TÓM TẮT LUẬN VĂN NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH LỰA CHỌN NHÀ ĐẦU TƯ BÃI ĐỖ XE THÔNG MINH TẠI ĐÀ NẴNG THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ Học viên: Hồ Bảo Uyên Chuyên ngành: Quản lý xây dựng Mã số: 8580
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
HỒ BẢO UYÊN
NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH LỰA CHỌN NHÀ ĐẦU TƯ
BÃI ĐỖ XE THÔNG MINH TẠI ĐÀ NẴNG THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ XÂY DỰNG
Đà Nẵng - Năm 2022
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
HỒ BẢO UYÊN
NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH LỰA CHỌN NHÀ ĐẦU TƯ
BÃI ĐỖ XE THÔNG MINH TẠI ĐÀ NẴNG THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ
Chuyên ngành : Quản lý xây dựng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn này là trung thực và không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu
đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả luận văn
Hồ Bảo Uyên
Trang 4TÓM TẮT LUẬN VĂN
NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH LỰA CHỌN NHÀ ĐẦU TƯ BÃI ĐỖ XE
THÔNG MINH TẠI ĐÀ NẴNG THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ
Học viên: Hồ Bảo Uyên Chuyên ngành: Quản lý xây dựng
Mã số: 8580302 Khóa: K39 Trường Đại học Bách khoa – ĐHĐN
Tóm tắt – Hiện nay, tại thành phố Đà Nẵng, việc quy hoạch, đầu tư và đưa vào vận hành các
bãi đỗ xe là một trong những công việc bức thiết hàng đầu trong quá trình thiết lập trật tự đô thị Ngoài ra, nhằm sử dụng hiệu quả quỹ đất dành cho giao thông tĩnh, đảm bảo tối ưu hóa hiệu quả đầu tư, việc đẩy mạnh kêu gọi đầu tư các bãi đỗ xe trên địa bàn thành phố theo hình thức đối tác công tư (PPP), loại hợp đồng BOT là điều cần thiết và phù hợp với định hướng phát triển của thành phố Đà Nẵng Các dự án PPP cần tổ chức đấu thầu rộng rãi, công khai, minh bạch để lựa chọn nhà đầu tư có đủ năng lực, giúp dự án triển khai đúng kế hoạch, đảm bảo về chất lượng và thời gian thu hồi vốn Để giải quyết vấn đề này, Luận văn đã khảo sát các tiêu chí ảnh hưởng quan trọng đến quyết định lựa chọn nhà đầu tư bãi đỗ xe thông minh tại Đà Nẵng theo hình thức PPP, loại hợp đồng BOT và áp dụng mô hình phân tích thứ bậc AHP (Analytic Hierarchy Process) như công cụ hỗ trợ ra quyết định để tính toán các trọng số của các tiêu chí ảnh hưởng Dựa trên kết quả phân tích, mô hình nghiên cứu đã xác định được
bộ tiêu chí và mức ảnh hưởng của từng tiêu chí trong việc lựa chọn nhà đầu tư Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể hỗ trợ cho cho các cơ quan chuyên môn của UBND thành phố Đà Nẵng có một cái nhìn toàn diện, đầy đủ và góp phần đẩy nhanh công tác lựa chọn nhà đầu tư trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư cho dự án
Từ khóa - Bãi đỗ xe thông minh, PPP, hệ hỗ trợ ra quyết định, phương pháp phân tích thứ bậc
RESEARCH FOR THE MODEL OF SELECTION OF INVESTORS FOR SMART PARKING LOT IN DA NANG IN THE PUBLIC PRIVATE
PARTNERSHIP Abstract – At present, in Danang City, planning, investment and operation of parking lots is
one of the top jobs in the process of setting up urban order In addition, the promotion of investment in the area of the city' s parking lot in Public Private Partnerships (PPP), the type
of BOT which is necessary and in accordance with the city' s development orientations, make sure to optimize investment efficiency PPP projects need to organize a wide - ranging, public and transparent bidding for selection of investors with capacity, to assist project implementation correctly and ensure the quality and time of capital recovery To solve this problem, the thesis investigated the criteria that influenced the decision to select investors for smart parking lot in Da Nang in PPP, BOT contract and applied the Analytic Hierarchy Process (AHP) as decision support tools to calculate the weights of the impact criteria Based
on the results of the analysis, the proposed model has identified the set of criteria and the impact of each criterion in the selection of investors Research results can assist the specialized agencies of the People's Committee of Da Nang City to have a comprehensive and complete view, contribute to speeding up the selection of investors in the investment preparation phase for the project
Key words – Smart parking lot, PPP, decision support systems, analytic hierarchy
process
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
TÓM TẮT LUẬN VĂN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỰA CHỌN NHÀ ĐẦU TƯ BÃI ĐỖ XE THÔNG MINH THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP) 5
Những vấn đề cơ bản về hợp tác công - tư (PPP) 5
1.1.1 Khái quát về hình thức hợp tác công - tư (PPP) 5
Hợp tác công – tư trong đầu tư dự án bãi đỗ xe thông minh 10
1.2.1 Sơ lược về bãi đỗ xe thông minh 10
1.2.2 Nhu cầu và tình hình triển khai bãi đỗ xe của thành phố Đà Nẵng 11
1.2.3 Động cơ thúc đẩy sự tham gia của Nhà nước và tư nhân đối với dự án bãi đỗ xe thông minh theo hình thức PPP 12
1.2.4 Mô hình triển khai dự án bãi đỗ xe thông minh theo hình thức đối tác công tư 14
Lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án bãi đỗ xe thông minh theo hình thức PPP 17
1.3.1 Thực trạng về việc lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án PPP trong thời gian qua 17
1.3.2 Các hình thức và quy trình lựa chọn nhà đầu tư bãi đỗ xe thông minh theo hình thức PPP 18
CHƯƠNG 2 - ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP AHP VÀ XÁC ĐỊNH TIÊU CHÍ LỰA CHỌN NHÀ ĐẦU TƯ BÃI ĐỖ XE THÔNG MINH THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP) 21
Về phương pháp định lượng Analytic Hierarchy Process (AHP) 21
2.1.1 Giới thiệu phương pháp AHP 21
2.1.2 Các nguyên tắc cơ bản của phương pháp AHP 23
2.1.3 Phân tích và thiết lập cấu trúc thứ bậc 23
Trang 62.1.5 Tính toán ma trận trọng số chuẩn hóa và vecto trọng số 26
2.1.6 Đo lường sự nhất quán 27
2.1.7 Các bước thực hiện phương pháp AHP 29
Nghiên cứu và xây dựng các tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư 30
Khảo sát ý kiến chuyên gia thông qua việc thiết kế bảng khảo sát 33
Tổng hợp số liệu khảo sát của chuyên gia 35
2.4.1 Thiết kế mẫu khảo sát 35
2.4.2 Đối tượng được khảo sát 35
2.4.3 Thu thập dữ liệu khảo sát 36
2.4.4 Tổng hợp kết quả khảo sát 36
Về Hệ thống tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư 39
CHƯƠNG 3 - XÂY DỰNG MÔ HÌNH RA QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN NHÀ ĐẦU TƯ BÃI ĐỖ XE THÔNG MINH THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP), LOẠI HỢP ĐỒNG BOT 45
Áp dụng phương pháp AHP để xây dựng mô hình ra quyết định lựa chọn nhà đầu tư bãi đỗ xe thông minh theo hình thức PPP, loại hợp đồng BOT tại thành phố Đà Nẵng 45
3.1.1 Mức độ ưu tiên của các tiêu chí chính 45
3.1.2 Mức độ ưu tiên của các tiêu chí nhánh trong mỗi tiêu chí chính 47
Hệ thống hỗ trợ ra quyết định với sự kết hợp của máy tính 66
3.2.1 Giới thiệu về hệ thống hỗ trợ ra quyết định 66
3.2.2 Nghiên cứu, ứng dụng hệ thống hỗ trợ ra quyết định đối với đề tài: 66
3.2.3 Kết quả xuất dữ liệu từ phần mềm Expert Choice 66
KẾT LUẬN 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AHP : Phương pháp phân tích thứ bậc (Analytic Hierarchy Process) Hợp đồng BOT : Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao
MCDA : Hệ hỗ trợ ra quyết định dựa trên nhiều tiêu chí (Multiple
criteria decision analysis)
Trang 82.7 Các nghiên cứu liên quan đến việc xây dựng tiêu chí lựa chọn
2.8
Đề xuất Bộ tiêu chí ra quyết định lựa chọn Nhà đầu tư bãi đỗ xe
thông minh theo hình thức đối tác công tư PPP, loại hợp đồng
BOT
31
2.9 Thống kê chuyên môn và kinh nghiệm của các chuyên gia 352.10 Tổng hợp kết quả khảo sát chuyên gia giai đoạn 1 36
2.13 Kết quả mức độ ưu tiên các tiêu nhánh thuộc tiêu chí “Năng lực
3.3 Tổng hợp so sánh cặp giữa các tiêu chí nhánh thuộc tiêu chí
3.4 Tổng hợp so sánh cặp giữa các tiêu chí nhánh thuộc tiêu chí
3.5 Trọng số của các tiêu chí nhánh thuộc tiêu chí chính 52
Trang 101.2 Các loại hình thức hợp đồng PPP theo Luật PPP 2020 10
2.2 Mô tả quy trình khảo sát lấy ý kiến các chuyên gia theo 02 giai
2.3 Cây tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư sau khi khảo sát giai đoạn 1 393.1 Cây trọng số các tiêu chí sau khi áp dụng phương pháp AHP 53
3.3 Kết quả trọng số của các tiêu chí chính và tiêu chí nhánh 673.4 Kết quả trọng số của các tiêu chí nhánh thuộc tiêu chí chính "Năng
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Đà Nẵng là thành phố trung tâm và lớn nhất khu vực miền Trung Tây Nguyên, gồm các khu đô thị tập trung với mật độ dân số cao, diện tích sử dụng
-đô thị (đất ở, kinh doanh/thương mại, công nghiệp, cơ quan…) chỉ chiếm khoảng 10% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó, khu vực trung tâm thành phố đang chịu một áp lực ngày càng gia tăng về điều kiện hạ tầng do số lượng các tuyến đường làm mới không theo kịp với tốc độ tăng trưởng dân số
Mặc khác, cùng với sự phát triển kinh tế, sự gia tăng dân số, đời sống và thu nhập của người dân được cải thiện đáng kể, số lượng xe ô tô đăng ký mới trên địa bàn thành phố Đà Nẵng gia tăng rất nhanh trong thời gian gần đây, tốc độ gia tăng bình quân từ năm 2013 đến nay là hơn 24,2%; ngoài ra, lượng xe ngoại tỉnh tham gia giao thông trên địa bàn thành phố tăng thêm khoảng trên 21%
Hiện nay, tình trạng đỗ xe trên các tuyến đường vừa gây cản trở giao thông, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tai nạn giao thông, ảnh hưởng cảnh quan đô thị thành phố, vừa góp phần gây ách tắc giao thông vào giờ cao điểm Tuy nhiên, các bãi đỗ xe hiện trạng trên địa bàn quận Hải Châu và Thanh Khê chỉ đáp ứng được lần lượt khoảng 59,1% và 23,1% nhu cầu đậu đỗ xe hiện trạng [1]
Do đó, để đáp ứng nhu cầu đậu đỗ xe ô tô cũng như giải quyết tình trạng đỗ xe
ô tô trên các tuyến đường thì việc quy hoạch, đầu tư và đưa vào vận hành các bãi đỗ xe
là một trong những công việc bức thiết hàng đầu trong quá trình thiết lập trật tự đô thị
Hệ thống bãi đỗ xe ô tô là một bộ phận không thể tách rời với mạng lưới giao thông và vận tải đô thị, đóng góp vào quá trình phát triển của đô thị, nâng cao chất lượng phục
vụ của hệ thống giao thông, tăng tiện ích và chất lượng cuộc sống của dân cư đô thị
Trong đó, việc thiết kế bãi đỗ xe ô tô cần tuân thủ các quy chuẩn, quy định hiện hành về quy hoạch xây dựng Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Quy hoạch Xây dựng QCVN 01:2019/BXD quy định diện tích dành cho một chỗ đỗ xe ô tô cần 25m2
và một chỗ đỗ xe máy cần 3m2; tuy nhiên, hiện trạng quỹ đất dành cho hạ tầng giao thông nói chung, giao thông tĩnh nói riêng còn hạn chế, đặc biệt khu vực trung tâm nhưng nhu cầu đậu đỗ xe ngày càng tăng cao
Trên cơ sở đó, nhằm góp phần từng bước triển khai thực hiện chương trình thành phố thông minh, đảm bảo tối ưu hóa hiệu quả đầu tư, tiết kiệm nguồn lực nhà nước do khả năng đầu tư các bãi đỗ xe công cộng từ ngân sách nhà nước còn hạn chế, phát huy tiềm năng và nguồn lực từ khối tư nhân, cơ hội tiếp cận với các công nghệ hiện đại, tiên tiến và đảm bảo cung cấp dịch vụ chất lượng cao, đẩy mạnh kêu gọi đầu tư các bãi đỗ xe trên địa bàn thành phố theo hình thức đối tác công tư (PPP) là điều cần thiết trong thời gian đến và phù hợp với định hướng phát triển của thành phố Đà Nẵng
Trang 12Để phát huy lợi thế từ các dự án theo hình thức PPP mang lại, công tác chọn lựa nhà đầu tư là khâu hết sức quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sự thành bại của dự án Các
dự án PPP cần tổ chức đấu thầu rộng rãi, công khai, minh bạch, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, nâng cao tính giải trình để lựa chọn nhà đầu tư có đủ năng lực, giúp
dự án triển khai đúng kế hoạch, đảm bảo về chất lượng và thời gian thu hồi vốn Tuy nhiên, trong những năm vừa qua việc triển khai lựa chọn nhà đầu tư các dự án PPP vẫn còn rất nhiều hạn chế, bất cập do còn nhiều vướng mắc, khó khăn về cơ sở pháp lý Vì vậy, nhằm phát huy tối đa hiệu quả của các dự án PPP, Luật số 64/2020/QH14 về đầu
tư theo phương thức đối tác công tư đã được ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021, tạo khuôn khổ pháp lý chung, có hiệu lực cao, lâu dài và ổn định cho việc thực hiện các dự án PPP tại Việt Nam; đồng thời các Bộ chuyên ngành đã ban hành các thông tư quy định chi tiết việc thi hành một số nội dung tại Luật đầu tư theo phương thức PPP để đảm bảo tính linh hoạt trong điều hành, tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ trong quá trình thực hiện dự án PPP, đặc biệt là công tác lựa chọn nhà đầu tư Liên quan đến vấn đề này, quá trình lựa chọn nhà đầu tư phải được xem xét một cách tổng thể với nhiều tiêu chí lựa chọn để đạt mục tiêu của dự án trên quá trình ra quyết định
đa tiêu chuẩn
Trong thực tế, việc đưa ra quyết định khi có nhiều tiêu chí ảnh hưởng là một vấn đề phức tạp, điều đó đòi hỏi việc áp dụng các phương pháp định lượng trong việc
hỗ trợ ra quyết định đa tiêu chí Việc ra quyết định lựa chọn nhà đầu tư hiệu quả, phù hợp với dự án bãi đỗ xe thông minh theo hình thức PPP được xem là một vấn đề khó
vì đây là một trong những loại hình dự án mới, giải quyết nhu cầu cấp bách, mang lại hiệu quả về kinh tế - xã hội tại thành phố Đà Nẵng Do đó, việc lựa chọn nhà đầu tư cần phải được xem xét trên nhiều tiêu chí nhằm nâng cao tính chính xác và tính toàn diện, phải xác định được trọng số của các tiêu chí để đưa ra sự lựa chọn tối ưu, nhằm nâng cao hiệu quả của dự án
Multiple criteria decision analysis (MCDA) là hệ hỗ trợ ra quyết định dựa trên nhiều tiêu chí MCDA hỗ trợ trong việc xác định sự cân bằng giữa các tiêu chí khác nhau và đưa ra kết quả tốt nhất; giúp quản lý sự phức tạp của các tiêu chí bằng cách chuyển đổi từ việc đánh giá định tính sang việc lượng hóa bằng cách cho điểm số Trong đó, mô hình Analytic Hierarchy Process - AHP là phương pháp phân tích thứ bậc giúp người thực hiện đưa ra quyết định để lựa chọn phương án phù hợp nhất trên
cơ sở xác định và phân cấp các yếu tố ảnh hưởng, tác động đến một vấn đề cần giải quyết; giúp giảm thiểu rủi ro khi đưa ra các quyết định thực hiện Để giải quyết bài toán lựa chọn đa tiêu chí, mô hình AHP được xem là một công cụ hiệu quả trong thực
tế đối với nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau
Xuất phát từ thực trạng nêu trên, việc nghiên cứu, lựa chọn đề tài “Nghiên cứu
mô hình lựa chọn nhà đầu tư bãi đỗ xe thông minh tại Đà Nẵng theo hình thức đối tác công tư” là thực sự cần thiết, nhằm đáp ứng nhu cầu đẩy mạnh đầu tư xây dựng
Trang 13các bãi đỗ xe thông minh trên địa bàn thành phố trong giai đoạn hiện nay và phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển trong tương lai, đồng thời phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước của các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền trong các bước triển khai thực hiện dự án
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Xác định các tiêu chí để lựa chọn nhà đầu tư bãi đỗ xe thông minh tại Đà Nẵng theo hình thức PPP, hợp đồng BOT
- Đánh giá, tính trọng trọng số mức độ ảnh hưởng của các tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư
- Từ những tiêu chí và mức độ ảnh hưởng của tiêu chí đó, đề xuất mô hình lựa chọn nhà đầu tư bãi đỗ xe thông minh theo hình thức PPP bằng phương pháp phân tích thứ bậc AHP
3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện đối với các dự án bãi đỗ xe thông minh tại Đà Nẵng theo hình thức PPP, hợp đồng BOT trong công tác lựa chọn nhà đầu tư dự án
- Đối tượng khảo sát: dữ liệu thu thập từ việc khảo sát các chuyên gia của các bên liên quan trong quá trình thực hiện dự án PPP tại thành phố Đà Nẵng; có kinh nghiệm, chuyên môn và đã từng tham gia trong công tác tham mưu, triển khai ít nhất
05 dự án PPP, am hiểu về công tác lựa chọn nhà đầu tư và những văn bản pháp luật hiện hành liên quan đến dự án PPP
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu:
- Thiết kế bảng câu hỏi
- Khảo sát ý kiến các chuyên gia
- Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
- Phân tích dữ liệu
- Phương pháp định tính và định lượng AHP
- Ứng dụng các tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư vào công trình minh họa thực tế
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về mặt thực tiễn:
+ Nghiên cứu đưa ra các tiêu chí và trọng số mức độ ảnh hưởng của các tiêu chí
để lựa chọn nhà đầu tư bãi đỗ xe thông minh tại Đà Nẵng theo hình thức PPP, hợp đồng BOT
+ Nghiên cứu giúp cho các cơ quan chuyên môn của UBND thành phố Đà Nẵng
có một cái nhìn toàn diện, đầy đủ hơn về những tiêu chí và trọng số ảnh hưởng của các tiêu chí đến việc ra quyết định lựa chọn nhà đầu tư bãi đỗ xe thông minh tại Đà Nẵng
Trang 14góp phần đẩy nhanh công tác lựa chọn nhà đầu tư trong giai đoạn chủ bị đầu tư cho dự
án, phù hợp với quy hoạch và định hướng phát triển của thành phố
- Về mặt khoa học:
+ Xây dựng các tiêu chí và trọng số mức độ ảnh hưởng của các tiêu chí trong lựa chọn nhà đầu tư bãi đỗ xe thông minh tại Đà Nẵng theo hình thức PPP, hợp đồng BOT
Trang 15CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỰA CHỌN NHÀ ĐẦU TƯ BÃI ĐỖ
XE THÔNG MINH THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP)
Những vấn đề cơ bản về hợp tác công - tư (PPP)
1.1.1 Khái quát về hình thức hợp tác công - tư (PPP)
1.1.1.1 Cơ sở ra đời hình thức hợp tác công - tư (PPP)
Xét trên góc độ quốc gia hay địa phương thì việc thực hiện cung cấp cơ sở hạ tầng, dịch vụ công do các cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện, nguồn vốn sử dụng từ nguồn ngân sách nhà nước cùng các nguồn vốn khác như vay ODA, viện trợ Tuy nhiên, nguồn ngân sách quốc gia luôn có hạn so với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu di chuyển đi lại của người dân Với áp lực rất lớn từ việc phải phát triển
cơ sở hạ tầng hiện đại để đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển của nền kinh tế và của
xã hội, đã thúc đẩy các chính phủ phải tìm ra cách thức mới để có thể tận dụng mọi nguồn lực “nguồn nội lực bên trong quốc gia và quốc tế” tham gia vào phát triển hạ tầng kỹ thuật đặc biệt là hạ tầng giao thông thông qua hợp tác giữa nhà nước với các bên tham gia và hình thức PPP đã ra đời
1.1.1.2 Khái niệm hình thức hợp tác công - tư (PPP)
Có rất nhiều nghiên cứu và các tài liệu khác nhau đề cập tới khái niệm về hình thức PPP Từ góc độ lý luận, các nghiên cứu có cách tiếp cận khác nhau đưa ra những khái niệm khác nhau về PPP Một cách chung nhất, PPP bao gồm các hoạt động trong
