 30 câu hỏi ứng với 30 yếu tố
Trang 36Thang đo được phát triển dưới hình thức thang đo đơn hướng Likert năm bậc từ 1 đế 5 tương ứng với mức độ “không ảnh hưởng”, “ít ảnh hưởng”, “ảnh hưởng trung bình”,
“ảnh hưởng lớn”, “ảnh hưởng rất lớn”
Bảng 2.1: Tổng hợp ký hiệu các yếu tố trong mô hình nghiên cứu
I CDT Yếu tố liên quan đến chủ đầu tư
1 CDT1 Có quá nhiều công việc phát sinh do chủ đầu tư yêu cầu
2 CDT2 Bộ phận thẩm định dự án chưa làm hết khả năng dẫn đến còn nhiều
sai sót
3 CDT3 Phương án đền bù giải phóng mặt bằng chưa thỏa đáng
4 CDT4 Năng lực của bộ phận được giao quản lý dự án
5 CDT5 Khó khăn về nguồn vốn đầu tư cho dự án
6 CDT6 Chậm trễ trong việc nghiệm thu và thanh toán
7 CDT7 Không có các biện pháp thúc đẩy hoàn thành hợp đồng trước thời
hạn
II NT Yếu tố liên quan đến nhà thầu thi công
1 NT1 Khả năng tài chính của nhà thầu không ổn định
2 NT2 Đặt giá chào thầu theo hướng thấp
3 NT3 Thiếu sự phối hợp giữa các nhà thầu
4 NT4 Thiếu công nhân có kỹ thuật và kinh nghiệm
5 NT5 Thiếu nhân công làm việc trong những ngày chủ nhật, lễ, tết
6 NT6 Tổ chức công trường yếu kém, biện pháp thi công chưa hiệu quả
7 NT7 Không đầy đủ thiết bị, phương tiện thi công
III TV Yếu tố liên quan đến đơn vị tư vấn
1 TV1 Đơn vị tư vấn lập tiến độ dự án không hợp lý
2 TV2 Nhiều lỗi trong hồ sơ thiết kế
3 TV3 Chậm trễ trong việc hỗ trợ chủ đầu tư khi thay đổi thiết kế
4 TV4 Hồ sơ thiết kế không đầy đủ, không rõ ràng
5 TV5 Sai lầm trong khảo sát địa hình, địa chất
Trang 37STT Ký hiệu Các yếu tố
6 TV6 Tư vấn giám sát quá cứng nhắc, thiếu linh hoạt
7 TV7 Tư vấn giám sát thiếu kinh nghiệm dẫn đến sai phạm lớn
IV NV Yếu tố ngoại vi
1 NV1 Điều kiện địa chất, thủy văn không lường trước
2 NV2 Ảnh hưởng bởi yếu tố thời tiết
3 NV3 Quá trình thi công gặp hang caster, cổ vật, khảo cổ, túi bùn,…
4 NV4 Rủi ro trong thi công xây dựng như: Tai nạn, cháy nổ, sự cố trông
trình,…
5 NV5 Ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa – xã hội
V PL Yếu tố liên quan đến pháp lý
1 PL1 Thủ tục pháp lý phức tạp
2 PL2 Khó khăn trong đấu thầu
3 PL3 Cơ quan quản lý chậm ra quyết định
4 PL4 Quy định pháp luật hay thay đổi
2.6 Xác định kích thước mẫu, lựa chọn kỹ thuật lấy mẫu và thu thập dữ liệu
2.6.1 Xác định kích thước mẫu nghiên cứu
Có nhiều công thức xác định kích thước mẫu, tuy nhiên, các công thức lấy mẫu phức tạp tác giả sẽ không đề cập trong tài liệu này bởi nếu lấy mẫu theo các công thức đó, lượng mẫu nghiên cứu cũng là khá lớn, hầu như chúng ta không đủ thời gian và nguồn lực để thực hiện Do vậy, đa phần chúng ta lấy mẫu trên cơ sở tiêu chuẩn 5:1 của Bollen (1989) [14]
Theo Bollen thì tỷ lệ số mẫu tối thiểu cho một tham số cần ước lượng là 5 mẫu (tỷ
lệ 5:1) Tức là để đảm bảo phân tích dữ liệu (phân tích nhân tố khám phá EFA) tốt thì cần ít nhất 5 quan sát cho 1 biến đo lường và số quan sát không nên dưới 100
Với tính chất và mục tiêu nghiên cứu Đề tài với 30 biến quan sát, học viên đề xuất
số mẫu bằng 5 lần số lượng nhân tố, tức là cần khoảng 150 (30x5) phiếu khảo sát hợp
lệ Trong nghiên cứu này, đề tài dự kiến lấy 160 phiếu khảo sát
2.6.2 Lựa chọn kỹ thuật lấy mẫu
Có 2 kỹ thuật lấy mẫu đó là kỹ thuật lấy mẫu xác suất và kỹ thuật lấy mẫu phi xác suất
Trang 38a) Các phương pháp và kỹ thuật lấy mẫu xác suất
Lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản: Là phương pháp chọn mẫu trong đó mỗi đơn vị của tổng thể được chọn với sự ngẫu nhiên như nhau
Lấy mẫu hệ thống: Là phương pháp chỉ cần chọn ra một con số ngẫu nhiên là có thể xác định được tất cả các đơn vị mẫu cần lấy ra từ danh sách chọn mẫu
