TÓM TẮT LUẬN VĂN NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY VIỆC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Học viên: Ngô Thị Hải Yến Ch
Trang 1NGÔ THỊ HẢI YẾN
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY VIỆC
THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG
TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ XÂY DỰNG
Đà Nẵng - Năm 2022
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
NGÔ THỊ HẢI YẾN
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY VIỆC
THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, được triển khai đánh giá thông qua số liệu khảo sát thực tế và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Đà Nẵng, ngày 20 tháng 05 năm 2022
Học viên thực hiện
Ngô Thị Hải Yến
Trang 4TÓM TẮT LUẬN VĂN
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY VIỆC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM
XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG CỦA DOANH NGHIỆP XÂY
DỰNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Học viên: Ngô Thị Hải Yến Chuyên ngành: Quản lý Xây dựng
Mã số: 8580302 Khóa 39 Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN
Tóm tắt - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không còn là khái niệm mới đối với những doanh nghiệp hiện nay Và với ngành xây dựng, một ngành gắn liền với sự phát triển của một quốc gia nhưng cũng có nhiều nguy cơ, ảnh hưởng tiêu cực đặc biệt là vấn đề môi trường thì thực hiện CSR trong lĩnh vực môi trường được coi là xu hướng tất yếu, sẽ đóng góp phần lớn cho mục tiêu phát triển bền vững của đất nước Vì vậy việc xác định được các giải pháp thúc đẩy thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng là cần thiết, và phạm vị nghiên cứu của đề tài là tại thành phố Đà Nẵng Dữ liệu nghiên cứu được thu thập qua bảng khảo sát, các tiêu chí, nhân tố dựa trên các nghiên cứu tương tự từ trước và các ý kiến đóng góp của các chuyên gia Qua phân tích kiểm định độ tin cậy hệ số Cronbach's Alpha, phương pháp phân tích nhân tố EFA trên phần mềm SPSS 26 đã xác định được 5 nhóm nhân tố đại diện cho 5 nhóm giải pháp thúc đẩy thực hiện CSR trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng, cụ thể là các nhóm giải pháp về chính sách pháp luật, doanh nghiệp xây dựng, các bên liên quan, ngành xây dựng và kiểm tra, giám sát của nhà nước, cộng đồng
Từ khóa – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, ngành xây dựng, môi trường, tiêu chuẩn môi trường, doanh nghiệp xây dựng
Abstract - Corporate social responsibility is no longer a new concept for today's businesses And for the construction industry, an industry closely associated with a nation’s development yet having lots of risks and negative effects, especially environmental issues, CSR implementation in the field of environment is considered an inevitable trend, which will contribute largely to the country's sustainable development goals Therefore, it is necessary to identify solutions that promote construction companies’ fulfillment of social responsibility in the environmental sector, and the scope of the research is in Da Nang city The research data were collected through surveys; the criteria and factors were based on similar previous studies and experts’ consultancy Through the analysis of the test on Cronbach's Alpha coefficient reliability, the EFA factor analysis method on the SPSS 26 software has identified
5 groups of factors representing 5 groups of solutions to promote construction enterprises’ CSR implementation in the field of environment in Da Nang city, namely the solution groups
on legal policies, construction enterprises, all the parties involved, the construction industry and inspection and supervision by the state and the community
Key words - Corporate social responsibility, construction industry, environment, environmental standards, construction business
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
TÓM TẮT LUẬN VĂN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3
5 Những đóng góp của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 4
1.1 Tổng quan về trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp (CSR) 4
1.1.1 Các khái niệm về CSR 4
1.1.2 Một số bộ tiêu chuẩn về CSR hiện nay: 5
1.1.3 Lợi ích của việc thực hiện CSR đối với các doanh nghiệp 6
1.2 Trách nhiệm xã hội về lĩnh vực môi trường của các doanh nghiệp xây dựng 8
1.2.1 Ngành xây dựng và các vấn đề về môi trường 8
1.2.2 Các nghiên cứu CSR về lĩnh vực môi trường trong ngành xây dựng 15
1.2.3 Tìm hiểu thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội và các quy định trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng 22
1.3 Kết luận chương 1 25
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Quy trình nghiên cứu 26
2.2 Quy trình thiết kế bảng câu hỏi khảo sát 27
2.3 Quy trình thu thập và xử lý số liệu 28
2.3.1 Xác định kích thước mẫu 28
2.3.2 Kỹ thuật lấy mẫu 29
2.3.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 29
2.3.4 Làm sạch và mã hóa mẫu 29
2.4 Phân tích dữ liệu 30
2.4.1 Thống kê mô tả 30
2.4.2 Kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s alpha 30
2.4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) 31
2.5 Kết luận chương 2 33
Trang 6CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ ĐỀ XUẤT CÁC NHÓM GIẢI
PHÁP TIỀM NĂNG 34
3.1 Thiết kế bảng khảo sát 34
3.1.1 Bảng khảo sát 34
3.1.2 Phần khảo sát thực trạng về thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường tại thành phố Đà Nẵng 34
3.1.3 Phần khảo sát về các giải pháp tiềm năng thúc đẩy thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng 37
3.2 Làm sạch và mã hóa dữ liệu 41
3.3 Phân tích dữ liệu 42
3.3.1 Thống kê mô tả 42
3.3.2 Kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s alpha 62
3.3.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) 66
3.3.4 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhóm nhân tố và các tiêu chí qua phân tích giá trị trung bình 71
3.4 Nhóm các giải pháp chính thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng 79
3.5 Kết luận chương 3 80
KẾT LUẬN 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BSCI : Business Social Compliance Initiative
CSR : Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility) EFA : Phân tích nhân tố chính (Exploratory Factor Analysic)
ISO : Tổ chức tiêu chuản hóa quốc tế (International Organization for
Standardization)
SA : Social Accountability International
SMETA : Đánh giá thương mại đạo đức thành viên Sedex (Sedex Members Ethical
Trade Audit)
SPSS : Statistical Package for the Social Sciences
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
World GBC: Hội đồng công trình xanh thế giới (World Green Building Council)
Trang 81.2 Các tiêu chí tìm hiểu thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội và
3.1 Nhóm thực trạng về thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực
3.3
Các giải pháp tiềm năng thúc đẩy thực hiện trách nhiệm xã hội
trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành
phố Đà Nẵng
39
3.4 Đơn vị công tác của người tham gia khảo sát 42 3.5 Vị trí công tác của người tham gia khảo sát 43 3.6 Trình độ học vấn của người tham gia khảo sát 44 3.7 Số năm kinh nghiệm của người tham gia khảo sát 44
3.9 Mức độ quan tâm đến vấn đề môi trường, phát triển bền vững 46 3.10 Mức độ ảnh hưởng của xây dựng đến môi trường 47 3.11 Các vấn đề ô nhiễm mà xây dựng ảnh hưởng đến môi trường 48 3.12 Mức độ có trách nhiệm xã hội của ngành xây dựng 48
3.16 Hệ số Cronbach’s alpha cho nhân tố 1 loại bỏ biến CSPL4 62
3.18 Hệ số Cronbach’s alpha cho nhân tố 2 loại bỏ biến DNXD1,
3.21 Kết quả kiểm định KMO và Bartlett's Test 67
Trang 9Số hiệu
3.26 Giá trị trung bình các tiêu chí trong nhân tố 2 71 3.27 Giá trị trung bình các tiêu chí trong nhân tố 3 73 3.28 Giá trị trung bình các tiêu chí trong nhân tố 4 74 3.29 Giá trị trung bình các tiêu chí trong nhân tố 5 75 3.30 Giá trị trung bình các nhân tố và biến quan sát qua kiểm định
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
2.2 Các bước thực hiện phân tích nhân tố EFA 32 3.1 Biểu đồ thể hiện đơn vị công tác của người tham gia khảo sát 43 3.2 Biểu đồ thể hiện vị trí công tác của người tham gia khảo sát 43 3.3 Biểu đồ thể hiện trình độ học vấn của người tham gia khảo sát 44 3.4 Biểu đồ thể hiện số năm kinh nghiệm của người tham gia khảo
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR) lần đầu tiên được nhắc đến trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của Doanh nhân (Social Responsibilities of the Businessman) của tác giả Howard Rothmann Bowen vào năm 1953 [1] và đây là cuộc thảo luận toàn diện đầu tiên về đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội Từ đó CSR bắt đầu trở thành đề tài nghiên cứu và trở nên phổ biến trong những năm 1980 trên thế giới Sau cuộc khủng hoảng tài chính cuối năm
2007, CSR một lần nữa trở thành chủ đề được nhiều người, tổ chức quan tâm và nghiên cứu vì quan điểm cho rằng, trong điều kiện thị trường có nhiều bất ổn, một trong những yếu tố giúp doanh nghiệp đứng vững trong khủng hoảng tài chính là do CSR [2] Ngày nay, cùng với xu hướng phát triển bền vững, CSR đã được nhiều doanh nghiệp áp dụng vào công việc kinh doanh của mình như một chiến lược dài hạn nhằm tạo ra một giá trị chung cho doanh nghiệp và cho toàn xã hội