đó khu vực tư nhân được trao quyền trong một quãng thời gian để vận hành lĩnh vực
mà theo truyền thống thuộc về Nhà nước [2]
Tuy nhiên những học giả khắt khe về học thuật đòi hỏi đưa ra khái niệm PPP thông qua việc xác định những yếu tố chủ chốt của PPP là: quan hệ đối tác giữa khu vực công và khu vực tư, hợp tác để đạt được mục tiêu chung, bao gồm việc chia sẻ rủi
ro, trách nhiệm Dựa vào đó, PPP được định nghĩa là một thoả thuận hợp tác giữa khu vực công và tư trong đó chia sẻ nguồn lực, rủi ro, trách nhiệm, lợi ích với nhau nhằm đạt được các mục tiêu chung [3]
Dưới góc độ thực tiễn, các chính phủ, tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ cũng đưa ra khái niệm PPP phù hợp trong phạm vi, lĩnh vực của mình, hướng đến việc nhấn mạnh các khía cạnh đặc trưng của hình thức PPP Do có nhiều hình thức
dự án PPP trong những điều kiện khác nhau, ở các quốc gia khác nhau nên cũng tồn tại rất nhiều khái niệm khác nhau về PPP, thường là có phạm vi khá rộng để có thể
áp dụng được ở nhiều nước, nhiều lĩnh vực Khái niệm của ADB mô tả tương đối đầy
đủ về hình thức PPP: “PPP là các mối quan hệ giữa Nhà nước và tư nhân liên quan
đến quản lý, đầu tư trong lĩnh vực CSHT và các lĩnh vực dịch vụ khác thông qua các hợp đồng được thiết lập theo các mức độ nghĩa vụ, quyền lợi và rủi ro của hai bên đối tác [4]
Trang 16Bảng 1.1 Khái niệm PPP tại một số quốc gia trên thế giới
STT Nguồn từ các quốc gia Khái niệm PPP
1 Ủy ban Quốc gia về PPP
của Vương quốc Anh
PPP là một kiểu quan hệ chia sẻ rủi ro xuất phát từ nguyện vọng chung của cả khu vực tư nhân và khu vực công nhằm đạt được kết quả mong muốn
2 Hội đồng Quốc gia về
PPP của Canada
PPP là một kiểu hợp tác liên doanh giữa khu vực công với khu vực tư, được xây dựng trên cơ sở chia sẻ kinh nghiệm chuyên môn của mỗi bên, nhằm đáp ứng tốt nhất các nhu cầu đã được xác định rõ của xã hội thông qua việc phân bổ hợp lý các nguồn lực, các kết quả và cả các rủi ro
sẻ để cung cấp một dịch vụ công hoặc phát triển
hạ tầng công cộng
Ở Việt Nam, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 đưa ra khái niệm đầu tư theo hình thức PPP như sau [6]: “Đầu tư theo phương thức đối tác công tư là phương thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp tác có thời hạn giữa Nhà nước và nhà đầu tư tư nhân thông qua việc ký kết và thực hiện hợp đồng dự án PPP nhằm thu hút nhà đầu tư tư nhân tham gia dự án PPP” Trong đó, Dự án PPP là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc đầu tư để cung cấp sản phẩm, dịch vụ công thông qua việc thực hiện một hoặc các hoạt động: Xây dựng, vận hành, kinh doanh công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng; cải tạo, nâng cấp, mở rộng, hiện đại hóa, vận hành, kinh doanh công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng sẵn có; vận hành, kinh doanh công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng sẵn có Định nghĩa này đã được điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế, mang tính khái quát và nhấn mạnh vào mục tiêu cụ thể của dự án PPP so với Nghị định 63/2018/NĐ-CP ngày 04/5/2018 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư
Dựa vào những phân tích ở trên, mặc dù có những định nghĩa khác nhau về PPP, nhưng chúng đều có đặc điểm chung thể hiện rằng quan hệ đối tác công - tư là sự thỏa thuận giữa khu vực công (Chính phủ hoặc cơ quan có thẩm quyền khác) và khu vực tư nhân trong đầu tư phát triển, vận hành hệ thống cơ sở hạ tầng, nhằm đạt được các mục tiêu; liên quan đến việc chia sẻ rủi ro, trách nhiệm và lợi ích giữa hai khu vực
và được thực hiện thông qua dự án
1.1.1.3 Đặc trưng của hợp tác công – tư PPP
Tuy có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng đều có một cách hiểu chung về hình thức PPP thông qua một số đặc trung chủ yếu sau :
Trang 17Thứ nhất, hình thức PPP là một hợp đồng dài hạn giữa Nhà nước và đối tác tư nhân liên quan đến cung cấp công trình hạ tầng và dịch vụ;
Thứ hai, đối tác tư nhân thiết kế, xây dựng, cung cấp tài chính, bảo dưỡng và cung cấp các dịch vụ phụ trợ liên quan đến công trình hạ tầng do tư nhân xây dựng trong một khoảng thời gian cụ thể,
Thứ ba, đóng góp của Nhà nước thông qua thiết lập các tiêu chuẩn về cung cấp dịch vụ, đất đai, vốn, chia sẻ rủi ro, mua các dịch vụ đã thoả thuận;
Thứ tư, đối tác tư nhân nhận được thanh toán từ phía Nhà nước hoặc người sử dụng về hiệu suất trong việc cung cấp các dịch vụ và công trình hạ tầng
1.1.1.4 Các dạng hình thức hợp tác PPP
a) Các dạng hình thức PPP trên thế giới
Hình 1.1 Các dạng hình thức PPP trên thế giới (Nguồn: Bộ Xây dựng 2019)
Qua khái niệm và những đặc trưng của hình thức PPP trong xây dựng, Hình 1.1minh họa các hình thức PPP [5], từ trái sang phải chỉ ra sự tăng lên về:
- Chuyển giao rủi ro và trách nhiệm tài chính cho đối tác tư nhân;
- Tính phức tạp của cơ cấu hợp đồng ;
- Cam kết đối với chính sách phát triển công trình hạ tầng của Nhà nước
Trong đó:
- Hợp đồng dịch vụ, hợp đồng quản lý
+ Hợp đồng dịch vụ: là hợp đồng thoả thuận giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với một đối tác tư nhân, trong đó cơ quan nhà nước thuê đối tác tư nhân thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, dịch vụ cụ thể trong một thời gian nhất định
+ Hợp đồng quản lý: là hợp đồng giữa các Cơ quan nhà nước có thẩm quyền với đối tác tư nhân, trong đó thoả thuận cho đối tác tư nhân được quản lý dịch vụ công
- Nhượng quyền khai thác (Franchise), cho thuê (Leasing)
+ Hình thức cho thuê (Leasing): Với hình thức này, Nhà nước cho đối tác tư
Tư nhân cung cấp (Nhà nước điều chỉnh)
Hợp đồng
BT, O&M
…
Hợp đồng BOT, BOO, …
Tư nhân hoàn toàn
Hợp tác công – tư (PPP) Đầu tư truyền thống
Nhà nước
cung cấp
Hợp đồng dịch vụ, quản lý
Nhượng quyền khai thác, cho thuê
Trang 18khai thác, vận hành và cung cấp các dịch vụ công Theo thoả thuận cho thuê, đối tác tư nhân phải thanh toán tiền thuê cho Nhà nước một khoản cố định, không phụ thuộc vào khả năng thu phí từ người sử dụng Và do đó, trong hình thức này đối tác tư nhân chịu hoàn toàn rủi ro kinh doanh
+ Hình thức nhượng quyền khai thác (Franchise): Là hình thức PPP trong đó, Nhà nước nhượng quyền vận hành, khai thác và cung cấp dịch vụ công cho đối tác tư nhân dựa trên tài sản công trình hạ tầng sẵn có thuộc quyền sở hữu của Nhà nước Nhưng khác với hình thức cho thuê, đối tác tư nhân phải trả một khoản phí cố định theo thỏa thuận cho Nhà nước, thì trong hình thức nhượng quyền, đối tác tư nhân được phép thu phí sử dụng dịch vụ và trả một khoản phí cho cơ quan Nhà nước theo tỷ lệ trên một đơn vị dịch vụ bán ra, đồng thời được phép giữ lại một phần doanh thu Theo
đó, với hình thức nhượng quyền khai thác, rủi ro kinh doanh của đối tác tư nhân thường thấp hơn so với hình thức cho thuê
- Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án (nếu có) để xây dựng công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho
cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được thanh toán bằng quỹ đất, trụ sở làm việc, tài sản kết cấu hạ tầng hoặc quyền kinh doanh, khai thác công trình, dịch vụ để thực hiện
dự án khác
Tại một số nước trên thế giới, hợp đồng BT không được xem là một hình thức PPP vì thời hạn của hợp đồng tương đối ngắn và khu vực tư nhân chỉ chia sẻ rủi ro và trách nhiệm quản lý ở mức hạn chế
- Hợp đồng Kinh doanh – Quản lý (O&M) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để kinh doanh một phần hoặc toàn bộ công trình trong một thời hạn nhất định
- Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án được quyền kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu
tư, doanh nghiệp dự án chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền Như vậy, Hợp đồng BOT cho phép đối tác tư nhân đầu tư vốn xây dựng CSHT
và được phép vận hành, khai thác và cung cấp dịch vụ từ công trình CSHT đó trong một thời hạn nhất định nhằm thu phí, qua đó bù đắp chi phí đã bỏ ra và thu được một khoản lợi nhuận Kết thúc thời hạn hợp đồng, đối tác tư nhân phải chuyển giao không bồi hoàn công trình CSHT cho Nhà nước
- Hợp đồng Xây dựng - chuyển giao - vận hành (BTO) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền kinh doanh công
Trang 19trình đó trong một thời hạn nhất định Như vậy, hợp đồng BTO được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đối tác tư nhân, trong đó đối tác tư nhân bỏ vốn xây dựng công trình CSHT Sau khi xây dựng xong công trình, đối tác tư nhân chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho Nhà nước, đổi lại, Nhà nước dành cho đối tác tư nhân quyền vận hành, khai thác, cung cấp dịch vụ và thu phí từ công trình hạ tầng đó trong một thời hạn nhất định
- Hợp đồng Xây dựng - sở hữu - vận hành (BOO) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhả nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án sở hữu và được quyền vận hành công trình trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật
về đầu tư Hình thức hợp đồng BOO là hình thức trong đó Nhà nước và đối tác tư nhân thoả thuận: đối tác tư nhân bỏ vốn xây dựng công trình hạ tầng và được phép khai thác, vận hành công trình hạ tầng trong việc cung cấp dịch vụ Đối tác tư nhân có quyền sở hữu tài sản trong suốt vòng đời của nó
- Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ (BTL) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định; cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án
- Hợp đồng Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao (BLT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định; cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án; hết thời hạn cung cấp dịch vụ, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền
b) Các dạng hình thức PPP tại Việt Nam
Theo pháp luật Việt Nam, định nghĩa về PPP được sử dụng trong luật, nghị định chỉ đề cập đến các dự án đầu tư Các dự án PPP dịch vụ phi đầu tư (hợp đồng quản lý, dịch vụ hoặc hợp đồng cho thuê, nhượng quyền khai thác) không được bao gồm quy định Trên thế giới, PPP bao gồm cả PPP đầu tư (cơ sở hạ tầng) và PPP phi đầu tư (dịch vụ)
Tại Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020, các loại hình thức hợp đồng PPP được chia thành 03 nhóm, bao gồm 06 loại hình thức [6], cụ thể được
mô tả theo Hình 1.2
Trang 20
Hình 1.2 Các loại hình thức hợp đồng PPP theo Luật PPP 2020
Như vậy, bắt đầu kể từ ngày Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm
2020 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021 dừng dự án mới áp dụng loại hợp đồng BT, hay nói cách khác là loại bỏ BT ra khỏi các hình thức đầu tư PPP Giải trình liên quan đến nội dung này tại họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước công bố các Luật được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 9, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Vũ Đại Thắng cho biết: “việc ra đời hình thức này để nhà đầu tư tư nhân bỏ tiền ra
xây dựng các công trình hạ tầng, sau đó nhà nước trả quỹ đất để họ phát triển nhằm cân bằng hai chi phí Tuy nhiên, trong quá trình thảo luận, nhiều ý kiến cho rằng, hình thức này không có việc hợp tác giữa nhà nước và tư nhân trong đầu tư nên không thể coi đó là hình thức đầu tư PPP Do vậy loại hình BT không nằm trong nội dung của Luật PPP” Điều này cũng phù hợp với thông lệ quốc tế, các khuyến nghị của các tổ
chức phát triển trên thế giới và trên cơ sở báo cáo đánh giá hoạt động tình hình triển khai loại hình hợp đồng này trong thời gian qua đã để lại nhiều hệ lụy, dư luận không tốt; có tình trạng mua công trình giá đắt và đổi lại đất đai và tài sản công với giá rẻ gây thất thoát cho ngân sách nhà nước
Hợp tác công – tư trong đầu tư dự án bãi đỗ xe thông minh
1.2.1 Sơ lược về bãi đỗ xe thông minh
Theo quy định của Bộ Giao thông vận tải, bãi đỗ xe là công trình thuộc kết cấu
hạ tầng giao thông đường bộ thực hiện chức năng phục vụ trông giữ xe ô tô và các phương tiện giao thông đường bộ khác [7]
Hợp đồng hỗn hợp (Kết hợp giữa các loại hợp đồng)
Hợp đồng O&M
Hợp đồng BTL
Các loại hợp đồng PPP
Hợp đồng BLT
Hợp đồng hỗn hợp
Trang 21Ngày nay, tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, việc đưa công nghệ hiện đại vào cuộc sống đời thường đang ngày càng được áp dụng rộng rãi Đặc biệt là tại các khu vực trung tâm thành phố, khu thương mại, giao dịch, hoạt động quốc
tế, hoạt động xã hội… hay cả những khu đông dân thì việc đảm bảo trong công tác quản lý cũng như an ninh cho những phương tiện đi lại ngày càng được chú trọng Bên cạnh đó, tại nước ta số lượng ô tô và xe máy ngày càng tăng nhanh trong khi số lượng
và diện tích các bãi đỗ xe chưa đủ để đáp ứng Thực trạng này đòi hỏi sự ra đời của các bãi đỗ xe thông minh
Bãi đỗ xe thông minh là một ý tưởng xây dựng đỗ xe kết hợp với công nghệ và
sự đổi mới của con người với nỗ lực sử dụng ít tài nguyên nhất có thể Mô hình bãi đỗ
xe thông minh chính là việc sử dụng nhiên liệu, thời gian và không gian để có được chỗ đậu xe nhanh hơn, dễ dàng hơn Bãi đỗ xe thông minh hay hệ thống giao thông thông minh đều dựa trên nguyên tắc cơ bản là sự kết nối của tất cả các thiết bị, các thành phần Hệ thống quản lý bãi đỗ xe thông minh là một hệ thống tích hợp các công nghệ tiên tiến và thiết bị hiện đại như: giám sát bằng hệ thống camera, kiểm soát lưu lượng xe vào, ra bằng hệ thống thẻ từ, nhận diện biển số,…[8]
Bãi đỗ xe thông minh có thể chứa được số lượng xe từ gấp đôi đến gấp 50 lần
so với một bãi đỗ xe thông thường cùng diện tích Như vậy, mỗi công trình chỉ cần dành ra từ 5 – 10% diện tích xây dựng cho hệ thống bãi đỗ xe thông minh là có thể tạo
ra cảnh quan đẹp cho công trình và thành phố nói chung Một hệ thống bãi đỗ xe thông minh có thể được xây dựng trên một khu vực trống hay bên trong tòa nhà
1.2.2 Nhu cầu và tình hình triển khai bãi đỗ xe của thành phố Đà Nẵng
Theo kết quả rà soát và khảo sát các khu vực trung tâm thành phố, trên địa bàn
3 quận Hải Châu, Thanh Khê, và Sơn Trà, hiện nay thành phố có tổng cộng 56 bãi đỗ
xe bao gồm 24 bãi đỗ xe công cộng hiện trạng, 18 bãi đỗ xe hiện trạng phục vụ cá nhân, doanh nghiệp và 14 bãi đỗ xe tự phát do tư nhân tự đầu tư [1]
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và mục tiêu phát triển thành phố đến năm 2030 trở thành một trong những trung tâm kinh
tế - xã hội lớn của cả nước và Đông Nam Á với vai trò là trung tâm về khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, du lịch, thương mại, tài chính, logistics, công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin, công nghiệp hỗ trợ; trở thành đô thị sinh thái, hiện đại và thông minh, thành phố đáng sống; số lượng xe ô tô đăng ký mới trên địa bàn thành phố Đà Nẵng gia tăng rất nhanh, khoảng 24,2% (nếu không tính số liệu của năm 2020, năm chịu ảnh hưởng lớn của dịch Covid-19 thì tỷ lệ gia tăng là gần 37,7%) Tốc độ tăng trưởng xe ô tô trên địa bàn thành phố giai đoạn 2013-2021 được thể hiện tại Bảng 1.2
Trang 22Bảng 1.2 Tốc độ tăng trưởng xe ô tô trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2013 -2021
(Nguồn: Ban An toàn giao thông thành phố)
Tăng, giảm về số xe đăng ký mới so với cùng kỳ năm trước
Tăng/giảm theo tổng số xe đang quản lý
Theo số liệu khảo sát và dự báo nhu cầu đậu, đỗ xe cho từng giai đoạn đến năm 2030 tại 3 quận Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà được phê duyệt tại Quyết định 4201/QĐ-UBND ngày 17/9/2019 của UBND thành phố về việc phê duyệt Đề án Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, hạng mục Bãi đỗ xe (Giai đoạn 1 – Khu vực quận Hải Châu, Thanh Khê và quận Sơn Trà) thì đến năm 2030, nhu cầu đậu –
đỗ như sau:
- Quận Hải Châu: 514.250 m2 (51,4ha)
- Quận Thanh Khê: 197.000 m2 (19,7ha)
- Quận Sơn Trà: 483.500 m2 (48,3ha)
- Tổng nhu cầu diện tích đậu đỗ xe đến năm 2030 của 3 quận trung tâm là: 1.194.750 m2, tương đương khoảng gần 120ha
Tuy nhiên, để sử dụng hiệu quả tối đa quỹ đất dành cho giao thông tĩnh, đối với khu vực đô thị trung tâm, nơi có mật độ dân số cao và hạn chế về quỹ đất thì cần sắp xếp, xây dựng các bãi đỗ xe theo hình thức ưu tiên ứng dụng các công nghệ như thiết
kế, hình thành bãi đỗ cao tầng theo dạng xếp hình, theo dạng tháp hoặc bãi đỗ xe ngầm kết hợp trong các khu trung tâm thương mại, công viên
1.2.3 Động cơ thúc đẩy sự tham gia của Nhà nước và tư nhân đối với dự án
bãi đỗ xe thông minh theo hình thức PPP
Nền kinh tế thị trường đã chứng minh, một hình thức không đáp ứng được nhu cầu thị trường sẽ phải thay thế bằng các hình thức phù hợp hơn để đảm bảo cung cấp hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được nhu cầu xã hội Vậy thì động cơ nào sẽ thúc đẩy
Trang 23Nhà nước và Tư nhân tham gia đầu tư vào hình thức PPP, cụ thể là đối với dự án bãi
đỗ xe thông minh và do đó quyết định sự tồn tại, phát triển của hình thức này
1.2.3.1 Động cơ thúc đẩy sự tham gia của Nhà nước
Thứ nhất, lợi ích về kinh tế
Nhà nước có thể tăng hiệu quả kinh tế bằng việc cân đối động cơ của các bên trong hình thức PPP, và do đó, đảm bảo cung cấp dịch vụ chất lượng tốt hơn, với chi phí thấp hơn so với hình thức đầu tư truyền thống Khi đó tư nhân với mục tiêu nâng cao doanh thu và lợi nhuận sẽ nỗ lực hơn trong giai đoạn xây dụng đảm bảo công trình hoàn thành đúng tiến độ, tiết kiệm chi phí, đảm bảo chất lượng
Áp dụng hình thức PPP trong xây dựng bãi đỗ xe thông minh sẽ giúp: (i) Tăng
tốc độ thực hiện các dụ án trong hình thức PPP: kinh nghiệm trong áp dụng hình thức
PPP cho thấy rằng việc Nhà nước chuyển giao trách nhiệm cung cấp dịch vụ cho tư nhân có thể tăng tốc độ xây dựng nhằm sớm đưa dự án vào khai thác Điều này được
thực hiện bởi động lực lợi nhuận từ đối tác tư nhân (ii)Tăng chất lượng dịch vụ: Bằng
chứng và kinh nghiệm cho thấy hình thức PPP có thể đóng góp nâng cao chất lượng dịch vụ Điều này thể hiện qua việc chất lượng dịch vụ đáp ứng được yêu cầu của khách hàng và qua đó làm tăng lượng cầu, tạo thêm giá trị gia tăng Qua đó khẳng định, tăng chất lượng cung cấp dịch vụ sẽ góp phần nâng cao doanh thu hay động cơ
tăng doanh thu sẽ góp phần làm tăng chất lượng dịch vụ (iii) Tăng hiệu quả thực hiện
dự án bãi đỗ xe thông minh trong hình thức PPP: Thông qua tăng tốc độ thực hiện các
dự án, tăng chất lượng dịch vụ sẽ thúc đẩy tăng doanh thu, kiểm soát chi phí trong suốt vòng đời dự án Do đó, các dự án hình thức PPP có thể góp phần nâng cao hiệu quả trong trong cung cấp các bãi đỗ xe thông minh và các dịch vụ
Thứ hai, giảm áp lực về ngân sách thông qua việc tư nhân đầu tư vào công trình bãi đỗ xe thông minh
Các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng giao thông trong hình thức PPP ngày càng quan trọng và cần thiết đối với các nước đang phát triển Các nước đang phát triển đều trong tình trạng mất cân đối giữa nhu cầu với khả năng cung ứng vốn trong đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông Do đó, việc áp dụng hình thức PPP thì với cùng với một khoản ngân sách nhất định Nhà nước có thể đầu tư phát triển nhiều công trình hạ tầng trên cơ sở chỉ góp một phần vốn (phần vốn còn lại của tư nhân) Do đó, ngân sách Nhà nước được cân đối Giải pháp này đặc biệt có ý nghĩa trong điều kiện kinh tế thế giới suy thoái và nợ công tăng cao Vì vậy, hình thức PPP
là cơ hội để các quốc gia có thể phát triển công trình kết cấu hạ tầng giao thông mà không làm trầm trọng ngân sách
Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ hiện đại và tận dụng được nguồn lực hiệu quả
Áp dụng hình thức PPP trong xây dựng bãi đỗ xe thông minh sẽ giúp tận dụng
Trang 24tăng thêm tính tiện ích của dự án mang lại, như các ứng dụng trong hệ thống bãi đỗ xe kiểu xếp hình (Puzzle parking), bãi đỗ xe ô tô xoay vòng đứng/ngang (Rotary parking), mô hình tự động di chuyển pallet/robot, mô hình dạng tháp,…
Ngoài ra, việc tổ chức nhân lực cho công tác quản lý sẽ thuận tiện và hiệu quả hơn Nhà nước không phải tổ chức thêm nhân sự, làm phình to bộ máy quản lý, phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính và nâng cao chất lượng bộ máy hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay Bằng việc sử dụng bộ máy tổ chức quản lý có sẵn của khu vực tư nhân trực tiếp quản lý vận hành, Nhà nước sẽ không phải tổ chức thêm bộ máy và tập trung vào công tác quản lý nhà nước về ban hành chính sách, tạo điều kiện cho tư nhân thực hiện kiểm soát, hướng dẫn tư nhân thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, theo thỏa thuận giữa hai bên Có thể nói, cách thức quản lý sẽ là Nhà nước tập trung quản lý ở tầm vĩ mô, tư nhân trực tiếp quản lý vận hành cụ thể dự án Khu vực tư nhân giúp tiếp cận được với cách quản lý hiệu quả hoàn thành công trình đúng
thời hạn và khai thác công trình có hiệu quả nhất
1.2.3.2 Động cơ thúc đẩy sự tham gia của tư nhân trong hình thức PPP
Lý do nhiều người biết về sự tham gia của tư nhân trong hình thức PPP đó chính là doanh thu và lợi nhuận
Những lý do khác về sự tham gia của đối tác tư nhân trong hình thức PPP ít được phân tích rộng rãi trong các tài liệu, đó là:
- Trong hình thức PPP đối với công trình kết cấu hạ tầng giao thông, hay cụ thể
là bãi đỗ xe thông minh, lợi ích mà đối tác tư nhân nhận được là chia sẻ rủi ro và nhận được sự hỗ trợ của Nhà nước (hỗ trợ vốn, bảo lãnh doanh thu, chính sách, ) so với hình thức đầu tư hoàn toàn tư nhân
- Mặt khác, khi tham gia trong hình thức PPP, tư nhân có cơ hội đầu tư vào một thị trường mà trước đó do các rào cản chính trị hoặc do đặc điểm của thị trường hàng hóa công mà họ chưa được tham gia
Thông qua các động cơ thúc đẩy hay sự tham gia của Chính phủ và tư nhân trong hình thức PPP, có thể nhận định đây là hình thức phù hợp với sự đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông nói chung và cụ thể là bãi đỗ xe thông minh
1.2.4 Mô hình triển khai dự án bãi đỗ xe thông minh theo hình thức đối tác
công tư
1.2.4.1 Kinh nghiệm triển khai bãi đỗ xe theo hình thức PPP trên thế giới
Theo Báo cáo của World Bank [9], các quốc gia trên thế giới đang dần chuyển sang khu vực tư nhân để phát triển các bãi đỗ xe thông minh hoặc tiếp quản các bãi đỗ
xe hiện có và vận hành chúng theo các thỏa thuận lâu dài, một số trường hợp cụ thể theo Bảng 1.3
Trang 25Bảng 1.3 Kinh nghiệm triển khai bãi đỗ xe thông minh theo hình thức PPP trên thế giới
(Nguồn: World Bank - 2020)
BOOT (Build – Xây dựng, Own –
Sở hữu, Operate – Vận hành and Transfer – Chuyển giao)
- Dự án Bãi đỗ xe thông minh tại Trung tâm y tế Queen Elizabeth II
- Bãi đậu xe mới được mở theo từng giai đoạn từ cuối năm 2012, và cuối cùng sẽ cung cấp khoảng 5.140 vị trí đỗ xe cho nhân viên và du khách trong khu vực vào cuối năm 2015
2 Bhutan
DBFOT (Thiết kế, Xây dựng, Tài trợ, Vận hành và
Chuyển giao)
- Dự án bãi đỗ xe thông minh tại khu vực trung tâm thành phố Thimph – thủ đô của Bhutan
- 02 bãi đỗ xe cung cấp tối thiểu 500 vị trí
đỗ và thời gian của dự án là 22 năm (trong
đó có 2 năm xây dựng)
DBFOT (Thiết kế, Xây dựng, Tài trợ, Vận hành và
Chuyển giao)
- Dự án xây dựng bãi đỗ xe ngầm tại San Borja, Peru
- Bãi đỗ xe cung cấp tối thiểu 353 vị trí đỗ
và thời gian của dự án là 32 năm (trong đó
có 2 năm xây dựng)
Dự án Bãi đỗ xe tại Trường đại học Ohio
và thời gian nhượng quyền là 50 năm; đơn
vị tư nhân được nhượng quyền sử dụng, vận hành và quản lý bãi đỗ xe hiện có, đồng thời được phép cải tạo hệ thống bãi đỗ xe theo thỏa thuận của hợp đồng
5 Ấn độ
DBFOT (Thiết kế, Xây dựng, Tài trợ, Vận hành và Chuyển giao)
Dự án Tòa nhà đỗ xe thông minh theo hình thức PPPP tại thành phố Hubballi - Ấn độ
6 Qatar
DBFOT (Thiết kế, Xây dựng, Tài trợ, Vận hành và Chuyển giao)
Dự án Trung tâm đỗ xe tại thành phố Doha
- Qatar Nhìn chung, các nước trên thế giới thực hiện dự án bãi đỗ xe thông minh theo hình thức PPP đa phần sử dụng hình thức hợp đồng BOOT và DBFOT, với mục tiêu
Trang 26chính là tận dụng các lợi thế về nguồn lực, kinh nghiệm trong công tác quản lý, vận hành và khả năng tiếp cận công nghệ hiện đại của khối tư nhân
1.2.4.2 Tình hình triển khai bãi đỗ xe thông minh theo hình thức PPP tại Việt Nam
Bãi đỗ xe thông minh - một mô hình bãi đỗ xe hiện đại trên thế giới đã xuất hiện tại các thành phố lớn của Việt Nam như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng Việc áp dụng mô hình bãi đỗ xe thông minh mang đến cho người sử dụng, các nhà quản lý rất nhiều lợi ích và mang ý nghĩa xã hội cao Tuy nhiên thực trạng hiện nay số lượng các bãi đỗ xe thông minh còn rất hạn chế và để nhân rộng được mô hình này tại các thành phố lớn của Việt Nam phải cần sự quyết liệt của chính quyền địa phương trong công tác quản lý, xây dựng chính sách phát triển, thu hút nhà đầu tư bãi đỗ xe thông minh
Hiện nay, Chính phủ các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng đang phải đối mặt với nhu cầu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng cao (do dân số tăng, nhu cầu cuộc sống ngày càng phát triển…) Trong khi đó nguồn vốn đầu tư công ngày càng giảm mạnh do lạm phát, đầu tư vào phòng chống thiên tai, biến đổi khí hậu,
hỗ trợ người nghèo, chính sách xã hội…Trước thực trạng đó thì việc huy động vốn đầu
tư của tư nhân theo hình thức PPP là cần thiết và là xu thế tất yếu
Trong thời gian qua, các thành phố lớn tại Việt Nam cũng đã quan tâm và đẩy mạnh việc phát triển hệ thống hạ tầng giao thông nói chung và các bãi đỗ xe thông minh theo hình thức PPP Tuy nhiên, các dự án này vẫn chưa được triển khai thực hiện
do một số vướng mắc về luật định và các quy định về chính sách ưu đãi đối với các nhà đầu tư PPP
Tại Đà Nẵng, UBND thành phố đã thống nhất phương án và kêu gọi đầu tư 19 bãi đỗ xe trên địa bàn thành phố theo hình thức PPP, loại hình hợp đồng BOT đối với các bãi đỗ xe đã có chủ trương trong khu vực trung tâm thành phố tại Công văn số 1662/UBND-ĐTĐT ngày 19/3/2020 Tuy nhiên, do chủ trương đầu tư theo hình thức PPP có nhiều thay đổi, hành lang pháp lý đang tiếp tục được hoàn thiện thông qua Luật đầu tư theo đối tác công tư mới được ban hành, có hiệu lực vào ngày 01/01/2021 cùng một số hướng dẫn của Bộ chuyên ngành nên cần thời gian để nghiên cứu, tiếp cận và phổ biến các quy định của pháp luật Ngoài ra, nhằm giải quyết các vướng mắc
để hỗ trợ, thu hút các nhà đầu tư tham gia vào dự án bãi đỗ xe thông minh theo hình thức PPP, thành phố đang xây dựng các chính sách hợp lý để khuyến khích, phát triển bãi đỗ xe thông minh trên địa bàn thành phố
Nhìn chung, đầu tư theo hình thức PPP sẽ tiếp tục là xu hướng trong tương lai gần và hầu như là chủ đạo trong các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam Vì vậy, rất cần thiết có những nghiên cứu chi tiết để làm cơ sở triển khai thực hiện
Trang 27Lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án bãi đỗ xe thông minh theo hình thức PPP
1.3.1 Thực trạng về việc lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án PPP trong
thời gian qua
Theo số liệu tại Báo cáo số 25/BC-CP ngày 30/01/2019 của Chính phủ về tổng kết tình hình thực hiện dự án PPP, đã có 336 dự án PPP đã ký kết hợp đồng (trong đó,
140 dự án theo hợp đồng BOT, 188 dự án theo hợp đồng BT và 08 dự án được áp dụng các loại hợp đồng khác) Thông qua đó, huy động được khoảng 1.609.295 tỷ đồng vào đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng quốc gia Những dự án PPP trong thời qua
đã góp phần tích cực hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, năng lượng, hạ tầng đô thị, xử lý nước thải, rác thải , kịp thời giải quyết các nhu cầu bức xúc về dịch
vụ công của người dân và nhu cầu cấp bách về cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế - xã hội đất nước, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kích cầu đối với sản xuất trong nước Các yếu tố này đã góp phần tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân
Tuy nhiên, theo Tờ trình số 446/TTr-CP ngày 07 tháng 10 năm 2019 của Chính phủ, hầu hết dự án BOT, BT đã triển khai tại Việt Nam đều chỉ định nhà đầu tư, số lượng dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) áp dụng hình thức chỉ định nhà đầu tư còn chiếm tỷ lệ rất cao, chiếm tỷ lệ 69%; đặc biệt với dự án BT, tỷ lệ áp dụng chỉ định thầu lên đến 94% Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ ra, việc áp dụng chỉ định thầu đã hạn chế tính cạnh tranh, làm giảm hiệu quả đầu tư của dự án Ngoài
ra, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá: “Việc phần lớn các dự án áp dụng chỉ định nhà đầu tư với lý do chỉ có 1 nhà đầu tư trúng sơ tuyển và không có nhà đầu tư nước ngoài được lựa chọn cho thấy, các dự án PPP chưa đủ hấp dẫn để thu hút nhà đầu tư, đặc biệt
là nhà đầu tư nước ngoài Một trong những lý do chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là các
dự án chưa được nghiên cứu kỹ, công khai thông tin thiếu minh bạch, tính khả thi không cao, khiến nhà đầu tư e dè, nghi ngại Từ đó làm giảm cạnh tranh, minh bạch trong công tác lựa chọn nhà đầu tư, tiềm ẩn rủi ro lãng phí, thất thoát, hiệu quả dự án kém do chọn nhà đầu tư không đủ năng lực thực hiện dự án”
Theo nhiều chuyên gia quốc tế, đối với dự án PPP, các nước rất hạn chế chỉ định nhà đầu tư Nếu dự án đưa ra đấu thầu rộng rãi không có sự quan tâm của nhà đầu
tư, sẽ xem xét lại dự án [9]
Nhằm củng cố cơ chế quản lý các dự án PPP, ngày 18/6/2020, Quốc hội khóa XIV đã ban hành Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) số 64/2020/QH14 được qua tại kỳ họp thứ 9 với 11 chương và 101 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2021 Theo đó, về việc lựa chọn nhà đầu tư: trước đây lựa chọn nhà đầu tư dự án PPP thực hiện theo quy định của Luật Đấu thầu, nhưng hiện nay Luật PPP thực hiện theo quy định riêng bảo đảm tính thống nhất, chỉnh thể và tính liên tục
Trang 28chẽ các trường hợp chỉ định nhà đầu tư, những cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý, tạo hành lang pháp lý cao nhất, đảm bảo tính ổn định, hạn chế sự điều chỉnh chính sách cũng được kỳ vọng sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư tham gia dự án PPP hơn, từ đó tăng tính cạnh tranh, giảm chỉ định thầu Tuy nhiên, do Luật và các nghị định hướng dẫn mới được ban hành và có hiệu lực, nên các cơ quan, đơn vị cần thời để nghiên cứu, phân tích và làm rõ trước khi áp dụng vào các dự án cụ thể
1.3.2 Các hình thức và quy trình lựa chọn nhà đầu tư bãi đỗ xe thông minh
theo hình thức PPP
1.3.2.1 Các hình thức lựa chọn nhà đầu tư
Theo Luật PPP năm 2020 và Nghị định số 35/2021/NĐ-CP ngày 29/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật đầu tư theo phương thức đối tác công tư, có 04 hình thức lựa chọn nhà đầu tư được áp dụng trong đầu tư theo phương thức PPP gồm: đấu thầu rộng rãi; đàm phán cạnh tranh; chỉ định nhà đầu tư; lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt Cụ thể:
- Đấu thầu rộng rãi: là hình thức lựa chọn nhà đầu tư trong đó không hạn chế số lượng nhà đầu tư tham dự
+ Đấu thầu rộng rãi quốc tế có sơ tuyển trong trường hợp có từ 06 nhà đầu tư trở lên quan tâm trong đó có ít nhất 01 nhà đầu tư được thành lập theo pháp luật nước ngoài đăng ký quan tâm;
+ Đấu thầu rộng rãi trong nước có sơ tuyển trong trường hợp có từ 06 nhà đầu
tư được thành lập theo pháp luật Việt Nam trở lên đăng ký quan tâm;
+ Đấu thầu rộng rãi quốc tế trong trường hợp có dưới 06 nhà đầu tư quan tâm; trong đó có ít nhất 01 nhà đầu tư được thành lập theo pháp luật nước ngoài đăng ký quan tâm;
+ Đấu thầu rộng rãi trong nước trong trường hợp có dưới 06 nhà đầu tư được thành lập theo pháp luật Việt Nam đăng ký quan tâm
- Đàm phán cạnh tranh: được áp dụng trong các trường hợp có không quá 03 nhà đầu tư đáp ứng yêu cầu thực hiện dự án được mời tham dự; dự án ứng dụng công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển theo quy định của pháp luật về công nghệ cao; dự án ứng dụng công nghệ mới theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ
- Chỉ định nhà đầu tư: được áp dụng trong các trường hợp dự án cần bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh quốc gia, bảo vệ bí mật nhà nước; Dự án cần phải lựa chọn ngay nhà đầu tư thay thế theo quy định Luật này để bảo đảm tính liên tục trong quá trình thực hiện dự án
- Lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt: trường hợp dự án PPP xuất hiện các điều kiện đặc thù, riêng biệt mà không thể áp dụng các hình thức lựa chọn nhà đầu tư nêu trên, cơ quan có thẩm quyền trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định phương án lựa chọn nhà đầu tư
Trang 29Dự án bãi đỗ xe thông minh trong quá trình vận hành thu phí dịch vụ trực tiếp
từ người sử dụng, đồng thời tham khảo kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới về loại hình hợp đồng áp dụng và căn cứ định hướng của thành phố Đà Nẵng, loại hợp đồng PPP để triển khai dự án bãi đỗ xe thông minh trong thời gian đến là BOT
Dự án bãi đỗ xe thông minh không thuộc các trường hợp quy định chỉ định thầu; ngoài ra hiện nay, nhiều nhà đầu tư quan tâm đến các dự án bãi đỗ xe thông minh trên địa bàn thành phố, do đó, trong luận văn này, tác giả xây dựng các tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư bãi đỗ xe thông minh theo hình thức PPP, loại hợp đồng BOT đối với hình thức đấu thầu rộng rãi (quốc tế hoặc trong nước)
1.3.2.2 Quy trình lựa chọn nhà đầu tư
Lựa chọn nhà đầu tư là quá trình xác định nhà đầu tư có đủ năng lực, kinh nghiệm, giải pháp khả thi để thực hiện dự án PPP trên nguyên tắc bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế [6] Nhằm mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tính khả thi, đồng bộ của pháp luật về lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án PPP; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi cho việc triển khai thực hiện dự án PPP, Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư số 09/2021/TT-BKHĐT ngày 16/11/2021 hướng dẫn chi tiết việc lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư đối tác công tư (PPP) và dự án đầu tư có sử dụng đất Tác giả đã hệ thống và
mô tả Quy trình lựa chọn nhà đầu tư tại Hình 1.3
Kết luận chương:
Như vậy ở Chương 1 đã giải thích một cách khái quát các niệm liên quan đến
đề tài nghiên cứu; phân tích động cơ thúc đẩy Nhà nước và tư nhân đối với dự án bãi
đỗ xe thông minh theo hình thức PPP và thực trạng, quy trình lựa chọn nhà đầu tư PPP hiện nay Do đó, cần đề xuất phương án nghiên cứu khoa học để có thể lựa chọn nhà đầu tư bãi đỗ xe thông minh theo hình thức PPP, loại hợp đồng BOT
Trang 30Hình 1.3 Quy trình lựa chọn nhà đầu tư
Đối với đấu thầu rộng rãi
có sơ tuyển và đám phán cạnh tranh
Khảo sát sự quan tâm của Nhà đầu tư
Xác định hình thức lựa chọn Nhà đầu tư
Lựa chọn Danh sách ngắn các Nhà đầu tư
Lập, thẩm định, phê duyệt hồ sơ mời thầu (HSMT)
Thông báo mời thầu, phát hành, sửa đổi, làm
Trang 31CHƯƠNG 2 - ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP AHP VÀ XÁC ĐỊNH TIÊU CHÍ LỰA CHỌN NHÀ ĐẦU TƯ BÃI ĐỖ XE THÔNG MINH THEO
HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP)
Về phương pháp định lượng Analytic Hierarchy Process (AHP)
2.1.1 Giới thiệu phương pháp AHP
AHP (Analytic Hierachy Process - quá trình phân tích phân cấp) được đề xuất bởi nhà toán học người gốc Irắc - Thomas L Saaty trong những năm 1980, AHP đã trở thành phương pháp phân tích định lượng đa chỉ tiêu hay được sử dụng nhất bởi nó khá đơn giản, có tính khách quan khá cao và phù hợp với tư duy của con người Mục tiêu của phương pháp này là nhằm lượng hóa mối quan hệ những độ ưu tiên của một tập hợp các phương án cho sẵn trên một thang đo tỉ lệ dựa vào những ý kiến đánh giá của người RQĐ, và nhấn mạnh tầm quan trọng của những phán đoán trực giác của người RQĐ cũng như tính nhất quán trong việc so sánh các phương án trong quá trình RQĐ [10]
Phương pháp AHP cho phép người RQĐ tập hợp được kiến thức của các chuyên gia về vấn đề của họ, kết hợp được các dữ liệu khách quan và chủ quan trong một khuôn khổ thứ bậc logic; xem xét và đánh giá các tiêu chí và phương án liên quan đến vấn đề cần giải quyết bằng các bộ trọng số về mức độ quan trọng, từ đó các quyết định được đưa ra một cách định tính và định lượng Trong phương thức này, một vài tiêu chí có thể mâu thuẫn lẫn nhau, do vậy phương án tối ưu không phải là phương án đáp ứng được từng tiêu chí đưa ra mà là phương án đạt được sự cân bằng giữa các tiêu chí khác nhau Ngoài ra, ứng dụng AHP còn kiểm soát mức độ thống nhất trong những đánh giá của người ra quyết định, do vậy giảm thiểu sự thiên vị trong quá trình ra quyết định
Trong bài nghiên cứu về phương pháp hiện đại cho quyết định đa tiêu chí và các ứng dụng thực tiễn, Saaty (2013) [11] cho thấy những thuận lợi của mô hình AHP trong quá trình ra quyết định như sau:
(1) Kết hợp dữ liệu định lượng và những đánh giá chủ quan về các tiêu chí không định hình
(2) Thống nhất đánh giá của nhiều cá nhân và giải quyết mâu thuẫn giữa họ (3) Sử dụng đánh giá độ ưu tiên giới hạn và độ ưu tiên bình quân để định hướng
sự phân bố
