Phương Đông là một nền văn minh lớn của nhân loại, nó hội tụ nhiềuyếu tố văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị trong đó có nhân học tộc người Đông Phương Đối tượng của Đông phương học là t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TIỂU LUẬN
MÔN: NHẬP MÔN ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
NHÂN HỌC TỘC NGƯỜI PHƯƠNG ĐÔNG
GVHD: PGS.TS HOÀNG VĂN VIỆT
TP HCM, tháng 6/2022
Trang 2THÔNG TIN THÀNH VIÊN NHÓM
STT 1 2 3 4 5
7 8 9 10 11 12 13
14 15
Trang 3MỤC LỤC
Đặt vấn đề
I Lý Thuyết tộc người
1 Tộc người
1.1 Các quan niệm tộc người
1.2 Các tiêu chí phân loại tộc người
2 Quá trình tộc người
2.1 Quá trình tiến hóa tộc người
2.2 Quá trình phân li tộc người
2.3 Quá trình quy tụ tộc người
2.4 Quá trình cố kết tộc người
2.5 Quá trình đồng hóa tộc người
2.6 Quá trình hội nhập giữa các tộc người
II Bức tranh tộc người phương Đông
1 Theo địa giới
1.1 Ở Châu Á
1.1.1 Đông Á
1.1.2 Đông Nam Á
1.1.3 Tây Nam Á
1.2 Ở Bắc Phi
1.3 Ở Trung Đông
1.4 Ở Úc - Nam Thái Bình Dương
2 Nguồn gốc và sự phân bố tộc người ở phương Đông
2.1 Nguồn gốc tộc người
2.2 Sự phân bố theo khu vực
III Sinh hoạt kinh tế, văn hóa tinh thần vật chất
1 Các loại hình kinh tế mưu sinh
1.1 Loại hình kinh tế săn bắt, hái lượm, đánh cá
1.2 Loại hình kinh tế nông nghiệp, chăn nuôi
1.3 Loại hình kinh tế nông nghiệp lúa nước
Trang 42.1 Thủ công nghiệp
2.2 Công nghiệp
2.3 Nông nghiệp
2.4 Thương nghiệp
3 Văn hoá tinh thần
3.1 Tín ngưỡng dân gian
3.2 Tôn giáo
3.3 Văn học- nghệ thuật
4 Văn hóa vật chất
4.1 Nhà ở
4.2 Mặc
4.3 Ẩm thực
IV Tổ chức và Quản lý xã hội
1 Hôn nhân và Gia đình
1.1 Hôn Nhân
1.1.1 Khái niệm hôn nhân
1.1.2 Chức năng của hôn nhân
1.1.3 Các quy tắc kết hôn
1.1.4 Các loại hình hôn nhân
1.1.5 Các hình thức cư trú sau hôn nhân
1.2 Gia đình
1.2.1 Khái niệm về gia đình
1.2.1 Các loại hình gia đình
1.2.3 Chức năng của gia đình
2 Công xã và chế độ đẳng cấp
2.1 Công xã
2.2 Chế độ đẳng cấp
3 Tổ chức và quản lý xã hội
Kết luận
TRẢ LỜI CÂU HỎI
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6NHÂN HỌC TỘC NGƯỜI PHƯƠNG ĐÔNG Đặt vấn đề
Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của ngành nhân học ở các trung tâm nhânhọc trên thế giới, cho thấy nghiên cứu tộc người chiếm một vị trí quan trọng, thể hiện ởchỗ tộc người là đơn vị nghiên cứu, tộc người là chủ đề nghiên cứu, và tộc người là đốitượng nghiên cứu Phương Đông là một nền văn minh lớn của nhân loại, nó hội tụ nhiềuyếu tố văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị trong đó có nhân học tộc người Đông Phương
Đối tượng của Đông phương học là truyền thống, xã hội truyền thống phươngĐông mà chủ nhân của xã hội truyền thống phương Đông là các tộc người bản địa Tộcngười tiếp tục là vấn đề trọng tâm của nghiên cứu nhân học Hơn nữa, tộc người khôngchỉ là vấn đề văn hóa được các nhà nhân học quan tâm mà còn là vấn đề có tính chính trị
ở cấp độ quốc gia và quốc tế, nhất là ở các quốc gia và khu vực đa tộc người tồn tại haytiềm ẩn mâu thuẫn giữa các tộc người hay mâu thuẫn giữa tộc người với quốc gia - dântộc Trong một số trường hợp, thực tế này đòi hỏi nghiên cứu nhân học tộc người phải cókhả năng ứng dụng để giải quyết các vấn đề tộc người trong đời sống thực tiễn ở các địabàn cụ thể
I Lý Thuyết tộc người
1 Tộc người
1.1 Các quan niệm tộc người
Tộc người (ethnicity) hay nhóm tộc người (ethnic group) là các thuật ngữ chỉđược sử dụng phổ biến ở Bắc Mỹ và Châu Âu khoảng từ những năm 1960, để thay chocác thuật ngữ bộ tộc (tribe), chủng tộc (race) được dùng trước đó Nghiên cứu về tộcngười có sự khác biệt đáng kể giữa các truyền thống nhân học và dân tộc học ở các quốcgia trên thế giới, trong đó nổi bật là sự khác biệt giữa nhân học ở Bắc Mỹ và châu Âu (gọi
là nhân học Âu-Mỹ) với dân tộc học ở Liên bang Xô-viết trước đây
Khái niệm về “tộc người” có một số khác biệt giữa hai truyền thống nghiên cứugiữa nhân học Âu – Mỹ và nhân học Liên Xô
Trang 7Với các nhà nhân học thuộc trường phái nhân học Âu - Mỹ, trong quan niệm vềtộc người cũng chia thành hai khuynh hướng Khuynh hướng thứ nhất cho rằng, tộc người
có liên quan đến chủng tộc, và sự khác biệt giữa tộc người với chủng tộc khá mờ nhạt.Tuy tộc người được dựa trên cơ sở tương đồng về văn hóa, song sự phân biệt giữa tộcngười này với tộc người khác, ngoài thể hiện qua ngôn ngữ, tôn giáo, lịch sử, địa lý, còn ởdòng tộc hoặc chủng tộc Chẳng hạn ở Mỹ, người Mỹ da đen được hiểu là người Mỹ gốcPhi, và điều ấy có nghĩa, nhóm tộc người cũng là nhóm chủng tộc (Kottak 2000, 113;Eriksen 2010, 1-9) Khuynh hướng thứ hai cho rằng, tộc người tồn tại không phụ thuộcvào chủng tộc, như người Đức hay người Ý không liên quan đến xác định gen Tóm lại,tộc người là một dạng bản sắc nhóm dựa trên sự chia sẻ các đặc trưng văn hóa (Eriksen
2010, 1-9; Munasinghe 2018, 1) Với sự phát triển nhận thức liên quan đến chủng tộc xãhội (social race), tức sự khác biệt về chủng tộc là do định kiến chi phối chứ không phảiyếu tố gen (Kottak 2000, 139), khuynh hướng thứ hai trong quan niệm về tộc người ngàycàng được nhiều nhà nhân học Âu - Mỹ và các khoa học kế cận đồng tình
Với các nhà dân tộc học Xô-viết, việc thảo luận khái niệm “tộc người” đã diễn rasôi nổi vào khoảng thập niên 1960, dẫn tới sự tương đối đồng thuận về nội hàm của kháiniệm này Theo đó, tộc người là một tập đoàn người ổn định, được hình thành trong lịch
sử trên một lãnh thổ nhất định, có những đặc điểm văn hóa chung, có ý thức về sự thốngnhất của mình, và sự khác biệt với cộng đồng khác, được biểu hiện ở tên tự gọi (dẫn theo
Bế Viết Đẳng 2006, 73)
Hai quan niệm về tộc người nêu trên cho thấy có sự tương đồng giữa các nhànhân học Âu - Mỹ và các nhà dân tộc học Xô-viết, thể hiện ở chỗ họ chú trọng đến bảnsắc văn hóa tộc người Trong nghiên cứu và phân tích về tộc người, các học giả của cả haitrường phái thường phân biệt giữa tộc người đa số với tộc người thiểu số Tuy nhiên, cácnhà dân tộc học Xô-viết không chấp nhận yếu tố chủng tộc, hay rõ hơn là yếu tố sinh học
có liên quan đến tộc người Sự khác biệt cơ bản nữa giữa hai trường phái trên là trong khicác nhà dân tộc học Xô-viết xác định rõ tộc người là đối tượng nghiên cứu của dân tộchọc, dẫn đến dân tộc học là khoa học nghiên cứu về tộc người, thì các nhà nhân học Âu-
Trang 8Mỹ chỉ dừng lại ở chỗ tộc người là một đơn vị phân tích, hay chủ đề nghiên cứu và hoặc
là đối tượng của một chuyên ngành nhân học tộc người trong phân ngành nhân học vănhóa
Ở Việt Nam, từ thời kỳ Pháp thuộc, một số nhà dân tộc học người Pháp đã nghiêncứu các tộc người cụ thể và họ gọi là “người” Ví dụ, nhà dân tộc học GeorgesCondominas (2008) nghiên cứu về một cộng đồng của nhóm địa phương thuộc tộc ngườiM'nông ở Tây Nguyên, và ông gọi đối tượng nghiên cứu của mình là “người Mnông Gar”.Trong những thập niên 1960-1990, với ảnh hưởng mạnh mẽ của trường phái dân tộc họcXô-viết, các nhà dân tộc học Việt Nam đã xác định dứt khoát rằng đối tượng nghiên cứucủa dân tộc học ở Việt Nam là các tộc người Từ những năm 2000, khi dân tộc học đượcchuyển đổi thành ngành nhân học, vấn đề tộc người tiếp tục được các nhà nhân học ViệtNam quan tâm nghiên cứu