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CSR Tùy thuộc vào từng góc độ, quan điểm, chức năng, điều kiện cũng như trình độ phát triển mà mỗi người nghiên cứu, tổ chức, chính phủ có một nhìn nhận khác về nó Nhưng về cơ bản CSR là cam kết của doanh nghiệp rằng sự phát triển kinh tế của doanh nghiệp luôn đi cùng với việc đảm bảo lợi ích chung và phát triển của toàn xã hội Xã hội ở đây bao hàm một ý nghĩa sâu, rộng gồm các vấn đề liên quan đến: cách ứng xử của doanh nghiệp đến các bên liên quan trong quá trình hoạt động như đội ngũ cán bộ, công nhân viên, người lao động thuộc doanh nghiệp, các nhà sản suất, cung ứng nguyên vật liệu, đối tác đến người tiêu dùng Đồng thời đề cập đến trách nhiệm đối với các vấn đề môi trường, trách nhiệm với
sự phát triển của cộng đồng như các hoạt động tình nguyện, nhân đạo, tài trợ, và các vấn đề xã hội khác
Trên thế giới, CSR đã được áp dụng rộng rãi, đặc biệt là trong các lĩnh vực tài chính, thương mại và bán lẻ, nơi các hoạt động kinh doanh tạo ra đáng kể lợi ích từ các bên liên quan Trong ngành xây dựng, CSR đang ngày càng phát triển trong những năm gần đây [3] Đặc điểm đặc thù của ngành xây dựng gắn liền với sự phát triển của một quốc gia, chẳng hạn việc tạo ra nhiều công trình, nhà máy công nghiệp và các cơ
sở hạ tầng giúp cho việc phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao điều kiện sống, sức khỏe, của con người Bên cạnh đó, ngành xây dựng cũng là một nguồn cung cấp các cơ hội việc làm và các phương tiện kiếm sống cho đông đảo người lao động như những người hành nghề chuyên nghiệp, những người lao động có kỹ năng và không có kỹ năng Tuy nhiên ngành xây dựng có nhiều nguy cơ, ảnh hưởng tiêu cực đến con người, môi trường, xã hội như: sử dụng nhiều lao động với mức tiếp xúc với các tai nạn cao,
do đó làm cho việc xây dựng trở nên kém an toàn hơn đối với công nhân xây dựng Ngoài ra , ngành xây dựng cũng gồm nhiều bên liên quan như cơ quan quản lý nhà nước, chủ đầu tư, thiết kế, thi công xây dựng, cung ứng vật tư, người sử dụng, hình
Trang 12thành nên nhiều mối quan hệ Do kết quả của sự cạnh tranh gay gắt và tìm kiếm lợi nhuận, nhiều tổ chức xây dựng hoạt động không lành mạnh Ngành xây dựng cũng gắn liền với việc lạm dụng đất, sử dụng quá mức tài nguyên [1], năng lượng và gây ô nhiễm môi trường thông qua các hình thức phát thải khí nhà kính, bụi, chất thải, Điều này ảnh hưởng xấu đến môi trường và hệ sinh thái
Vì những tác động và ảnh hưởng như trên, việc thực hiện CSR để duy trì những khía cạnh có ích cũng như loại bỏ các yếu tố tiêu cực từ ngành xây dựng hứa hẹn sẽ đem lại sự ảnh hưởng tích cực đến xã hội, góp phần lớn cho mục tiêu phát triển bền vững của toàn cầu Ở Việt Nam hiện nay, CSR đã có được sự quan tâm, tìm hiểu của nhiều doanh nghiệp, nhưng chủ yếu là các doanh nghiệp lớn, trong các lĩnh vực thương mại, tài chính, còn trong ngành xây dựng các nghiên cứu chưa được thực hiện nhiều Với các đặc điểm riêng của ngành xây dựng như đã đề cập ở trên, khi các doanh nghiệp xây dựng nhận thức và áp dụng trách nhiệm xã hội vào tổ chức của mình sẽ có thể mang lại lợi ích rất lớn về mặt xã hội cũng như giảm thiểu được các vấn đề về môi trường giúp ích cho sự phát triển bền vững Ngoài ra khi nền kinh tế ngày một phát triển, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ ngày càng phức tạp và gay gắt thì các hoạt động thể hiện trách nhiệm xã hội sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro, xây dựng
uy tín, nâng cao danh tiếng, từ đó mang lại nhiều lợi ích kinh doanh cho doanh nghiệp Xuất phát từ các vấn đề nêu trên và để hoàn thiện về mặt lý luận, các phương pháp khoa học về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, học viên đề xuất lựa chọn đề
tài: “Nghiên cứu giải pháp thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực
môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng” làm luận văn tốt
nghiệp của mình
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện Trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng
Ðề xuất một số giải pháp tiềm năng nhằm thực hiện Trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Ðối tượng nghiên cứu: Giải pháp tiềm năng thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm
xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Giải pháp thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng
- Về địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu các doanh nghiệp đã và đang thi công xây dựng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Về thời gian nghiên cứu: Năm 2021-2022
Trang 134 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận:
Nghiên cứu các quy định, hướng dẫn của nhà nước về việc thực hiện trách nhiệm
xã hội của các doanh nghiệp Từ các lý thuyết đó tìm ra các vấn đề cốt lõi của trách nhiệm xã hội và tiến hành khảo sát thực trạng thực hiện, khảo sát ý kiến về một số giải pháp tiềm năng thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: khảo sát được thực hiện bằng cách gửi bảng câu hỏi trực tiếp, gửi thư điện tử và khảo sát qua công cụ google Form Sử dụng
kỹ thuật lấy mẫu thuận tiện, trong đó các đối tượng được hướng đến trong nghiên cứu
là những người làm trong lĩnh vực xây dựng tại các doanh nghiệp xây dựng, thiết kế, các sở ban ngành chuyên môn xây dựng, môi trường
Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu: thu thập, tổng hợp các tài liệu hiện có về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, dữ liệu từ phiếu khảo sát và tiến hành phân tích số liệu
Một số phương pháp kết hợp khác để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề được đặt ra
Hình thành các chính sách khen thưởng, khuyến khích và xử phạt đối với các doanh nghiệp xây dựng trong lĩnh vực môi trường
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp (CSR)
1.1.1 Các khái niệm về CSR
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) thực ra không còn là một khái niệm mới đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam Tuy nhiên, hầu hết các hoạt động CSR của doanh nghiệp hiện nay tập trung vào hoạt động quyên góp từ thiện, chia sẻ cộng đồng hoặc công tác xã hội tự nguyện, những hoạt động này chỉ đang trên phương diện về xã hội, mà CSR cần tập trung trên cả 3 phương diện kinh tế, môi trường và xã hội để phục
vụ cho mục tiêu phát triển bền vững
Trên thế giới, khái niệm về CSR lần đầu tiên được nhắc đến trong cuốn sách
“Trách nhiệm xã hội của Doanh nhân (Social Responsibilities of the Businessman) của tác giả Howard Rothmann Bowen vào năm 1953 và đây là cuộc thảo luận toàn diện đầu tiên về đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội Theo ông, trách nhiệm xã hội của doanh nhân đề cập đến nghĩa vụ của các doanh nhân trong việc theo đuổi các chính sách, đưa ra các quyết định hoặc tuân theo các đường lối hành động mà đạt được mong muốn về các mục tiêu và giá trị của xã hội [2]
Từ đó, định nghĩa CRS cũng dần được các tổ chức trên thế giới nhìn nhận với với những góc độ và quan điểm riêng, phụ thuộc vào điều kiện, đặc điểm và trình độ phát triển của mình như:
- Năm 2000, Hội đồng Doanh nghiệp Thế giới về Phát triển Bền vững (World Business Council for Sustainable Development – WBCSD) định nghĩa Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết liên tục của doanh nghiệp để hành xử có đạo đức và đóng góp vào sự phát triển kinh tế đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ cũng như cộng đồng địa phương và xã hội nói chung.[3]
- Năm 2006, Nghị viện Châu Âu (European Parliament - EP) định nghĩa “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thể hiện việc doanh nghiệp chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc quản lý tác động đến xã hội và môi trường của mình, trở nên công khai hơn không chỉ với nhân viên và công đoàn của họ mà còn với các 'bên liên quan' rộng lớn hơn bao gồm nhà đầu tư, người tiêu dùng, cộng đồng địa phương, môi trường và các nhóm lợi ích khác.” [4]
- Trong ISO 26000:2010, tiêu chuẩn hướng dẫn về trách nhiệm xã hội (ISO 26000:2010 Guidance on social responsibility), định nghĩa “Trách nhiệm xã hội là trách nhiệm của một tổ chức đối với các tác động của các quyết định và hoạt động của tổ chức đó đối với xã hội và môi trường, thông qua hành vi minh bạch và có đạo đức, đóng góp vào sự phát triển bền vững, bao gồm sức khỏe và phúc lợi của xã hội; Có tính
Trang 15đến kỳ vọng của các bên liên quan; Tuân thủ luật pháp hiện hành và phù hợp với các chuẩn mực hành vi quốc tế; Được tích hợp trong toàn bộ tổ chức và được thực hành trong các mối quan hệ của nó.” [5]
- Năm 2011, Ủy ban Châu Âu (European Commission - EC) định nghĩa CSR là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với tác động của họ đối với xã hội ” [6]
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CSR Tùy thuộc vào từng góc độ, quan điểm, chức năng, điều kiện cũng như trình độ phát triển mà mỗi người nghiên cứu, tổ chức, chính phủ có một nhìn nhận khác về nó Nhưng về cơ bản CSR là cam kết của doanh nghiệp rằng sự phát triển kinh tế của doanh nghiệp luôn đi cùng với việc đảm bảo lợi ích chung và phát triển của toàn xã hội, đồng thời đề cập đến trách nhiệm đối với các vấn đề môi trường
1.1.2 Một số bộ tiêu chuẩn về CSR hiện nay:
Trên thế giới đã có nhiều bộ tiêu chuẩn nhằm đánh giá CSR, cụ thể như:
- ISO 45001:2018 – “Hệ thống quản lý An toàn và Sức khoẻ Nghề nghiệp, các yêu cầu hướng dẫn áp dụng” là tiêu chuẩn ISO của tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ra đời với mục đích xây dựng hệ thống quản lý sức khỏe và nghề nghiệp (OH&S – Occupational Health & Safety) được công nhận và áp dụng trên phạm vi quốc tế [7] Tiêu chuẩn ra được ra đời năm 2018 hướng tới mục tiêu quan trọng trong việc việc ngăn ngừa thương tích và tổn hại sức khỏe cho người lao động ISO 45001:2018 chỉ tập trung vào tiêu chí đảm bảo an toàn lao động, điều này giúp các doanh nghiệp tập trung từng bước cải thiện để đáp ứng toàn bộ các yêu cầu về trách nhiệm xã hội bằng cách thực hiện kết hợp với các tiêu chuẩn khác
- SMETA (Sedex Members Ethical Trade Audit) là một phương pháp đánh giá và báo cáo về thực hành đạo đức và trách nhiệm xã hội được công nhận và sử dụng rộng rãi do Sedex là một tổ chức phi lợi nhuận ban hành Tổ chức này có 65.000 thành viên tại 180 quốc gia [8] Bộ tiêu chuẩn được thiết kế để đánh giá tất cả các khía cạnh của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp gồm 4 trụ cột chính: tiêu chuẩn lao động, sức khỏe và an toàn, môi trường, đạo đức kinh doanh Hai mục tiêu lớn nhất của SMETA là: giảm bớt gánh nặng cho doanh nghiệp khi phải trải qua quá nhiều cuộc kiểm định, điều tra, đánh giá và cải thiện việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp từ đó mang đến nhiều lợi ích thực tế đáng kinh ngạc [9]
- BSCI (Business Social Compliance Initiative) là bộ tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ trách nhiệm xã hội trong kinh doanh ra đời năm 2003 từ đề xuất của Hiệp hội Ngoại thương (FTA) nay là Hiệp Hội Kinh Doanh Toàn Cầu Về Thương Mại Bền Vững (Amfori) với mục đích thiết lập diễn đàn chung cho các quy tắc ứng xử và hệ thống giám sát ở châu Âu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp [10] Các yêu cầu chính của BSCI bao gồm quyền tự do lập hiệp hội và quyền đàm phán tập thể, không phân biệt đối xử, trả công công bằng, giờ công làm việc xứng đáng, sức khỏe và an toàn lao động, không sử dụng lao động trẻ em, bảo vệ đặc biệt đối với lao động trẻ tuổi, không
Trang 16cung cấp việc làm tạm thời, không sử dụng lao động lệ thuộc, bảo vệ môi trường, hành
vi kinh doanh có đạo đức [11]
- Tiêu chuẩn SA8000 được Social Accountability International - SAI tạo ra vào năm 1997 là chương trình chứng nhận xã hội hàng đầu thế giới, cung cấp một khuôn khổ cho các tổ chức thuộc mọi loại hình, trong bất kỳ ngành công nghiệp nào và ở bất
kỳ quốc gia nào để tiến hành kinh doanh theo cách công bằng và đàng hoàng cho người lao động và chứng minh họ tuân thủ các tiêu chuẩn xã hội cao nhất SA8000 áp dụng phương pháp tiếp cận hệ thống quản lý đối với hoạt động xã hội và nhấn mạnh cải tiến liên tục, không phải đánh giá theo danh sách kiểm tra [12]
- Tiêu chuẩn ISO 26000:2010 [13] hay Tiêu chuẩn hướng dẫn về trách nhiệm xã hội có tên tiếng Anh là: ISO 26000:2010 Guidance on social responsibility Bao gồm những hướng dẫn tự nguyện, không có các yêu cầu và do đó không phải là một tiêu chuẩn chứng nhận giống một số tiêu chuẩn ISO khác Tiêu chuẩn này làm rõ trách nhiệm xã hội là gì thông qua các khái niệm, thuật ngữ và định nghĩa liên quan đến trách nhiệm xã hội, bối cảnh, xu hướng và đặc điểm của trách nhiệm xã hội, các nguyên tắc
và thực hành liên quan đến trách nhiệm xã hội giúp các doanh nghiệp tìm ra phương pháp chiến lược để tiếp cận với CSR, tổ chức chuyển các nguyên tắc thành hành động hiệu quả và chia sẻ các thực tiễn tốt nhất liên quan đến trách nhiệm xã hội trên toàn cầu [13]
- TCVN ISO 26000:2013 [14] do Tiểu Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC01/SC1 Trách nhiệm xã hội biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam công bố TCVN ISO 26000:2013 hoàn toàn tương đương với Tiêu chuẩn ISO 26000:2010, bộ tiêu chuẩn được sự đồng thuận của nhiều bên liên quan, đề cập đến mọi lĩnh vực liên quan đến CSR Theo TCVN ISO 26000:2013 đặc điểm quan trọng của trách nhiệm xã hội là “Sự tự nguyện của tổ chức trong việc kết hợp những cân nhắc về mặt xã hội và môi trường vào quá trình ra quyết định và có thể giải trình được những tác động của các quyết định và hoạt động của tổ chức tới xã hội và môi trường.”
1.1.3 Lợi ích của việc thực hiện CSR đối với các doanh nghiệp
1.1.3.1 Tối ưu hóa hoạt động và duy trì sự bền vững của doanh nghiệp
Các tổ chức, doanh nghiệp trên toàn thế giới và các bên liên quan ngày càng nhận thức rõ về nhu cầu và lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã hội [15] CSR ở đây bao hàm một ý nghĩa sâu, rộng gồm các vấn đề liên quan đến: cách ứng xử của doanh nghiệp đến các bên liên quan trong quá trình hoạt động như các nhà sản suất, cung ứng nguyên vật liệu, đối tác đến người tiêu dùng Đồng thời đề cập đến trách nhiệm đối với đội ngũ cán bộ, công nhân viên, người lao động thuộc doanh nghiệp, các vấn đề môi trường, trách nhiệm với sự phát triển của cộng đồng như các hoạt động tình nguyện, nhân đạo, tài trợ, và các vấn đề xã hội khác Từ đó ta thấy CSR đề cập đến tất cả các khía cạnh cần thiết trong một tổ chức cả về hoạt động đối nội lẫn đối ngoại chứ không
Trang 17chỉ riêng các vấn đề môi trường Vì vậy nhận thức sớm và ứng dụng CSR trong tổ chức, quản lý giúp Doanh nghiệp phát triển một cách toàn diện và bền vững, hướng Doanh nghiệp đến hình ảnh một doanh nghiệp tốt, phù hợp với sự phát triển của đất nước, khu vực và thế giới
Với sự phát triển của xã hội như hiện nay, cùng với mục tiêu phát triển bền vững,
về lâu dài, mọi hoạt động của các tổ chức phụ thuộc vào sự lành mạnh của hệ sinh thái thế giới và chịu sự giám sát nhiều hơn của các bên liên quan khác nhau Trong quá khứ, chi phí sản xuất thấp luôn là yếu tố hàng đầu để đạt tới thành công Nhưng nay, những khách hàng thông minh trong nước cũng như quốc tế đòi hỏi những nhà sản xuất phải tuân thủ các quy định về xã hội và môi trường, bảo vệ sức khỏe khách hàng, người lao động và cao hơn là có biện pháp phòng, chống tham nhũng, bảo vệ môi trường và có sự gắn kết với cộng đồng Vì vậy, thực hành CSR cũng là cách duy trì sự bền vững của doanh nghiệp
1.1.3.2 Lợi thế cạnh tranh, danh tiếng của tổ chức
Thực hành trách nhiệm xã hội được coi là một chiến lược hiệu quả và cần thiết để đảm bảo sự tồn tại trong một môi trường cạnh tranh và luôn luôn thay đồi [16] Như đã nói ở trên,xã hội càng phát triển, càng có nhiều vấn đề được xem xét để đánh giá, lựa chọn một doanh nghiệp, một sản phẩm Ngoài yếu tố chi phí, chất lượng, các yếu tố khác như sự ảnh hưởng đến môi trường, sự an toàn của sản phẩm, các chính sách tôn trọng và bảo đảm lợi ích cho khách hàng, việc tuân thủ các nguyên tắc của xã hội, tuân thủ pháp luật, sự ảnh hưởng tới cộng đồng ngày càng được mọi người chú ý nhiều hơn Việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với các cam kết về các vấn đề trên giúp cho hình ảnh của doanh nghiệp nổi bật hơn so với các doanh nghiệp khác và có được sự ủng hộ nhiều hơn từ phía người tiêu dùng cũng như công chúng và người dân địa phương Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của truyền thông, việc bị người tiêu dùng và cộng đồng “quay lưng”, thậm chí là “tẩy chay” khiến không ít doanh nghiệp rơi vào khủng hoảng Và CSR có thể củng cố một chiến lược đối phó với các tác động bên ngoài và đóng vai trò bảo hiểm chống lại các rủi ro danh tiếng làm tổn hại đến lợi nhuận và giái trị doanh nghiệp [17] Do đó, việc giữ gìn hình ảnh trước công chúng nói chung và khách hàng nói riêng dần trở thành nhiệm vụ quan trọng của doanh nghiệp CSR giúp cho doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu đó
1.1.3.3 Khả năng thu hút và giữ chân người lao động, duy trì tinh thần, cam kết
và năng suất của người lao động
Những cam kết rõ ràng về chuẩn mực của xã hội giúp doanh nghiệp dễ dàng thu hút được các nhân viên giỏi vì văn hóa, môi trường làm việc và các chính sách tốt dành cho người lao động là các yếu tố quan trọng mà các ứng cử viên lựa chọn tham gia làm việc tại công ty Và với một môi trường làm việc tốt, giữ chân được nhân viên tốt, chuyên môn cao, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được thời gian, nhân lực, nguồn ngân sách dành cho việc tuyển dụng, đào tạo nhân viên mới
Trang 18Doanh nghiệp thực hiện tốt CSR cũng chính là nơi nhân viên có ý thức xã hội tốt Đây như là vòng tuần hoàn, những nhân viên tốt giúp cho doanh nghiệp phát triển nhanh hơn và ngược lại doanh nghiệp phát triển mang tới nhiều lợi ích cho nhân viên hơn, từ đó duy trì tinh thần làm việc, năng suất lao động và tăng cam kết của nhân viên Như Công ty Motorola thường xuyên có những đột phá về kỹ thuật vì công ty luôn chủ động đầu tư vào các chương trình đào tạo chuyên môn và chăm sóc đời sống cho nhân viên [18]
1.2 Trách nhiệm xã hội về lĩnh vực môi trường của các doanh nghiệp xây dựng
1.2.1 Ngành xây dựng và các vấn đề về môi trường
1.2.1.1 Tình hình môi trường trên thế giới, ảnh hưởng của ngành xây dựng và các giải pháp đang được áp dụng
Thế giới ngày nay đang phát triển với nhịp điệu ngày một nhanh, tạo ra những thành tựu mang tính đột phá, làm thay đổi nhanh chóng, sâu sắc đến sự phát triển của kinh tế, xã hội và bản thân con người Nhưng cùng với nhịp phát triển nhanh chóng đó, con người cũng đang phải đối mặt với những thách thức to lớn về chính trị, văn hóa,
xã hội và đặc biệt là môi trường
Từ những năm 1992, mọi người đã nhận thấy sự phát triển không cân xứng giữa kinh tế, xã hội và môi trường Và tháng 6/1992, Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển họp tại Rio De Janero (Braxin), có 179 nước tham dự, đã thông qua Chương trình Nghị sự 21 về Phát triển bền vững [19] Trong báo cáo Brundtland của Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới năm 1987 cũng đã nêu lên khái niệm Phát triển bền vững như sau: "Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại của con người, những không gây tổn hại tới sự thỏa mãn nhu cầu của thế hệ tương lai"[20] Hội nghị này đã tạo cơ sở nền tảng và đòi hỏi các nước trên thế giới phải xây dựng chiến lược, kế hoạch quốc gia, những chính sách và giải pháp phát triển đất nước hướng tới Phát triển bền vững toàn cầu
Tuy vậy, các vấn đề môi trường ngày càng nghiệm trọng hơn như biến đổi khí hậu toàn cầu, suy giảm tầng ôzôn, suy thoái đa dạng sinh học, ô nhiễm bởi các chất thải nguy hại, và chúng ta đang đứng trước bờ vực của việc bỏ lỡ cơ hội hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở mức 1,5 ° C vào cuối thế kỷ XXI [21]
Về ngành xây dựng, việc xây dựng đã ảnh hưởng đến sức khỏe và cuộc sống của người dân xung quanh khu vực như phát thải bụi và khí, ô nhiễm tiếng ồn, tạo ra chất thải, lạm dụng tài nguyên [22] Theo Hội đồng công trình xanh thế giới (World Green Building Council – World GBC), xây dựng là một trong những ngành công nghiệp đóng góp lớn nhất vào lượng khí thải carbon trên toàn cầu Việc xây dựng và vận hành các tòa nhà chiếm 36% việc sử dụng năng lượng toàn cầu và 39% lượng khí thải CO₂ liên quan đến năng lượng Số liệu thống kê cho thấy điều này có thể sẽ tăng lên, với
Trang 19diện tích sàn toàn cầu dự kiến sẽ tăng gấp đôi vào năm 2060 và với việc sử dụng năng lượng đang gia tăng, xu hướng này sẽ tăng tốc.[23]
Gần đây, mục tiêu hướng tới của World GBC là thúc đẩy việc thực hiện công trình xanh và xây dựng các công trình không sử dụng năng lượng (Net Zero) thông qua chương trình Advancing Net Zero [24] Đây là những giải pháp góp phần đáng kể vào việc giảm lượng CO2 thải ra ngoài không khí và giảm tiêu tốn năng lượng trong tòa nhà trong quá trình sử dụng
Vào tháng 12 năm 2018, World GBC đã công bố báo cáo thường niên năm
2017-2018, phác thảo những thành tựu của tổ chức và mạng lưới GBC toàn cầu của nó trong năm 2017-2018 Chúng bao gồm phong trào công trình xanh đã tiếp cận tới 40% dân
số thế giới cấp chứng nhận cho tổng số 2.65 tỉ m2 diện tích sàn công trình; 42 đơn vị
ký kết “Net Zero Carbon Buildings Commitment” cam kết đến năm 2050 sẽ cắt giảm được lượng phát thải trong công trình xây dựng tương đương với 221 triệu tấn CO2 [25]
Ngoài ra, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, một khái niệm xuất hiện từ năm
1953 cũng đã góp phần vào sự phát triển bền vững [15] Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) trong xây dựng đang ngày càng phát triển Các tổ chức xây dựng đã ngày càng thực hiện các thực hành CSR trong thị trường xây dựng cạnh tranh trong nước và giữa các quốc gia [1] và xu hướng này chủ yếu là do những thách thức lớn về môi trường và xã hội mà ngành xây dựng phải đối mặt trong vài thập kỷ gần đây [26]
1.2.1.2 Tình hình môi trường tại Việt Nam hiện nay, ảnh hưởng của ngành xây dựng và các giải pháp đang được áp dụng:
Cũng như thế giới, Việt Nam cũng phải đang đối diện với nhiều vấn đề môi trường gay gắt như chất lượng môi trường nhiều nơi suy giảm mạnh; đa dạng sinh học
và chất lượng rừng suy thoái đến mức báo động, nguồn gen bị thất thoát; hạn hán và xâm nhập mặn gia tăng; sự cố môi trường xảy ra nhiều, gây hậu quả nghiêm trọng, an ninh sinh thái bị đe dọa, Việt Nam, một nước nông nghiệp đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, sự mâu thuẫn giữa các mục tiêu phát triển, chuyển đổi nhanh chóng của đất nước cùng với các nhận thức chưa đầy đủ của chính quyền, người dân đã gây một áp lực lớn lên môi trường Và những vấn đề môi trường cấp bách này
đã trở thành nguy cơ lớn cản trở mục tiêu phát triển bền vững của Đất nước Cụ thể như:
- Ô nhiễm không khí, đặc biệt là ô nhiễm bụi (PM10, PM2.5) ở đô thị vượt quá nhiều lần chỉ tiêu cho phép, nguyên nhân chính được xác định do bụi, khí thải từ các hoạt động giao thông vận tải, xây dựng, sản xuất công nghiệp với lượng thải lớn và chưa được kiểm soát hiệu quả Theo nền tảng dữ liệu chất lượng không khí toàn cầu của IQAir, trong 93 thành phố của các quốc gia trên thế giới, Hà Nội, Việt Nam xếp thứ 31 các thành phố có không khí ô nhiễm
Trang 20- Ô nhiễm nước mặt các lưu vực sông diễn ra nghiêm trọng và tiếp tục diễn biến theo chiều hướng xấu
- Ô nhiễm chất thải rắn các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề ở mức đáng lo ngại, hàng chục triệu tấn rác thải sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp, hàng trăm nghìn tấn chất thải nguy hại, rác thải nhựa phát sinh mỗi năm nhưng chưa được phân loại tại nguồn, năng lực thu gom còn nhiều hạn chế, hầu như được xử lý theo hình thức chôn lấp và nhiều bãi chôn lấp không hợp vệ sinh
- Khai thác và sử dụng quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên như rừng cây, các
mỏ khoáng sản, nguồn nước, dầu, khí, tài nguyên biển,
- Lượng tiêu hao năng lượng trong một công trình trong quá trình sử dụng rất lớn
Thực trạng môi trường này đi cùng với vấn đề biến đổi khí hậu, băng tan, nước biển dâng đang đặt ra những vấn đề nóng bỏng thách thức đối với sự phát triển nhanh
và bền vững của Việt nam trong thời gian tới Vì vậy Đảng và Nhà nước ta cũng đã quan tâm, ban hành nhiều chủ trương chính sách, xử lý kịp thời những vấn đề đặt ra ở trên
- Năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 153/2004/QĐ TTg ngày 17/08/2004, “Ban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự Agenta 21 của Việt Nam) nhằm phát triển bền vững đất nước trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội
và bảo vệ môi trường”
- Năm 2020, Luật bảo vệ môi trường được hoàn thiện, bổ sung và áp dụng vào đầu năm 2022
- Năm 2017, Thủ tướng chính phủ đã ký phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững với 17 mục tiêu chung và
115 mục tiêu cụ thể tương ứng với các mục tiêu phát triển bền vững của toàn cầu
- Và trong báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
5 năm 2016 – 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2020 – 2025, nhà nước ta cũng đề ra các mục tiêu đối với vấn đề môi trường Quyết tâm phấn đấu đạt các chỉ tiêu cao nhất, đồng thời chuẩn bị các phương án để chủ động thích ứng với những biến động của tình hình
Ngành xây dựng ở Việt Nam cũng đóng góp một phần không nhỏ trong vấn đề gây nên ô nhiễm môi trường Ô nhiễm bụi khói từ quá trình phá dỡ, đào, san lấp, vận chuyển vật tư và khi tập trung nhiều thiết bị thi công có sử dụng động cơ diezen công suất cao phát thải khí độc hại như SO2, NOx, CO Ô nhiễm tiếng ồn từ các công trình đang xây dựng, nghiêm trọng hơn tại các giai đoạn đào móng, ép cọc, hay các công trình ép tiến độ, thi công một ngày ba ca liên tục Ô nhiễm chất thải rắn, lượng chất thải công nghiệp hàng năm khoảng 27 triệu tấn, trong đó tỷ lệ chất thải phá dỡ công trình là khoảng 20% [27] Ô nhiễm nước mặt từ công trình xây dựng khi một số nhà
Trang 21thầu không tuân thủ đúng quy trình tập trung, xử lý nước thải Không những thế, quá trình sản xuất vật liệu xây dựng làm gia tăng khí thải độc hại cho môi trường và sử dụng quá nhiều tài nguyên thiên nhiên Lượng khoáng sản khai thác làm vật liệu xây dựng tăng lên đáng kể, từ năm 2006 - 2017, sản lượng khai thác và chế biến tăng gần 3 lần, cụ thể năm 2017 đạt khoảng 530 triệu tấn [28]
Trong bối cảnh như vậy, Việt Nam đã có một số chủ trương, chính sách lớn thúc đẩy một ngành xây dựng xanh hơn, có trách nhiệm với môi trường hơn như:
- Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả;
- Chương trình phát triển vật liệu xây không nung đến năm 2020;
- Kế hoạch phát triển đô thị tăng trưởng xanh Việt Nam đến năm 2030;
- Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019-2030;
- Gần đây, Luật Xây dựng sửa đổi (2020) cũng một lần nữa khẳng định quan điểm khuyến khích phát triển công trình xanh và năng lượng hiệu quả
Tại Việt Nam, trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, mọi người đã quen thuộc hơn với khái niệm công trình xanh Tính đến tháng 4 năm 2020, Việt Nam có gần 150 công trình được công nhận Công trình xanh theo các chuẩn kỹ thuật khác nhau: LEED, EDGE, LOTUS, Green Mark Trong các bộ tiêu chí Công trình xanh đã được áp dụng
ở Việt Nam, có bộ LOTUS là một bộ chứng chỉ được xây dựng cho điều kiện Việt Nam, do Hội đồng công trình xanh Việt Nam phát triển Gần 150 công trình xanh được công nhận trong 10 năm qua là một tín hiệu đáng khích lệ, tuy nhiên con số này cho thấy thị trường CTX đã hình thành tại Việt Nam và có xu hướng tăng trưởng nhưng tốc độ phát triển cần nhanh hơn trong thời gian tới
Việc nghiên cứu phát triển vật liệu xanh, thân thiện với môi trường, sử dụng hoặc chỉ sử dụng một phần nguyên liệu khai thác trực tiếp từ tài nguyên thiên nhiên; đồng thời tăng cao hàm lượng nguyên liệu tái chế từ phế thải các ngành công nghiệp, phế thải sinh hoạt, quy trình sản xuất áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, mức độ cơ giới hóa, tự động hóa cao đang ngày càng được triển khai mạnh mẽ Chương trình Nhãn xanh Việt Nam đã xây dựng được 17 bộ tiêu chí cho các nhóm sản phẩm khác nhau Trong đó nhóm sản phẩm vật liệu xây dựng đã xây dựng được 2 bộ tiêu chuẩn gồm: sơn phủ dùng cho xây dựng-NXVN 11:2014 và vật liệu ốp lát gốm sứ xây dựng-NSVN 05:2014 Gần đây, Viện Vật liệu xây dựng đã hoàn thành xây dựng 2 bộ tiêu chuẩn vật liệu xây dựng xanh cho sản phẩm ximăng và sứ vệ sinh Những kết quả gần đây mà ngành sản xuất vật liệu đạt được như là thúc đẩy sản xuất và sử dụng vật liệu không nung, tái sử dụng, xử lý tro xỉ các nhà máy nhiệt điện, gang thép, phân bón để làm vật liệu xây dựng, vật liệu san lấp, làm đường giao thông cũng góp phần tăng hiệu quả sản xuất và bảo vệ môi trường; một số lĩnh vực như sản xuất xi măng, gạch ốp lát,
sứ vệ sinh, kính xây dựng, kính tiết kiệm năng lượng đã đầu tư áp dụng các công nghệ sản xuất ngang tầm với nhiều nước phát triển trên thế giới, hiện ngày càng xuất hiện
Trang 22nhiều sản phẩm vật liệu xây dựng được gắn nhãn xanh, thân thiện môi trường, cơ bản
đã loại bỏ, chuyển đổi công nghệ cũ, lạc hậu Tiên phong là khối sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất xi măng được cho là một trong những nguy cơ dễ gây ô nhiễm và tác động nhiều đến môi trường cũng đã có những cải tiến vượt bậc Về Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam thời kỳ 2021 – 2030 định hướng đến năm 2050 (được phê duyệt tại Quyết định 1266/QĐ-TTg ngày 18/8/2020) nêu rõ quan điểm của Việt Nam: “ Phát triển ngành vật liệu xây dựng hiệu quả, bền vững, đáp ứng cơ bản nhu cầu trong nước, từng bước tăng cường xuất khẩu, góp phần thúc đẩy tăng trưởng
và phát triển kinh tế xã hội; tiếp cận và ứng dụng nhanh nhất các thành tựu khoa học, công nghệ, quản lý; sử dụng hiệu quả tài nguyên, triệt để tiết kiệm năng lượng; quá trình khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng cần hạn chế tối đa tác động đến môi trường”
Ngoài ra, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, một khái niệm xuất hiện từ năm
1953 cũng đã góp phần vào sự phát triển bền vững, trong đó có các bộ tiêu chuẩn nhằm đánh giá TNXHDN có liên quan đến vấn đề môi trường như tiêu chuẩn ISO 45001:2018, SMETA, BSCI, SA 8000, Tiêu chuẩn ISO 26000:2010 Nhưng ngành xây dựng hầu như chưa có nhận thức và áp dụng các bộ tiêu chuẩn này nhiều như các ngành khác
1.2.1.3 Tình hình môi trường tại Đà Nẵng, ảnh hưởng của ngành xây dựng và các giải pháp đang được áp dụng
Thành phố Đà Nẵng là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương ở Việt Nam, với vị trí trọng yếu cả về kinh tế - xã hội – quốc phòng – an ninh của khu vực Miền Trung – Tây Nguyên và cả nước Với định hướng phát triển bền vững, Ủy ban Nhân dân thành phố đã ban hành đề án “Xây dựng Đà Nẵng – Thành phố môi trường” ngày 21/8/2008 tại quyết định số 41/2008/QĐ-UBND nhằm thực hiện mục tiêu tổng quát đến năm 2020 là: “ Phấn đấu đạt thành phố thân thiện môi trường, đảm bảo các yêu cầu về chất lượng môi trường đất, chất lượng môi trường nước, chất lượng môi trường không khí, tạo sự an toàn về sức khoẻ và môi trường cho người dân, các nhà đầu tư, cho du khách trong và ngoài nước khi đến với thành phố Đà Nẵng; Ngăn ngừa ô nhiễm và suy thoái môi trường, có đủ năng lực để xử lý và khắc phục các sự cố môi trường; Tất cả người dân thành phố, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước đến làm ăn và sinh sống tại Đà Nẵng đều có ý thức về công tác bảo vệ môi trường, xây dựng Đà Nẵng – thành phố môi trường [29]
Sau 12 năm, Đà Nẵng đã đạt được những kết quả khả quan như [30]: trong 10 chỉ tiêu đề ra, 7 chỉ tiêu đạt được là chỉ số ô nhiễm không khí (API) trong khu vực đô thị luôn nhỏ hơn 100; độ ồn tại khu dân cư nhỏ hơn 60dbA, đường phố nhỏ hơn 75dbA; diện tích không gian xanh đô thị bình quân đầu người từ 6 – 8 m2/người; tỷ lệ hộ dân
sử dụng nước sạch tại các quận nội thành là 97,83%, khu vực nông thôn là 76,81%; tỷ
lệ nước thải công nghiệp đạt yêu cầu xả thải đạt 100%; tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh
Trang 23hoạt khu vực đô thị đạt hơn 95%, khu vực nông thôn là hơn 70%; tổng lượng nước thải sinh hoạt thu gom đến năm 2020 đạt trên 83%, tỷ lệ xử lý đạt quy chuẩn đạt hơn 50% [31] Tuy nhiên vẫn còn tồn tại, bất cập về môi trường cũng như việc thực hiện Đề án,
cụ thể 03 tiêu chí chưa đánh giá được hoặc chưa đạt được theo mục tiêu đến năm 2020
là tỷ lệ các nhà máy kiểm soát ô nhiễm không khí; tỷ lệ chất lượng nước đạt yêu cầu tại các khu vực: sông, ven biển, hồ, nước ngầm (có dấu hiệu ô nhiễm cục bộ); tỷ lệ tái
sử dụng chất thải rắn công nghiệp) [30]
Hiện nay tại thành phố có 54 điểm quan trắc không khí định kỳ, 22 điểm quan trắc chất lượng môi trường nước, các chỉ số quan trắc đều nằm trong tiêu chuẩn cho phép thể hiện chất lượng môi trường thành phố có chỉ số ở mức tốt, đặc biệt có nhiều cải thiện đáng kể, song vẫn còn tồn tại những vấn đề môi trường chưa được giải quyết triệt để, một số khu vực hiện nay vẫn còn ô nhiễm cục bộ, nảy sinh những điểm ô nhiễm mới, dự báo nguy cơ ô nhiễm gia tăng do tốc độ đô thị hóa nhanh [32]
Với Đề án “Xây dựng Đà Nẵng – Thành phố môi trường” giai đoạn 2021-2030 tại Quyết định số 1099/QĐ-UBND ngày 02 tháng 04 năm 2021 [31] thành phố Đà Nẵng tiếp tục duy trì, giữ vững và nâng cao các mục tiêu xây dựng thành phố môi trường theo Đề án phê duyệt năm 2008 Phấn đấu đến năm 2025, thành phố đáp ứng các mục tiêu, chỉ tiêu đặt ra, có lộ trình đến năm 2030 theo hướng đô thị sinh thái; tạo chất lượng môi trường tốt cho người dân, các nhà đầu tư, cho du khách trong và ngoài nước khi đến với thành phố Đà Nẵng;
Phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm và suy thoái môi trường tại các khu dân cư, khu công nghiệp, vùng ven biển và các khu vực cảnh quan tự nhiên; Đảm bảo chất lượng môi trường nước, đất, không khí theo quy chuẩn; đặc biệt chú trọng đến các vấn
đề khắc phục ô nhiễm không khí do giao thông vận tải, quản lý môi trường đô thị, công nghiệp, xây dựng, quản lý chất thải nguy hại [31]
Khai thác hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, nguồn nước, rừng, đảm bảo cân bằng sinh thái, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; xây dựng các quy trình, hệ thống thông minh cho việc quản lý các nguồn tài nguyên và thiên nhiên [31]
Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường, làm cho ý thức bảo vệ môi trường trở thành thói quen, đi sâu vào nếp sống của mọi tổ chức, người dân.[31]
Theo thông cáo số 135/TC-BXD ngày 16/11/2020 của Bộ Xây dựng về việc công
bố thông tin thống kê ngành Xây dựng phổ biến chính thức năm 2019 và 6 tháng đầu năm 2020 [33]: Tổng số công trình được chấp thuận nghiệm thu đưa vào sử dụng năm
2019 tại thành phố Đà Nẵng là 498 công trình chiếm gần 2% tổng công trình trên cả nước trong đó 7 công trình cấp 1, 78 công trình cấp 2, 247 công trình cấp 3 và 166 công trình cấp 4; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn theo quy định năm 2019 của thành phố là 100% [33] Đây là những kết quả đáng
Trang 24mừng của thành phố trong việc kiểm soát chất lượng môi trường trong những năm vừa qua và với tình hình xây dựng hiện nay, thành phố hoàn toàn có thể kiểm soát được chất lương môi trường
Tuy nhiên diễn biến chất lượng môi trường sẽ tỉ lệ thuận với tốc độ phát triển kinh tế, xã hội, tốc độ gia tăng dân số nếu không có những biện pháp phòng ngừa, các giải pháp giải quyết hiệu quả hay kiểm soát ô nhiễm hữu hiệu trong thời gian tới Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24 tháng 01 năm 2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 [34], có mục tiêu tổng quát là “Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm kinh tế - xã hội lớn của cả nước và Đông Nam Á với vai trò là trung tâm về khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, du lịch, thương mại, tài chính, logistics, công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin, công nghiệp hỗ trợ; là một trong những trung tâm văn hóa – thể thao, giáo dục – đào tạo, y tế chất lượng cao, khoa học – công nghệ phát triển của đất nước; trung tâm tổ chức các sự kiện tầm khu vực và quốc tế; thành phố cảng biển, đô thị biển quốc tế với vị trí là hạt nhân của chuỗi đô thị và cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung – Tây Nguyên; trở thành đô thị sinh thái, hiện đại và thông minh, thành phố đáng sống, có tổ chức đảng và hệ thống chính trị vững mạnh, chính quyền tiên phong trong đổi mới và phát triển, người dân có mức sống thuộc nhóm địa phương dẫn đầu cả nước với chất lượng cuộc sống tốt, thân thiện, hạnh phúc và sáng tạo; quốc phòng, an ninh và chủ quyền biển, đảo được bảo đảm vững chắc”
Hiện nay Đà Nẵng đang có rất nhiều Đề án phát triển thành phố như:
- Đề án “Xây dựng Đà Nẵng – Thành phố môi trường” giai đoạn 2021-2030 [31];
- Đề án Phát triển sử dụng năng lượng tái tạo, năng lượng mới trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 [35];
- Đề án xây dựng thành phố thông minh tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn
2018-2025, định hướng đến năm 2030” [36]
Với nhiều đề án như trên, Đà Nẵng đang bắt đầu công cuộc tập trung nguồn lực
để xây dựng, hoàn thiện kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất đồng bộ, tương xứng với các mục tiêu của đề án, làm nền tảng tiếp tục phát triển kinh tế, xã hội Điều đó đồng nghĩa với việc trong những năm sắp tới, mật độ xây dựng tại Đà Nẵng sẽ tăng lên đáng kể và với lợi thế về chất lượng môi trường, cũng như định hướng của thành phố, đây là thời điểm thích hợp để Đà Nẵng tiến hành xây dựng một ngành xây dựng phục vụ cho phát triển bền vững
Để tìm hiểu thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội và các quy định trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng, học viên sẽ thực hiện một khảo sát để tìm hiểu thêm thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội và các quy định trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng Nội dung chi tiết sẽ được trình bày và phân tích trong mục 3.3.1.3 thuộc Chương 3
Trang 251.2.2 Các nghiên cứu CSR về lĩnh vực môi trường trong ngành xây dựng
Trên thế giới trong các thập kỷ vừa qua đã có rất nhiều các nghiên cứu thực hành CSR về rất nhiều khía cạnh trong ngành xây dựng, dưới đây là một số nghiên cứu về CSR có liên quan đến lĩnh vực môi trường, hoặc trong nghiên cứu có đề cập đến các vấn đề về môi trường
Trang 26Bảng 1.1 Các nghiên cứu CSR về lĩnh vực môi trường trong ngành xây dựng
nghiên cứu
Mục tiêu, kết quả nghiên
Khảo sát 104 công
ty trong ngành xây dựng và kỹ thuật
và chuỗi cung ứng của ngành xây dựng ở Úc và New Zealand
Nghiên cứu các công ty trong ngành xây dựng có vận hành CSR hay không, cách họ kết hợp CSR vào tầm nhìn kinh doanh, khả năng lãnh đạo, sứ mệnh và chiến lược cũng như hình thức của những chiến lược này
- Hình thành khái niệm thực hành CSR trong các bối cảnh cụ thể của địa phương do đặc thù của các chế độ xã hội, chính trị, văn hóa, môi trường và luật pháp
2
Li-Wen Lin
[38]
Corporate Social Responsibility
Window Dressing or Structural
Change?