Lấy mẫu cả khối/cụm và lấy mẫu nhiều giai đoạn: Với phương pháp lấy mẫu này, đầu tiên tổng thể được chia thành nhiều khối, mỗi khối được coi là một tổng thể con, lấy mẫu ngẫu nhiên m khối, sau đó khảo sát hết các đối tượng trong m mẫu được lấy ra Trong thực tế, sau khi lựa chọn được m mẫu thì trong mỗi khối chọn ra chỉ khảo sát một đơn vị trong khối này mà thôi Lúc này, mỗi khối sẽ là đơn vị mẫu bậc một
Lấy mẫu phân tầng: Sử dụng phương pháp lấy mẫu phân tầng khi các đơn vị khác nhau nhiều về tính chất liên quan đến vấn đề nghiên cứu và khảo sát Phương pháp này, tổng thể nghiên cứu được chia thành các tầng lớp, mục tiêu là để các giá trị của các đối tượng tổng thể ta quan tâm thuộc cùng một tầng càng ít khác nhau càng tốt Sau đó các đơn vị mẫu được chọn từ các tầng này theo các phương pháp lấy mẫu xác suất thông thường như lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản hay lấy mẫu hệ thống
b) Các phương pháp và kỹ thuật lấy mẫu phi xác suất
Lấy mẫu thuận tiện: Phương pháp này được sử dụng trong nghiên cứu khám phá Mẫu thuận tiện còn được dùng trong trường hợp muốn có được một ước lượng sơ bộ về kết quả mà người nghiên cứu quan tâm mà không muốn mất nhiều thời gian, chi phí Lấy mẫu bằng cách đến những nơi mà có nhiều khả năng gặp được đối tượng cần thiết
để khai thác thông tin nếu cảm thấy tiện lợi
Lấy mẫu định mức: Phương pháp lấy mẫu định mức tương tự như lấy mẫu xác suất phân tầng ở chỗ đầu tiên người nghiên cứu phải phân chia tổng thể nghiên cứu thành các tầng Điểm khác biệt cơ bản là trong từng tổng thể con những người phỏng vấn được chọn mẫu tại hiện trường theo cách thuận tiện hay phán đoán, trong khi trong mỗi tầng của chọn mẫu phân tầng thì các đơn vị mẫu được chọn ra theo kiểu xác suất Lấy mẫu phán đoán: Trong phương pháp lấy mẫu phán đoán thì người nghiên cứu chính là người quyết định sự thích hợp của các đối tượng để mời họ tham gia vào mẫu khảo sát Tính đại diện của mẫu khảo sát sẽ phụ thuộc nhiều vào kiến thức, kinh nghiệm người nghiên cứu và người thu thập dữ liệu
Từ các phương pháp lấy mẫu nêu trên và đặc điểm của tổng thể và cân nhắc những điều kiện giới hạn về tài chính và thời gian thực hiện nên tác giả lựa chọn phương pháp lấy mẫu thuận tiện
Trang 392.6.3 Thu thập dữ liệu
Thông qua lựa chọn kỹ thuật phương pháp lấy mẫu thuận tiện, việc thu thập dữ liệu được thực hiện bằng cách phân phát bảng khảo sát đến các kỹ sư của Chủ đầu tư, Tư vấn thiết kế/giám sát, Nhà thầu thi công, Ban quản lý dự án và một số bên liên quan Các bảng khảo sát này gồm 2 loại: bảng khảo sát giấy và file khảo sát được gửi qua các ứng dụng trực tuyến như email, zalo, facebook, skype,…
Sau khi thu thập bảng câu hỏi, tiến hành kiểm tra và loại bỏ những bảng trả lời không hợp lệ (câu trả lời bị thiếu, câu trả lời có nhiều kết quả)
2.7 Các phương pháp phân tích và kiểm định thang đo
Một số phương pháp phân tích được sử dụng trong đề tài như:
- Phương pháp thống kê mô tả;
- Đánh giá độ tin cậy hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha;
- Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) (Exploratory Factor Analysis);
- Phân tích tương quan Pearson;
- Phương pháp phân tích hồi quy đa biến và cuối cùng là kiểm định sự phù hợp các giả thuyết của mô hình nghiên cứu
2.7.1 Phương pháp thống kê mô tả
Thống kê mô tả là việc mô tả dữ liệu bằng các phép tính và các chỉ số thống kê thông thường như chỉ số trung bình (Mean); số trung vị (Median); phương sai (Variance); độ lệch chuẩn (Standar deviation), v.v., cho các biến số liên tục và các tỷ số (proportion) cho các biến số không liên tục Trong phương pháp thống kê mô tả, các đại lượng thống kê chỉ được tính đối với các biến định lượng
