1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu Luận: Thâm hụt ngân sách Việt Nam ppt

26 1,2K 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 726,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải pháp nào để xử lýthâm hụt ngân sách nhà nước, ổn định vĩ mô nền kinh tế, thực hiện hiệu quả cácmục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội, tăng trưởng kinh tế và kiềm chếlạm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

LỚP: T07

TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

THÂM HỤT NGÂN SÁCH VIỆT NAM

NHÓM 8:

Đặng Kim Ngọc AnhNguyễn Thị DungTrịnh Thị Mỹ LoanTrần Thị Thùy NinhNgô Thị Thanh TâmNguyễn Thị Mỹ TrinhDương Thị Thùy Vân

GVHD: Ths Trần Mạnh Kiên

Trang 2

Tp Hồ Chí Minh, ngày 03/11/2012MỤC LỤC

1 MỞ ĐẦU 4

2 NỘI DUNG 4

2.1 Khái niệm phân loại 4

2.1.1 Ngân sách nhà nước 4

2.1.2 Thâm hụt ngân sách nhà nước 4

2.1.3 Phân loại thâm hụt ngân sách nhà nước 5

2.2 Thực trạng thâm hụt ngân sách nhà nước trong những năm gần đây 5

2.2.1 Thực trạng kinh tế những năm gần đây 5

2.2.2 Thực trạng thâm hụt ngân sách 6

a Thu ngân sách nhà nước 6

b Chi ngân sách nhà nước 9

c Thực trạng bội chi NSNN (thâm hụt NSNN) 12

2.2.3 Hậu quả của thâm hụt NSNN đối với nền kinh tế 13

2.3 Nguyên nhân 2.3.1 Thất thu thuế nhà nước 13

2.3.2 Đầu tư công kém hiệu quả 13

2.3.3 Nhà nước huy động vốn để kích cầu 14

2.3.4 Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên 14

2.3.5 Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn 14

2.3.6 Sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua còn được sử dụng như một công cụ trong chính sách tài khóa để kích thích sự tăng trưởng kinh tế 14

2.4 Tác động đối với nền kinh tế 15

2.4.1 Ảnh hưởng đến tổng cầu nền kinh tế 15

2.4.2 Ảnh hưởng lạm phát 15

2.4.3 Nợ quốc gia và những bất ổn trong nền kinh tế 17

2.4.4 Thâm hụt ngân sách và vấn đề thoái lui đầu tư 17

2.4.5 Lãi suất 19

2.4.6 Cán cân thương mại và tỉ giá 20

2.4.7 Tăng trưởng 21

2.4.8 Hạ cánh cứng 21

2.5 Giải pháp 22

Trang 3

2.5.1 Phát hành tiền 22

2.5.2 Vay nợ 22

2.5.3 Tăng thuế 23

2.5.4 Cắt giảm chi tiêu 23

2.5.5 Dự trữ ngoại hối 23

3 KẾT LUẬN 23 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

1 MỞ ĐẦU

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại, vai trò quản lý và điều tiết vĩ

mô nền kinh tế - xã hội của nhà nước được đề cao hơn bao giờ hết Để đảm tráchvai trò này, nhà nước phải nắm bắt các công cụ tài chính - tiền tệ, trong đó cân đốingân sách nhà nước được xem là một trong những công cụ sắc bén để nhà nước canthiệp toàn diện vào nến kinh tế Nói đến ngân sách nhà nước thì không thể khôngnói đến tình trạng thâm hụt ngân sách_căn bệnh kinh niên của mọi nhà nước Ngay

cả khi Hoa Kỳ - một trong những cường quốc có nền kinh tế đứng đầu thế giới hiệnnay cũng phải đối mặt với vấn đề này và tất nhiên V iệt Nam là một nước khôngngoại lệ

Mức độ thâm hụt ngân sách ở nước ta đang có xu hướng gia tăng và ngàycàng tác động tiêu cực đến đời sống nhân dân cũng như toàn bộ nền kinh tế Haynói cách khác đay chính là một trong những nguy cơ làm khủng hoảng nền kinh tế,gia tăng lạm phát gây khó khăn cho chính phủ trong việc thực hiện các chính sachtài khóa và tiền tệ

Vậy thâm hụt ngân sách nhà nước là gì? Thực trạng vấn đề thâm hụt ngânsách diễn ra ở Việt Nam trong các năm qua như thế nào? Giải pháp nào để xử lýthâm hụt ngân sách nhà nước, ổn định vĩ mô nền kinh tế, thực hiện hiệu quả cácmục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội, tăng trưởng kinh tế và kiềm chếlạm phát hiện nay? Bài tiểu luận này với đề tài "Thâm hụt ngân sách Việt Nam ” làquá trình nghiên cứu nhằm tìm ra đáp án cho những câu hỏi trên

Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất, để đảm bảo nhà nướcthực hiện chức năng nhiệm vụ của mình

Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh

tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại đất nước Là công cụ điều chỉnh vĩ mônền kinh tế xã hội, được biểu hiện trên 3 khía cạnh:

- Kích thích sự tăng trưởng kinh tế ( vai trò điều tiết trong lĩnh vực kinh tế),chống độc quyền

- Giải quyết các vấn đề xã hội ( vai trò điều tiết trong lĩnh vực xã hội)

- Góp phần ổn định thị trường giá cả, chống lạm phát( điều chỉnh trong lĩnhvực thì trường)

Vai trò của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theotừng giai đoạn nhất định

2.1.2 Thâm hụt ngân sách nhà nước

Trang 5

Thâm hụt Ngân sách nhà nước hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước, làtình trạng tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu khôngmang tính hoàn trả của Ngân sách nhà nước Thâm hụt ngân sách nhà nước có thểảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh tế tùy theo tỷ lệ thâm hụt và thờigian thâm hụt Nếu tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước với tỷ lệ cao và trongthời gian dài sẽ gây

2.1.3 Phân loại thâm hụt ngân sách nhà nước

Thâm hụt cơ cấu: là các khoản thâm hụt được quyết định bởi các chínhsách tùy biến của chính phủ như quyết định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm hayquy mô chi tiêu cho gia đình, quốc phòng…

Thâm hụt chu kì: là khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kì kinh tế,nghĩa là mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân Ví dụ: khi nềnkinh tế suy thoái, tỷ lệ thât nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân từ thuế giảm xuốngtrong khi chi ngân sách cho trợ cấp tăng lên

2.2 Thực trạng thâm hụt ngân sách nhà nước trong những năm gần đây

2.2.1 Thực trạng kinh tế những năm gần đây

Vấn đề đáng quan tâm đến nền kinh tế Việt Nam hiện nay chính là lạm phát

và tăng trưởng GDP Theo ba báo cáo được đưa ra trong năm 2012 thời gian cuốitháng 7, đầu tháng 8 của JPMorgan Chase, HSBC và ANZ, với nỗ lực của Chínhphủ, tốc độ lạm phát của Việt Nam đã liên tục giảm trong thời gian qua, tạo thuậnlợi việc hạ lãi suất nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế

Năm 2011, các biện pháp thắt chặt tín dụng đã được áp dụng nhằm hạn chếnhu cầu Kết quả, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7 vừa qua chỉ tăng hơn 5% so vớicùng kỳ, từ mức đỉnh 23% vào tháng 8 năm 2011 (theo báo cáo “Vietnam at agalance” của HSBC) Ngoài ra thâm hụt thương mại trong 7 tháng đầu năm 2012chỉ còn 58 triệu USD, so với mức khoảng 6 tỷ USD cùng kỳ năm 2011 Tỷ giáVND/USD đã ổn định từ đầu năm đến nay, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã tăngnhờ thâm hụt thương mại giảm và dòng vốn giải ngân FDI mạnh( trích báo cáoHSBC) Sự suy giảm của nhu cầu tại các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam thểhiện qua sự đi xuống của tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu Theo số liệu banđầu, mức tăng trưởng xuất khẩu của tháng 7/2012 đã giảm mạnh xuống còn 3% sovới cùng kỳ năm 2011, từ mức tăng 16,9% trong tháng 6/2012

Cùng quan điểm, HSBC nhận định, ở thời điểm hiện tại, các doanh nghiệp ởViệt Nam đang phải đối mặt với tình trạng nhu cầu thấp ở cả trong và ngoài nước.Chỉ số quản lý sức mua (PMI) của Việt Nam trong tháng 7, do HSBC thực hiện, đãgiảm xuống mức thấp nhất kể từ khi được công bố lần đầu vào tháng 4/2011 TheoHSBC, điều này phản ánh thực trạng người tiêu dùng không còn sẵn sàng chi tiêu

do mức nợ cao hoặc do triển vọng tăng trưởng kinh tế kém Việt Nam hiện khôngphải là quốc gia duy nhất phải đối mặt với sự suy giảm của nhu cầu tại thị trườngnội địa Tuy nhiên, ở Việt Nam, nhu cầu tiêu dùng được HSBC dự báo có thể còn ởtrong tình trạng trì trệ trong thời gian tới, trong khi những cải cách mang tính cơ cấucần được thực hiện để giải quyết những vấn đề đã ăn sâu trong nền kinh tế

Trang 6

Trong khi đó, báo cáo đưa ra cuối tháng 7 của Ngân hàng JPMorgan Chasecho rằng, lạm phát cơ bản của Việt Nam (không tính tới các yếu tố giá nhiên liệu vàlương thực-thực phẩm) vẫn ở mức 0,6% trong tháng 7 so với tháng 6 và ở mức 8%

so với cùng kỳ năm 2011

Biểu đồ tăng trưởng thực GDP và lạm phát của Việt Nam

2.2.2 Thực trạng thâm hụt ngân sách

a Thu ngân sách nhà nước

Theo Quyết toán NSNN của MoF, trung bình giai đoạn 2007-2011, tổng thungân sách nhà nước của Việt Nam khá ổn định và vào khoảng 29,0% GDP Theo sốliệu thống kê từ đầu năm đến 15/8/2012 tổng thu NSNN ước tính đạt 418.500 tỷđồng, bằng 56,5% dự toán năm

Hình 1: Các nguồn thu của Việt Nam (% GDP)

Nguồn: Quyết toán cà Dự toán NSNN 2003-2012

Theo Ủy ban Tài chính ngân sách (TCNS), thu ngân sách tính đến hết tháng9.2012 vẫn chủ yếu phụ thuộc vào tài nguyên (dầu khí), còn thu nội địa và thu cânđối xuất nhập khẩu giảm mạnh (tổng số giảm 25.500 tỉ đồng)

 Thu nội địa:

Trang 7

Năm 2011 thu nội địa ước 390.000 tỷ đồng, đạt 102% dự toán năm, tăng16,6% so cùng kỳ 2010 (trong đó: tính đến hết tháng 11/2011, thu từ kinh tế quốcdoanh đạt 89,1% dự toán, tăng 12,1% so cùng kỳ; thu khu vực công thương nghiệp

và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt 98,7% dự toán, tăng 23,7% so cùng kỳ; thu từdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 94,0% dự toán, tăng 15,3% so với cùngkỳ…)

Khoản thu đáng lưu ý trong giai đoạn 2008-2012 là thu từ thuế phí, tác độnglớn đến NSNN cũng như đến toàn xã hội

Mức thu từ thuế và phí, không kể thu từ dầu thô của Việt Nam là rất cao sovới các nước khác trong khu vực Cụ thể, tính đến năm 2010 tỷ lệ thu từ thuế vàphí/GDP của Việt Nam là 21,6% , Trung Quốc là 17,3%, Thái Lan và Ma-lay-xi-axấp xỉ 15,5%, Phi-líp-pin là 13,0%, In-đô-nê-xia là 12.1%, và của Ấn Độ chỉ là7,8%.(Nguồn: ADB Key Economic Indicator for Asia and the Pacific (2011))

Ngoại trừ năm 2009 khi Chính phủ thực hiện hàng loạt các biện pháp cắt vàmiễn giảm thuế nhằm kích thích tổng cầu thì thu thuế và phí, không kể dầu thô, củaViệt Nam chưa có dấu hiệu giảm Những ước tính sơ bộ của năm 2010 và 2011 từQuyết toán NSNN cho thấy tỷ lệ này tiếp tục duy trì ở mức cao và thậm chí còn giatăng, lần lượt khoảng 22,6% và 24,4% GDP Như vậy, ngoài việc chịu “thuế lạmphát” hàng năm ở mức hai con số, những chính sách bảo hộ và thuế chồng lên thuếđang khiến mỗi người dân Việt Nam gánh chịu tỷ lệ thuế phí/GDP cao gấp từ 1,4đến 3 lần so với các nước khác trong khu vực

Về thuế thu nhập, Việt Nam có các thang bậc thuế suất khá tương đồng sovới các nước trong khu vực, song khoảng thu nhập chịu các thang thuế suất tươngứng lại thấp, nên tính chung số thuế phải nộp là khá cao so với khu vực Ví dụ mứcthu nhập phải chịu thuế 10% tại Việt Nam khoảng 3.450 - 5.175 USD một năm, thì

ở Thái Lan là 4.900 - 16.400 USD, Trung Quốc là 3.800 - 9.500 USD một năm

Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện được thu ở mức 25% đối với mọi doanh

Trang 8

nghiệp, trong khi tại các nước, thuế suất dao động 2 - 30% Tuy nhiên, số liệu thống

kê những năm gần đây cho thấy, chiếm khoảng 20% GDP trong toàn nền kinh tếnhưng các doanh nghiệp FDI lại chỉ đóng góp trên dưới 10% tổng thu ngân sáchnhà nước Nhiều doanh nghiệp trong khu vực này liên tục báo lỗ nhưng lại xin mởrộng đầu tư Như vậy với tổng mức thu thuế/GDP cao đã hạn chế khả năng tích lũy,làm giảm đầu tư phát triển, và năng cao năng lực cạnh tranh của khu vực tư nhân,xuất hiện các hành vi gian lận về thuế của các doanh nghiệp

Bên cạnh thuế thu nhập, Việt Nam còn áp dụng nhiều khoản thuế cao khácđánh vào tiêu dùng như thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế nhập khẩu Đặc biệt, ngoàicác khoản thuế và phí, các doanh nghiệp Việt Nam còn phải trả các chi phí khôngchính thức cao Theo kết quả điều tra Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI)năm 2011, mặc dù đã giảm nhưng vẫn còn có tới hơn 52% số doanh nghiệp đượchỏi trả lời rằng họ phải chi trả dưới dạng tiền lót tay cho các cán bộ hành chính địaphương, 7% số doanh nghiệp phải chi trả tới hơn 10% tổng thu nhập của họ cho cáckhoản chi phí không chính thức; có tới 56% doanh nghiệp tham gia đấu thầu các dự

án của nhà nước cho biết việc chi trả hoa hồng là phổ biến Điều này đã góp phầnlàm gia tăng sự bất công giữa các nhóm lợi ích và đại đa số dân chúng, đồng thờilàm suy giảm niềm tin vào bộ máy công quyền

Con đường giảm thâm hụt ngân sách thông qua tăng thuế suất và cơ sở đánhthuế là rất hạn chế Việc tăng thu chỉ có thể được thực hiện nhờ các biện pháp nângcao tỉ lệ tuân thủ, chống thất thu và buôn lậu

 Thu ngân sách thiếu bền vững Các khoản thu không bền vững gồm thu từ viện trợ, thu từ bán nhà thuộc sởhữu nhà nước và giao đất, thu từ dầu thô Nguồn: Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 quyếttoán ngân sách nhà nước (NSNN) hàng năm của Bộ Tài chính (MoF) cho thấy, tổngthu thuế và phí ở nước ta chủ yếu đến từ 3 nguồn chính, gồm: thuế giá trị gia tăng(VAT); thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN); thuế xuất nhập khẩu (XNK) và thuếtiêu thụ đặc biệt đối với hàng nhập khẩu Trong đó, tỷ trọng thuế TNDN đang có xuhướng giảm dần từ 36% trong giai đoạn 2006-2008 xuống còn 28% trong giai đoạn2009-2011 Trong khi đó, tỷ trọng thu thuế VAT và thuế XNK lại tăng nhanh Sựgia tăng tỷ trọng các khoản thu từ thuế XNK và thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàngnhập khẩu đang từ 10% trong năm 2006 lên 18,4% trong năm 2009 và 14,5% trongnăm 2010 Kết quả này cho thấy sự phụ thuộc lớn vào nguồn thuế này khi lộ trìnhcắt giảm thuế được thực hiện theo cam kết với WTO sẽ khiến cho mức độ thâm hụtngân sách của Việt Nam có thể trở nên trầm trọng hơn trong những năm tới

Đặc biệt, thu từ bán nhà thuộc sở hữu nhà nước và chuyển quyền sử dụng đấtđang có xu hướng ngày càng giảm dần về quy mô tuyệt đối cũng như tỷ trọng trongtổng thu và viện trợ, từ 9,3% năm 2007 xuống khoảng 6,6% trong năm 2011, khicác tài sản loại này thuộc sỡ hữu nhà nước đang dần cạn Để có cái nhìn sâu hơn vềbức tranh tài khóa, chúng ta nên có them thước đo thâm hụt ngân sách loại trừ cáckhoảng thu từ việc bán tài sản thuộc sở hữu nhà nước Việc đưa những khoản thunày vào tính toán cán cân ngân sách sẽ làm giảm mức độ nghiêm trọng của tìnhtrạng bội chi từ những con số báo cáo Về bản chất, việc này cũng giống như việc

Trang 9

một cá nhân bán tài sản đi để chi tiêu Khoản vay nợ của anh ta có thể giảm nhưngtài sản của anh ta cũng giảm tương ứng, tức là anh ta đã nghèo đi.

Thu từ việc khai thác dầu thô và các tài nguyên khác cũng có bản chấtgiống các khoản thu từ việc bán tài sản quốc gia và không bền vững do nguồn tàinguyên thiên nhiên là hữu hạn Cụ thể, thu từ dầu thô đã có tỷ trọng liên tục giảmtrong những năm qua trong tổng thu NSNN Khoản thu này từ chiếm tới 28,8%trong tổng thu ngân sách năm 2006 đã giảm xuống chỉ còn 11,6% trong năm 2011.Năm 2012 thu từ hoạt động xuất nhập khẩu, dầu thô chỉ đạt dưới 70% dự toán

Ngoài ra, thu từ viện trợ không hoàn lại cũng nên được loại trừ khi tính toánthâm hụt ngân sách hàng năm do bản chất ngắn hạn không ổn định của chúng

b Chi ngân sách nhà nước

 Chi đầu tư phát triển:

Bảng chi đầu tư phát triển (2008-2012)

Đơn vị: Tỷ đồng

Nguồn: Quyết toán của Bộ tài chính (Cân đối thu – chi NSNN)

Tính sơ bộ trong khoảng 5 năm (2008-2012) tổng vốn đầu tư phát triển màngân sách nhà nước đã cấp ra ước khoảng 782.825 tỷ đồng luôn chiếm trên 20%tổng chi NSNN đặc biệt là vào năm 2009 chiếm khoảng 27,4% tổng chi NSNN.Theo Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 thì chi đầu tư phát triển có xu hướng giảm nhẹ về

tỉ trọng trong tổng chi ngân sách, từ 28,3% năm 2010 xuống khoảng 24,6% trongnăm 2011 nhờ việc nỗ lực cắt giảm chi tiêu công nhằm bình ổn nền kinh tế

Chi đầu phát triển càng ngày được chú trọng, tuy nhiên cũng còn hạn chếtrong việc giám sát chặt chẽ việc chi các khoản tiền Ví dụ trong năm 2008, dự án

xử lý nước thải khu công nghiệp Vĩnh Niệm – Hải Phòng vốn đã cấp phát 3 tỷ đồng

và dự án xử lý nước thải Khu du lịch Vịnh Tùng Dinh (Cát Bà, Hải Phòng) vốn đãcấp phát 23,52 tỷ đồng hoàn thành nhưng không hoạt động gây lãng phí NSNN;năm 2009, có nhiều khoản chi tăng đột biến, trong tổng chi hơn 561.200 tỷ đồng(tăng 14,2% so với dự toán) thì chi đầu tư phát triển tăng vượt dự toán đến 60,8%.Công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản vẫn còn nhiều sai phạm và tăng hơn

so với năm trước Tình trạng xây dựng dở dang, nợ khối lượng xây dựng cơ bản,…vẫn xảy ra Từ năm 2011 đến nay, chi đầu tư phát triển tiếp tục tăng Năm 2011,nguồn vốn đầu tư của NSNN, cùng với vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong vàngoài nước đưa vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2011 đạt khoảng 34,5%GDP,góp phần tăng thêm năng lực mới cho nền kinh tế 9 tháng đầu năm 2012 ước tínhtăng 5% so với cùng kỳ Thực tế việc thực hiện chi ngân sách vẫn có thất thoát, làmlãng phí nguồn ngân sách và chưa đạt được hiệu quả mong muốn

Trang 10

 Chi trả nợ và viện trợ:

Trong quá trình phát triển, nước ta vẫn luôn cố gắng đảm bảo các khoảnthanh toán nợ đầy đủ và đúng kì hạn cùng với việc viện trợ khi cần cần thiết Sốtiền này tăng từ 58.390 tỷ đồng năm 2008 đến 101.000 tỷ đồng năm 2011 nhằmđảm bảo tăng chi trả nợ ngoài nước do biến động chênh lệch tỷ giá ngoại tệ và tăngtrả nợ gốc đối với các khoản vay ngắn hạn để giảm áp lực bố trí trả nợ các năm sau.Hiện nay, theo thống kê cho biết 9 tháng đầu năm ước tính chi trả nợ tăng 0,5%.Bên cạnh đó trong giai đoạn này, Việt Nam đang ngày càng chú trọng hỗ trợ chocác doanh nghiệp nhà nước(DNNN) Hầu hết các DNNN hoạt động vẫn chưa cóhiệu quả, thay vì tập trung vào các hoạt động kinh doanh cốt lõi thì các tập đoànnày lại phát triển thành mạng lưới chằng chịt với hàng trăm các tổng công ty, công

ty con và công ty liên doanh Điển hình như tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy ViệtNam (Vinashin) Tháng 12/2010 Vinashin chính thức mất khả năng thanh toán 60triệu USD vốn gốc, một phần trong khoản nợ 600 triệu USD phát hành năm 2007,cho các chủ nợ quốc tế Chính phủ Việt Nam đã bị Elliott Advisers LP, một trongcác chủ nợ, gửi đơn kiện lên Tòa thượng thẩm London đòi bồi thường cho nhữngkhoản nợ không được thanh toán Mặc dù gần đây Elliott Advisers LP đã rút đơnkiện do một công ty trong nước đã đứng ra mua lại nợ cho Vinashin, Vinashin đã vàđang được tái cấu trúc nhưng hậu quả mà nó gây ra đối với toàn nền kinh tế sẽ cònkéo dài

 Chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh

Từ năm 2008 đến năm 2010 Chính phủ đã giải ngân được khoảng 31.690 tỷđồng từ vốn trái phiếu Chính phủ, đạt 79,21% Các dự án y tế kế hoạch vốn Chínhphủ giao là 5.600 tỷ đồng, số vốn giải ngân là 4.315,9 tỷ đồng đạt 77,07%; Các dự

án giáo dục kế hoạch vốn Chính phủ giao là 6.180 tỷ đồng, số vốn giải ngân là4.600 tỷ đồng đạt 74,43%; dự án giao thông đạt 73%; dự án thủy lợi gần 65%, nângcấp bệnh viện đạt gần 73%; kiên cố trường lớp, nhà công vụ cho giáo viên gần86% Ngoài ra, Bộ Tài chính còn triển khai tổ chức thực hiện ứng chi 6.467,5 tỷ để

bổ sung vốn đẩy nhanh tiến độ thực hiện một số dự án quan trọng, cấp bách, có khảnăng hoàn thành trong năm 2010 Trong đó, đã trích dự phòng ngân sách trungương 730 tỷ đồng và xuất cấp 14.000 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia để hỗ trợ cáctỉnh miền Trung khắc phục hậu quả bão lũ; cứu đói, hỗ trợ dân sinh; khôi phục cơ

sở hạ tầng thiết yếu tại các vùng bị thiên tai

Để thực hiện chính sách phát triển kinh tế bền vững, nhà nước tăng cường hỗtrợ xã hội bằng việc tăng khoản chi an sinh xã hội, chi hỗ trợ cho quốc phòng, anninh Nhìn chung cho tới nay đã đạt được những thành công nhất định, góp phầnnâng cao chất lượng cuộc sống chung của xã hội

 Chi chương trình mục tiêu quốc gia

Nhà nước ta đang chú trọng phát triển các chương trình mục tiêu quốc gia vìmục tiêu phát triển nền kinh tế bền vững Tất cả các mục chi tiêu của chương trìnhđều tăng hơn 25% so với năm 2008 Trong đó, các khoản chi cho chương trình antoàn thực phẩm và chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả nằmtrong chương trình mục tiêu quốc gia tăng nhanh và mạnh Với chương trình antoàn thực phẩm, năm 2009 tăng khoảng 57.5% và năm 2010 tăng gần 164 % so với

Trang 11

năm 2008 Còn với chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, năm

2009 – 2010, tăng 2,2 – 3,3 lần so với năm 2008

Năm 2012, sửa đổi một số điều trong quyết định số 135/2009/QĐ-TTG vềQuy chế quản lý và điều hành thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giaiđoạn 2011-2015 Trong đó có 16 chương trình sau: 1- Việc làm và dạy nghề; 2-Giảm nghèo bền vững; 3- Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; 4- Y tế; 5-Dân số và Kế hoạch hóa gia đình; 6- Vệ sinh an toàn thực phẩm; 7- Văn hóa; 8-Giáo dục và đào tạo; 9- Phòng, chống ma túy; 10- Phòng, chống tội phạm; 11- Sửdụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; 12- Ứng phó với biến đổi khí hậu; 13- Xâydựng nông thôn mới; 14- Phòng, chống HIV/AIDS; 15- Đưa thông tin về cơ sởmiền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo; 16- Khắc phục và cải thiện ônhiễm môi trường Phát triển việc xây dựng mô hình mới Qua đó có thể thấy nhànước đang mở rộng chương trình mục tiêu quốc gia, do vậy việc chi cho chươngtrình mục tiêu quốc gia thực sự cần thiết

 Chi cải cách tiền lương

Theo Đề án Cải cách chính sách tiền lương được duyệt, trong những nămqua Chính phủ đã thực hiện việc điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu chung Từnăm 2008 đến năm 2011 qua 4 lần điều chỉnh, mức lương tối thiểu chung đã đượctăng từ 450.000 đồng lên 830.000 đồng/tháng Mặc dù mức lương tối thiểu đã đượcđiều chỉnh lên tới 830.000 đồng/tháng và luôn duy trì tốc độ tăng bình quân từ 16–20% hàng năm trong nhiều năm, song mức lương tối thiểu áp dụng với cán bộ côngchức vẫn giữ ở mức bằng mức lương tối thiểu chung và luôn nằm ở vùng thấp nhấtnếu so sánh với mức lương tối thiểu áp dụng đối với khu vực doanh nghiệp Cụ thể,lương công chức mới chỉ bằng 59,3% mức lương tối thiểu vùng thấp nhất và bằng41,5% mức lương tối thiểu vùng cao nhất của doanh nghiệp quy định tại Nghị định

số 70/2011/NĐ-CP ngày 22/8/2011 của Chính phủ Trong năm 2012, với đề án tănglương tối thiểu lên mức 1,05 triệu đồng, ngân sách nhà nước dự kiến sẽ cần thêmkhoảng 11.000 tỷ đồng Tùy theo cơ chế thị trường mà có sự điều chỉnh tiền lươngcho hợp lý

 Chi thường xuyên

Có thể nói các khoản chi thường xuyên của NSNN là tương đối ổn định,không có biến động mạnh Song, việc quản lý khoản chi này vẫn không đảm bảoyêu cầu Bởi mỗi năm, có hơn 7.000 khoản chi sai quy định Nếu các khoản nàykhông được kiểm tra, thì Nhà nước sẽ mất đi hơn 500 tỷ đồng, gây tổn thất choNSNN

Năm 2012, 9 tháng đầu năm ước tính chi thường xuyên tăng 20,5% Trongtổng mức chi NSNN 9 tháng 605.000 tỉ đồng, chi thường xuyên chiếm tới hơn 70%(hơn 477.000 tỉ đồng), riêng chi quản lý hành chính gần 58.000 tỉ đồng Chi thườngxuyên đang là nỗi lo lớn, việc tiêu xài hoang phí, “vung tay quá trán”, lạm chi đangkhá phổ biến đặc biệt chi cho lễ hội, khánh tiết, hội họp, đi công tác nước ngoài…

Ngoài các khoản chi trên, nhà nước ta còn sử dụng một phần nguồn ngânsách cho các khoản chi khác như: chi góp vốn cổ phần, vốn liên doanh vào cácdoanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của nhà nước, chi cho cácquỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia, quỹ hỗ trợ phát triển, chi sự nghiệp như sự nghiệp giáo

Trang 12

dục, văn hóa, thể thao, nghiên cứu khoa học công nghệ…Những khoản chi ngàycàng phát sinh lớn nên việc cân đối thu-chi là điều vô cùng quan trọng trong tiếntrình phát triển kinh tế-xã hội.

c Thực trạng bội chi NSNN (thâm hụt NSNN)

Qua các số liệu trong bảng thống kê có thể thấy tình hình bội chi ngân sáchnhà nước ta trong những năm gần đây xấp xỉ khoảng 5% ở trong mức giới hạn chophép Những khoản vay chủ yếu được đầu tư cho phát triển, ngoài ra còn khoản tíchlũy được từ nguồn thu thuế, phí và lệ phí Theo Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 doUBKT công bố ngày 4/9/2012, thâm hụt ngân sách của Việt Nam đã diễn ra liên tụctrong khoảng hơn một thập kỷ qua và có mức độ ngày càng gia tăng Cụ thể, thâmhụt ngân sách không bao gồm chi trả nợ gốc của Việt Nam trung bình trong giaiđoạn 2003 - 2007 chỉ là 1,3% GDP, nhưng con số này đã tăng hơn gấp đôi lên 2,7%GDP trong giai đoạn 2008 - 2012

Trong Báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 “Từ bất ổn vĩ mô đến con đường tái cơcấu” đã chỉ ra rằng thâm hụt ngân sách diễn ra liên tục trong hơn một thập kỉ qua và

có mức độ ngày càng gia tăng Các tổ chức quốc tế đưa ra những con số khác xa vớibáo cáo của Bộ Tài chính Cụ thể, tính riêng năm 2009, con số thâm hụt ngân sách

chỉ tính riêng năm 2009 không bao gồm chi trả nợ gốc theo báo cáo của Bộ Tàichính là 3,7% GDP, trong khi đó con số tương ứng của Ngân hàng Phát triển Châu

Á (ADB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cao hơn nhiều, lần lượt là 6,6% và 9,0%GDP

Trung bình trong hai năm 2009-2010, con số thâm hụt ngân sách của ViệtNam thuộc diện cao nhất so với các nước trong khu vực, vào khoảng 6% GDP/năm.Con số này gấp khoảng 6 lần so với con số tương ứng của Indonesia, gấp 2 lần sovới Thái Lan

Trong giai đoạn 2008-2012 thực trạng bội chi NSNN có chuyển biến kháphức tạp, chính vì thu-chi bất cân đối đã dẫn đến nhiều ảnh hưởng xấu Đặc biệttrong năm 2009, nền kinh tế toàn cầu gặp khủng hoảng, lạm phát tại Việt Namkhoảng 6,88% tác động rất lớn tới việc sử dụng NSNN Theo tính toán IMF thâmhụt ngân sách của Việt Nam năm 2009 lên đến 9%, Ngân hàng Phát triển châu Á

Trang 13

(ADB) cho là 9,8%, khác với con số 6,9% mà Việt Nam đưa ra Tình hình thực hiệntiết kiệm, chống lãng phí trong chi tiêu NSNN tuy đã có kết quả tích cực, song vẫnthấp so với tiềm năng và yêu cầu Tình trạng lãng phí trong 1 số lĩnh vực như đầu tưxây dựng cơ bản, quản lý và sử dụng đất đai vẫn chậm được khắc phục (thậm chí cótrường hợp do động cơ tham nhũng dẫn đến các vi phạm về quản lý, kéo theo hậuquả lãng phí); trong đó đặc biệt là những tồn tại, hạn chế trong quy hoạch, kế hoạch( bao gồm cả quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội, quy hoạch xây dựng, quy hoạch

sử dụng đất…) Theo Tổng cục Thống kê công bố ngày 27/10/2012 con số bội chingân sách đã lên tới hơn 155.000 tỉ đồng, vượt dự toán cả năm Quốc hội phê duyệt

là 140.200 tỉ đồng (vượt hơn 10,7% kế hoạch bội chi cả năm 2012) Với thực trạngnày có thể thấy thâm hụt ngân sách đang ở mức báo động và nhà nước ta cần phải

có sự điều chỉnh kịp thời, hạn chế mức thâm hụt cho đến cuối năm nay

2.2.3 Hậu quả của thâm hụt NSNN đối với nền kinh tế

Thâm hụt ngân sách cao và lâu dài tất yếu dẫn tới việc nhà nước buộc phảiphát hành thêm tiền để tài trợ thâm hụt, dễ gây lạm phát Việc gia tăng thâm hụtngân sách sẽ có thể dẫn đến giảm tiết kiệm nội địa, giảm đầu tư tư nhân, hay giatăng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai Thâm hụt ngân sách cao và kéo dài cònlàm xói mòn niềm tin đối với năng lực điều hành vĩ mô của chính phủ Nó cũng làmtăng kì vọng lạm phát của người dân và của các nhà đầu tư vì họ cho rằng Chínhphủ trước sau gì cũng sẽ phải in thêm tiền để tài trợ thâm hụt Bên cạnh đó thâm hụtngân sách cũng tác động chung tới toàn bộ nền kinh tế và liệu thâm hụt ngân sáchcàng nghiêm trọng thì khoản chi của Chính phủ sẽ lấy từ đâu?Thực sự đó là trăn trởlớn đối với nền kinh tế hiện nay của nước ta Tóm lại, thâm hụt ngân sách cao vàkéo dài sẽ đe dọa tới sự ổn định vĩ mô

2.3 Nguyên nhân

2.3.1 Thất thu thuế nhà nước

Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnhcác nguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ…tuy nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đãtạo kẽ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượngđáng kể cho ngân sách nhà nước… Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễnthuế một mặt giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộngsản xuất Tuy nhiên,việc miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới cáckhoản chi ngân sách khác gây thâm hụt ngân sách nhà nước

2.3.2 Đầu tư công kém hiệu quả

Trên thực tế, tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫnchưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia cònchậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sựphát triển của các vùng miền, là nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhànước Bên cạnh đó, nền hành chính công - dịch vụ công của chúng ta quá kém hiệuquả Chính sự kém hiệu quả này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên

2.3.3 Nhà nước huy động vốn để kích cầu

Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính là: Phát hành trái phiếu Chính

Ngày đăng: 14/03/2014, 15:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Các nguồn thu của Việt Nam (% GDP) - Tiểu Luận: Thâm hụt ngân sách Việt Nam ppt
Hình 1 Các nguồn thu của Việt Nam (% GDP) (Trang 6)
Hình 2.6. Tiết kiệm, đầu tư và thâm hụt thương mại - Tiểu Luận: Thâm hụt ngân sách Việt Nam ppt
Hình 2.6. Tiết kiệm, đầu tư và thâm hụt thương mại (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w