Nghiên cứu các văn bản pháp luật
và kết quả qua các năm
Tổng quan về các sáng kiến CSR chính của Trung Quốc
và phân tích sự phát triển CSR của Trung Quốc từ các khía cạnh của nền tảng lịch sử và tư tưởng, động
cơ công cụ và môi trường thể chế ở Trung Quốc
- Đề xuất các hoạt động liên quan đến CSR bao gồm luật, quy định, tiêu chuẩn, các hướng dẫn của chính phủ hoặc các hướng dẫn của các tổ chức phi chính phủ về CSR như ban hành hướng dẫn cho các doanh nghiệp cung cấp thông tin về hoạt động CSR, ban hành hướng dẫn cho các công ty niêm yết để thúc đẩy việc thực hiện CSR
responsibility indicator system
Dựa trên lý thuyết của các bên liên quan, lập bản đồ
về quá trình xây
Phát triển một khuôn khổ cho các chỉ số CSR liên quan đến các doanh nghiệp xây dựng trên toàn thế giới
Trang 27STT Tác giả Tên bài báo Phương pháp
nghiên cứu
Mục tiêu, kết quả nghiên
dựng của các bên liên quan
như một công cụ để thực hiện CSR
4 Archie B
Carroll [39]
The Pyramid of Corporate Social Responsibility:
Toward the Moral
Management of Organizational Stakeholders
Khám phá bản chất của trách nhiệm xã hội (CSR) với các mức độ quan tâm
để hiểu được các bộ phận cấu thành của nó Mô tả CSR của công ty hữu ích cho giám đốc điều hành, cân bằng trách nhiệm, nghĩa vụ của họ với cổ đông, các đối thủ cạnh tranh khác và phù hợp với pháp luật
- Phải có quy định, sự hỗ trợ, hướng dẫn từ các văn bản luật của chính phủ
construction industry
Cung cấp các ví dụ thích hợp về cách ngành xây dựng Vương quốc Anh thực hiện CSR
Dựa vào bối cảnh lịch sử và sự phát
Cung cấp một cái nhìn tổng quát về nguồn gốc, sự phát triển và tầm quan trọng của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) và chứng minh cách thức CSR
Trang 28STT Tác giả Tên bài báo Phương pháp
nghiên cứu
Mục tiêu, kết quả nghiên
triển của CSR cùng với các cột mốc sự kiện tóm tắt các sự kiện đáng chú ý Xác định những người có ảnh hưởng đã định hình
sự phát triển của CSR trên toàn thế giới
hiện trong ngành xây dựng Vương quốc Anh
giải pháp dựa trên khoa học để bảo vệ môi trường
- Tăng cường các chiến dịch liên quan đến tổ chức phi chính phủ và truyền thông
6 European
Commission
[41]
Green paper : promoting a European
framework for corporate social responsibility
Báo cáo xanh: thúc đẩy khuôn khổ Châu Âu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
- Đóng góp vào việc xác định rõ hơn nhu cầu đào tạo thông qua quan hệ đối tác chặt chẽ với các tổ chức địa phương, những người thiết kế các chương trình giáo dục và đào tạo;
- Cung cấp một môi trường khuyến khích tất cả nhân viên học tập suốt đời, đặc biệt là của những người ít học hơn, những người lao động có trình độ tay nghề thấp và lớn tuổi hơn
- Thiết lập một chương trình hỗ trợ tuân thủ để giúp doanh nghiệp hiểu các yêu cầu về môi trường của Cộng đồng Châu
Trang 29STT Tác giả Tên bài báo Phương pháp
nghiên cứu
Mục tiêu, kết quả nghiên
Âu;
- Phát triển các kế hoạch khen thưởng thành tích môi trường của công ty, quốc gia nhằm xác định và khen thưởng những người thực hiện tốt, đồng thời khuyến khích các cam kết và thỏa thuận
Responsibility (CSR) in Green
Thu thập dữ liệu từ
319 người được hỏi làm việc trong các
dự án khác nhau trong ngành xây dựng của Trung
Tìm ra mối quan hệ đáng
kể giữa CSR và xây dựng xanh, đồng thời gắn kết hơn nữa xây dựng xanh với phát triển bền vững
- Mua sắm xanh: xây dựng bền vững, quản lý chất thải bền vững, hệ sinh thái bền vững
Trang 30STT Tác giả Tên bài báo Phương pháp
nghiên cứu
Mục tiêu, kết quả nghiên
Construction and Its Nexus to Sustainable Development
Quốc Nghiên cứu mang tính chất định lượng
Responsibility Evaluation Framework of Construction Projects: A multi-
stakeholders perspective
Thu thập các chỉ số CSR từ các tiêu chuẩn, quy tắc và luật pháp
Khảo sát các bên liên quan khác nhau
Sử dụng lý thuyết tập hợp thô và so sánh với các chỉ số được lựa chọn từ các tổng thầu
Đề xuất một khuôn khổ phát triển xem xét kỳ vọng của các bên liên quan khác nhau để đánh giá kết quả hoạt động CSR SR ở cấp
độ dự án bằng khung đánh giá CSR bao gồm 37 vấn
đề
- Thiết kế quy trình xây dựng phải
“giảm phát thải chất ô nhiễm”
- Giảm thiểu chất thải trong quá trình xây dựng và phá dỡ; áp dụng các phương tiện xử lý chất thải thích hợp
- Giữ môi trường sạch sẽ và trật tự; nhân viên và thiết bị di chuyển riêng biệt
- Tuân theo luật và quy định về môi trường cho các tập đoàn xây dựng
- Khuyến khích tiết kiệm năng lượng & tài nguyên; ủng hộ việc sử dụng các nguồn tài nguyên tái tạo và các nguồn năng lượng thay thế
Mô tả thực trạng nghiên cứu về CSR trong doanh nghiệp xây dựng
Xem xét và phân tích một
số suy nghĩ cơ bản và cách đánh giá về CSR của doanh nghiệp xây dựng và phân tích một số vấn đề tồn tại
- Tăng cường hỗ trợ và hướng dẫn của chính phủ
- Xây dựng một hệ thống đánh giá CSR toàn diện dành riêng cho ngành xây dựng giúp chính phủ giám sát kinh tế,
Trang 31STT Tác giả Tên bài báo Phương pháp
nghiên cứu
Mục tiêu, kết quả nghiên
tham khảo cho mô hình đánh giá CSR ở Trung Quốc
hoạt động môi trường và xã hội của doanh nghiệp xây dựng
- Chuyên môn hóa và bản địa hóa các thực hành CSR
- Tăng cường quản trị tổ chức, xây dựng kế hoạch phát triển CSR
- Cải tiến, đổi mới giáo dục và đào tạo
a Crossroads:
Futures for CSR
in the UK to 2015:
International Institute for Environment and
Development
Ghi lại các phân tích và ý tưởng nảy sinh từ một loạt các cuộc trò chuyện và hai hội thảo được
tổ chức trong khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2005 với câu hỏi duy nhất:
“Chương trình CSR sẽ như thế nào ở Anh vào năm 2015? ”
Tập hợp các phản ánh độc lập về tác động của toàn bộ
nỗ lực cho CSR ở Vương quốc Anh đến năm 2015
- Hình thành khái niệm thực hành CSR trong các bối cảnh cụ thể của địa phương do đặc thù của các chế độ xã hội, chính trị, văn hóa, môi trường và luật pháp
Trang 321.2.3 Tìm hiểu thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội và các quy định trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng
Để nghiên cứu được hoàn thiện hơn, hoc viên sẽ thực hiện một khảo sát để tìm hiểu thêm thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội và các quy định trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng
Hiện nay, tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 26000:2013 [14] là tiêu chuẩn tương đối đầy đủ về hướng dẫn thực hiện trách nhiệm xã hội tại Việt Nam vì vậy sẽ thông qua các hướng dẫn này để tìm hiểu thực trạng thực hiện CSR trong lĩnh vực môi trường
Ngoài ra, luật bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 [46] ngày 17/11/2020 cũng quy định các nội dung cần thực hiện dành cho ngành xây dựng, vì vậy sẽ thông qua các nội dung, quy định này để tìm hiểu thực trạng hiện nay
Bảng 1.2 Các tiêu chí tìm hiểu thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội và các quy
định trong lĩnh vực môi trường
A Phòng ngừa ô nhiễm
1 Xác định các khía cạnh và tác động của các quyết định và hoạt
động của doanh nghiệp lên môi trường xung quanh
2 Xác định nguồn gây ô nhiễm và chất thải liên quan đến các hoạt
động của doanh nghiệp
3
Có biện pháp, hồ sơ, báo cáo về các nguồn gây ô nhiễm nghiêm
trọng và việc giảm ô nhiễm, tiêu dùng nước, sản sinh chất thải
và tiêu thụ năng lượng
4
Áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa ô nhiễm và chất thải,
sử dụng hệ thống quản lý rác thải và đảm bảo quản lý phù hợp ô
nhiễm và rác thải có khả năng tránh được
5
Tham gia cùng với cộng đồng địa phương về các phát thải và
chất thải gây ô nhiễm thực tế và tiềm ẩn, các rủi ro sức khỏe liên
quan cũng như các biện pháp giảm thiểu thực tế và đề xuất
6
Áp dụng các biện pháp nhằm tích cực giảm thiểu và giảm nhẹ ô
nhiễm trực tiếp và gián tiếp trong phạm vi kiểm soát hay ảnh