(4) Nâng cao khả năng quản lý để tạo sự cân bằng hiệu quả
(5) Công cụ kiểm soát và định hướng thực hiện tổ chức hướng đến một nhóm nhiều mục tiêu thay đổi linh hoạt
Bên cạnh đó, phương pháp AHP vẫn có một số tồn tại: (1) Phương pháp AHP phân rã vấn đề quyết định thành các vấn đề con, các cặp so sánh sẽ được tạo thành
Trang 32trong quá trình đánh giá, tiếp cận theo cách này sẽ không thuận lợi khi số lượng cặp so sánh lớn (2) Hệ thống tỉ lệ đo của AHP bị giới hạn rất khó khăn trong việc phân biệt giữa chúng với nhau đối với người ra quyết định (3) Một nhược điểm nữa của phương pháp là ở mức các phương án, việc đánh giá các phương án chỉ dựa vào từng tiêu chí, việc đánh giá ở mức này chưa thực hiện được đối với một nhóm các tiêu chí
AHP đã được nghiên cứu và áp dụng từ rất lâu ở các nước trên thế giới vào các lĩnh vực khác nhau như: Vấn đề tiết kiệm năng lượng và cuộc xung đột ở Trung Đông năm 1972; Kế hoạch giao thông ở Sudan 1973-1975; Sự khám phá khoáng sản ở Maurutania năm 1976; Hoạch định cho nền giáo dục Đại học ở Mỹ năm 1976; Cuộc bầu cử tổng thống năm 1976 và năm 1980; Cuộc xung đột ở miền Bắc Ireland năm 1977; Chính sách khủng bố năm 1978; Việc dự đoán kết quả của một trận vô địch cờ thế giới 1978; Việc lựa chọn vốn đầu tư cho sản phẩm năm 1979; Thị trường chứng khoán năm 1980; Giá dầu trong thập niên 1980; Xung đột ở Nam Á năm 1981; Xây dựng mô hình lựa chọn danh mục đầu tư (Mohammed.I.A, Khalil 2000); Quản lý dự
án (Kamal M Al-Subhi Al-Harbi 2001); Các bài toán kỹ thuật (Saaty, Vargas, 2001),… và còn rất nhiều ứng dụng khác nữa [12]
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây phương pháp AHP cũng đã được nghiên cứu và ứng dụng ở một số lĩnh vực: quản lý tài nguyên nước, công tác chọn thầu xây dựng; để đánh giá, lựa chọn cây trồng phù hợp ở đường phố Hà Nội,…; đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, phương pháp AHP được ứng dụng trong công tác lựa chọn công nghệ; tìm hiểu năng lực và chọn lựa nhà thầu; đánh giá an toàn thi công; lựa chọn nhà quản lý trong quá trình thực hiện dự án; lập kế hoạch; phân tích lợi ích/chi phí và phân bổ nhân lực, Về lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, dự án PPP, một số nghiên cứu ứng dụng AHP được được liệt kê tại Bảng 2.1
Bảng 2.1 Các nghiên cứu ứng dụng AHP trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng giao thông và
dự án PPP
Tác giả Năm Vấn đề nghiên cứu, áp dụng
Phạm Hồng Luân và Lê Thị
Thanh [13] 2013 Công tác lựa chọn thầu xây dựng
Phạm Thị Trang và Phan Cao
Thọ [14] 2017
Lựa chọn, xếp hạng các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại Đà nẵng
Trương Thị Thu Hà và Đặng
Hữu Luân [15] 2017
Sơ bộ đánh giá và xếp hạng năng lực của nhà thầu xây dựng
Nguyễn Văn Châu, Hoàng Văn
Khánh, Hoàng Phương Hoa
[16]
2018 Đo lường mức độ quan trọng của các nhân tố
ảnh hưởng đến tuổi thọ cầu Huỳnh Thị Yến Thảo và Trần
Quang Phú [17] 2020
Đánh giá mức độ tác động rủi ro kỹ thuật dự án đầu tư xây dựng đường sắt đô thị tại TP Hồ Chí
Trang 33Tác giả Năm Vấn đề nghiên cứu, áp dụng
Lê Hải Quân [19] 2021 Lựa chọn phương án thi công xây dựng
Phạm Ngọc Thanh Trung [20] 2021 Công tác lựa chọn tổng thầu trong dự án thực
hiện theo hình thức thiết kế và thi công
Như vậy phương pháp định lượng AHP là một công cụ vô cùng hữu hiệu trong việc giải quyết các vấn đề lớn và có tính quyết định phức tạp, phương pháp AHP là phương pháp được sử dụng rộng rãi và được coi là một trong những phương pháp ra quyết định mang tính tin cậy nhất trong các phương pháp ra quyết định đa tiêu chuẩn hiện nay Có thể nói một trong những ưu điểm của phương pháp AHP là khả năng phân tích và thiết lập những vấn đề ra quyết định đa tiêu chuẩn phức tạp thành một cấu trúc thứ bậc gồm nhiều mức và sau đó tiến hành khảo sát riêng rẽ trên mỗi mức, rồi tổng hợp các kết quả lại
2.1.2 Các nguyên tắc cơ bản của phương pháp AHP
Theo Saaty (1980) [10], trong bất kỳ mô hình nào xây dựng bởi phương pháp AHP, người xây dựng và sử dụng mô hình cần phải nhận dạng được mục tiêu của nghiên cứu và các vấn đề đang phải đối mặt để đạt được mục tiêu đó Do đó, điều quan trọng cơ bản trong thiết kế mô hình của phương pháp AHP này là phải đáp ứng được mục tiêu của việc xây dựng mô hình: hỗ trợ người ra quyết định lựa chọn nhà đầu tư bãi đỗ xe thông minh theo hình thức đối tác công tư (loại hợp đồng BOT)
Ngoài ra, Saaty (1980) [10] đã đưa ra bốn nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng mô hình theo phương pháp AHP bao gồm:
- Phân tích và thiết lập sơ đồ thứ bậc của vấn đề cần ra quyết định (Decomposition)
- Tính toán các độ ưu tiên (Priorization)
- Tổng hợp (Synthesis)
- Đo lường không nhất quán (Inconsistency measurement)
2.1.3 Phân tích và thiết lập cấu trúc thứ bậc
AHP phân tích một vấn đề phức tạp, đa tiêu chí theo cấu trúc thứ bậc Sơ đồ cấu trúc thứ bậc bắt đầu với mục tiêu, được phân tích qua các tiêu chí lớn và các tiêu chí thành phần, cấp bậc cuối cùng thường bao gồm các phương án đưa ra để người ra quyết định lựa chọn
Hay nói theo cách khác, phương pháp AHP yêu cầu cần phải xác định được một
sơ đồ thứ bậc của mục tiêu Một sơ đồ thứ bậc là một cấu trúc thể hiện một vấn đề ra
Trang 34quyết định phức tạp dựa trên một số cấp [21], như vậy ta có thể tích hợp số lượng thông tin lớn vào trong cấu trúc của vấn đề và có một bức tranh toàn cảnh hơn
Để phản ánh được các vấn đề thực tế phức tạp, việc phân loại, hình thành cấu trúc thứ bậc cần thiết phải có nguyên tắc sau:
(1) Mỗi loại các thành phần chức năng chiếm một bậc trong thứ bậc
(2) Cấp cao nhất chỉ có một thành phần gọi là tiêu điểm, tức là mục tiêu bao trùm cả cấu trúc hay vấn đề cần giải quyết
(3) Các cấp kế tiếp gồm nhiều thành phần hay các tiêu chí chính Mỗi thành phần hay tiêu chí này có thể được phân chia thành các cấp nhỏ hơn hay đứng độc lập
là tùy thuộc vào mức độ chi tiết của mô hình Do việc so sánh được thực hiện giữa các thành phần của cùng một thứ bậc với nhau theo tiêu chuẩn của thứ bậc cao hơn, các thành phần của một thứ bậc phải có cùng một độ lớn Nếu sự khác biệt giữa chúng là lớn thì chúng nên được sắp xếp ở các cấp khác nhau
(4) Cấp thấp nhất cuối cùng của sơ đồ thứ bậc được gọi là cấp phương án, nó chứa các phương án đặt bên dưới các thành phần hay tiêu chuẩn ở ngay bên trên nó
Không có một nguyên tắc nhất định nào và cũng không có giới hạn số lượng các cấp trong việc hình thành cấu trúc thứ bậc Khi không thể so sánh giữa một tiêu chuẩn với một tiêu chuẩn cấp cao hơn thì cần phải nghỉ thêm một cấp tiêu chuẩn trung gian chen vào giữa hai cấp tiêu chuẩn trên để chúng có thể so sánh được Sơ đồ cấu trúc thứ bậc phát triển từ đơn giản đến phức tạp, nó phụ thuộc vào kinh nghiệm và trình độ của người ra quyết định Vấn đề lựa chọn phương án trong một tập các phương án thì có thể bắt đầu từ cấp thấp nhất là liệt kê các phương án, cấp cao hơn kế tiếp là các tiêu chuẩn để đánh giá các phương án, cấp cao nhất là đánh giá tiêu điểm – mục tiêu cuối cùng mà các tiêu chuẩn có thể được so sánh theo mức độ quan trọng sự đóng góp của chúng Saaty (1994) [21] đã nhấn mạnh rằng một sơ đồ thứ bậc cung cấp cho ta một cái nhìn tổng thể của những mối quan hệ phức tạp của các tình huống và sự đánh giá Nó cũng cho phép người ra quyết định đánh giá được sự so sánh các ý kiến của cùng một mức độ quan trọng của các tiêu chuẩn
2.1.4 Thiết lập độ ưu tiên
Sau khi xây dựng xong sơ đồ thứ bậc của bài toán, bước quan trọng tiếp theo là phải tính toán và thiết lập độ ưu tiên (priorities) của mỗi tiêu chuẩn trên các cấp đã được xác định trong sơ đồ thứ bậc Khi này, người ra quyết định cần đưa ra những ý kiến đánh giá của mình về mức độ quan trọng của mỗi tiêu chí đối với tiêu chí khác trong sơ đồ thứ bậc bằng, các tiêu chí so sánh phải cùng bậc với nhau bằng phương pháp so sánh từng cặp Các nhà lý thuyết về mô hình, hệ thống cho rằng các mối quan
hệ phức tạp luôn luôn có thể được phân tích bằng cách chọn các cặp thành phần (pair
of elements) và liên hệ chúng thông qua các thuộc tính của chúng Mục đích này là nhằm tìm ra trong nhiều sự vật các sự vật có các sự liên kết cần thiết Phương pháp định lượng AHP là cách tiếp cận theo cả hai cách: tiếp cận hệ thống thông qua sơ đồ
Trang 35thứ bậc và tiếp cận nhân quả thông qua sự so sánh cặp các thành phần thứ bậc và tổng hợp chúng lại Sự phán đoán và đánh giá được áp dụng trong việc thực hiện so sánh từng cặp là kết hợp cả suy nghĩ logic và các trực giác thu được qua việc tích lũy kinh nghiệm Các phương pháp toán học được dùng xem như là cách thức thuận tiện để đi đến kết luận hơn là cách thức suy nghĩ trực giác thường dùng, nhưng kết quả sau cùng cũng không cần thiết chính xác hơn Nếu kết quả của phương pháp AHP là không đúng theo như kinh nghiệm, những người ra quyết định có thể lặp lại quá trình để có thể cải thiện sự phán đoán, đánh giá
Theo Muralidhar (1990) [22], ưu điểm của phương pháp so sánh từng cặp là nó cho phép người ra quyết định chỉ tập trung vào sự so sánh hai đối tượng và sự quan sát như vậy ít bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài Còn Saaty (1995) [23] giải thích rằng sở dĩ phương pháp so sánh từng cặp được sử dụng rộng rãi và hợp lý là vì chỉ có