Như vậy có thể thấy có ba quan niệm về tộc người, ba quan niệm về tộc ngườinêu trên có những điểm khác biệt riêng nhưng cũng cho thấy có sự tương đồng giữa cácnhà nhân học Âu - Mỹ và các nhà dân tộc học Xô-viết, thể hiện ở chỗ họ chú trọng đếnbản sắc văn hóa tộc người, có nghĩa là tộc người thì cái cốt lõi nằm ở bản văn hóa củanhóm người đó
1.2 Các tiêu chí phân loại tộc người
Hầu hết các nhà dân tộc học trên thế giới đã thống nhất phân định các tộc ngườitheo 5 tiêu chí sau:
Thứ nhất có chung một ngôn ngữ tộc người Mỗi một tộc người thường có một
ngôn ngữ riêng do họ sáng tạo ra trong lịch sử, gọi là ngôn ngữ tộc người hay tiếng mẹ
đẻ Nó là phương tiện giao tiếp, là đặc trưng quan trọng, dễ nhận biết để phân biệt các tộc
người Qua sử dụng ngôn ngữ, các thành viên phân biệt ra nhau và xác định cá nhân thuộctộc người nào… Tuy nhiên, thực tế có tộc người từ bỏ ngôn ngữ của mình, sử dụng ngônngữ của tộc người khác hoặc một tộc người nhưng sử dụng song ngữ hoặc đa ngữ
Trang 9Thứ hai có chung một lãnh thổ tộc người Đây là tiêu chí vật chất xác định một
tộc người, là điều kiện xuất hiện, gắn bó với tộc người, sau trở thành đặc trưng tộc ngườiquan trọng Từ chỗ là phương tiện sinh sống, lãnh thổ đã trở thành cơ sở tồn tại, phát triểncủa tộc người, là không gian sinh tồn thiêng liêng gắn bó với tộc người nên ý thức về lãnhthổ tộc người ngày càng sâu sắc Khi xã hội có giai cấp, lãnh thổ tộc người nằm tronglãnh thổ quốc gia hoặc trở thành lãnh thổ quốc gia; có trường hợp lãnh thổ tộc người trảirộng ở nhiều nước Lãnh thổ tộc người là một phạm trù lịch sử, có sự biến động về mởrộng hay thu hẹp do yếu tố lịch sử xã hội - tự nhiên tạo nên
Thứ ba có cơ sở kinh tế tộc người Do cùng sinh sống trên một khu vực lãnh thổ
đã hình thành nên cách ứng xử giống nhau trong sinh hoạt kinh tế, tạo ra một cơ sở kinh
tế chung của tộc người Từ đó, hình thành và phát triển các mối liên hệ, quan hệ kinh tếnội bộ tộc người Mối liên hệ kinh tế là một trong những điều kiện để xuất hiện tộc người(cùng với lãnh thổ), là chất keo cố kết tộc người Cơ sở kinh tế là đặc trưng, là nguyênnhân, điều kiện cho phát sinh, tồn tại của các loại hình thị tộc - bộ lạc, bộ tộc, dân tộc Sựthay đổi các mối quan hệ và liên hệ kinh tế tộc người làm thay đổi các hình thái kinh tế -
xã hội và ra đời các loại hình cộng đồng tộc người khác nhau
Thứ tư có các đặc trưng văn hóa tộc người Quá trình sinh tồn, ứng xử của con
người với tự nhiên và xã hội đã tạo ra các đặc trưng văn hóa riêng của từng tộc người vàtrở thành bản sắc tộc người Văn hóa tộc người thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xãhội, bao giờ cũng mang cốt cách, bản sắc riêng, phân biệt với văn hóa các tộc người khác.Đặc trưng văn hóa truyền từ đời này sang đời khác tạo sự cố kết tộc người, là yếu tố phân
biệt tộc người sâu sắc nhất nên văn hóa là tiêu chí quan trọng nhất để xác định tộc người.
Thứ năm có ý thức tự giác tộc người Tổng hòa các yếu tố ngôn ngữ, lãnh thổ, đặc
trưng văn hóa, cơ sở kinh tế tộc người tạo thành một hiện tượng xã hội quan trọng gọi là ýthức tự giác tộc người Đó là ý thức của mỗi thành viên cộng đồng và toàn thể cộng đồng
về những đặc trưng của cộng đồng mình khác biệt so với các tộc người khác Ý thức tựgiác tộc người được hình thành lâu dài trong lịch sử tộc người, được cá nhân hấp thụ từthuở nhỏ trong môi trường tộc người, gia đình, nhà trường, xã hội Nó đóng vai trò quan
Trang 10trọng trong xác định thành phần tộc người của con người Mất ý thức tự giác tộc người thìtộc người không còn tồn tại, cá nhân không còn bao hàm ở tộc người.
2 Quá trình tộc người
Quá trình tộc người là thuật ngữ mang hàm nghĩa về tiến trình lịch sử của tộcngười Trong thực tiễn, quá trình tộc người ghi nhận chủ yếu những sự thay đổi về tộcngười; đặc biệt là đề cập đến nguyên nhân hình thành nên các cộng đồng tộc người thânthuộc hoặc các nhóm địa phương của tộc người Có ba loại hình cơ bản của quá trình tộcngười: quá trình tiến hóa tộc người, quá trình phân ly tộc người và quá trình quy tụ tộcngười
2.1 Quá trình tiến hóa tộc người
Quá trình tiến hóa tộc người là sự phát triển các yếu tố về kinh tế, văn hóa, xã hội,dân số, của tộc người đó, làm cho tộc người lớn hơn về quy mô, cao hơn trình độ kỹthuật, trình độ học vấn, nhưng không làm tộc người biến dạng
Quá trình tiến hóa tộc người giúp làm phong phú thêm văn hóa của các tộc ngườisống gần gũi nhau Trước tiên, vai hòa tích cực thuộc về mối liên hệ đồng đại được thựchiện bởi sự đưa cái mới vào bên trong tộc người và mang tính đại chúng nhất Nhưng suycho cùng vai trò quyết định là mối quan hệ lịch đại vì chỉ có sự chuyển giao cái mới giữacác thế hệ mới tạo nên tính ổn định tương đối truyền thống mà nó là cần thiết để thực hiệnđối với thành tố bất kì nào của chức năng tộc người
2.2 Quá trình phân li tộc người
Quá trình phân li tộc người là đặc điểm vốn có của xã hội nguyên thủy Dạng cơbản của quá trình phân li này là sự phân chia của tộc người lạc do sự đông lên của cácthành viên và sự cạn kiệt của nguồn tài nguyên thiên nhiên Chính quá trình phân li là cơ
sở của sự phân cư của con người đến các vùng khác nhau trên trái đất Trong các xã hội
có giai cấp, quá trình phân chia tộc người gắn liền với sự di cư số đông Đây là cơ sở cho
Trang 11sự xuất hiện của các tộc người khác nhau Với sự xuất hiện các quốc gia, biên giới chínhtrị đóng vai trò là nhân tố phân li tộc người.
Quá trình phân ly tộc người được chia làm hai loại hình cơ bản: quá trình chia nhỏ
và quá trình chia tách Quá trình chia nhỏ đề cập đến một tộc người thống nhất được chialàm nhiều bộ phận khác nhau, những bộ phận này trở thành những tộc người mới trongquá trình phân chia Quá trình chia tách đề cập đến từ một bộ phận nhỏ của tộc người gốcnào đó được chia tách ra dần dần và trở thành một tộc người độc lập
Ví dụ, trong quá trình chia nhỏ tộc người của người Nga cổ đã hình thành ba tộcngười thân thuộc: Nga, Ukraine, Belarus Tương tự, ở Việt Nam và các quốc gia ĐôngNam Á, quá trình chia tách tộc người diễn ra khá phổ biến, như người Việt cổ phân lythành người Việt, Mường, Chứt; người Thái ở Vân Nam, Quý Châu Trung Quốc, các bộphận của họ trong quá trình di cư đến Lào, Thái Lan, Việt Nam hình thành các tộc ngườiThái (ở Thái Lan), Lào (ở Lào) và Thái (ở Việt Nam) Ngoài ra, cũng có những tộc người
do quá trình di cư đến Việt Nam đã tách ra hình thành những nhóm địa phương nhưng vẫncoi mình thuộc về tộc gốc, như trường hợp các nhóm địa phương của người Nùng, Dao,H’mong,
Trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa, sự phân chia từ tộc người gốc dẫn đến sự hìnhthành các tộc người khác do quá trình di cư đến các vùng đất thuộc địa, người Anh-úc,người Anh ở Mỹ,
Hiện nay trên thế giới do sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc, sự khác biệt tôn giáovẫn thấy tình trạng có những dân tộc tuy cùng chung một nguồn gốc lịch sử nhưng lạimuốn tách ra để hình thành các quốc gia và dân tộc riêng biệt
2.3 Quá trình quy tụ tộc người
Xu hướng quy tụ, họp nhất tộc người chiếm ưu thế trong các thời kỳ lịch sử Quátrình này phản ánh quy luật lịch sử nói chung để dẫn đến sự củng cố các tộc người Xu
Trang 12hướng hợp nhất tộc người được chia làm ba loại: quá trình cố kết hay kết hợp(consolidate), quá trình đồng hóa (assimilation) và quá trình hội nhập (integration).