2.7.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo
Sử dụng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) để kiểm định độ tin cậy của thang đo
Mục đích việc đánh giá sơ bộ độ tin cậy và giá trị của thang đo để sàng lọc, loại bỏ các biến quan sát không đáp ứng tiêu chuẩn (biến rác) Trong đó Cronbach’s Alpha là phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ (khả năng giải thích cho một khái niệm nghiên cứu) của tập hợp các biến quan sát (các câu hỏi) trong thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha Nhiều nhà nghiên cứu đồng ý rằng khi hệ số Cronbach’s Alpha có giá trị từ 0,8 trở lên đến gần 1,0 là thang đo tốt; từ 0,7 đến gần 0,8 là sử dụng được (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008) [3] ; Nguyễn Đình Thọ (2011) [4] đề nghị hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,6 là có thể sử dụng được
Trang 40Tuy nhiên, Cronbach’s Alpha không cho biết biến nào nên loại bỏ và biến nào nên giữ lại Chính vì vậy, bên cạnh hệ số Cronbach’s Alpha, chúng ta còn sử dụng hệ số tương quan biến tổng (Item-total correlation) và theo Nunnally, J (1978) [12] những biến nào có tương quan biến tổng < 0,3 sẽ bị loại bỏ Sau khi phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, các thang đo được đánh giá tiếp theo bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA)
2.7.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA
Khi kiểm định một lý thuyết khoa học, chúng ta cần đánh giá độ tin cậy của thang
đo (Cronbach’s Alpha) và giá trị của thang đo (EFA) Ở phần trước, chúng ta đã phân tích độ tin cậy thang đo, vấn đề tiếp theo là thang đo phải được đánh giá giá trị của nó Hai giá trị quan trọng được xem xét trong phần này là giá trị hội tụ và giá trị phân biệt
- Thỏa mãn "Giá trị hội tụ": Các biến quan sát hội tụ về cùng một nhân tố
- Đảm bảo "Giá trị phân biệt": Các biến quan sát thuộc về nhân tố này và phải phân biệt với nhân tố khác
Phân tích nhân tố khám phá, gọi tắt là EFA, dùng để rút gọn một tập hợp k biến quan sát thành một tập F (với F < k) các nhân tố có ý nghĩa hơn Trong nghiên cứu, chúng ta thường thu thập được một số lượng biến khá lớn và rất nhiều các biến quan sát trong đó có liên hệ tương quan với nhau Thay vì đi nghiên cứu 30 đặc điểm nhỏ của một đối tượng, chúng ta có thể chỉ nghiên cứu 5 đặc điểm lớn, trong mỗi đặc điểm lớn này gồm những đặc điểm nhỏ có sự tương quan với nhau Điều này giúp tiết kiệm thời gian và kinh phí nhiều hơn cho người nghiên cứu
Tiêu chuẩn Bartlett và hệ số KMO dùng để đánh giá sự thích hợp của EFA Theo
đó, các biến không có tương quan với nhau trong tổng thể bị bác bỏ và do đó EFA được gọi là thích hợp khi: 0,5 ≤ KMO ≤ 1 và sig < 0,05 Trường hợp KMO < 0,5 thì phân tích yếu tố có khả năng không thích hợp với dữ liệu (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008) [3]
Tiêu chuẩn rút trích yếu tố gồm chỉ số Eigenvalue (tổng phương sai trích cho biết phân tích yếu tố giải thích được bao nhiêu % và bao nhiêu % bị thất thoát) Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008) [3] các yếu tố chỉ được rút trích tại Eigenvalue
>1 mới được giữ lại trong mô hình phân tích và được chấp nhận khi tổng phương sai trích ≥ 50% (Nguyễn Đình Thọ, 2011) [4]
Tiêu chuẩn hệ số tải yếu tố (Factor loadings) biểu thị tương quan đơn giữa các biến với các yếu tố, dùng để đánh giá mức ý nghĩa của EFA Theo Hair và cộng sự (1995) [13], Factor loading > 0,3 được xem là đạt mức tối thiểu; Factor loading > 0,4 được xem
là quan trọng, Factor loading > 0,5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn