2 Nêu được các đặc điểm, tác động và chỉ định của một số loại vật liệu trám sâu răng thường dùng.. Theo Ludeen và Roberson, “Sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn của răng đưa đến sự hòa ta
Trang 1KHOA RĂNG HÀM MẶT
BÀI TIỂU LUẬN BỆNH HỌC RĂNG
GVHD : TS.BS CKII Cao Hữu Tiến
Đề tài VẬT LIỆU TRÁM TRONG SÂU RĂNG
FILLING MATERIALS FOR THE CARIES
Lớp RHM 2018
NHÓM 10
Tp Hồ Chí Minh – 2020
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 10
STT MSSV HỌ VÀ TÊN PHÂN CÔNG
Mở đầu, tổng kết bài tiểu luận Tổng hợp Word
Tổng quan về sâu răng
Vật liệu nhóm Alkastites
Vật liệu SứMột số lưu ý về chăm sóc răng sautrám
Powerpoint
Vật liệu CompositesMột số lưu ý về chăm sóc răng sautrám
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH vii
MỤC TIÊU 1
MỞ ĐẦU 1
I TỔNG QUAN VỀ SÂU RĂNG 2
1.1 Định nghĩa 2
1.2 Bệnh căn học sâu răng 3
1.2.1 Sự khử khoáng 3
1.2.2 Sự tái khoáng hóa 4
1.3 Các yếu tố bệnh căn 4
1.3.1 Mảng bám vi khuẩn bệnh lý 4
1.3.2 Cacbohydrate 5
1.3.3 Răng 6
1.3.4 Thời gian 7
1.3.5 Yếu tố nước bọt 7
1.4 Phân loại sâu răng 7
II TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU TRÁM CHO SÂU RĂNG 8
2.1 Khái quát về vật liệu trám cho sâu răng 8
2.2 Lịch sử của vật liệu trám trong nha khoa 9
2.3 Tính tương hợp sinh học của vật liệu 9
2.4 Yêu cầu của vật liệu trám cho sâu răng 10
III MỘT SỐ VẬT LIỆU TRÁM SÂU RĂNG THƯỜNG DÙNG 11
3.1 Trám bằng vàng trực tiếp 11
3.1.1 Đặc điểm của vàng nha khoa 11
3.1.2 Chỉ định 11
Trang 43.1.3 Ưu điểm 11
3.1.4 Nhược điểm 12
3.2 Glass Ionomer Cements (GIC) 13
3.2.1 Phân loại 13
3.2.2 Thành phần 13
3.2.2.1 Glass Ionomer Cements 13
3.2.2.2 GIC cải tiến 14
3.2.3 Phản ứng đông kết 15
3.2.3.1 Glass Ionomer Cements 15
3.2.3.2 Resin-modified Glass Ionomers Cements 17
3.2.4 Đặc điểm 17
3.2.4.1 Độ hoà tan 17
3.2.4.2 Đặc điểm vật lý, cơ học 18
3.2.4.3 Đặc điểm hóa học 18
3.2.4.4 Thẩm mỹ .19
3.2.5 Tương hợp sinh học 19
3.2.5.1 Tác động tại chỗ .19
3.2.5.2 Tác động toàn thân .20
3.2.6 Chỉ định 20
3.2.6.1 GIC 20
3.2.6.2 Resin-modified Glass Ionomers Cements 20
3.2.7 Ưu điểm 20
3.2.7.1 GIC 20
Trang 53.2.7.2 Resin-modified Glass Ionomers Cements 21
3.2.8 Nhược điểm 21
3.2.8.1 GIC 21
3.2.8.2 Resin-modified Glass Ionomers Cements 21
3.3 Composite 22
3.3.1 Phân loại 22
3.3.2 Thành phần 22
3.3.2.1 Khung nhựa 22
3.3.2.2 Hạt độn 24
3.3.2.3 Chất nối 25
3.3.2.4 Các thành phần khác 26
3.3.3 Cơ chế 26
3.3.3.1 Các composite hoá trùng hợp (Self-Cure/Chemically Activated Resins) 26 3.3.3.2 Composite quang trùng hợp (Light –cure/ Photochemically Activated Resins) 27 3.3.3.3 Lưỡng trùng hợp (Dual- Cured Resins) 28
3.3.4 Đặc điểm 28
3.3.4.1 Đặc điểm vật lý , cơ học 28
3.3.4.2 Đặc điểm hóa học 29
3.3.4.3 Thẩm mỹ 30
3.3.5 Tương hợp sinh học 30
3.3.5.1 Tác động tại chỗ 30
3.3.5.2 Tác động toàn thân 32
3.3.6 Chỉ định 32
Trang 63.3.7 Ưu điểm 33
3.3.8 Nhược điểm 33
3.4 Sứ 33
3.4.1 Phân loại 33
3.4.2 Sơ lược về quá trình tạo sứ nha khoa 34
3.4.3.Đặc điểm 34
3.4.3.1 Đặc điểm chung 34
3.4.3.2 Đặc điểm vật lý, cơ học 35
3.4.3.3 Đặc điểm hóa học 35
3.4.3.4 Thẩm mỹ 36
3.4.4 Tương hợp sinh học 36
3.4.4.1 Tác động tại chỗ .36
3.4.4.2 Tác động toàn thân .36
3.4.5 Chỉ định 37
3.4.6 Ưu điểm 37
3.4.7 Nhược điểm 37
IV MỘT SỐ VẬT LIỆU TRÁM RĂNG THẾ HỆ MỚI 38
4.1 Vật liệu nhóm Alkasites 38
4.1.1 Thành phần 38
4.1.2 Đặc điểm 38
4.1.2.1 Đặc điểm vật lý , cơ học , hóa học 39
4.1.2.2 Thẩm mỹ 39
4.1.3 Tương hợp sinh học 40
4.1.3.1 Tác động tại chỗ 40
Trang 74.1.3.2 Tác động toàn thân 41
4.1.4 Chỉ định 41
4.1.5 Ưu điểm 41
4.1.6 Nhược điểm 41
4.2 Vật liệu Biodentine 41
4.2.1 Thành phần 42
4.2.2 Cơ chế 42
4.2.3 Đặc điểm 43
4.2.3.1 Đặc điểm vật lý , cơ học 43
4.2.3.2 Đặc điểm hoá học 44
4.2.3.3 Thẩm mỹ 45
4.2.4 Tương hợp sinh học 45
4.2.4.1 Tác động tại chỗ 45
4.2.4.2 Tác động toàn thân 45
4.2.5 Ưu điểm 46
4.2.6 Nhược điểm 46
V MỘT SỐ LƯU Ý VỀ CHĂM SÓC RĂNG SAU KHI TRÁM 46
KẾT LUẬN 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1 1: Các giai đoạn của sâu răng 2
Hình 1 2 : Sơ đồ Keys (1969) mô tả bệnh căn của sâu răng 3
Hình 1 3 : Chế độ ăn uống ảnh hưởng đến tỷ lệ sâu răng 6
Hình 1 4: Sơ đồ White biểu diễn các yếu tố bệnh căn theo quan niệm mới 7
Hình 1 5: Phân loại xoang trám theo GV Black 8
Hình 3 1: Miếng trám răng bằng vàng 13
Hình 3 2 :Mental Reinforced GIC : Miracle Mix 14
Hình 3 3 : Resin modified GIC 15
Hình 3 4 : Phản ứng đông kết giai đoạn phóng thích ion 16
Hình 3 5 : Phản ứng đông kết giai đoạn tạo khung đa muối 16
Hình 3 6 : Cấu trúc của GIC 16
Hình 3 7 : Các vết nứt do mất nước 18
Hình 3 8 : Composite dùng cho trám răng 22
Hình 3 9 : Quá trình tổng hợp bis-GMA 23
Hình 3 10 : Phân loại composite theo kích thước và phân bố các phân tử hạt độn trong nhựa 25
Hình 3 11 : Trước và sau khi trám composite 30
Hình 3 12 : Abces tuỷ sau khi trám trực tiếp composite vào tuỷ 30
Hình 3 13 : Viêm da do tiếp xúc composite 32
Hình 3 14 : Một miếng trám Onlay làm bằng chất liệu toàn sứ ceramic cho màu sắc răng trắng tự nhiên như thật 36
Hình 3 15 : Minh họa trám inlay và trám onlay 37
Hình 4 1 : Vật liệu trám răng Cention N 44
Hình 4 2 : Thay thế miếng trám kim loại bằng Cention - N 40
Hình 4 3 : Sự phóng thích ion giúp bảo vệ răng và tái khoáng hoá 40
Hình 4 4 : Vật liệu trám Biodentine 42
Hình 4 5 : Cơ chế của vật liệu Biodentine 43
Hình 4 6 : Minh họa các giai đoạn trong quá trình thiết lập vật liệu 43
Trang 9VẬT LIỆU TRÁM TRONG SÂU RĂNG
MỤC TIÊU
(1) Nêu được các kiến thức cơ bản về sâu răng và trám răng
(2) Nêu được các đặc điểm, tác động và chỉ định của một số loại vật liệu trám sâu
răng thường dùng
(3) Nêu được các đặc điểm, tác động của một số vật liệu trám thế hệ mới
(4) Nêu được một số lưu ý về chăm sóc răng sau khi trám
MỞ ĐẦU
Sâu răng là một vấn đề sức khỏe lớn trên toàn cầu Sâu răng nghiêm trọng có thể làm
giảm chất lượng cuộc sống như gây khó khăn trong ăn uống, giấc ngủ, và trong giai
đoạn tiến triển, sâu răng có thể gây đau, thậm chí là nhiễm trùng toàn thân mạn tính
Vì vậy, sâu răng cần được phát hiện và điều trị kịp thời để tránh các biến chứng trên,
giảm ảnh hưởng xấu tới sức khỏe răng miệng cộng đồng cũng như tốn kém về kinh tế
Trong đó việc thực hiện điều trị sâu răng là trám phục hồi lại răng đã tổn thương mô
cứng là phương pháp điều trị sâu răng hiệu quả Tùy vào từng loại vật liệu trám có
những đặc tính khác nhau và tùy theo mức độ tổn thương mà bác sĩ sẽ có chỉ định thích
hợp để đem lại kết quả tối ưu Nội dung chính của bài tiểu luận này là bàn luận về một
số vật liệu trám răng thường dùng hiện nay
Trang 10I TỔNG QUAN VỀ SÂU RĂNG
1.1 Định nghĩa
Từ ngày xưa đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa được đặt ra cho vấn đề sâu răng dựa
trên những nghiên cứu thực tiễn cùng với nguyên nhân và quá trình diễn tiến của bệnh
Sau đây là sơ lược một vài định nghĩa mang tính tham khảo của những nhà khoa học
để có thể hiểu rõ hơn về bệnh lý, và giúp ta mường tượng được phương pháp dự phòng
và điều trị sau này
Theo Ludeen và Roberson, “Sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn của răng đưa đến
sự hòa tan cục bộ và phá hủy các mô vôi hóa của răng.”
