TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ TIN HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT NHÓM 20 CÁC BIÊN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TIỂU LUẬN HỌC PHẦN TỐ TỤNG HÌNH SỰ TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI.
Trang 1KHOA LUẬT
NHÓM 20 CÁC BIÊN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN
TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
Trang 3DANH SÁCH SINH VIÊN NHÓM 02
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan công trình của từng cá nhân trong nhóm Các nội dungnghiên cứu trong quá trình làm bài tiểu luận đều trung thực, chưa được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào Nếu có sự gian dối trong quá trình cũng như bàitiểu luận, chúng tôi xin chịu trách nhiệm trước hội đồng chấm thi
Tp Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 01 năm 2021
Nhóm Sinh Viên
Nguyễn Phương Duy
Lê Hoàng Đức
Lê Thành Đạt
Trang 5MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
I TÓM TẮT BẢN ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI - BẢN
ÁN 46/2019/HS-PT NGÀY 27/09/2019 VỀ TỘI HỦY HOẠI TÀI SẢN 2
II BÌNH LUẬN VẤN ĐỀ PHÁP LÍ CỦA BẢN ÁN 4 III KHÁI NIỆM
IV PHÂN LOẠI
V Ý NGHĨA CỦA BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
VI KIẾN NGHỊ
VII KẾT LUẬN
VIII BẢN ÁN SỐ 46/2019/HS-PT NGÀY 27/09/2019 VỀ TỘI HỦY HOẠI TÀI SẢN
Trang 6CÂU HỎI ĐỀ CHỦ ĐỀ :
CÁC BIÊN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Song song với sự phát triển vượt bậc của xã hội Việt Nam, quan hệ xã hội phát sinh ngày càng đa dạng và hệ quả tất yếu kéo theo là những quan hệ pháp luật ( quan hệ xã hội được phap luật điều chỉnh ) cũng ngày càng phức tạp trong nhiều lĩnh vực: dân sự, hôn nhân gia đình, hình sự Trong giải quyết vụ án hình
sự tại Tòa án, xuất hiện trường hợp người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, bỏ trốn nhằm trốn tránh việc thihành án … Từ tình trạng trên, các biện pháp ngăn chặn ra đời Việc áp dụng chúng đảm bảo cho việc giải quyết vụ án và thi hành án Bài tiểu luận này nhằm mục đích, nghiên cứu phân tích những ván đề xoay quanh các biện pháp ngăn chặn
Trang 8I TÓM TẮT BẢN ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI - BẢN ÁN 46/2019/HS-PT NGÀY 27/09/2019 VỀ TỘI HỦY HOẠI TÀI SẢN
Anh D và anh Văn H xảy ra mâu thuẫn, xô xát với nhau 11h ngày 03/01/2017, Thanh L ( chú ruột của D ) , Thanh H ăn nhậu ở nhà của anh Văn L, Thanh L và Thanh H thống nhất đến nhà anh Văn H để nói chuyện về mâu thuẫn với D Do anh Văn H vắng nhà, Thanh L và Thanh H đợi anh Văn L Đến 15h thì Thanh L, Thanh H dùng tuýt sắt phá hoại hộp đèn quảng cáo điện ô tô trước nhà anh Hải làm rách vải, bể bóng đèn điện bên trong Thanh L dùng tay đấm rách bảng quảng cáo ắc quy ENIMAC dựng ở vách phía Bắc nhà anh Văn H Sau đó, Thanh
L, Thanh H cầm lấy viên gạch men màu trắng ở gần đó ném vào hộp đèn LED ở trên cửa sắt làm hư hỏng Tiếp đó, dùng tay đẩy, xô ngã 02 ghế đá và 01 bàn đá tại hè nhà anh Văn H làm hư hỏng và cầm gạch loại 6 lỗ ném lên bảng quảng cáoENIMAC gắn trên mái nhà của anh Văn H Sau khi đập phá xong thì Thanh L điện thoại cho anh Văn H thông báo về việc phá họai tài sản Sau đó, Thanh L, Thanh H tiếp tục đi ăn tất niên ở thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Thanh L nói với Thanh H tiếp tục quay lại nhà anh Văn H Khi quay lại, thì xảy ra xô xát với anh Hà Văn H, anh Tạ Thanh H, anh
Tạ Thanh Ph Quá trình xô xát đánh nhau anh Tạ Thanh H, Hà Văn H, Nguyễn Duy L bị thương nhẹ và không có yêu cầu gì Tại nhà của anh Văn H thì Võ Thanh L tiếp tục cầm cây sắt đập vào cửa sắt nhà anh Hà Văn H làm hư hỏng cửasắt Tổng thiệt hại về tài sản là 13.977.000 đồng
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 19/2019/HSST ngày 10/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Ngãi quyết định:
- Tuyên bố: Võ Thanh L, Kiều Thanh H phạm tội “Hủy hoại tài sản”
- Xử phạt bị cáo Thanh L 07 (bảy) tháng tù Xử phạt bị cáo Thanh H 06 (sáu) tháng tù
Ngày 24/5/2019, các bị cáo Võ Thanh L, Kiều Thanh H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo
Trang 9 Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đề nghị:
- Đề nghị Tòa án phúc thẩm áp dụng các quy định về đồng phạm đối với các bị cáo Thanh L, Thanh H, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm
- Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 19/2019/HSST ngày 10/5/2019 củaTòa án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Ngãi
- Tòa án phúc thẩm áp dụng các quy định về đồng phạm đối với các bị cáo Thanh L, Thanh H, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm
- Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát
- Các bị cáo Thanh L, Thanh H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM QUYẾT ĐỊNH
- Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Thanh L, Thanh H Giữ
nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 19/2019/HSST
- Xử phạt bị cáo Thanh L 07 (bảy) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”
- Áp dụng: khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
- Xử phạt bị cáo Thanh H 06 (sáu) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”
- Các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình
sự phúc thẩm
Trang 10II BÌNH LUẬN VẤN ĐỀ PHÁP LÍ CỦA BẢN ÁN
Về áp dụng các biện pháp ngăn chặn và cách xử lí khi các bị cáo vi phạm các biện pháp ngăn chặn:
- Tội phạm mà các bị cáo phạm phải là tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
có mức hình phạt tối đa là 3 năm tù có thời hạn kết hợp với Điểm a Khoản
1 Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 => Tội phạm ít nghiêm trọng Vì ở đây là bị cáo nên dù việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn là mang tính chất lựa chọn, nên cơ quan và người có thẩmquyền tiến hành tổ tụng cũng không thể áp dụng các biện pháp: Giữ ngườitrong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang
bị truy nã hay tạm giữ Lúc này, cũng không thể áp dụng tạm giam vì căn
cứ theo Khoản 2 Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, chỉ có thể áp dụng với các bị can, bị cáo tội ít nghiêm trọng trong trường hợp có căn cứ xác định các bị cáo rơi vào các trường hợp ở Điểm a,b,c,d,đ Khoản 2 Điều
119 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 Mặc dù lúc này các bị cáo là bị cáo tội ítnghiêm trọng ( như đã phân tích ở trên ) tuy nhiên chưa xuất hiện các căn
cứ ở Điểm a,b,c,d,đ Khoản 2 Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 Cho nên, cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tổ tụng quyết định áp dụng các biện pháp: Bảo lĩnh và cấm đi khỏi nơi cư trú Bảo lĩnh là biện pháp thay thế tạm giam và được quyết định áp dụng căn cứ tính chất, mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo =>
Vì các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng cho nên tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi là chưa cao Và các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ ở b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 ( Phạm tội lần đầu trong trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải,… ) => Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh là hoàn toàn hợp lí, đúng pháp luật Về biện pháp ngăn
Trang 11chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, vì các bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng => Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú là hoàn toàn hợp
lí, đúng pháp luật nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập Tuynhiên, các bị cáo lại vi phạm nghĩa vụ cam đoan, không tuân thủ biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đã
bỏ trốn gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án => Lúc này, căn cứ theo Khoản 2 Điều 123, Khoản 3 Điều 121 và Điểm a Khoản 2 Điều 119
Bộ luật tố tụng hình sự 2015, hoàn toàn có thể thay thế 2 biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và cấm đi khỏi nơi cư trú bằng biện pháp ngăn chặn tạm giam
III KHÁI NIỆM :
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được
áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với những người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự
IV PHÂN LOẠI :
Có 10 loại biện pháp ngăn chặn :
1 Giữ người trong trường hợp khẩn cấp
Căn cứ theo điều 110 Bộ luật TTHS 2015 :
Điều 110 Giữ người trong trường hợp khẩn cấp
1 Khi thuộc một trong các trường hợp khẩn cấp sau đây thì được giữ người:
Trang 12a) Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
b) Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
c) Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
2 Những người sau đây có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp:
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;
b) Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;
c) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.
3 Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị giữ, lý do, căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều này
và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này Việc thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 113 của Bộ luật này.
Trang 134 Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra,
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.
Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, những người quy định tại điểm c khoản 2 Điều này phải giải ngay người bị giữ kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đến Cơ quan điều tra nơi có sân bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu trở về Trong thời hạn 12 giờ
kể từ khi tiếp nhận người bị giữ, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay
và những người quy định tại điểm a khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc trả tự
do ngay cho người đó Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.
Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị giữ, lý do, căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều này và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
5 Hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp gồm:
a) Văn bản đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;
b) Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định tạm giữ;
c) Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp;
Trang 14d) Biên bản ghi lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; đ) Chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp.
6 Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều này Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên phải trực tiếp gặp, hỏi người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp Biên bản ghi lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp do Kiểm sát viên lập phải đưa vào hồ sơ vụ việc, vụ án Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn Trường hợp Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì người đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp,
Cơ quan điều tra đã nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải trả tự do ngay cho người bị giữ.
2 Bắt người phạm tội quả tang :
Căn cứ theo điều 111 Bộ luật TTHS 2015 :
Điều 111 Bắt người phạm tội quả tang
1 Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra
có thẩm quyền.
2 Khi bắt người phạm tội quả tang thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.
Trang 153 Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
3 Bắt người đang bị truy nã :
Căn cứ theo điều 112 Bộ luật TTHS 2015 :
Điều 112 Bắt người đang bị truy nã
1 Đối với người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt
và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận
và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
2 Khi bắt người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.
3 Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người đang bị truy nã thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí
và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
4 Bắt bị can , bị cáo để tạm giam
Căn cứ theo điều 113 Bộ luật TTHS 2015 :
Điều 113 Bắt bị can, bị cáo để tạm giam
1 Những người sau đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam:
Trang 16a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
c) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh
án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.
2 Lệnh bắt, quyết định phê chuẩn lệnh, quyết định bắt phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị bắt; lý do bắt và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
Người thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh, quyết định; giải thích lệnh, quyết định, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt; giao lệnh, quyết định cho người bị bắt.
Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người khác chứng kiến Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc, học tập phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập chứng kiến Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người.
3 Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã.