TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ TIN HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT 211231203303 NHÓM 1 TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TP HỒ CH.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - TIN HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
211231203303- NHÓM 1
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH, THƯƠNG
MẠI
Trang 2TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - TIN HỌC
MẠI
Giảng viên: Huỳnh Quang Thuận
Trang 4TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
Trang 5DANH SÁCH SINH VIÊN NHÓM 01 - LTTTM - MÃ LỚP 211231203303
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của bản thân tôi Các nội dung nghiên cứu
và kết quả trong đề tài này là trung thực, chưa được ai công bố trong bất cứ công trìnhnào Nếu có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin chịu trách nhiệm trước hội đồng chấm thi
Tp Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 01 năm 2022
Sinh viên
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
CÂU HỎI 3
BÀI TIỂU LUẬN 4
I Nội dung qui định pháp luật 4
II Phân tích nội dung qui định pháp luật 7
III Thực tiễn áp dụng: 8
IV Bất cập 10
V Kinh nghiệm nước ngoài 12
VI KẾT LUẬN 15
DANH MỤC THAM KHẢO 16
2
Trang 8CÂU HỎI
(Ghi lại chủ đề đã chọn và cả vụ việc tự chọn ở đây)
Đề tài: Sinh viên chọn 01 đề tài trong số các đề tài sau và phân tích dựa trên các tiêu chí: (i) quy định của pháp luật Việt Nam; (ii) Thực tiễn áp dụng; (iii) Bất cập; (iv) Kinh nghiệm nước ngoài; (v) Quan điểm cá nhân về hoàn thiện.
1 Các tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài
Trang 9BÀI TIỂU LUẬN
Lý do chọn đề tài
Song song với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế Việt Nam, nhu cầu xác lậpgiao dịch dân sự theo đó ngày càng gia tăng Hệ quả tất yếu là tranh chấp, xung đột lợiích giữa các bên trong quan hệ dân sự cũng tăng theo Nhu cầu giải quyết tranh chấpgiữa các bên ngày 1 lớn, như chúng ta đã biết, tranh chấp có thể được giải quyết thôngqua 4 phương thức: Thương lượng, Hòa giải, Trọng tài và Tòa án Thương lượng vàhòa giải ít phổ biến vì nó phụ thuộc nhiều vào ý chi chủ quan của các bên Khi mâuthẫn gay gắt, xung đột lợi ích càng lớn thì sẽ càng khó thông nhất ý chí giữa các bên
Do lẽ đó, các bên thường tìm tới phương thức giải quyết mang tính phán quyết, bắtbuộc các bên thi hành như là Trọng tài và Tòa án Vì cả 2 phương thức giải quyết tranhchấp đều mang tính chất phán quyết, vì vậy vấn đề đặt ra là phân định thẩm quyền giảiquyết tranh chấp của mỗi phương thức Cụ thể những tranh chấp nào sẽ được giảiquyết bằng Trọng tài? Những tranh chấp nào sẽ được giải quyết bằng Tòa án? Bài tiểuluận này sẽ phân tích, bình luận cụ thể những tranh chấp nào sẽ được giải quyết bằngTrọng tài trên cơ sở pháp luật Việt Nam
I Nội dung qui định pháp luật
Như đã phân tích ở trên, do phát sinh nhu cầu phân định thẩm quyền của Trọng tài
và Tòa án dẫn tới sự ra đời của Điều 2 Luật trọng tài thương mại 2010 về các tranhchấp thuộc thẩm quyền giải của trọng tài như sau:
- Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại
- Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thươngmại
- Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài
Về phân định thẩm quyền giữa Tòa án và Trọng tài ở Điều 2 Luật trọng tài 2010được hướng dẫn thi hành cụ thể tại Điều 2 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP:
1 Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp quy định tại Điều 2 Luật
TTTM nếu các bên có thoả thuận trọng tài quy định tại Điều 5 và Điều 16 Luật TTTM,trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này
Trang 102 Khi có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực quy định
tại Điều 2 Luật TTTM thì Tòa án yêu cầu một hoặc các bên cho biết tranh chấp đó cácbên có thoả thuận trọng tài hay không Tòa án phải kiểm tra, xem xét các tài liệu gửikèm theo đơn khởi kiện để xác định vụ tranh chấp đó có thuộc trường hợp hướng dẫntại khoản 3 Điều này hay không Tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau: a) Trường hợp tranh chấp không có thoả thuận trọng tài hoặc đã có bản án, quyếtđịnh có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định, phán quyết có hiệu lực phápluật của Trọng tài xác định vụ tranh chấp không có thỏa thuận trọng tài thì Tòa án xemxét thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền
b) Trường hợp tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài khôngthuộc trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này thì Tòa án căn cứ quy định tại điểm
đ khoản 1 Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã được sửa đổi, bổ sung theoLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 (sau đây gọi tắt
là BLTTDS) để trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiệncho người khởi kiện
Trường hợp sau khi thụ lý vụ án Tòa án mới phát hiện vụ tranh chấp đã có thoảthuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài không thuộc trường hợp hướng dẫn tại khoản 3Điều này thì Tòa án căn cứ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 192 BLTTDS ra quyếtđịnh đình chỉ việc giải quyết vụ án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theođơn khởi kiện cho người khởi kiện
c) Trường hợp đã có yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp và Hội đồng trọng tàiđang giải quyết vụ tranh chấp thì dù Tòa án nhận thấy tranh chấp không thuộc thẩmquyền của Trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài hoặc tuy đã có thoả thuận trọng tàinhưng thuộc trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này mà người khởi kiện có yêucầu Tòa án giải quyết tranh chấp thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện,trường hợp Tòa án đã thụ lý thì ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, trừ trườnghợp Tòa án thụ lý vụ tranh chấp trước khi có yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp.Sau khi có quyết định, phán quyết của Hội đồng trọng tài quy định tại các điều 43, 58,
59 và 61 Luật TTTM mà người khởi kiện có yêu cầu Tòa án giải quyết, thì Tòa án xemxét thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung
Trang 113 Tranh chấp có thỏa thuận trọng tài nhưng thuộc một trong các trường hợp sau
đây thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trừ trường hợp các bên có thoả thuậnkhác hoặc pháp luật có quy định khác:
a) Có quyết định của Tòa án huỷ phán quyết trọng tài, hủy quyết định của Hộiđồng trọng tài về việc công nhận sự thỏa thuận của các bên;
b) Có quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài, Trung tâmtrọng tài quy định tại khoản 1 Điều 43 các điểm a, b, d và đ khoản 1 Điều 59 LuậtTTTM;
c) Tranh chấp thuộc trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 4 Nghịquyết này
4 Trường hợp các bên vừa có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, vừa
có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Tòa án mà các bên không có thỏa thuận lạihoặc thỏa thuận mới về cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và không thuộctrường hợp quy định tại khoản 3 Điều này mà phát sinh tranh chấp thì xử lý như sau: a) Trường hợp người khởi kiện yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp trước khiyêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hoặc yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp khiTòa án chưa thụ lý vụ án quy định tại điểm b khoản 4 Điều này thì Tòa án căn cứ quyđịnh tại Điều 6 Luật TTTM để từ chối thụ lý, giải quyết Trong trường hợp này, khinhận được đơn khởi kiện Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện, nếu đã thụ lý vụ án thì căn
cứ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ việc giảiquyết vụ án vì không thuộc thẩm quyền của Tòa án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệugửi kèm theo đơn khởi kiện
b) Trường hợp người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, thì ngay saukhi nhận được đơn khởi kiện, Tòa án phải xác định một trong các bên đã yêu cầuTrọng tài giải quyết hay chưa
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện mà Tòa ánxác định người bị kiện, người khởi kiện đã yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp thìTòa án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, trường hợp người bị kiện, ngườikhởi kiện chưa yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp thì Tòa án xem xét thụ lý giảiquyết theo thủ tục chung
6
Trang 12Trường hợp Tòa án đã thụ lý vụ án mà phát hiện tranh chấp đã có yêu cầu Trọngtài giải quyết trước thời điểm Tòa án thụ lý vụ án thì Tòa án căn cứ quy định tại điểm ikhoản 1 Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án vì khôngthuộc thẩm quyền của Tòa án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơnkhởi kiện.
II Phân tích nội dung qui định pháp luật
Về qui định ở Khoản 1 Điều 2 Luật trọng tài 2010, đây là qui định về điều kiện cáctranh chấp được giải quyết bằng trọng tài, phụ thuộc vào tính chất của tranh chấp phátsinh là từ hoạt động thương mại, đây là sự kế thừa của Luật trọng tài thương mại 2010đối với Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 Tuy nhiên, đây là điều khoản gây tranhcãi khá nhiều Lý do phát sinh từ khái niệm hoạt động thương mại có thể hiểu theo 2nghĩa rộng và hẹp Hoạt động thương mại thương mại theo nghĩa rộng được hiểu là tất
cả các hoạt động phát sinh nhằm mục đích sinh lời tức là phạm vi của nó rất rộng Tuynhiên, hoạt động thương mại theo nghĩa hẹp được định nghĩa luật nội dung tức Luậtthương mại 2005 là chỉ các hoạt động được phát sinh giữa các thương nhân tức các tổchức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độclập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại 2005)
Từ đây, sẽ phát sinh 2 luồng quan điểm trái ngược trong các tranh chấp được giảiquyết bằng trọng tài phát sinh từ tinh chất tranh chấp như đã phân tích ở trẻn
Nắm bắt được bất cập ở Khoản 1, Khoản 2 qui định 1 cách khái quát, rõ ràng hơn
về điều kiện các tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài, ở đây là điều kiện về chủthể, chỉ cần ít nhất 1 bên trong tranh chấp có hoạt động thương mại thì tranh chấp đó
có thể giải quyết bằng trọng tài Mà theo luật nội dung (Luật thương mại 2005), hoạtđộng thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá,cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinhlợi khác (Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005) Tóm lại, chỉ cần ít nhất 1 bên cóhoạt động nhằm mục đích sinh lời thì tranh chấp đó có thể giải quyết bằng trọng tài =>Giaỉ quyết được tranh cãi phát sinh từ Khoản 1 Tuy nhiên, cũng có vài lĩnh vực đặcbiệt theo dân sự nghĩa hẹp như hôn nhân – gia đình, thừa kế, lao động tuy có thể có 1
Trang 13Khoản 3 là 1 điều khoản mở để phù hợp với các ngành luật khác Có những tranhchấp không thuộc 2 khoản trên nhưng theo qui định của luật chuyên ngành thì phảiquyết bằng trọng tài Ví dụ, trong Điều 30, 38 Luật bảo vệ người tiêu dùng và Điều 17Luật trọng tài thương mại 2010 thì người tiêu dùng có quyền lựa chọn phương thứcgiải quyết tranh chấp.
III Thực tiễn áp dụng:
Trong thời đại nền kinh tế ngày một phát triển hoạt động thương mại diễn ra phổbiến mỗi ngày Tuy nhiên không phải lúc nào việc giao kết hợp đồng cũng diễn rasuôn sẻ, mà nó luôn tiềm ẩn những tranh chấp do vi phạm hợp đồng hoặc một số lý dokhác Vậy khi tranh chấp xảy ra sẽ xử lý như thế nào, đó là lựa chọn của các bêndoanh nghiệp khi ký kết hợp đồng Trong trường hợp thương lượng hoặc hòa giảikhông thành công tranh chấp kinh tế có thể giải quyết bằng một trong hai con đường là
họ có thể chọn Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 để giải quyếttranh chấp mà cũng có thể nộp đơn khởi kiện lên giải quyết bằng trọng tài theo quyđịnh Luật trọng tài thương mại 2010 Vậy việc giải quyết tranh chấp trọng tài diễn ranhư thế nào và thực trạng các vụ việc được giải quyết bằng trọng tài ở Việt Nam cónhững điểm gì nổi bật sau đây chúng ta cùng đi tìm hiểu
Thực chất việc dùng trọng tài để giải quyết tranh chấp không còn xa lạ đối với cácnước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Tuy nhiên các doanh nghiệp ởViệt Nam vẫn còn dè dặt khi phải chọn giải quyết tranh chấp tại trọng tài và khi các vụtranh chấp xảy ra các bên thường khởi kiện tại Tòa án Có thể nói mặc dù phương thứctrọng tài đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng ở Việt Nam thì mới xuất hiện nổi bật 10 nămtrở lại đây, do đó các cách thức hoạt động cũng như các quy định tại trung tâm trọngtài chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp Theo thống kê thì tại Việt Namhiện có khoảng 15 Trung tâm trọng tài thương mại1, nhưng phần lớn các vụ việc tranhchấp xảy ra được giải quyết tại Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam có tên viết tắt làVIAC Điển hình là số liệu báo cáo thường niên năm 2018 của Trung tâm trọng tàiQuốc tế Việt Nam (VIAC)2, cho biết năm 2018 vừa qua, tổ chức này đã giải quyết 180
1 Các trung tâm thương mại tại Việt Nam:
https://stac.com.vn/cac-trung-tam-trong-tai-thuong-mai-o-viet-nam/
2 Báo cáo thường niên Thống kê hoạt động giải quyết tranh chấp năm 2018:
https://stac.com.vn/cac-trung-tam-trong-tai-thuong-mai-o-viet-nam/
8
Trang 14vụ tranh chấp thương mại với tổng trị giá 9.400 tỷ đồng - mức cao nhất trong 25 nămqua kể từ khi được thành lập theo Quyết định 204/TTg ngày 28/4/1993 của Thủ tướngChính phủ với tính chất tranh chấp là 51% quốc tế và 49% trong nước trải dài ở cáclĩnh vực như mua bán hàng hóa, hợp tác kinh doanh, bất động sản, bảo hiểm, xâydựng, dịch vụ Từ số liệu trên có thể thấy tín hiệu hết sức khả quan của phương thứcgiải quyết bằng trọng tài nhưng đồng thời cho thấy tình trạng có rất nhiều các Trungtâm trọng tài, nhưng các vụ việc chỉ tập trung giải quyết ở một trung tâm trọng tài nhấtđịnh, điều này đặt ra bài toán khó để có thể cải thiện lòng tin của các doanh nghiệp đốivới phương thức trọng tài nói chung và các trung tâm trọng tài nói riêng.