Theo Fejerkov và Thylstrup, “Sâu răng là một quá trình động, diễn ra trong mảng
bám vi khuẩn dính trên bề mặt răng, đưa đến sự mất cân bằng giữa mô răng với
chất dịch xung quanh, và theo thời gian, hậu quả là sự mất khoáng của mô răng.”
Theo Silverston, “Là bệnh nhiễm trùng của mô răng biểu hiện đặc trưng bởi các
giai đoạn mất/tái khoáng xen kẽ.”
biến đổi có nguồn gốc ngoại lai làm mềm các mô cứng của răng và từ đó hình
thành các lỗ sâu”
Từ những định nghĩa được đưa ra như trên, việc hình thành lỗ sâu liên quan đến sự
nhiễm khuẩn trong răng Do đó nếu những người bác sĩ chỉ tập trung vào việc điều trị
phục hồi tổn thương mà quên đi nguyên nhân cơ bản của bệnh, thì sâu răng vẫn sẽ tiếp
diễn và gây ra hậu quả nặng nề hơn
Hình 1 1: Các giai đoạn của sâu răng
Trang 11Tái khoáng
1.2 Bệnh căn học sâu răng
Sâu răng là tình trạng phá huỷ mô răng do axit sinh ra bởi vi khuẩn bám trên răng gây
ra Quá trình này xảy ra khi có sự mất cân bằng giữa yếu tố gây phá huỷ (vi khuẩn),
yếu tố thuận lợi (mảng bám, carbohydrate, hố rãnh tự nhiên bề mặt răng, khả năng đề
kháng kém của răng, độ pH axit của nước bọt) và yếu tố bảo vệ (khả năng đề kháng
tốt của mô răng, pH kiềm của nước bọt, lưu lượng nước bọt, thành phần bảo vệ của
nước bọt như hệ thống kháng thể, lớp màng phím thụ đắc bám trên bề mặt răng,
fluoride, vệ sinh răng miệng tốt ) Điều này dẫn đến sự mất cân bằng giữa quá trình
khử khoáng và tái khoáng, vốn là quá trình bình thường
-(Tinh thể Hydroxyapatite)
Để hiểu cơ chế quá trình sâu răng cần thiết phải hiểu bản chất cơ bản của các phản ứng
hoá học xảy ra tại bề mặt răng
Hình 1 2 : Sơ đồ Keys (1969) mô tả bệnh căn của sâu răng
1.2.1 Sự khử khoáng
Các thành phần khoáng của men, ngà và xê măng là hydroxyapatite (HA), về cơ bản là
trường nước tại chỗ (nước bọt) vốn bảo hoà với các ion Ca2+ và PO43-
Trang 12hạn đối với HA H phản ứng ưu tiên với các nhóm phosphate trong môi trường nước
trực tiếp gần kề bề mặt tinh thể Quá trình có thể được mô tả như là sự hoán chuyển
PO 4 3- thành HPO 4 2- bằng cách thêm vào một ion H+ và đồng thời H+ được đệm HPO4
2-sau đó không có khả năng đóng góp vào sự cân bằng HA bình thường bởi vì HA chứa
PO43- mà không phải là HPO42-, và tinh thể HA vì thế bị hoà tan Điều này được gọi là
sự khử khoáng.