2.4 Quá trình cố kết tộc người
Là quá trình hợp nhất các nhóm người, các tộc người có quan hệ gần gũi về nguồngốc, ngôn ngữ, văn hoá và các điều kiện gắn bó phụ thuộc lẫn nhau để hình thành nêncộng đồng người lớn hơn
*Quá trình cố kết tộc người được chia ra làm hai loại:
(1) Cố kết trong nội bộ từng tộc người
Cố kết trong nội bộ tộc người là sự tăng cường kết gắn chặt chẽ một tộc ngườibằng cách gạt bỏ dần sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa của các nhóm địa phương,củng cố ý thức tự giác tộc người nói chung
Ví dụ:
Ở Việt Nam, nhất là ở các tỉnh miền núi phía Bắc, các tộc người thiểu số cư trú phân tán, xen kẽ lẫn nhau Chính sách dân tộc chia để trị của thực dân Pháp đã ngăn cản quá trình cố kết nội bộ tộc người giữa các nhóm địa phương Sau ngày miền Bắc được giải phóng (năm 1954), đời sống kinh tế, văn hóa-xã hội của các tộc người này ngày càngđược cải thiện, các nhóm địa phương phân tán, xé lẻ trước đây đã có ý thức cố kết nhau lại như trường hợp người Dao, Nùng, Thái và các dân tộc khác
Tương tự như vậy, các dân tộc tại chỗ ở Trường Sơn và Tây Nguyên sau ngày giảiphóng 1975, sự giao lưu tiếp xúc về kinh tế văn hóa càng được tăng cường, ý thức thốngnhất tộc người được củng cố và phát triển
(2) Cố kết giữa các tộc người gần gũi nhau về mặt ngôn ngữ, văn hóa để dẫn đến hình thành một cộng đồng tộc người lớn hơn
Trang 13Quá trình cố kết giữa các tộc người là quá trình cố kết giữa các tộc người vốn cóchung nguồn gốc từ cộng đồng ngôn ngữ văn hóa trong quá khứ Sự phát triển của quátrình cố kết giữa các tộc người trong nhiều trường hợp là sự phủ định biện chứng quátrình phân li tộc người trước đây:
Ở Việt Nam, người Tày và người Nùng cư trú xen kẽ ở vùng núi Việt Bắc Tày,Nùng được xem là hai tộc người có cùng nguồn gốc gần gũi nhau về mặt ngôn ngữ và vănhóa Ngày này, khuynh hướng xích lại gần nhau, hòa vào nhau giữa hai dân tộc biểu hiệntương đối rõ nét Ở vùng Thạch An, Hòa An, Quảng Hòa (Cao Bằng), Tràng Định, VănLãng, Bình Gia, Lộc Bình (Lạng Sơn), ranh giới giữa các nhóm Tày, Nùng đã rất mờnhặt, mờ nhạt hơn so với ranh giới giữa các nhóm trong tộc người Nùng ở các nơi khác.Quá trình cố kết giữa các tộc người càng đẩy mạnh những khác biệt địa phương dần dần
bị xóa bỏ để dẫn đến hình thành một tộc người thống nhất trong tương lai
2.5 Quá trình đồng hóa tộc người
Đồng hóa tộc người là quá trình hòa tan (mất đi) của một tộc người hoặc một bộphận của tộc người vào môi trường của một tộc người khác
Nói cách khác, đồng hóa là quá trình làm mất đi hoàn toàn hay gần hết thuộc tínhcủa tộc người (nhóm) xuất phát vào một tộc người khác Khác với quá trình cố kết, quátrình đồng hóa tộc người thường diễn ra ở các tộc người khác nhau về nguồn gốc, ngônngữ và văn hóa
Quá trình đồng hóa thường diễn ra từng phần Lúc đầu tiếp thu một số yếu tố ngônngữ, văn hóa của dân tộc khác, sau là đồng hóa văn hóa về mặt ngôn ngữ, lúc đầu duy trìtình trạng song ngữ sau chuyển sang ngôn ngữ của tộc người khác, về mặt ý thức tự giác,tộc danh cũng dần mất đi để chuyển sang tên gọi mới của tộc người chịu ảnh hưởng
*Trong quá trình đồng hóa tộc người có hai dạng:
(1) Đồng hóa tự nhiên
Trang 14Đồng hóa tự nhiên là quá trình giao lưu tiếp xúc thường xuyên của một bộ phậnhay của cả tộc người với tộc người bên cạnh thường có trình độ phát triển kinh tế - xã hộicao hơn, có số dân đông hơn Quá trình giao lưu tiếp xúc lâu dài về mặt ngôn ngữ và vănhóa từ thế hệ này sang thế hệ khác cũng như những cuộc hôn nhân hỗn hợp giữa các tộcngười đóng vai trò quan trọng trong quá trình này Họ có nguyện vọng được trở thànhthành viên của tộc người lớn hơn mà họ chịu ảnh hưởng.
Ví dụ:
Ở Việt Nam, nhất là ở miền rừng núi và trung du, nơi cư trú xen ghép của nhiềutộc người có sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa, trình độ phát triển kinh tế, xã hội và sốlượng cư dân, nên thường diễn ra quá trình đồng hóa tự nhiên Ở Tây Bắc, các tộc ngườithuộc nhóm Môn - Khmer như Khơ Mú, Kháng, Mảng, Xinh Mun chung sống lâu đời vớingười Thái đã tiếp thu nhiều yếu tố văn hóa Thái như canh tác lúa nước, nhà ở, trang phục
và ngôn ngữ Xét nguồn gốc tộc người của nhiều nhóm địa phương của người Thái, tathấy tuy hiện nay họ khai là Thái, nhưng gốc gác của họ là La Ha, Kháng Những nhóm
ấy tự nhận là Thái và được người Thái công nhận Ở Việt Bắc, các dân tộc nhỏ đã chịuảnh hưởng ngôn ngữ, văn hóa của các tộc người lớn bên cạnh như Tày, Nùng, Mông,Dao, và một bộ phận nhỏ của họ đã trở thành người khác tộc Ví dụ người Pu Péo ở HàGiang được sử sách ghi chép từ lâu và có số dân khá đông nay không vượt quá 300 người.Người Bố Y cũng nằm trong trường họp ấy Đầu thế kỉ XX dân số của họ hơn 2000 ngườinay chỉ còn 245 người Điều này chứng tỏ họ đã hòa vào các tộc người láng giềng và hiệnnay số người còn lại đang hòa vào người Nùng.v.v…
(2) Đồng hóa cưỡng bức
Đồng hóa cưỡng bức là quá trình mà chính sách của nhà nước đa tộc người đóngmột vai trò cực kỳ quan trọng Bằng những biện pháp chính trị, kinh tế-xã hội, văn hóa,khi công khai, khi tinh vi nhằm thúc đẩy quá trình đồng hóa bằng cách ngăn cản sự duytrì, phát triển ngôn ngữ, chữ viết, văn hóa, phong tục tập quán của các tộc người thiểu số
Trang 15Trong quá trình đồng hóa tộc người, trước đây còn dùng thuật ngữ diệt chủng đểnói về sự biến mất của một tộc người nào đó; còn sự tiêu diệt văn hóa của một tộc người,thuật ngữ diệt tộc (ethnocide) được đề cập đến Chính sách đồng hoá thường được thựchiện bởi Chủ nghĩa thực dân, ví dụ các thổ dân châu úc, châu Đại Dương và châu Mỹ bịChủ nghĩa thực dân gây nên những nạn diệt chủng, những cuộc thảm sát đẫm máu nhằmtiêu diệt các tộc người này.