Bên cạnh đó kiến thức pháp luật của bản thân các doanh nghiệp hiện nay chưa cao,nhiều doanh nghiệp chính bản thân họ cũng chưa biết được Luật trọng tài thương mại
có tồn tại hay không chính vì vậy mà đa số các vụ việc tranh chấp thương mại xảy ra
họ đều nghĩ đến biện pháp khởi kiện tại Tòa án do các quy định tại Bộ luật tố tụng dân
sự có đề cập đến thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến kinh tế thươngmại Cộng thêm việc Luật trọng tài đã ban hành từ năm 2010 và cách nay đã hơn mườinăm chính vì vậy một vài các điều luật khi áp dụng đã không còn phù hợp nữa bộc lộ
ra rất nhiều nhược điểm Cách nhìn về luật chưa thực sự rõ ràng, các điều luật quyđịnh cũng chồng chéo lên nhau khiến các tổ chức, doanh nghiệp cá nhân họ không tintưởng để giải quyết trọng tài vì có thể những quy định không rõ ràng ấy có thể gây bấtlợi cho họ
Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của trọng tài theo Điều 2 Luật trọng tàithương mại 2010 chỉ đề cập rằng các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại,giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại hoặc tranh chấp giữacác bên mà pháp luật quy định giải quyết bằng trọng tài Quy định này rất chung khiếncho những người không am hiểu về luật trọng tài thương mại có thể hiểu sai về thẩmquyền giải quyết chỉ gói gọn trong các tranh chấp về hoạt động thương mại như cáchoạt động mua bán và không biết được tranh chấp khác mà pháp luật quy định đượcgiải quyết bằng trọng tài là những tranh chấp gì Thực tế, các tranh chấp về sở hữu trítuệ không phải tranh chấp về thương mại mà có thể giải quyết bằng trọng tài nếu luậtquy định với một số ngoại lệ và hạn chế nhất định vì hầu hết các tranh chấp sở hữu trí
Trang 15tuệ là các bằng sáng chế, nhãn hiệu, bí mật thương mại, bản quyền3, hay điểm bKhoản 8 Điều 146 Luật Xây dựng 2014 sửa đổi bổ sung năm 2020 cho phép các bên
có thể đưa tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài “Các bên hợp đồng có trách nhiệm tựthương lượng giải quyết tranh chấp Trường hợp các bên hợp đồng không tự thươnglượng được thì tranh chấp được giải quyết thông qua hòa giải, trọng tài thương mạihoặc tòa án theo quy định của pháp luật.” Những tranh chấp này có thể liên quan đếnbản chất quốc tế, một số bản án áp dụng luật nước ngoài nên việc lựa chọn giải quyếttranh chấp tại trọng tài hợp lý hơn bao giờ hết Chính vì vậy nên nếu như không amhiểu thì có thể sẽ không biết vụ tranh chấp liên quan đến xây dựng hay sở hữu trí tuệ
có thể giải quyết bằng trọng tài tại các trung tâm trọng tài hay trọng tài vụ việc thaycho việc khởi kiện tại Tòa án vừa có thể tiết kiệm được thời gian xét xử và vừa có cáctrọng tài viên am hiểu kiến thức kỹ thuật và chuyên môn trong lĩnh vực nhất định
IV Bất cập
Theo khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại, trọng tài có thẩm quyền giảiquyết “tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thươngmại” Qui định này chỉ tập trung vào chủ thể tranh chấp chứ không hề đề cập đến bảnchất của tranh chấp Nói cách khác, qui định như vậy có thể dẫn đến cách hiểu là chỉcần một bên tranh chấp có hoạt động thương mại thì bất kỳ tranh chấp nào mà họ làmột bên đều có thể được giải quyết bằng phương thức trọng tài Chẳng hạn, trongtranh chấp về nhà ở, một bên có đầu tư phát triển nhà thương mại thì đây là tranh chấp
có ít nhất một bên có hoạt động thương mại và có thể được giải quyết bằng phươngthức trọng tài Quy định tập trung vào chủ thể của tranh chấp như vậy sẽ dẫn đến hệquả phức tạp trong việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài hoặcTòa án Chẳng hạn, trong trường hợp A là một thương nhân (là chủ thể có hoạt độngthương mại) muốn ly hôn với B thì xét từ góc độ chủ thể, tranh chấp này cũng thuộcqui định trên, nhưng về bản chất tranh chấp thì trọng tài Việt Nam chưa có thẩm quyền