hưởng của tổ chức, đặc biệt là thông qua việc phát triển và thúc
đẩy tiếp thu nhanh các sản phẩm và dịch vụ thân thiện môi
trường hơn
7
Công bố về lượng và loại vật liệu độc hại và nguy hiểm có liên
quan và đáng kể được sử dụng và thải ra, bao gồm cả những rủi
ro đã biết cho sức khỏe con người và môi trường của các vật
Trang 33I Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 26000:2013 [14] Ghi chú
liệu này đối với những hoạt động thông thường cũng như vô
tình thải ra
8
Xác định một cách hệ thống và tránh sử dụng các hóa chất cấm
được quy định trong luật pháp quốc gia hay danh mục hóa chất
không mong muốn trong các quy ước quốc tế
9
Khi có thể, các hóa chất được các tổ chức khoa học hoặc bên
liên quan khác xác định với nền tảng hợp lý và xác nhận được là
có liên quan Tổ chức cần ngăn ngừa việc sử dụng các hóa chất
này của các tổ chức trong phạm vi ảnh hưởng của mình
10
Áp dụng chương trình phòng chống và ứng phó tai nạn môi
trường và chuẩn bị kế hoạch khẩn cấp khắc phục tai nạn và sự
cố tại hiện trường cũng như ngoài hiện trường với sự tham gia
của người lao động, các đối tác, cơ quan chức năng, cộng đồng
địa phương và các bên liên quan khác Chương trình như vậy
cần bao gồm việc nhận diện rủi ro và đánh giá rủi ro, quy trình
công bố, quy trình thu hồi và hệ thống truyền thông cũng như
giáo dục và thông tin cho công chúng
11 Xác định nguồn năng lượng, nước và các nguồn tài nguyên khác
12 Đo lường, lập hồ sơ và báo cáo việc sử dụng đáng kể năng
lượng, nước và các tài nguyên khác
13
Áp dụng các biện pháp hiệu quả về nguồn tài nguyên nhằm
giảm việc sử dụng năng lượng, nước và các tài nguyên khác,
xem xét các chỉ số thực hành tốt và các chuẩn đối sánh khác
14
Bổ sung hoặc thay thế các nguồn tài nguyên không thể tái tạo
bằng các nguồn tài nguyên thay thế bền vững, có thể tái tạo và
có ít tác động
15 Sử dụng nguyên vật liệu tái chế và tái sử dụng nước nhiều nhất
có thể
16 Quản lý nguồn nước nhằm đảo bảo tất cả những người sử dụng
cùng nguồn nước được sử dụng công bằng
17 Thúc đẩy mua sắm bền vững
18 Xem xét chấp nhận trách nhiệm rộng hơn của nhà sản xuất
19 Thúc đẩy tiêu dùng bền vững
C Giảm nhẹ biến đổi khí hậu
20 Xác định nguồn phát thải khí nhà kính trực tiếp hoặc gián tiếp
Trang 34I Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 26000:2013 [14] Ghi chú
và xác định biên giới (phạm vi) trách nhiệm của mình
21 Đo lường, lập hồ sơ và báo cáo về phát thải khí nhà kính đáng
kể của tổ chức
22
Áp dụng các biện pháp tối ưu nhằm giảm dần phát thải khí nhà
kính trực tiếp và gián tiếp trong phạm vi kiểm soát của tổ chức
và khuyến khích những hành động tương tự trong phạm vi ảnh
hưởng của tổ chức
23
Xem xét về lượng và loại nhiên liệu hóa thạch tổ chức sử dụng
và áp dụng các chương trình nâng cao hiệu quả và hiệu lực Cần
thực hiện phương pháp tiếp cận chu kỳ sống nhằm đảm bảo
giảm phát thải khí nhà kính thuần, ngay cả khi công nghệ phát
thải thấp và năng lượng tái tạo được xem xét
24
Ngăn ngừa hoặc giảm phát thải khí nhà kính (đặc biệt những
phát thải gây cạn kiệt tầng ozon) do việc sử dụng đất và thay đổi
sử dụng đất, các quá trình hoặc thiết bị, bao gồm các thiết bị
sưởi, thông gió, điều hòa không khí…
25
Khi có thể, thực hiện tiết kiệm năng lượng trong tổ chức, bao
gồm việc mua sản phẩm tiết kiệm năng lượng và phát triển các
sản phẩm, dịch vụ hiệu quả năng lượng
26
Xem xét trung hòa cácbon bằng cách thực hiện các biện pháp để
bù phát thải khí nhà kính còn lại, ví dụ bằng việc hỗ trợ các
chương trình giảm phát thải hoạt động theo cách thức rõ ràng,
thu giữ và bảo quản cacbon hoặc cô lập cácbon
D Thích nghi với biến đổi khí hậu
27
Xem xét các dự báo về khí hậu toàn cầu và khu vực trong tương
lai nhằm nhận diện rủi ro và tích hợp việc thích nghi với biến
đổi khí hậu vào quá trình ra quyết định
28
Xác định các cơ hội nhằm tránh hoặc giảm thiểu thiệt hại đi kèm
với biến đổi khí hậu và, khi có thể, tận dụng các cơ hội để điều
chỉnh các điều kiện biến đổi
29
Áp dụng các biện pháp nhằm ứng phó với các tác động hiện có
hoặc dự đoán và đóng góp vào việc nâng cao năng lực thích ứng
của các bên liên quan trong phạm vi ảnh hưởng của mình
17/11/2020 [46]
30 Có biện pháp không phát tán bụi, nhiệt, tiếng ồn, độ rung, ánh
Trang 35I Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 26000:2013 [14] Ghi chú
sáng vượt mức cho phép theo quy chuẩn kỹ thuật môi trường;
31
Việc vận chuyển vật liệu, chất thải trong hoạt động xây dựng
được thực hiện bằng phương tiện phù hợp, bảo đảm không làm
rò rỉ, rơi vãi, gây ô nhiễm môi trường;
32 Nước thải được thu gom, xử lý, đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi
trường;
33
Chất thải rắn, phế liệu còn giá trị sử dụng được tái chế, tái sử
dụng theo quy định; đất, đá, chất thải rắn từ hoạt động xây dựng
được tái sử dụng làm vật liệu xây dựng, san lấp mặt bằng theo
quy định;
34 Bùn thải phát sinh từ bể phốt, hầm cầu được quản lý theo quy
định về quản lý chất thải rắn công nghiệp thông thường;
35
Đất, bùn thải từ hoạt động đào đất, nạo vét lớp đất mặt, đào
móng cọc được sử dụng để bồi đắp cho đất trồng cây hoặc các
khu vực đất phù hợp;
36 Chất thải rắn và các loại chất thải khác được thu gom, lưu giữ,
vận chuyển đến nơi xử lý theo quy định về quản lý chất thải
1.3 Kết luận chương 1
Chương 1 đã trình bày các nội dung về:
- Tổng quan về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, các khái niệm về CSR của các tổ chức qua các giai đoạn trên thế giới, các bộ tiêu chuẩn CSR phổ biến hiện nay
và các lợi ích khi doanh nghiệp áp dụng CSR vào công việc kinh doanh của mình
- Các ảnh hưởng của ngành xây dựng đến môi trường hiện nay, các nghiên cứu CSR về lĩnh vực môi trường của ngành xây dựng Từ đó rút ra bảng tổng hợp thông qua các nghiên cứu, ngoài ra tham khảo thêm ý kiến chuyên gia đúc rút ra các giải pháp tiềm năng thúc đẩy việc thực hiện CSR trong lĩnh vực môi trường phục vụ cho việc khảo sát Bên cạnh đó, sử dụng các tiêu chí trong tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 26000:2013 và luật bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 tìm hiểu thực trạng thực hiện CSR hiện nay
Trang 36CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu được giải thích cụ thể như sau:
Hình 2.1 Quy trình nghiên cứu
Trang 37- Xác định đề tài và mục tiêu nghiên cứu: Xác định đề tài là một bước vô cùng quan trọng vì nó đóng vai trò định hướng cho cả nghiên cứu, vấn đề xác định đúng nghiên cứu mới đi đúng hướng Với đề tài “Nghiên cứu giải pháp thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng”, mục tiêu sẽ là xác định được các giải pháp tiềm năng thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết: nghiên cứu các văn bản hiện hành có liên quan đến cụm từ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong nước và nước ngoài Từ đó nghiên cứu cụ thể hơn trách nhiệm xã hội doanh nghiệp xây dựng về lĩnh vực môi trường, tham khảo các nghiên cứu tương tự trong nước và nước ngoài
- Dựa vào Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 26000:2013, luật môi trường lập bảng khảo sát thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội và các quy định của Doanh nghiệp xây dựng
- Xác định các nhóm nhân tố, tiêu chí về giải pháp tiềm năng thúc đẩy doanh nghiệp xây dựng thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường dựa trên các nghiên cứu khoa học tương tự và ý kiến của các chuyên gia trong nước
- Thiết kế bảng khảo sát: Sau khi xác định được mục tiêu, danh sách các tiêu chí, nhóm nhân tố sẽ lập nên bảng câu hỏi ban đầu và khảo sát thử trước khi khảo sát chính thức Khảo sát thử nghiệm thông qua các chuyên gia, những người có kinh nghiệm nhằm nhận được các góp ý, chỉnh sửa để có được bảng câu hỏi hoàn chỉnh Dữ liệu thu thập được từ các bảng trả lời khảo sát phải có độ tin cậy và chính xác cao, khách quan tạo cơ sở để phân tích kết quả chính xác phù hợp với mục tiêu của nghiên cứu
- Khảo sát và thu thập dữ liệu: tiến hành khảo sát chính thức và thu thập dữ liệu Các phiếu khảo sát sẽ được chuyển tới các bên tham gia trong lĩnh vực xây dựng Dữ liệu thu về sẽ được kiểm tra và phân tích
- Phân tích dữ liệu: Dữ liệu sau khi thu về sẽ được nhập và tiến hành thống kê mô
tả bằng phần mềm excel, sau đó phân tích các yếu tố khác như độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, bằng phần mềm SPSS
- Kết luận và kiến nghị: dựa vào phân tích xác định được các giải pháp tiềm năng thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng
2.2 Quy trình thiết kế bảng câu hỏi khảo sát
Bảng câu hỏi bao gồm những nội dung liên quan tới mục tiêu tìm hiểu của nghiên cứu, được chia thành nhiều phần với các nội dung bổ trợ lẫn nhau phục vụ cho phân tích dữ liệu Trong đó có các phần sau đây:
- Phần 1: Thông tin cá nhân
- Phần 2: Khảo sát nhận thức về CSR trong lĩnh vực môi trường
Trang 38- Phần 3: Khảo sát thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội và các quy định trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng Phần này được xây dựng dưới dạng các câu hỏi nhiều lựa chọn, câu hỏi thang đo Likert 5 mức
độ với các tiêu chí trong tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 26000:2013 và luật bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14
- Phần 4: Khảo sát các giải pháp tiềm năng thúc đẩy thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng Phần này được xây dựng dưới dạng các câu hỏi nhiều lựa chọn, câu hỏi thang đo Likert 5 mức độ Những bước cụ thể để xây dựng bảng câu hỏi trong phần này bao gồm:
+ Dựa trên các nghiên cứu đã thực hiện trước đây tổng hợp lên các giải pháp tiềm năng thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng
+ Tham khảo ý kiến của các chuyên gia để hoàn thiện bảng câu hỏi, bổ sung thêm 5 tiêu chí vào bảng khảo sát
+ Sắp xếp các tiêu chí vào các nhóm nhân tố phù hợp
Những nội dung chính của bảng khảo sát (Phụ lục 1- Bảng câu hỏi khảo sát chính thức)
2.3 Quy trình thu thập và xử lý số liệu
2.3.1 Xác định kích thước mẫu
Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc [47], kinh nghiệm để xác định
cỡ mẫu cho phân tích nhân tố EFA thì thông thường kích thước mẫu ít nhất phải bằng
4 hoặc 5 lần số biến trong phân tích nhân tố Nghiên cứu đạt kết quả cao và có giá trị khi mẫu được thu thập, phân tích có tính đại diện cho tổng thể Vì vậy số lượng mẫu giữ vai trò quan trọng quyết định kết quả của nghiên cứu
Theo nghiên cứu này,
- Khảo sát thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội và các quy định trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng có 36 biến quan sát nên
số lượng mẫu tối thiểu cần thiết là từ 144 đến 180 mẫu
- Khảo sát các giải pháp tiềm năng thúc đẩy thực hiện trách nhiệm xã hội trong lĩnh vực môi trường của doanh nghiệp xây dựng tại thành phố Đà Nẵng có 22 biến quan sát nên số lượng mẫu tối thiểu cần thiết là từ 88 đến 110 mẫu
Do vậy mẫu thu về đạt yêu cầu phải lớn hơn hoặc bằng 144 mẫu Qua nhiều khảo sát trên thực tế cho thấy, mẫu thu về luôn thấp hơn số lượng phát hành, trong đó có những mẫu không đạt yêu cầu cần được loại bỏ Để mẫu thu về đạt hiệu quả phân tích, học viên giả định số mẫu thu về khoảng 60% mẫu phát ra, vậy số lượng phát ra là 240 mẫu
Trang 392.3.2 Kỹ thuật lấy mẫu
Để phục vụ cho việc phân tích, ta phải tiến hành khảo sát nhưng không thể tiến hành khảo sát hết toàn bộ các đơn vị của tổng thể, mà chỉ điều tra trên 1 số đơn vị nhằm để tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí Từ những đặc điểm và tính chất của mẫu thu thập được, ta có thể suy ra được đặc điểm và tính chất của cả tổng thể đó Vì vậy vấn đề quan trọng nhất là đảm bảo cho tổng thể mẫu phải có khả năng đại diện được cho tổng thể chung
Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc [48] có 2 kỹ thuật lấy mẫu cơ bản là lấy mẫu xác suất (probability sampling methods) và lấy mẫu phi xác suất (non-probability sampling methods)
Lấy mẫu xác suất là phương pháp chọn mẫu mà khả năng được chọn vào tổng thể mẫu của tất cả các đơn vị của tổng thể đều như nhau Đây là phương pháp tốt nhất để
ta có thể chọn ra một mẫu có khả năng đại biểu cho tổng thể Vì có thể tính được sai số
do chọn mẫu, nhờ đó ta có thể áp dụng được các phương pháp ước lượng thống kê, kiểm định giả thuyết thống kê trong xử lý dữ liệu để suy rộng kết quả trên mẫu cho tổng thể chung Tuy nhiên ta khó áp dụng phương pháp này khi không xác định được danh sách cụ thể của tổng thể chung (ví dụ nghiên cứu trên tổng thể tiềm ẩn); tốn kém nhiều thời gian, chi phí, nhân lực cho việc thu thập dữ liệu khi đối tượng phân tán trên nhiều địa bàn cách xa nhau,… Lấy mẫu xác suất bao gồm lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản (simple random sampling), lấy mẫu hệ thống (systematic sampling), lấy mẫu cả khối (cluster sampling), lấy mẫu phân tầng (stratified sampling)
Lấy mẫu phi xác suất là phương pháp chọn mẫu mà các đơn vị trong tổng thể chung không có khả năng ngang nhau để được chọn vào mẫu nghiên cứu Lấy mẫu phi xác suất bao gồm lấy mẫu thuận tiện (convenience sampling), lấy mẫu phán đoán (judgement sampling), lấy mẫu định mức (quota sampling)
Trong nghiên cứu này, học viên lựa chọn kỹ thuật lấy mẫu thuận tiện Có nghĩa
là lấy mẫu dựa trên sự thuận lợi hay dựa trên tính dễ tiếp cận của đối tượng Trong đó các đối tượng được hướng đến trong nghiên cứu là những người làm trong lĩnh vực xây dựng tại các doanh nghiệp xây dựng, thiết kế, các sở ban ngành chuyên môn xây dựng, môi trường
2.3.3 Phương pháp thu thập dữ liệu
Khảo sát được thực hiện bằng cách gửi bảng câu hỏi trực tiếp, gửi thư điện tử và khảo sát qua công cụ google Form đến các kỹ sư trên các công trường đang xây dựng, thi công tại thành phố Đà Nẵng, các anh, chị, em trong các hội nhóm liên quan đến lĩnh vực xây dựng
2.3.4 Làm sạch và mã hóa mẫu
Loại bỏ các bảng câu hỏi có khả năng gây nhiễu dữ liệu phân tích như:
- Các bảng câu hỏi thu về có khuyết câu trả lời
Trang 40- Các câu trả lời trong bảng có cùng một mức độ ảnh hưởng, không có sự ngẫu nhiên
Mã hóa các câu trả lời thành dạng số để chạy phân tích SPSS
2.4 Phân tích dữ liệu
2.4.1 Thống kê mô tả
Thống kê mô tả (Descriptive Statistics) là các phương pháp sử dụng để tóm tắt hoặc mô tả một tập hợp dữ liệu, một mẫu nghiên cứu dưới dạng số hay biểu đồ trực quan Các công cụ số dùng để mô tả thường dùng nhất là trung bình cộng và độ lệch chuẩn Các công cụ trực quan thường dùng nhất là các biểu đồ
Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc [48]
Giá trị trung bình được tính theo công thức:
𝑥 =∑ 𝑥𝑖
𝑛 𝑖=1
𝑛Trong đó:
𝑥̅ : trung bình cộng giản đơn
n: số quan sát hay cỡ mẫu
𝑥𝑖 : giá trị của biến thứ i
Độ lệch chuẩn được tính theo công thức:
n: số quan sát hay cỡ mẫu
xi: giá trị của biến thứ i
2.4.2 Kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s alpha
Trong khảo sát sẽ gồm nhiều nhóm nhân tố khác nhau, trong từng nhóm nhân tố
sẽ có nhiều biến quan sát, tuy nhiên không phải biến quan sát nào cũng đều hợp lý và phản ánh đúng tính chất, nội dung của nhóm nhân tố Vì vậy kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha sẽ giúp kiểm tra các biến quan sát có đáng tin cậy hay không, có phản ánh mức độ tương quan chặt chẽ giữa các biến quan sát trong cùng một nhân tố hay không Kết quả Cronbach Alpha cho biết trong các biến quan sát của một nhân tố, biến nào đã đóng góp vào việc đo lường khái niệm nhân tố, thể hiện được đặc điểm của nhân tố đó
Hệ số Cronbach’s Alpha được tính theo công thức sau:
𝐾 − 1[1 −∑ 𝛿𝑌𝑖
2 𝐾 𝑖=1
𝛿𝑋2 ]