2 yếu tố liên quan đến sự so sánh tại cùng một thời điểm so sánh mà thôi
Các bước trong so sánh từng cặp:
(1) So sánh các thành phần theo cặp đối với các tiêu chuẩn đã được xác định (2) Bắt đầu từ chóp của sơ đồ thứ bậc, chọn một tiêu chuẩn, tiến hành việc so sánh từng cặp các thành phần của bậc kế tiếp theo tiêu chuẩn đã chọn
(3) Thiết lập ma trận so sánh cặp
Thông thường, các câu hỏi được đặt ra là: “Tiêu chí A quan trọng như thế nào khi so với tiêu chí B? Mức độ bao nhiêu?” Nếu tiêu chuẩn là xác suất thì hỏi: “Xác suất của một thành phần này hơn một thành phần kia bao nhiêu, hay một thành phần sở hữu, ảnh hưởng, vượt trội hơn thành phần kia bao nhiêu,…?” Các câu hỏi là quan trọng, nó phản ánh mối liên hệ giữa các thành phần của một cấp với tính chất của cấp thứ bậc cao hơn
Cốt lõi của quá trình phân tích thứ bậc là việc so sánh từng cặp thông qua thang đánh giá có 5 mức so sánh như Bảng 2.2 sau đây để lượng hóa cường độ sự ưu thích tạo nên quyết định giữa hai phương án đối với một tiêu chuẩn cho trước Sở dĩ phương pháp AHP sử dụng thang đo 5 mức là vì theo lý thuyết về tâm lý học đã giới hạn 7±2 mức trong khi so sánh cùng một lúc là có ý nghĩa trong thực tế và đạt được độ chính xác cao nhất
Trong quá trình so sánh từng cặp, một ma trận so sánh cặp là hình thức thể hiện
sự ưa thích Theo Saaty [21], ma trận này là một công cụ được thiết lập đơn giản nhưng hiệu quả để kiểm tra sự nhất quán, cung cấp hình thức cần thiết cho việc so sánh dữ liệu và phân tích độ nhạy của tiêu chuẩn tổng thể khi có một ý kiến đánh giá thay đổi Một cách tổng quát, nếu có n yếu tố được so sánh trong một ma trận cho trước, sẽ đòi hỏi n(n 1)
n
−
sự đánh giá cần thiết để điền vào ma trận, Saaty (1995) [23]
đã diễn tả sự so sánh từng cặp trên ma trận so sánh cặp là yếu tố bên trái đường chéo
Trang 36chính được so sánh với yếu tố hàng trên cùng của ma trận so sánh, nữa ma trận còn lại
mà nghịch đảo qua đường chéo chính
Bảng 2.2 Thang đánh giá mức so sánh của phương pháp AHP
Giá trị mức
độ quan trọng So sánh Giải thích mức độ ảnh hưởng
1 Quan trọng như nhau Hai khía cạnh, thành phần có tính chất,
ảnh hưởng như nhau
2 Tương đối quan trọng
hơn
Một khía cạnh, thành phần có tính chất, ảnh hưởng vừa phải
3 Hơi quan trọng hơn
Trên kinh nghiệm và nhận định hơi nghiêng về một khía cạnh, thành phần hơn khía cạnh, thành phần kia
4 Rất quan trọng Một khía cạnh, thành phần rất quan
trọng
5 Vô cùng quan trọng
Trên kinh nghiệm và nhận định đánh giá cao và nghiêng mạnh một khía cạnh, thành phần hơn khía cạnh, thành phần kia
Kết quả cuối cùng là ma trận so sánh cặp biểu diễn mối liên kết giữa các giá trị của tập phần tử ở Bảng 2.3 Trong ma trận này, mỗi phần tử đại diện cho một cặp so sánh, các phần tử ở phía trên và phía dưới đường chéo có giá trị nghịch đảo nhau Nếu phần tử A quan trọng hơn phần tử B và được đánh giá mức 5 thì B sẽ được đánh giá là
ít quan trọng hơn A với giá trị là 1/5 Ma trận hỗ trợ chặt chẽ cho việc tính toán các giá trị Ứng với mỗi phần tử của cấp trên, ta thiết lập một ma trận so sánh của những phần
Trong đó: aij là mức độ so sánh giữa các cặp tiêu chí
2.1.5 Tính toán ma trận trọng số chuẩn hóa và vecto trọng số
Quá trình tính toán này cần phải được thực hiện cho tất cả các ma trận được xây dựng từ sự so sánh từng cặp để tính được trọng số tổng hợp phản ánh đối với những yếu tố chính
Trang 37Các bước sau đây thể hiện quá trình tính toán ma trận trọng số từ các ma trận so sánh cặp:
a Để được ma trận chuẩn hóa: Việc tổng hợp ma trận so sánh cặp được thực hiện bằng cách chia mỗi phần tử trong từng cột của ma trận với giá trị tổng tương ứng
Điều này sẽ cung cấp sự so sánh có ý nghĩa giữa các yếu tố trong sơ đồ thứ bậc
2.1.6 Đo lường sự nhất quán
Một trong những ưu điểm của phương pháp AHP là cung cấp một công cụ kiểm tra tính nhất quán của các ý kiến đánh giá, được gọi là chỉ số nhất quán CI (Consistency Index) Saaty [23] đã định nghĩa sự nhất quán như sau: “Những cường độ giữa những ý tưởng hay đối tượng có liên quan nhau dựa trên một tiêu chuẩn cụ thể để hiệu chỉnh lẫn nhau trong cùng một phương pháp so sánh hợp lý”
Sự nhất quán có 02 ý nghĩa sau: (1) Các ý tưởng hay sự vật được gộp thành một nhóm theo sự đồng nhất và có liên quan với nhau Ví dụ như trái nho và hòn bi cho chung một đặc điểm là hình tròn được xem là tiêu chuẩn liên quan nhưng ta không thể
so sánh chúng theo tiêu chuẩn mùi vị được (2)Cường độ của sự liên quan của các ý tưởng hay sự vật theo một tiêu chuẩn nào đó phải tuân theo một thứ tự logic Ví dụ tiêu chí X quan trọng hơn 2 lần tiêu chí Y, tiêu chí Y quan trọng hơn 4 lần tiêu chí Z thì có thể suy ra tiêu chí X quan trọng hơn 8 lần (2x4) tiêu chí Z Nếu ta đánh giá là
Trang 38tiêu chí X quan trọng hơn 6 lần tiêu chí Z thì sự đánh giá đó là không nhất quán, cần phải được thực hiện lại nếu ta có thể đánh giá chính xác hơn nữa
Trong vấn đề ra quyết định cần biết độ nhất quán của những nhận định do ta ngần ngại không muốn ra quyết định với các nhận định ngẫu nhiên, ngược lại cũng rất khó đạt được sự nhất quán tuyệt đối trong thực tế Do bản chất của nhận thức, khi có một kinh nghiệm mới thì các chuyên gia – người ra quyết định – luôn làm thay đổi trật
tự trong sự ưa thích của mình; do đó, một khi các so sánh cặp vẫn còn sự gắn kết giữa thực tế và kinh nghiệm, không cần thiết phải có sự nhất quán hoàn toàn
Theo Saaty (1994), việc xác định một chỉ số nhất quán CI được dùng để đánh giá chất lượng của ma trận so sánh cặp, được xác định theo những bước sau đây:
- Giá trị đặc trưng cực đại max là trị trung bình của vector nhất quán
Từ đó, xác định được chỉ số nhất quán CI theo công thức:
max n
n 1
Trong đó: n là kích thước của ma trận so sánh cặp
Sự sai khác thể hiện qua hiệu ( max n) − , có thể được sử dụng để đo lường sự không nhất quán Sự nhất quán hoàn toàn xảy ra khi max − n = 0, tuy nhiên trong nhiều trường hợp max 0 Giá trị CI càng gần 0 thì những ý kiến đánh giá của người ra quyết định càng nhất quán
Để làm rõ thêm sự đo lường tính không nhất quán này, chỉ số nhất quán CI vừa tính ở bước trên có thể thay đổi bằng thuật ngữ tỷ số nhất quan CR (consistency ratio) hay tỷ số không nhất quán IR (inconsistency ratio) Thông qua mô phỏng một số lượng rất lớn sự so sánh cặp được phát ra một cách ngẫu nhiên cho các kích cỡ ma trận khác nhau, Saaty đã đưa ra công thức sau:
CI CR RI
Trong đó: RI (Random Index – nhất quán trung bình) là chỉ số ngẫu nhiên, được xác định thông qua Bảng 2.6 theo n (kích thước ma trận)
Trang 39Bảng 2.6 Chỉ số ngẫu nhiên RI
RI 0.0 0.0 0.52 0.89 1.11 1.25 1.35 1.40 1.45 1.49 Theo Dyer (1990) [24]đã nhận xét rằng theo phương pháp AHP, người ra quyết định không nên mong đợi một sự nhất quán hoàn hảo nhưng một số phần trăm nhỏ nào
đó của tính không nhất quán hay sự diễn tả ưa thích cá nhân thì có thể chấp nhận được
Như vậy, phương pháp AHP đo được sự nhất quán thông qua tỉ số nhất quán
CR (Consistency Ratio) Dựa trên những nghiên cứu kinh nghiệm, Saaty nhận định rằng giá trị chấp nhận được của CR phải nằm trong [0-0,1] hay giá trị của tỉ số nhất quán CR nên ≤ 10%, khi đó kết quả của những sự đánh giá ngẫu nhiên là chấp nhận được; nếu điều kiện này không thỏa mãn thì thì sự nhận định là hơi ngẫu nhiên hay nói cách khác là sự đánh giá thiếu tính nhất quán, ta nên thực hiện lại việc đánh giá Điều này phải được nhấn mạnh, tuy nhiên giá trị chấp nhận của CR không đảm bảo một kết quả lựa chọn tốt cuối cùng, nhưng nó bảo đảm không có sự mâu thuẫn quá mức trong các so sánh đã làm và quyết định là hợp logic, và không phải là kết quả của sự ưu tiên ngẫu nhiên (Saaty và Vargas, 1994 [21])
2.1.7 Các bước thực hiện phương pháp AHP
Bước 1 Xác định vấn đề và mục tiêu cần ra quyết định
Bước 2 Xây dựng cấu trúc thứ bậc từ quan điểm quản lý chung, từ cấp cao nhất cho tới cấp mà tại đó có thể can thiệp để giải quyết vấn đề
Bước 3 Thu thập ý kiến đánh giá của chuyên gia để tổng hợp và hoàn tất ma trận so sánh cặp
Bước 4 Trên cơ sở thu thập ý kiến tại Bước 3, thiết lập ma trận so sánh cặp, một nửa của ma trận so sánh là số nghịch đảo của nửa kia Nhân tố tố bên tay trái của
ma trận sẽ được so sánh với yếu tố ở hàng trên cùng của ma trận
Bước 5 Tính độ ưu tiên của từng yếu tố (vecto trọng số) và kiểm tra tính nhất quán CR Thực hiện bước 3, 4, 5 cho tất cả các cấp và các nhóm trong sơ đồ thứ bậc
đã được xây dựng Tỷ số nhất quán CR phải nhỏ hơn hoặc bằng 10 %, nếu lớn hơn cần thực lại các bước
Bước 6 Kết luận, lựa chọn phương án sau khi xác định được các trọng số và đưa vào cây thứ bậc đã xây dựng
Trang 40
Hình 2.1 Các bước thực hiện phương pháp AHP
Nghiên cứu và xây dựng các tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư
Giai đoạn này, các vấn đề nghiên cứu bao gồm mục tiêu và phạm vi phải được xác định rõ ràng Từ đó, nhận dạng tiêu chí tiềm năng ảnh hưởng đến quá trình lựa chọn nhà đầu tư từ các nghiên cứu, bài báo, đề tài khoa học quốc tế và trong nước Ngoài ra, các tiêu chí tiềm năng còn được tham khảo từ các chuyên gia, lãnh đạo cấp quản lý đã có kinh nghiệm nhiều năm trong hoạt động đầu tư, xây dựng liên quan đến các dự án PPP Đồng thời, việc lựa chọn nhà đầu tư bãi đỗ xe thông minh theo hình