2.6 Quá trình hội nhập giữa các tộc người
Là sự xích lại gần nhau giữa các tộc người tuy khác nhau về nguồn gốc lịch sử, vănhoá nhưng do có nhiều điểm tương đồng về văn hoá, chung sống đan xen, môi trườngsinh thái, địa lý chính trị, xã hội
Quá trình hội nhập giữa tộc người thường diễn ra ở các dân tộc khác nhau về ngônngữ văn hóa, nhưng do kết quả của quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa lâu dài trong lịch
sử đã xuất hiện những yếu tố văn hóa chung bên cạnh đó vẫn giữ lại những đặc trưng vănhóa của tộc người
Quá trình này thường diễn ra ở các khu vực lịch sử - văn hóa hay trong phạm vicủa một quốc gia đa dân tộc Đây cũng là biểu hiện của quá trình xích lại và hợp nhất cáctộc người
*Ở Việt Nam quá trình hội nhập giữa các tộc người diễn ra theo hai khuynh hướng:(1) Sự hội nhập giữa các tộc người diễn ra trong phạm vi của một vùng lịch sử-vănhóa:
Sự hội nhập giữa các tộc người thường diễn ra trong các vùng lịch sử-văn hóa.Nguyên nhân là do cùng chung sống lâu dài trong một vùng địa lý, giữa các tộc người đãdiễn ra quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa dẫn tới hình thành những đặc điểm văn hóachung của cả vùng bên cạnh những đặc trưng văn hóa của từng tộc người Những đặc15
Trang 16điểm văn hóa đó thể hiện qua phương thức mưu sinh, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần
và ý thức cộng đồng khu vực
Quá trình hội nhập giữa các tộc người có thể nhận thấy ở các vùng như: miền núiViệt Bắc và Đông Bắc, miền núi Tây Bắc và Thanh-Nghệ, Trường Sơn-Tây Nguyên, Nam
Bộ, v.v
(2) Sự hội nhập giữa các tộc người diễn ra trong phạm vi cả nước:
Bên cạnh đó, còn có xu hướng hội nhập giữa các tộc người trong một quốc giathống nhất đa dân tộc Như ở Việt Nam, sự tham gia vào quá trình dựng nước và giữ nướccủa các tộc người là cơ sở nền tảng cho sự hội nhập giữa các tộc người tạo nên tính thốngnhất của cộng đồng dân tộc Việt Nam
Các tộc người ở Việt Nam mặc dù có sự khác biệt về nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ
và văn hóa, nhưng do quá trình chung sống lâu dài, giữa họ đã diễn ra quá trình giao lưu,tiếp xúc văn hóa, tạo nên một nền văn hóa Việt Nam thống nhất và đa dạng Tiếng Việt trởthành tiếng phổ thông được dùng làm công cụ để giao lưu tiếp xúc giữa các tộc người, làngôn ngữ được sử dụng trong hệ thống giáo dục quốc dân, hành chính, luật pháp, trongsáng tác văn học, nghệ thuật và được sử dụng rộng rãi trong các phương tiện thông tin đạichúng Nhờ có ngôn ngữ chung đó đã tạo nên tính thống nhất, sự hiểu biết lẫn nhau giữacác tộc người
Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất trong đa dạng bao gồm tất cả tinh hoavăn hóa của các tộc người kết hợp lại để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiếnđậm đà bản sắc dân tộc Hiện nay, những tinh hoa văn hóa của các tộc người đã trở thànhtài sản chung của văn hóa Việt Nam Một mái nhà rông, một ngôi chùa, đình làng, trangphục các dân tộc, các món ăn cho đến lễ hội, các loại hình nghệ thuật được trình diễn hayđược ghi chép trên sách vở là của người Việt Nam, bản sắc văn hóa riêng của các tộcngười không những không bị mất đi mà vẫn được gìn giữ bảo tồn phát triển tạo nên sựmuôn sắc, ngàn hương
Trang 17II Bức tranh tộc người phương Đông
1 Theo địa giới
1.1 Ở Châu Á
Châu Á là một khu vực có vị trí quan trọng trên bản đồ nhân chủng học thế giới.Mỗi khu vực, đất nước có những đặc điểm riêng biệt tạo nên sự đa dạng đặc trưng của tộcngười châu Á Tộc người phương Đông tại khu vực châu Á hình thành và phát triển lớnmạnh từng ngày theo chiều dài lịch sử biến động của thế giới
1.1.1 Đông Á
Khu vực Đông Á đôi khi được gọi là Viễn Đông Khu vực địa lý này bao gồmTrung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Mông Cổ, Triều Tiên và Hàn Quốc Về văn hóa, kinh tếchính trị, xã hội,… Đông Á bao gồm các cộng đồng là một phần ảnh hưởng của nền vănminh Trung Hoa, thể hiện rõ nét trong các ảnh hưởng lịch sử từ chữ Hán, Khổng giáo vàTân Khổng giáo, Phật giáo Đại thừa, Lão giáo Tổ hợp này của ngôn ngữ, quan niệmchính trị và tín ngưỡng bao phủ sự phân chia địa lý của Đông Á
Phần lớn các tộc người ở Đông Á thuộc chủng tộc Môngôlôit Đặc điểm của chủngtộc người này là da vàng, tóc đen, chủng tộc này chủ yếu là người châu Á, cùng với sựphát triển của xã hội loài người, các chủng tộc đã dần dần chung sống ở khắp mọi nơi trênTrái Đất Các nước Đông Á đã có nhiều thay đổi trong thế kỷ XX Trong những thập niêngần đây, một số nước Đông Á đã nổi lên như các cường quốc kinh tế và chính trị Các tộcngười không sinh sống riêng lẻ mà có sự hòa nhập với nhau, học hỏi kinh nghiệm gópphần phát triển khu vực
1.1.2 Đông Nam Á
Sự hình thành bức tranh tộc người của Đông Nam Á là một quá trình lịch sử, quátrình hình thành diễn ra khá phức tạp Những nghiên cứu của Đông Nam Á học cho biết,loại hình nhân chủng chủ yếu ở Đông Nam Á và bán đảo Đông Dương là loại hình Nam
Á và Anhđônêdiêng, có nguồn gốc từ tiểu chủng Môngôlôit phương Nam Đặc biệt là cácdân tộc ở nước Việt Nam ta đều nằm trong hai nhóm loại hình này của Đông Nam Á
Trang 18Ngày nay thế giới biết đến Đông Nam Á hiện đại (ASEAN) gồm 11 nước:Myanmar, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Campuchia, Malaysia, Singapore, Indonesia,Philippin, Brunei, Đông Timo Phần lớn các nghiên cứu đều khẳng định Việt Nam là mộtĐông Nam Á thu nhỏ, cả về chủng tộc, ngữ hệ và bức tranh văn hóa tộc người Lịch sử,văn hóa các dân tộc Việt Nam được hình thành, phát triển gắn liền với nguồn gốc lịch sử,văn hóa các tộc người ở Đông Nam Á Một trong những minh chứng nổi bật nhất về quanđiểm các dân tộc Đông Nam Á trong đó có Việt Nam, có chung một nguồn gốc, là việccác nhà khảo cổ học đã phát hiện ra rất nhiều điểm tương đồng về một nền văn hóa rấtphát triển gọi là Văn hóa Hòa Bình ở rải rác các nơi ở Đông Nam Á như Việt Nam, TháiLan, Thành tựu đã làm thay đổi cách suy nghĩ của các nhà khảo cổ học về sự tiến triểncủa các nền văn minh trên trái đất Bên cạnh đó, bước tiến triển này cũng làm thay đổi suynghĩ về nguồn gốc tộc người và văn hóa của khu vực Đông Nam Á nói chung, của ViệtNam nói riêng.
Đông Nam Á là một trong những trung tâm phát sinh chủng tộc như là về conngười và ngôn ngữ Tuy nhiên, đây là khu vực có chữ viết muộn, chủ yếu là vay mượn từngữ từ chữ Hán và các văn tự Ấn Độ Ngữ hệ Đông Nam Á vì thế rất đa dạng và phứctạp, với sự đan xen của hàng chục, hàng trăm ngôn ngữ trong một quốc gia và trong khuvực
Ví dụ: Indonesia có khoảng 250 ngôn ngữ được sử dụng; tiếng Thái không chỉ ởThái Lan mà còn ở Lào, Việt Nam, Campuchia, Myanmar Tiếng Khmer không chỉ ởViệt Nam mà còn ở Thái Lan và Campuchia
Việt Nam tồn tại cả ngữ hệ Nam Đảo, ngữ hệ Nam Á Trong nhiều thiên niên kỷ,chính những quá trình hội tụ và phát tán dân tộc, ngôn ngữ đã dẫn đến sự hình thànhnhững phức hợp nhóm cộng đồng ngôn ngữ mới mà chỉ có trong cơ tầng của nó, người tamới có thể nhận ra các yếu tố của ngôn ngữ gốc Song song đó, có nhiều công trìnhnghiên cứu trong nước và trên thế giới khẳng định thêm rằng có một nền văn minh cổĐông Nam Á khác biệt với nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ Đó là nền văn minh lúanước có nguồn gốc bản địa với những đặc trưng văn - tộc người
Trang 191.1.3 Tây Nam Á
Khu vực Tây Nam Á được mệnh danh là cái nôi của nền văn minh nhân loại Vìthế sự phát triển phồn thịnh, phong phú của nơi đây là rất quan trọng đối với thế giới TâyNam Á chính là nơi ra đời của nhiều tôn giáo có nhiều ảnh hưởng lớn trên thế giới Tộcngười ở Tây Nam Á chủ yếu thuộc chủng Ơrôpêôit Chủng tộc người này có đặc điểmthường là người có làn da trắng, tóc và mắt vàng, nâu, mũi cao, dáng người cao to
1.2 Ở Bắc Phi
Ở Bắc Phi chủ yếu là người Ả Rập và người Berbers thuộc chủng tộc Ơrôpêôit,theo đạo Hồi Người Berber, họ tự gọi mình là Amazigh, là những người bản địa ở BắcPhi Người ta tin rằng người Berber hiện đại là hậu duệ của những cư dân tiền Ả Rập ởBắc Phi Một trong những nhóm người Berber sớm nhất là người Caspi, sống ở khu vựcnày hơn 10.000 năm trước trong thời kỳ đồ đá mới Trong nhiều văn bản lịch sử của HyLạp, người Berber được gọi là người Libya và là đại diện duy nhất của châu Phi ở châu
Âu vào thời điểm đó Ngày nay, người Berber là một nhóm đa dạng, phản ánh nhữngngười và nền văn hóa khác nhau
Trải qua lịch sử hình thành, vùng đất Bắc Phi mang nhiều đặc điểm khác biệt cóphần khắc nghiệt, khó khăn Đây là vùng đất có sự phân hóa thiên nhiên khác nhau giữahai vùng bắc-nam Phía bắc là đồng bằng ven Địa Trung Hải, phía nam có hoang mạcSahara lớn nhất thế giới Từ đó cũng ảnh hưởng đến điều kiện khí hậu của Bắc Phi, ở phíabắc của khu vực này mưa nhiều, còn phía nam lại là nhiệt đới rất khô, nóng, lượng mưarất thấp Vì vậy, lịch sử hình thành sản xuất nông nghiệp của họ không phong phú, thuậnlợi được như những khu vực khác trên thế giới
Tuy nhiên Bắc Phi có lịch sử phát triển văn minh sông Nin từ rất sớm vô cùng đặcsắc Kinh tế của tộc người ở Bắc Phi chủ yếu dựa vào khai thác – xuất khẩu dầu mỏ, khíđốt, phốt phát và du lịch Bên cạnh đó, họ có trồng các loại cây lương thực phục vụ chonhu cầu thiết yếu như lúa mì, ô liu, cây ăn quả cận nhiệt đới, Ngày nay, khu vực Bắc Phi
có nhiều đô thị mới cùng với các công trình khai thác, chế biến dầu mỏ Sự phát triển
Trang 20theo thời gian của tộc người thuộc chủng Ơrôpêôit góp phần làm cho khu vực Bắc Phingày càng giàu mạnh, phồn vinh hơn.
1.3 Ở Trung Đông
Trung Đông là bộ phận khu vực trung tâm của 3 châu lục bao gồm Châu Á, Châu
Âu và Châu Phi Trung Đông ngày nay là nơi phát sinh của nhiều nhóm dân tộc đã hìnhthành từ lâu như người Ả Rập, người Ai Cập, Ba Tư, Do Thái, người Hy Lạp,
Các dân tộc ở khu vực Trung Đông thuộc chủng Ơrôpêôit, chủng phương Nam Họmang nhiều đặc điểm đặc trưng của chủng tộc này như mũi cao, mắt sâu, vóc dáng cao to,làn da sẫm màu, tóc và mắt đen
1.4 Ở Úc - Nam Thái Bình Dương
Đại chủng Úc là danh từ để chỉ một trong bốn đại chủng trong nhân chủng học Đạichủng Úc bắt nguồn từ châu Úc, một vài nơi ở châu Á, quần đảo Indonesia, quần đảoMicronesia và các quần đảo tại Nam Thái Bình Dương Đại chủng Úc bao gồm thổ dân
Úc và một số dân tộc sống trên các quần đảo Đông Nam Á Người bản địa Úc được xácđịnh một cách hợp pháp là những thành viên "của các chủng tộc thổ dân của nước Úc" tạilục địa Australia hoặc đảo Tasmania Thổ dân Úc thuộc chủng người da nâu Ngày nayhầu hết họ sống ở phía đông nam nước Úc, tập trung dọc theo sông murray
Đối với khu vực Nam Thái Bình Dương chủ yếu là người Mỹ gốc Quần đảo TháiBình Dương còn được gọi là Người Mỹ gốc Châu Đại Dương, hoặc người Hawaii gốc
Họ là người Mỹ có tổ tiên dân tộc trong số các dân tộc bản địa của Châu Đại Dương (tứcngười Polynesia, Melanesia và Micronesia)
2 Nguồn gốc và sự phân bố tộc người ở phương Đông
2.1 Nguồn gốc tộc người
Trên thế giới có ba đại chủng chính là Người Mongoloid và người Australoid vàNegroid Tại các quốc gia phương Đông thì Người Mongoloid và người Australoid là hai
Trang 21chủng tộc chính Người Mongoloid và người Australoid là 1 phần của người hiện đạiHomo sapiens được sinh ra ở Đông Phi khoảng 160.000 năm trước.
Khoảng 125.000 năm trước, nhóm vượt Hồng Hải, tiến về Sahara xanh, tới sôngNile tại Cận Đông Khoảng 90.000 năm trước, một đợt băng giá khốc liệt xảy ra ở vùngnày, tiêu diệt toàn bộ những người đã tới Cận Đông
Cách nay 85.000 năm, một cặp thủy tổ loài người hiện đại rời miền Đông ChâuPhi, vượt Biển Đỏ; sau đó, sinh ra các nhóm di dân không-Châu Phi đầu tiên, Các nhómnày men theo bờ biển Nam Á, ngang qua Ấn Độ, đến Đông Nam Á và Đông Á cách nay75.000 năm trước; kế nữa vào Úc theo các miền duyên hải miền nam châu Á vào khoảng65.000 năm trước
Cách đây 85.000 năm, người Châu Phi di dân đến các vùng Vịnh và Nam Á Vàsau đó tiến hành cuộc di cư thứ hai, tách ra làm hai nhánh chính
Một nhánh, sau khi rời Pakistan hoặc Ấn Độ, đã men theo thung lũng sông Indus
đã di chuyển tiếp lên hướng Bắc và ngang qua các thảo nguyên Trung Á; sau đó, cũng chia thành hai nhóm nhỏ Một nhóm rẽ về hướng Tây để vào Châu Âu; còn nhóm kia di chuyển tiếp về hướng Đông để vào Mông Cổ và vùng Đông Bắc Á, kếnữa phối chủng với cư dân bản địa của đợt 1 ( Australoid ) để trở thành Mongoloid phương Bắc
Nhánh còn lại ( nhánh chính) tiếp tục men theo các cao nguyên dưới chân núi Himalaya, cúng như men theo các con sông lớn (Brahmaputra, Irrawaddy, Cửu Long, Dương Tử) để đến Đông Nam Á và Đông Á Tại đây, hậu duệ của nhánh PHỐI CHỦNG với các cư dân bản địa có huyết tộc Australoid đường biển để trở thành chủng Mongoloid phương Nam
Mặc dù đều hậu duệ của chủng Mongoloid trong đợt di cư thứ II Tuy nhiên do sự khácnhau về hành trình di chuyển, nên đã tạo ra những đặc thù khác nhau giữa chủngMongoloid phương Nam và chủng Mongoloid phương Bắc
Trang 222.2 Sự phân bố theo khu vực
Khu vực Châu Á bao gồm nhiều quốc gia vì thế khu vực này có có đa dạng tộcngười, đa văn hóa- các nền văn hóa đều có giá trị như nhau Theo nghiên cứu của các họcgiả phương Tây cho rằng, mỗi nước trong khu vực Đông Nam Á đều có trên chục đơn vịtộc người trong mỗi quốc gia, chưa kể toàn châu Á
Myanmar có 135 riêng biệt trong đó có: tộc người Bamar, tộc người Shan, tộc người Karen,
Thái Lan có 23 dân tộc, trong đó bao gồm tộc người Thái, tộc người Karen tộc người Hmong ,
Campuchia đa số là người Khmer và một số tộc người khácIndonesia với hơn 300 dân tộc trong bao gồm: tộc người Java, tộc người Sunda, tộc người Madur,
Malaysia với gần 70 nhóm dân tộc bao gồm các tộc người Kadazan, tộc người Dayak, tộc người Iban,
Việt Nam có 54 dân tộc như là dân tộc Kinh, dân tộc Tày, dân tộc Thái,
Trung Quốc bao gồm các tộc như tộc người Hán, tộc người Mãn, tộc người Mông Cổ,
Ấn Độ có các tộc người như: người Hijra, tộc người Arbor, tộc người Irula, tộc người Jat,
Ở khu vực Bắc Phi bao gồm
Ai Cập: tộc người Ả Rập,
Libia: tộc người Ả Rập,
Trang 23Angêri: tộc người Ả Rập, tộc người Ả Rập Becbe,
Sunda: tộc người Beja,
Tunisia: tộc người Ả Rập Becbe,
Nước Úc: tộc người Anranda, tộc người Mardudjara, tooch người Murngin,
Như vậy, có thể thấy rằng sự phân bố tộc người ở phương Đông đa dạng và phứctạp Mỗi quốc gia đều có nhiều tộc người cùng sinh sống Và mỗi tộc người sẽ phân bố ởtừng khu vực khác nhau
III Sinh hoạt kinh tế, văn hóa tinh thần vật chất
1 Các loại hình kinh tế mưu sinh
1.1 Loại hình kinh tế săn bắt, hái lượm, đánh cá
Sự phân công lao động theo giới trong đó nam săn bắt, nữ hái lượm, việc chia sẻthức ăn trong nhóm và sự phát triển ngôn ngữ tất cả được hình thành như là các yếu tốtương liên của cách sống săn bắt và hái lượm Dù sống ở những vùng xa các trung tâmlớn, những người săn bắt và hái lượm xoay xở khá tốt để tồn tại nhờ vào các lũ năng bẩmsinh và am hiểu sâu sắc về môi trường sống của họ Kỹ thuật săn bắt của họ tuy đơn giảnnhưng không thô sơ Họ cỗ nhiều phương pháp khéo léo để săn các loại thú lớn nhỏ khácnhau Có một số đặc trưng về mặt xã hội điển hình trong loại hình săn bắt Những người
đi săn thường là những người du cư Sự di chuyển của họ phụ thuộc vào các loại thú vàcác loại thực phẩm thực vật có sẵn Hình thức tổ chức xã hội điển hình của những ngườisăn bắt là cư trú ở những khu trại nhỏ gồm có những người có huyết thống với nhau Ởnhững nhóm người săn bắt và hái lượm thường có sự phân công lao động theo tuổi tác vàtheo giới trong đó phụ nữ thì thu nhặt thực phẩm và đàn ông thì đi săn Phụ nữ trong các
xã hội này còn may quần áo và đóng góp vào kinh tế của nhóm theo nhiều cách khác nhauchẳng hạn như tham gia mang vác và chế biến thực phẩm
Trang 24Ferraro (1997) đưa ra một số điểm đặc trưng của các xã hội tồn tại loại hình kinh tế
tự nhiên này:
Các xã hội khai thác tự nhiên có dân số thấp Nguyên nhân là sản lượng thu nhặt thực phẩm không đủ nuôi một số lượng lớn dân cư Ngoài ra, nếu kỹ thuật thu lượm này phát triển theo hướng này càng hiệu quả thì sẽ nhanh chóng làm cạn kiệt nguồn cung cấp thực phẩm
Các xã hội khai thác tự nhiên này thường di cư hay bán di cư, ít khi định cư
Nguyên nhân là do nguồn cung cấp thực phẩm không tập trung
Đơn vị xã hội cơ bản là gia đình hay nhóm người, là hình thức tập hợp các gia đình Tổ chức xã hội điển hình trong các xã hội này là các nhóm nhỏ thân tộc kết hợp với nhau vào một khoảng thời gian nào đó trong năm Trong các nhóm thị tộc này, tư cách thành viên nhóm rất linh hoạt Theo đó, các thành viên của các gia đình khác nhau tách và nhập nhóm thường xuyên Kiểm soát xã hội gói gọn trong các thiết chế gia đình
Các dân tộc sống bằng hình thức khai thác tự nhiên hiện nay thường cư trú ở các vùng xa xôi hẻo lánh Sỡ dĩ sống xa các trung tâm đô thị như vậy là do các dân tộc này có công nghệ thấp nên bị các dân tộc có công nghệ cao đẩy lùi ra những vùng ngoại biên như thể Và những vùng đất này có nguồn tài nguyên thích hợp với trình độ tìm kiếm thực phẩm của họ
1.2 Loại hình kinh tế nông nghiệp, chăn nuôi
Giống như nông nghiệp quảng canh hay trồng trọt, hình thức chăn nuôi xuất hiệnvào thời đồ Đá mới Nhiều nghiên cứu cho là chăn nuôi xuất hiện cùng thời với trồng trọt.Đến một giai đoạn phát triển, từ cư dân trồng trọt và chăn nuôi tách ra một bộ phận cưdân chăn nuôi ở những nơi có đồng cỏ lớn, hình thành loại hình chăn nuôi du mục Hìnhthức sản xuất này chủ yếu là chăn nuôi các loại động vật ăn cỏ đã được thuần dưỡng Đây
là một sự thích nghi đặc biệt với môi trường chủ yếu có khí hậu khô, đất đai cằn cỗi như
Trang 25các vùng cực và cận cực Bắc, vùng sa mạc, vùng núi và đồng cỏ, vốn không có khả năngsản xuất ra lượng lương thực đủ cho một số lượng lớn dân cư như hình thức nông nghiệp.Người ta không thể trồng trọt các loại cây lương thực ở những vùng địa hình này Ở đâychỉ có các loài thực vật thích nghi với từng loại địa hình sinh sống Những loại thực vậtnày là nguồn thức ăn chủ yếu cho các loại động vật chăn thả Các loại động vật chủ yếuđược nuôi là: cừu, dê, bò Tây Tạng và lạc đà Chúng cung cấp thịt và sữa cho con người.Hình thức chăn nuôi này chủ yếu phổ biến ở các vùng Đông Phi (gia súc), Bắc Phi (lạcđà), Tây Nam Á (cừu và dê) và vùng cận Bắc cực (tuần lộc caribou và nai tuyết).
Hai hình thức chủ yếu của loại hình kinh tế này là di chuyển gia súc(transhumance) và du cư (nomadism) Ở cả hai hình thức này, các đàn gia súc đều dichuyển đến các bãi cỏ khác nhau theo mùa Với hình thức di chuyển đàn gia súc, mộtphần của nhóm chăn nuôi di chuyển cùng với đàn gia súc, đa số thành viên còn lại sốngđịnh cư tại làng Các thú ăn cỏ được di chuyển thường xuyên trong năm đến các đồng cỏ
ởnhững vùng đất ở các vĩ độ hay những vùng khí hậu khác nhau Thông thường, đàn ôngdẫn gia súc đến các đồng cỏ trong khi phụ nữ, trẻ em và một số đàn ông ở lại làng Nhữngnhóm người này thường thấy ở châu u và châu Phi Chẳng hạn như ở dân tộc Turkana ởUganda, đàn ông và thanh niên đi theo các đàn gia súc đến các cánh đồng cỏ xa xôi trongkhi đa số các thành viên khác của làng ở lại và làm công việc trồng trọt Các ngôi làng củacác nhóm người này có khuynh hướng ở tại các vùng có nguồn nước để đảm bảo cho nơiđây có đủ cỏ cho gia súc ăn lâu nhất trong năm Ở hình thức du cư (nomadism), toàn thểnhóm cư dân chăn nuôi di chuyển cùng đàn gia súc Quanh năm cả cộng đồng gồm có đànông, phụ nữ và trẻ em di chuyển cùng đàn gia súc Họ không sống cố định ở một nơi nào
cả Các nhóm người này cư trú ở vùng Trung Đông và Bắc Phi Ở Iran, người Basseri vàQashqai truyền thống di chuyển trên đoạn đường dài hơn 480 km Mỗi năm họ bắt đầugần vùng bờ biển và di chuyển các đàn gia súc đi đến các vùng đồng cỏ cao 5.400 m sovới mực nước biển
Loại hình kinh tế chăn nuôi bản thân nó không thể nuôi sống được một cộng đồng người vì con người cần phải có thêm các loại ngũ cốc trong khẩu phần ăn của mình Vì
Trang 26thế, loại hình kinh tế chăn nuôi thường được kết hợp với trồng trọt hay kết hợp với việcbuôn bán với các cư dân nông nghiệp khác Do loại hình kinh tế chăn nuôi này luôn kếthợp với trồng trọt hay buôn bán nên trong bản thân loại hình này cũng tồn tại các dạngkhác nhau Hiện nay, những người chăn nuôi cũng tham gia vào kinh tế thị trường vớiviệc bán gia súc ra thị trường Đây cũng là một dạng thích nghi quan trọng của nhữngngười chăn nuôi hiện nay.
1.3 Loại hình kinh tế nông nghiệp lúa nước
Loại hình kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước xuất phát từ hoạt động trồng trọt của
cư dân Đông Nam Á, loại hình kinh tế này xuất hiện vào khoảng 10000 đến 15000 nghìnnăm trước công nguyên gọi là văn minh lúa nước Cư dân nơi đây dựa vào sự thuận lợikhi nằm gần lưu vực các con sông, dồi dào phù sa điều kiện tự nhiên thuận lợi về thuỷlượng cao, khí hậu ấm áp, có nhiều đồng bằng bình nguyên phì nhiêu, đất đai màu mỡ, dễcanh tác Chính vì vậy cư dân các khu vực ở phương Đông nói trên đã sớm gắn bó vớiviệc sản xuất nông nghiệp, nhất là nghề trồng lúa nước
Loại hình kinh tế nông nghiệp lúa nước sử dụng cày và sức kéo động vật làm công
cụ chính trong sản xuất nông nghiệp Loại hình kinh tế nông nghiệp dùng cày ở vùngnhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm ướt ở các nước Nam và Đông Nam Á với đặc điểm trồnglúa nước, có hệ thống tưới tiêu nhân tạo, biết thâm canh cải tạo đất và dùng trâu làm sứckéo chủ yếu
Loại hình kinh tế này ở vùng rừng thảo nguyên và rừng ôn đới cũng hết sức đadạng Và những nhóm người sống dựa vào sản xuất nông nghiệp lúa nước vì để phù hợpvới tính chất của hoạt động trồng lúa nước, họ sống định cư quanh các vùng hạ lưu sônggiàu phù sa dần dà hình thành các khu dân cư tập trung ổn định Nhà cửa được xây dựngchắc chắn và kiên cố
Trang 272 Các mô hình kinh tế
Mô hình kinh tế là mô hình liên kết hai hay nhiều biến số kinh tế.Mô hình kinh tế lànhững công cụ hữu ích để phân tích các hành vi kinh tế của con người cũng như sự vậnhành của nền kinh tế
Ở Bản Cát Cát (huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai) là bản lâu đời của người Mông, còn lưu giữ nhiều nghề thủ công truyền thống như trồng bông, lanh, dệt vải
và chế tác đồ trang sức Qua những khung dệt, người Mông tạo nên những tấm thổ cẩm nhiều màu sắc, với các hoa văn mô phỏng cây, lá, hoa, muông thú
Các nghề chăn tằm, ươm tơ, nhuộm vải, làm đồ gốm cũng được phát triển Các làng nghề thủ công xuất hiện ngày càng nhiều như làm giấy, gốm sứ,
Ví dụ:
Ở nước ta, nghề làm gốm xuất hiện ở người Thái (Mường Thanh - Sơn La), người Chăm ở Bàu Trúc (Ninh Thuận), Trí Đức (Phan Rí) và một vài nơi ở các tộc người bản địa trên Cao nguyên Tộc người Kinh nổi tiếng với nhữnglàng nghề truyền thống như làng gốm Bát Tràng, Làng gốm Thanh Hà hay làng lụa Vạn Phúc,…
Trang 28Giấy là phát minh có đóng góp rất lớn cho nhân loại của người Trung Quốc.Người phát minh ra nghề làm giấy là hoạn quan Thái Luân Đây là một nghề riêng và độc quyền của Trung Quốc trong mấy thế kỉ, sản xuất và đáp ứng cho nhu cầu trong và ngoài nước.
Một số nghề mới xuất hiện về sau như khắc in bản gỗ, làm đường trắng, làm đồng hồ, làm tranh sơn mài cũng được mở rộng
2.2 Công nghiệp
Công nghiệp khai khoáng phát triển ở nhiều nước khác nhau, tạo ra nguồn nguyênliệu, nhiên liệu cho sản xuất trong nước và nguồn hàng xuất khẩu Công nghiệp sản xuấthàng tiêu dùng (may mặc, dệt, chế biến thực phẩm, ) phát triển ở hầu hết các nước Côngnghiệp luyện kim, cơ khí chế tạo (máy công cụ, phương tiện giao thông vận tải), pháttriển mạnh ở Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan,
Những năm gần đây, các ngành công nghiệp sản xuất và lắp ráp ô tô, xe máy, thiết bịđiện tử do liên doanh với các hãng nổi tiếng ở nước ngoài nên sản phẩm đã có sức cạnhtranh và trở thành thế mạnh của nhiều nước trong khu vực Các ngành này phân bố chủyếu ở Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a, Thái Lan, In Đô-nê-xi-a, Việt Nam…
ăn quả khác
Ví dụ:
Trang 29Sản lượng lúa gạo từ các nước phương Đông chiếm tới 93% sản lượng lúa gạo thế giới Một số nước như Thái Lan, Việt Nam không những đủ lương thực mà hiện nay còn là những nước xuất khẩu gạo thứ nhất và thứ hai trên thế giới Nhờ đó mà hai nước có số dân đông nhất thế giới hiện nay là TrungQuốc và Ấn Độ trước đây thường xuyên thiếu hụt lương thực thì nay đã đủ dùng và còn thừa để xuất khẩu.
Nguồn lương thực chính của người phương Đông chủ yếu là lúa gạo và các loại ngũ cốc do nền sản xuất nông nghiệp tạo ra Người phương Đông thường ăn cơm với các loại thực phẩm mang tính tự cung tự cấp như rau, cá
và một số loại thịt gia cầm Các loại gia vị, hương liệu như ớt, tiêu, rau thơm, cari, vốn là sản phẩm của sản xuất nông nghiệp cũng được dùng phổbiến ở nhiều nơi
Nền kinh tế nông nghiệp phương đông phát triển trên cơ sở trị thủy các dòng sông lớn,đất đai ở đây được phù sa các sông lớn như sông Nin ở Ai Cập, Sông Tigrơ và Ơphrat ởLưỡng Hà, Sông Ấn và sông Hằng ở Ấn Độ, Sông Hoàng Hà và Trường Giang ở TrungQuốc Chính các con sông này đã tạo nên các đồng bằng phì nhiêu, các vụ mùa bội thu vàquan trọng nhất là tạo ra các nhà nước cổ đại phương đông Không một quốc gia phươngđông cổ đại nào mà lại không có một dòng sông lớn chảy qua
Một yếu tố tự nhiên khác là khí hậu và địa hình Như ta đã biết một quốc gia muốnphát triển kinh tế thì phải dựa vào điều kiện khí hậu và địa hình Ví dụ ở nước ta cũng như
đa số các quốc gia phương đông nền kinh tế nông nghiệp lúa nước phát triển do nó hìnhthành trên cơ sở các đồng bằng rộng lớn có khí hậu nhiệt đới gió mùa
Ví dụ:
Những cư dân ở đồng bằng ven biển và đồng bằng châu thổ như Việt, Hoa,Khmer, Chăm canh tác nông nghiệp lúa nước kết hợp với chăn nuôi, thủcông nghiệp, thương nghiệp Kỹ thuật canh tác của các dân tộc này đạt tới
Trang 30trình độ cao, dùng sức kéo trâu bò cày mộng, thâm canh, xen canh, xây dựng các hệ thống thủy lợi tưới tiêu nước,
Các cư dân sinh sống bằng nông nghiệp lúa nước kết hợp với làm nương, thủ công nghiệp và thương nghiệp ở vùng thung lũng miền núi như Tày, Thái, Mường, Cư dân ở đây đã biết khai thác nguồn nước, làm thủy lợi để canh tác lúa nước theo kiểu mộng bậc thang Họ có nhiều kinh nghiệm trong việc thâm canh, tăng vụ, chọn giống, am hiểu thời tiết khí hậu
Tính chất nông nghiệp của văn minh phương Đông còn được biểu hiện ở các tín ngưỡng và sinh hoạt văn hoá dân gian rất độc đáo của cư dân phương Đông
Ví dụ:
Trong số các loại tín ngưỡng tồn tại ở phương Đông, phổ biến nhất là tín ngưỡng sùng bái tự nhiên Điều này hoàn toàn có cơ sở bởi sản xuất nông nghiệp, nhất là nông nghiệp ở thời kì sơ khai khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển, gần như tất cả đều phụ thuộc vào thiên nhiên, vào ý Trời Vì vậy,
ở khắp nơi, từ Đông Bắc Phi-Tây Á đến lưu vực sông Hoàng Hà rộng lớn đâu đâu người ta cũng thờ cúng các vị Thần liên quan đến sản xuất nông nghiệp như Thần Mặt trời, Thần Đất, Thần Nước, Thần Lúa, Thần Gió, Thần Sông
Gắn liền với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là hàng loạt các lễ hội nông nghiệp như lễ hội té nước, lễ hội cầu mưa, cầu nắng, hội đua thuyền, lễ tịch điền, lễ hội mừng được mùa
2.4 Thương nghiệp
Thương nghiệp bao gồm các hoạt động mua bán trao đổi trong nước và quốc tế.Các nước phương Đông Sự trao đổi, mua bán khá sớm và chủ yếu qua đường bộ vàđường thủy Hình thành các trung tâm trao đổi hàng hóa trong khu vực (Lưỡng Hà cổ đại
Trang 31từ xưa được xem như là trung tâm thương mại và có nền kinh tế phát triển thương nghiệp như các nước phương Tây).
Ví dụ:
Ở nước ta, người Hoa buôn bán lúa gạo và các nông sản, Hoa thương ở đây
đã làm chủ việc phân phối các mặt hàng nhu yếu phẩm tiêu dùng hàng ngày
do các nhà buôn từ Trung Quốc, các nước trong khu vực Đông Nam Á và từchâu Âu chuyển tới Hàng hóa trong các phố bày bán có: gấm, đoạn, đồ sứ, giấy má, châu báu…
Người nhà Hán đã mở ra “con đường đường tơ lụa” Đây là một con đường huyền thoại nối liền Trung Hoa rộng lớn với vùng Tây Á, gắn liền với hàng ngàn câu chuyện truyền thuyết xa xưa Không đơn thuần chỉ là huyết mạch thông thương buôn bán của những "thương nhân lạc đà"
3 Văn hoá tinh thần
Phương Đông được biết đến là cái nôi của nền văn minh nhân loại với bốn nền vănminh lớn trên thế giới như văn minh Ai Cập, văn minh Lưỡng Hà, văn minh Ấn Độ, vănminh Trung Quốc chứa đựng tất cả những tinh hoa của nhân loại bao gồm cả văn hóa.Văn hóa phương Đông bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần trong đó văn hóatinh thần được coi là một yếu tố quan trọng trong đời sống của người phương Đông Vănhóa tinh thần của người phương Đông bao gồm tín ngưỡng dân gian, tôn giáo, văn học-nghệ thuật
3.1 Tín ngưỡng dân gian
Theo khoản 1 và 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, “Tín ngưỡng là niềmtin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quántruyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.”
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Trang 32Văn minh phương Đông được xem là một nền văn minh nông nghiệp bởi nhữngtính chất nông nghiệp đặc trưng gắn liền và kéo dài xuyên suốt quá trình hình thành, trong
đó tính chất nông nghiệp của văn minh phương Đông được biểu hiện ở các tín ngưỡng vàsinh hoạt văn hoá dân gian rất độc đáo của cư dân phương Đông Trong số các loại tínngưỡng tồn tại ở phương Đông, phổ biến nhất là tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Với một nền văn minh phát triển dựa trên ngành nông nghiệp, một ngành nghề gầnnhư phải dựa dẫm hết vào thiên nhiên, vào ý trời thì việc sùng bái tự nhiên là một điều tấtyếu Người phương Đông thờ Thần Mặt Trời, thờ Thần Mưa, thờ Thần Sông,… họ chorằng những vị thần này có thể che chở, giúp họ có được mùa màng bội thu, đem lại cho
họ cuộc sống ấm no, hạnh phúc
Tín ngưỡng phồn thực
Ngoài tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, người phương Đông còn tin theo tín ngưỡngphồn thực Với ý nghĩa “phồn” – “nhiều”, “thực” – “nảy nở”, tín ngưỡng này mang triết lísống điển hình cho cư dân nông nghiệp luôn hướng tới sự sinh sôi, là ước mong duy trì vàphát triển sự sống Trong cuộc sống lấy nghề nông làm vi bản, người dân không có mongmuốn gì hơn là mùa màng tươi tốt, gia súc đầy đàn, gia đình, con cái đông đúc đề huề.Tín ngưỡng phồn thực tồn tại trong suốt chiều dài lịch sử, được thể hiện ở dạng: thờ sinhthực khí hay cơ quan sinh dục của cả nam lẫn nữ (Linga- Yoni) và thờ hành vi giao phối
Trang 33Hình 1: Tín ngưỡng phồn thực
3.2 Tôn giáo
Khác với tín ngưỡng, theo khoản 1 và 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm
2016, tôn giáo được định nghĩa như sau: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với
hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và
Trang 34nhận có một đấng tối cao chi phối đời sống của con người, không ban phúc haygiáng họa cho ai mà trong cuộc sống mỗi người đều phải tuân theo luật Nhân -Quả, làm việc thiện thì được hưởng phúc và làm việc ác thì phải chịu báo ứng ĐạoPhật còn thể hiện là một tôn giáo tiến bộ khi không có thái độ phân biệt đẳng cấp.Đức Phật đã từng nói: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ như nhau,không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn”.
Hình 2: Phật giáoNho giáo: là một tôn giáo hay một học thuyết có hệ thống và có phươngpháp, dạy về Nhân đạo, tức là dạy về đạo làm một con người trong gia đình vàtrong xã hội Tôn chỉ chính của Nho giáo bao gồm 3 điều đó chính là:
Con người và vạn vật trời đất đều có tương thông với nhauMọi việc đều phải lấy thực nghiệm để chứng minh
Trang 35Và lấy trực giác và năng khiếu để tìm hiểu làm rõ vạn vật
Hình 3: Nho giáo
3.3 Văn học- nghệ thuật
Văn học: Từ xa xưa, người phương Đông đã biết dựa vào tự nhiên để sống Hầuhết các nền văn minh Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Hoa đều dựa vào bồi đắp phù sacủa các con sông Nguồn gốc văn hóa nông nghiệp khiến con người học cách sống hàihòa với thiên nhiên, thấy mình là một phần không thể thiếu của tự nhiên thanh sạch, thuầnkhiết Điều này ánh xạ vào tôn giáo, triết học rồi đi vào văn chương Đứng trong nguồnmạch chung, thiên nhiên là một mạch ngầm xuyên suốt của văn học phương Đông từ xưađến nay Trong tâm thế của người phương Đông, người ta thấy một tâm hồn đối với thiênnhiên rất sâu nặng Trong khắp các trang viết, không chỉ thấy vẻ đẹp của cảnh vật mà cònthấy một tấm lòng tha thiết với cảnh vật Đó là tình yêu vĩnh cửu với thiên nhiên vô tận,với vẻ đẹp tráng mĩ, hùng vĩ của núi cao vực sâu, cũng có thể là vẻ giản dị, gần gũi của
Trang 36nhành hoa, ngọn cỏ, con cò, con ếch, con dế…Mỗi tâm hồn Đông phương đều đồng cảmtrước tấm lòng nghe thấy tiếng gió mưa ngoài cửa mà xót xa cho thân phận mỏng manhcủa cánh hoa rơi rụng (Dạ lai phong vũ thanh/ Hoa lạc tri đa thiểu– Mạnh Hạo Nhiên),mỗi tâm hồn Đông phương đều xem thiên nhiên như là người tri kỉ (Cử bôi yêu minhnguyệt/ Đối ảnh thành tam nhân– Lý Bạch), như là gia đình thương mến (Cò nằm hạc lẩnnên bầu bạn/ Ấp ủ cùng ta làm cái con – Nguyễn Trãi); mỗi tâm hồn Đông phương đềunâng niu vẻ đẹp giao hòa giản dị của thiên nhiên bình dị (Một cành bìm bìm hoa tía/ Quấnquanh cây cầu/ Ta sang hàng xóm xin nước thôi – Chiyo), đều xúc động trước những sựviệc rất tầm thường của vạn vật (Lá chuối xanh trôi/ Một con ếch nhỏ/Run run đang ngồi– Kikaku).
Nghệ thuật kiến trúc: Trong nền văn minh cổ đại phương Đông, nghệ thuật kiếntrúc phát triển rất phong phú Các công trình được xây dựng chủ yếu là ở những khu vựctrung tâm của nhà nước và phục vụ cho nhu cầu của nhà vua, pharaong…hay quý tộc.Công trình càng lớn, càng độc đáo thì càng thể hiện được sức mạnh và uy quyền của nhàvua Cũng chính vì lẽ đó, các công trình kiến trúc ở các quốc gia cổ đại phương Đôngthường rất đồ sộ Nhiều công trình kiến trúc đến nay vẫn còn lưu lại như: Kim tự tháp ở
Ai Cập, những khu đền tháp ở Ấn Độ, thành Ba-bi-lon ở Lưỡng Hà,…
Trang 37Hình 4: Kim Tự Tháp (Ai Cập)
Hình 5: Đền Taj Mahal ( Ấn Độ)
4 Văn hóa vật chất
4.1 Nhà ở
Ngôi nha cua ngươi phương đông thương co diên tich kha la lơn, đăc biêt la rât tinh tê
va gân gui vơi thiên nhiên
Trang 38Trong văn hóa phương Đông, màu đo được coi là màu rất may mắn, sử dung có thểphát tài, gia đình hưng vượng, hạnh phúc, màu này có tác dụng hơn hẳn với nhưngngười mệnh Hỏa Màu đỏ còn mang đến cảm giác năng lượng dồi dào, khỏekhoắn, vui vẻ Bên cạnh đó, gam nóng đặc trưng của màu đỏ còn khiến không gianngôi nha trở nên ấm cũng hơn Sự hiện diện của màu sắc này giúp cho không gianluôn tràn ngập tình yêu thương, rất dễ chịu.
Con mau vang đại diện cho sự giàu sang, thịnh vượng Màu vàng tượng trưng chokim loại rất quý giá- vàng và cũng đại diện cho màu của ánh sáng mặt trời do đó,chúng mang rất nhiều năng lượng dương, mang lại cảm giác vui tươi, hưng phấn.Không chỉ gây ngạc nhiên trong cách chọn chất liệu, màu sắc, ngôi nhà phươngĐông còn rất tôn trọng các yếu tố phong thủy, tâm linh
* Kiên truc nha ơKhông khó để nhận ra trong khi kiến trúc phương Đông được xây dựng theo nềnvăn minh Lưỡng Hà với những công trình kiến trúc đồ sộ thiết kế theo hình tháp,chóp nhọn
4.2 Mặc
Phong cach ăn măc cua ngươi phương Đông rât kin đao lam nôi bât lên sư khiêmtôn va thiêt tinh Những phục trang thiếu vải, hoặc khỏa thân được xem là xúc phạm đếnthuần phong mỹ tục và giá trị con người, đặc biệt quan trọng là phụ nữ
Cac chât liêu phô biên thương đươc sư dung như la tơ tăm,lua, vai gâm, vai đui…Môi loai vai đêu co nhưng đăc điêm riêng phu hơp cho tưng loai trang phuc:
Vai gâm : la môt loai vai quy, xưa chi dung đê mai trang phuc cho cac bâcquan lai, vua chua trong triêu đinh Nhưng cung vơi sư phat triên cua xa hôi ngaynay thi vai gâm cung đa đươc sư dung môt cach rông rai hơn
Trang 39Vai đui : được sản xuất từ sợi đũi Loại sợi này là phần thừa ra trong quátrình ươm tơ tằm Để tiết kiệm, người ta đã chế ra vải đũi.Vì vậy, thực tế nó cũngđược coi là một loại lụa tơ tằm nhưng cung giup cho trang phuc đươc lam ra tư vaiđui lại mang vẻ đẹp mộc mạc hơn nhiều.
Vai lua: được làm từ sợi tơ, lấy trực tiếp từ tơ tăm tự nhiên Nó đòi hỏi ởngười làm những công đoạn đầy sự kỹ thuật và tỉ mỉ, chu đáo Nó đã nhanh chónglàm dậy sóng trên thị trường cùng những tính chất đặc biệt Cùng với đó nó cũngthu hút được rất nhiều giới thượng lưu Vải lụa được xem như là ông hoàng củangành vải với giá thành cao hơn rất nhiều so với những loại vải như vải đũi, vảilanh, kate, và thậm chí là vải jean
Mau săc: Trong quan điêm cua ngươi Phương Đông, màu sắc là yếu tố quantrọng trong việc thiết kế quần áo, sắp xếp phong thủy và chế tạo các vật dụng trongnhà Bởi lẽ màu sắc không có hình dạng nhưng lại hiển hiện ở khắp nơi, rất giốngvới "Khí" - nguồn năng lượng của càn khôn thái cực Đối với họ, có những màucòn có thể mang lại vận may cho người sử dụng
Hoa tiêt : Trang phuc cua ngươi phương Đông thương sư dung rât nhiêu hoatiêt Môi môt hoa tiêt luôn tao đươc net đôc đao va co môt sưc hut riêng biêt Tưnghoa tiêt trong trang phuc luôn đươc lam môt cach ti mi va cân thân tư đo mang đên
sư tinh tê cho trang phuc đăc biêt la trang phuc nư
Cách ăn mặc của cư dân phương Đông cũng phù hợp với công việc sản xuất nôngnghiệp: Nói chung mặc ấm về mùa lạnh (hoặc ở xứ lạnh) và mát mẻ về mùa nóng (hoặc ở
xứ nóng); mặc gọn gàng, tiện lợi (khố, váy, v.v.)
4.3 Ẩm thực
Phương Đông , khu vưc găn liên vơi “nên văn minh nông nghiêp lua nươc” Chinh
vi thê nhưng săn phâm liên quan đên nông nghiêp như lua ,ngu côc… đa trơ thanh thưc
Trang 40phâm tiêu thu chinh Tư lua co thê chê biên ra nhiêu thanh phâm như bun, phơ,… đăc biêtnhât la cơm, thư không thê thiêu trong hâu hêt cac bưa ăn cua ngươi phương Đông.
Ngoai ra , vi tri đia li vơi nguôn sông ngoi day đăc cung giup cho ho co nguôn thuysan lơn quanh năm , đăc biêt la ca Ở châu Á, khí hậu nhiệt đới thuân lơi cho viêc trôngtrot nên rau cu cung là một thành phần tất yếu trong bữa cơm hàng ngày
Ở phương Đông các món chính thường sẽ là tinh bột Hầu hết người nơi đây quanniệm bữa ăn đều phải có tinh bột Thường sẽ là cơm, bún, phở kết hợp với các món ănkèm như thịt cá và rau
* Cach chê biên:
Trong mâm cơm cua cac gia đinh phương đông thương se co rât nhiêu mon
ăn Thương bao gôm cơm, mon măn , mon xao , canh , rau, thit,ca……
Một trong những nguyên nhân tạo nên sự hấp dẫn của món ăn phương Đông
là mùi vị, do đó khi nấu nướng thường chế biến, pha trộn với nhiều hương liệukhác nhau Trong môt mon ăn cua ngươI phương đông Ít nhât phai tư 3 loai gia vitrơ nên, như vây se tao đươc net đâm đa cho mon ăn
Ngoai ra, cách trình bày của người phương Đông rất đa dạng và khá phứctạp Họ thường sử dụng thẩm mỹ hình học trong cách trang trí, ví dụ như cà rốtthường cắt hình tròn, củ hành thì cắt hình mo cau… Ngoài ra, họ thường kết hợpnhiều nguyên liệu cho một món ăn, thường để ớt, rau ngò cho nhiều màu sắc và rắctiêu phía trên món ăn
Dung cu : Khac vơi Phương Tây thương hay sư dung dao va nia, ơ phươngđông viêc sư dung đua va thia lai phô biên hơn rât nhiêu.Ho co thê chi sư dung đũa
va thia cho toàn bộ bữa ăn Ngoai ra ơ môt vai nươc khac như Ân đô,Myanma….thi viêc dung tay đê ăn lai kha phô biên va no đa trơ thanh môt thoiquen trong viêc ăn uông cua ho