1.2.2 Sự tái khoáng hóa
đạt tới trạng thái trung tính bởi sự đệm, hoặc là các ion Ca2+ và PO43- trong nước bọt có
thể ức chế quá trình hoà tan qua hiệu ứng ion thông thường Điều này làm cho có khả
năng xây dựng lại các tinh thể apatite đã bị hoà tan một phần và được gọi là sự tái
khoáng hoá
Phản ứng này có thể tăng lên nhiều khi có sự hiện diện của ion fluoride tại vị trí phản
ứng Cơ sở hoá học của quá trình khử khoáng/tái khoáng tương tự cho cả men, ngà và
xê măng Tuy nhiên cấu trúc và số lượng tương đối của chất khoáng và chất hữu cơ
trong mỗi loại này khác nhau dẫn tới sự khác nhau về bản chất và diễn tiến sang
thương sâu răng đáng kể
1.3 Các yếu tố bệnh căn
1.3.1 Mảng bám vi khuẩn bệnh lý
Mảng bám là một chất mềm, trong suốt và bám chặt vào mặt răng Đúng nghĩa thì ta
phải nói là mảng bám vi khuẩn vì nó bao gồm trong đó vi khuẩn và chất thứ phẩm
Có nhiều loại vi khuẩn sống trong môi trường miệng (200 – 300 loại) Một số trôi nổi
tự do trong miệng , bị đẩy ra khỏi miệng bởi dòng chảy của nước bọt và thường bị nuốt
vào bụng Chỉ một số sinh vật đặc biệt nhất là streptococci mới có thể bám vào các bề
mặt trong miệng như niêm mạc và cấu trúc răng Các vi khuẩn bám đó có những thụ
thể (receptor) đặc biệt để có thể bám vào mặt răng và nó cũng tạo một khung (matrix)
dính để giúp cho chúng bám vào với nhau Sự bám vào răng và bám vào nhau giúp cho
vi khuẩn tụ lại trên mặt răng
Trang 13Khi các vi khuẩn đầu tiên đó đã bám dính được vào răng, chúng sinh sôi nảy nở và lan
tỏa ra theo chiều ngang để tạo ra một màng bọc trên mặt răng Vi khuẩn tiếp tục phát
triển và lan ra theo chiều dọc của mặt răng Khi mảng bám vi khuẩn Streptococcus
sanguis, Streptococcus mutans đã hình thành thì các sinh vật khác mới có thể bám vào
như Lactobacilli, sinh vật hình dây, hình xoắn mà bình thường nó không thể nào bám
trực tiếp vào mặt răng được
Như vậy có nhiều loại vi khuẩn sống trong mối trường miệng, nhưng chỉ một số có thể
kết cụm trên mặt răng , tạo thành mảng bám nhờ những thụ thể đặc biệt.Trong số đó ,
nhóm Streptococci dính , như Streptococus mutans, sống bằng sucrose để tập hợp
thành polysaccharide ngoại bào là thủ phạm chính gây sâu răng, kế đó là Lactobacilli
Mảng bám vi khuẩn là nguyên nhân chính của sự lên men carbohydrates thức ăn, đồ
uống để trở thành ion acid trên bề mặt răng Hiệu quả của chất đệm nước bọt của
lượng acid này thì tỷ lệ nghịch với chiều dày mảng bám
Mảng bám này được giữ trong những rãnh, hố sâu, giữa những mặt bên, đặc biệt là
điểm tiếp xúc của mỗi răng,xung quanh mặt nhám hay quanh miếng trám dư Với
phương pháp vệ sinh răng miệng cơ học thời ít có hiệu quả trong việc lấy đi mảng bám
ở những vị trí được nêu trên, bởi vậy phần lớn những vùng này sẽ là khởi điểm của sâu
răng
1.3.2 Cacbohydrate
Là chất nền cơ bản cho dinh dưỡng của vi khuẩn, bao gồm:
Polysaccharide (tinh bột): ngũ cốc, rau quả
Disaccharide (sucrose): đường mía
Monosaccharide (glucose/fructose): bánh kẹo, đường chế biến, đường trái cây
Trang 14Hình 1 3 : Chế độ ăn uống ảnh hưởng đến tỷ lệ sâu răng
Các loại rau quả, ngũ cốc chưa chế biến ít gây sâu răng Các loại tinh bột đã qua chế
biến rất dễ biến đổi thành acid hữu cơ dễ sâu răng.Đường trong trái cây cũng gây sâu
răng nhưng ít vì ăn số lượng không đáng kể
Các axit mạnh thường có sẵn từ các nguồn từ ngoài như carbohydrates ở nước ngọt,
các loại nước tăng lực, nước chanh vắt và chất dịch hồi lưu bao tử hay ợ chua Thường
xuyên hoặc kéo dài sự hiện diện của các dịch trên có thể đưa đến sự mất khoáng nhanh
chóng và có thể từ sâu răng nhẹ trở thành sâu răng lan rộng
Những yếu tố thức ăn bảo vệ: Một số thực phẩm tạo thành những yếu tố chống lại sự
mất khoáng Mảng bám sẽ giảm mức độ tấn công bề mặt răng với sự hiện diện của mỡ
Sản phẩm sữa, đặc biệt là pho mát và có thể là loại hạt mầm nằm trong các loại thực
phẩm này Những loại thức ăn đòi hỏi sự nghiền, nhai các loại rau có xơ có thể coi như
là bảo vệ, như kẹo cao su làm gia tăng lưu lượng nước bọt cho nên được coi như có
khả năng chất đệm Chính yếu tố này có thể làm pH mảng bám trở nên trung tính hoàn
toàn một cách nhanh chóng
1.3.3 Răng
Hình thái và cấu trúc răng có thể là yếu tố thuận lợi hay yếu tố đề kháng với sự phá
huỷ của axit do vi khuẩn sinh ra Một số yếu tố làm tăng tính nhạy cảm đặc thù của
Trang 151.3.4 Thời gian
Sâu răng chỉ phát triển khi phản ứng sinh axit kéo dài và lặp đi lặp lại trong một
khoảng thời gian Ăn thường xuyên các chất carbohydrate lên men thì dễ sâu răng hơn
tổng lượng carbohydrate đó trong một lần
1.3.5 Yếu tố nước bọt
Nước bọt bảo vệ răng bằng cách làm sạch răng, ức chế quá trình khử khoáng do axit
nhờ khả năng đệm, giúp răng tái khoáng hoá nhờ giữ các ion cần thiết nằm bên dưới
màng thụ đắc, ngăn cản axit xâm nhập vào răng và có tính kháng khuẩn
Hình 1 4: Sơ đồ White biểu diễn các yếu tố bệnh căn theo quan niệm mới
1.4 Phân loại sâu răng
Theo vị trí tổn thương: Sâu hố rãnh, sâu mặt nhẵn, sâu cement
Theo tiến triển của tổn thương: Sâu răng cấp tính, mạn tính, ngừng tiến trển
Theo Greene Vardiman Black:
Loại 1: Sâu ở vị trí các hố và rãnh của răng
Loại 2: Sâu ở mặt bên các răng cối
Loại 3: Sâu ở mặt bên các răng cửa nhưng chưa có tổn thương rìa cắn
Loại 4: Sâu ở mặt bên các răng cửa có tổn thương rìa cắn
Trang 16Loại 5: Sâu cổ răng.
Loại 6: Sâu răng ở vị trí rìa cắn của răng cửa hoặc đỉnh núm răng cối
Hình 1 5: Phân loại xoang trám theo GV Black
Theo độ sâu: Sâu men, sâu ngà nông, sâu ngà sâu
Theo bệnh sinh: Sâu răng tiên phát, sâu răng thứ phát, sâu răng tái phát
II TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU TRÁM CHO SÂU RĂNG
2.1 Khái quát về vật liệu trám cho sâu răng
Trám răng là một phương pháp giúp khôi phục lại hình dáng và chức năng của những
răng hư hỏng, răng sâu hoặc vỡ, mẻ bằng một loại vật liệu nha khoa đặc biệt Chất liệu
trám răng luôn phải đảm bảo ít nhất 2 công dụng sau:
Ngăn chặn diễn tiến của hiện tượng sâu răng bằng cách trám đầy các không gian vi
khuẩn có thể xâm nhập
Tái tạo hình dạng răng
Do vậy, chất liệu trám cần có độ bao phủ tốt, bề mặt sau khi hoàn thành đảm bảo thẩm
mỹ, không gây khó chịu khi nhai nuốt
Sau khi trám răng, chất liệu trám sẽ trở thành một phần của hàm răng bạn trong một
thời gian dài Vì vậy, tính an toàn và phù hợp với cơ thể người phải là ưu tiên hàng đầu
khi lựa chọn Về khía cạnh kinh tế, độ bền của chất liệu trong môi trường giàu axit của
miệng và giá cả cũng là những yếu tố hay được cân nhắc
Trang 172.2 Lịch sử của vật liệu trám trong nha khoa
Vào khoảng năm 2900-2750 trước công nguyên, người Ai Cập đã biết sử dụng xi
măng khoáng để trám thủ công
Năm 659 sau công nguyên ở Trung Quốc, xuất hiện một số y văn đề cập đến việc
sử dụng “bạc dán”-hỗn hợp thủy ngân / kim loại mềm- để trám răng
Tại châu Âu vào thời kì Phục Hưng, vàng trở thành vật liệu trám răng ưa thích dẫu
cho giá thành cao
Năm 1756, Philip Pfaff, là nha sĩ của Frederick Đại đế, đã cho xuất bản “Treatise
on The Teeth of the Human Body and Their Diseases”, ông có đề cập tới việc
dùng bạc để trám răng, điều này đã làm nền móng cho phương pháp trám bạc
amalgam hiện đại
Năm 1949 đã xuất hiện một tiến bộ mang tính cách mạng của Oskar Hagger,nhà
hóa học Thụy Sĩ đã phát triển “hệ thống đầu tiên liên kết nhựa acrylic với ngà
răng.”.Chất kết dính này là có tính axit và do đó liên kết với răng ở cấp độ phân tử
Liên kết vật lý và hóa học giữa răng và nhựa liên kết giữ miếng trám ở đúng vị trí
Vào năm 1962, Rafael Bowen đã phát triển bisphenol A-glycidyl methacrylate,
hoặc Bis-GMA, được sử dụng trong “các vật liệu phục hồi nhựa composite hiện
đại nhất.”.Ông đã trộn bisphenol A và glycidylmethacrylate được pha loãng với
trietylen glycol dimethacrylate để tạo ra loại nhựa cứng và chắc này
Năm 1990, “vật liệu phục hồi màu răng mới” được giới thiệu, tạo ra một tiến bộ
trong nha khoa thẩm mỹ Kể từ đó, người ta tiếp tục đổ xô tạo ra nhiều vật
liệu trám răng hiệu quả và hấp dẫn để đáp ứng nhu cầu không chỉ của bác
sĩ nha khoa mà còn của bệnh nhân
2.3 Tính tương hợp sinh học của vật liệu
Vật liệu trám sẽ trở thành một phần của hàm răng bạn trong một thời gian dài Vì vậy
cần phải có tính tương hợp sinh học (khả năng hòa hợp với sự sống và không gây độc
hoặc thương tổn đến chức năng sinh học), nghĩa là vật liệu đó cần đạt các yêu cầu:
Không gây hại cho tủy và mô mềm
Trang 18 Không chứa các chất có khả năng khuyếch tán độc tính, giải phóng và đi vào hệ
tuần hoàn, gây phản ứng độc toàn thân
Không có các yếu tố dễ gây phản ứng dị ứng
Không có tiềm năng gây ung thư
Không nên trải qua quá trình phân huỷ sinh học
Những vật liệu trám được xác định là có tính tương hợp sinh học hay không, được xác
định thông qua các thí nghiệm “Đo lường tính tương hợp sinh học” được Langeland đề
xuất năm 1984
2.4 Yêu cầu của vật liệu trám cho sâu răng
Một vật liệu trám răng cần có những đặc điểm tiêu chuẩn sau:
Vừa khít đối với các thành, góc lỗ trám
Dính vào thành lỗ trám, không thấm nước, không để nước lọt qua
Sức bền cơ học đủ lớn
Ổn định về thể tích, không biến dạng, hệ số dãn nở gần với hệ số dãn nở của răng
Không tan trong môi trường miệng
Không độc, không gây kích thích cho các mô và cơ quan
Độ dẫn nhiệt thấp
Có tác dụng phòng ngừa, chống lại nguy cơ tái phát sâu răng ở nơi tiếp xúc với vật
liệu
Về thẩm mỹ, phải giống màu răng và không đổi màu
Dễ bảo quản, dễ sử dụng và có thể tháo ra khi cần, không đắt tiền
Phải có tính tương hợp sinh học
Phải lâu bền
Cho phép việc tạo lỗ trám bảo tồn nhất (xâm lấn mô răng tối thiểu)
Mỗi trường hợp cụ thể lại có những chỉ định sử dụng vật liệu trám không giống nhau,
lựa chọn này còn phụ thuộc vào đặc điểm của răng cần trám cũng như nhu cầu thẩm
mỹ của mỗi người Bác sĩ nha khoa sẽ tiến hành thăm khám và nhận định tình trạng
răng miệng với bệnh nhân Sau đó, cùng trao đổi với khách hàng để lựa chọn loại vật
liệu phù hợp vừa giúp đem lại hiệu quả cao vừa đảm bảo phù hợp với khả năng kinh tế
Trang 19III MỘT SỐ VẬT LIỆU TRÁM SÂU RĂNG THƯỜNG DÙNG
3.1 Trám bằng vàng trực tiếp
Vàng là một trong những vật liệu nha khoa lâu đời nhất để phục hình răng Hiện nay,
việc sử dụng chúng trong lâm sàng có phần hạn chế Nhưng cũng không vì thế mà phủ
nhận những ưu điểm mà loại vật liệu này mang lại Nếu được thực hiện đúng cách
trong các trường hợp cụ thể, phục hình răng bằng vàng trực tiếp sẽ kéo dài suốt đời vì
tính tương thích sinh học vượt trội của vàng trong môi trường miệng
3.1.1 Đặc điểm của vàng nha khoa
Màu vàng phong phú với ánh kim loại mạnh mẽ, là kim loại quý nhất, không bị
xỉn màu và ăn mòn trong môi trường miệng
Tính kết dính phụ thuộc vào độ tinh khiết của vàng Vàng tốt nhất trong phục hình
là vàng nguyên chất 99.9%
Độ dẻo (Một hạt vàng nguyên chất có thể kéo thành dây dài gần 500ft~152.4m )
Độ cứng ở dạng khối
Độ bền kéo là 19.000 psi tăng lên 32.000 psi
Hệ số giãn nở nhiệt (14,4 × 10–6 / ° C) gần như tương tự như của răng
Vàng có tính dẫn nhiệt cao và có thể được hàn nguội ở nhiệt độ phòng
3.1.2 Chỉ định
Đối với sâu răng loại I, II, III, V và VI: Phục hình bằng vàng trực tiếp được chỉ định
cho những tổn thương mới chớm hoặc sớm, có kích thước nhỏ:
Ở xoang loại I nhỏ , chỉ định cho tất cả các răng
Ở xoang loại II , chỉ định sử dụng khi có rất ít xoang sâu mặt bên răng cối nhỏ và
mặt gần răng cối lớn
Ở xoang loại III , chỉ định cho tất cả các răng khi tính thẩm mỹ không quan trọng
Ở xoang loại V cho tất cả các răng
Ở xoang loại VI cho răng không chịu áp lực khớp cắn cao
3.1.3 Ưu điểm
Phục hình bằng vàng có thể tồn tại lâu dài nếu được thực hiện đúng cách
Trang 20 Khả năng đàn hồi của ngà răng và khả năng thích ứng của vàng cho phép một miếng
trám gần như hoàn hảo giữa cấu trúc răng và vàng
Tính dễ uốn của vàng giúp chỉ cần số lượng vàng rất nhỏ để tạo ra cấu trúc hoàn
hảo
Là kim loại quý, vàng không bị xỉn màu và không bị ăn mòn
Hệ số giãn nở nhiệt gần đến ngà răng, do đó không cho thấy sự co ngót hoặc giãn
nở khi đặt mẫu
Không cần xi măng làm trung gian để phục hồi
Vàng có thể chịu được lực nén ngay cả khi ở những lớp mỏng
Nếu được đánh bóng đúng cách, bề mặt vàng có thể đẩy lùi mảng bám
Không gây đổi màu răng vì thích ứng tốt với mép và bờ sửa soạn
Phục hình vàng trực tiếp không hòa tan trong dịch miệng
Độ bóng và mịn kéo dài hơn khi so sánh với các vật liệu phục hình khác
Phục hình bằng vàng trám trực tiếp tương thích với tuỷ và nha chu Phục hồi vàng
trực tiếp có thể được hoàn thành trong một lần hẹn
3.1.4 Nhược điểm
Kỹ thuật nhạy bén, để phục hình tối ưu, cần có kỹ năng cao, sự kiên nhẫn và thời
gian
Đặt lá vàng không đúng cách có thể làm hỏng mô tủy hoặc nha chu
Kỹ thuật hàn, sử dụng búa nha khoa có thể gây chấn thương cổ tay
Do tính dẫn nhiệt cao của vàng, độ phục hồi lớn hơn có thể làm tăng độ nhạy của
răng
Phục hồi lớn rất khó hoàn thiện và đánh bóng
Vàng lá rất đắt vì chi phí cao và gia công
Nhiều ca phục hình tiêu tốn rất nhiều thời gian
Không thể đặt nó khi cần thẩm mỹ
Vàng chỉ được chỉ định khi tổn thương có kích thước nhỏ và xuất hiện ở những
vùng răng không chịu áp lực
Trang 21 Nếu miếng trám vàng và amalgam ở ngay cạnh nhau, “sốc điện” có thể xảy ra Nó
xảy ra khi tương tác giữa kim loại và nước bọt tạo ra dòng điện Điều này có thể gây
khó chịu cho bệnh nhân
Hình 3 1: Miếng trám răng bằng vàng
3.2 Glass Ionomer Cements (GIC)
Kết hợp tính trong suốt của xi măng silicate và tính dán dính của xi măng
polycarboxylate kẽm
3.2.1 Phân loại
Theo A.D Wilson :
Loại I : xi măng gắn
Loại II : xi măng phục hồi mô răng ( xi măng trám thẩm mỹ , xi măng trám chịu lực )
Loại III : xi măng trám bít hố rãnh , xi măng trám lót và làm nền
3.2.2 Thành phần
3.2.2.1 Glass Ionomer Cements
Phần bột : Calcium fluoroaluminosilicate glass
(SiO2 - Al2O3 - CaF2 - Na3AlF3 - AlPO4)
Phần lỏng: Acid polyacrylic (47%), itaconic acid, acid maleic, tartaric acid
Acid itaconic: giảm tính dẻo của chất lỏng, ức chế sự tạo gel
Acid tartaric: làm nhanh phản ứng đông cứng
Trang 22 Đôi khi phần lỏng được đông khô đưa vào phần bột, khi đó chất lỏng để trộn với
bột là acid tartaric hoặc nước tinh khiết
3.2.2.2 GIC cải tiến
Metal Reinforced Glass Ionomer Cements :
Dạng trộn thêm hợp kim Bạc ( Silver alloy admixed ) : Các bột kim loại Amalgam
bạc hình cầu được trộn với bột GIC loại II , ví dụ : Miracle Mix
Dạng hạt gốm Bạc ( Cermet silver particles ) : Các hạt gốm bạc được gắn với các
hạt thủy tinh trong GIC bằng cách nung hỗn hợp hai loại bột này nhiệt độ cao , ví
dụ : Ketác Silver
Hình 3 2 :Mental Reinforced GIC : Miracle Mix
Resin-modified Glass Ionomer Cements :
Giống GIC + thêm polymer vào chất
lỏng Phần bột: Fluoro Alumino Silicat Glass
+ Hydroxyethyl methacrylate(HEMA) + chất khơi mào/chất xúc tác
Hoặc : + Ethylene glycol dimethacrylate, glycidylmethacrylate và Bisphenol A epoxy
(Bis-GMA)
Trang 23Hình 3 3 : Resin modified GIC
3.2.3 Phản ứng đông kết
3.2.3.1 Glass Ionomer Cements
Giai đoạn 1: Phóng thích ion
Dung dịch acid polyacrylic tấn công và hoà tan bề mặt các hạt glass, phóng thích
các ion Al3+, Ca2+,
F- Phản ứng toả nhiệt nhẹ (3-7°C)
Bề mặt xi măng bóng láng
Giai đoạn 2: Tạo khung gel muối polycarboxylate canxi/gel hoá xi măng
gel
Muối polycarboxylate canxi nhạy nước, dễ bị thuỷ phân
Xi măng cứng và đục
Giai đoạn 3: Tạo khung đa muối, xi măng hóa cứng
Tạo muối polycarboxylate nhôm không hoà tan
Xi măng trong suốt
Chỉ 20-30% glass tham gia phản ứng với acid, phần còn lại đóng vai trò chất độn được
bao quanh bởi các khung muối
Xi măng hình thành bao gồm các hạt glass bao bọc bởi khung muối polyacrylate canxi
và nhôm
Trang 24* Khả năng bámdính cao nhất vì cácnhóm carboxylatecòn tự do
Hình 3 4 : Phản ứng đông kết giai đoạn phóng thích ion
Hình 3 5 : Phản ứng đông kết giai đoạn tạo khung đa muối
Cấu trúc của GIC1.Hạt glass
3.Lớp gel silice
Hình 3 6 : Cấu trúc của GIC
Trang 253.2.3.2 Resin-modified Glass Ionomers Cements
Lưỡng trùng hợp: kết hợp lâu dài của phản ứng acid-base của GIC và hoá/quang
trùng hợp của nhựa được thêm vào
Sự cứng ban đầu là do trùng hợp nhựa
Phản ứng acid-base tiếp tục phát triển 1 khung hydrogel đa muối cứng và gia cố
khung polymer đã tồn tại trước đó
3.2.4 Đặc điểm
3.2.4.1 Độ hoà tan
GIC thông thường nhạy cảm với độ ẩm trong giai đoạn ban đầu của phản ứng đông kết
và quá trình hút ẩm khi xi măng bắt đầu đông cứng :
Nếu nhiễm ẩm xảy ra trong 24 giờ đầu tiên sau khi đông kết, các ion canxi và
nhôm thoát ra khỏi xi măng đông kết, do đó chúng bị ngăn cản hình thành
polycarboxylat Điều này dẫn đến việc hình thành bề mặt nhám sần sùi và bị bào
mòn khi phục hồi và độ cứng bề mặt thấp
Nếu quá trình hút ẩm xảy ra trong quá trình đông kết ban đầu của xi măng, nó sẽ
làm chậm phản ứng đông kết vì nước đóng vai trò quan trọng trong phản ứng đông
kết
Nếu quá trình hút ẩm xảy ra trong các giai đoạn sau, nó sẽ ngăn cản sự gia tăng
cường độ của xi măng vì không thể xảy ra quá trình hydrat hóa hydrogel dựa trên
silica và polycarboxylat Nó cũng có thể gây ra hiện tượng chai, giảm tính thẩm
mỹ và xi măng sớm bị hư hỏng
Do đó, để ngăn ngừa ô nhiễm độ ẩm và sự khô cứng của xi măng mới đặt, bề mặt phục
hồi phải được bảo vệ bởi vernis và đánh bóng sau 48 tiếng
Trang 26Hình 3 7 : Các vết nứt do mất nước
3.2.4.2 Đặc điểm vật lý, cơ học
Thời gian đông : 6-8 phút từ khi bắt đầu trộn
- Với GIC loại I : 6,2 Mpa
- Với GIC loại II : 6,6 Mpa
gãy vỡ của GIC loại II thấp hơn nhiều so với Composite
1/2 so với xi măng Zinc phosphate
3.2.4.3 Đặc điểm hóa học
Có hai loại bám dính: bám dính bằng liên kết ion và bằng liên kết hydro
GIC có khả năng bám dính vào men và ngà Trên men, người ta cho rằng các ion
polyacrylic phản ứng với cấu trúc apatite (di chuyển ion calci và phosphat, tạo ra một
Trang 27lớp trung gian của ion polyacrylic, phosphat và calci) hay gắn trực tiếp vào calci của
apatite
Sự bám dính có thể là dạng bám dính hydro với collagen của khung protein ngà phối
hợp với liên kết ion vào apatite của ngà Sự bám dính trên men tốt hơn trên ngà
3.2.4.4.Thẩm mỹ
Độ trong của GIC là do các hạt thuỷ tinh GIC không có độ trong đạt thẩm mỹ như
composite, do vậy ít dùng cho răng cửa
Có hai loại GIC là quang trùng hợp và hoá trùng hợp, loại quang trùng hợp đã được cải
tiến đạt được tính thẩm mỹ cao hơn
3.2.5 Tương hợp sinh học
3.2.5.1.Tác động tại chỗ
Phản ứng tuỷ
Bình thường GIC sẽ không gây hại cho tủy răng, tuy nhiên, trong một số trường hợp sẽ
gây phản ứng tuỷ nghiêm trọng như: răng bị tuỷ, nhiễm trùng (abces) xoang trám (dưới
lớp trám GIC), dùng GIC làm chất dán (gây đau dữ dội, buộc phải loại bỏ các phục
hình)
Vì vậy, để bảo vệ tuỷ, khi trám cần lưu ý là tránh làm khô ngà quá mức (đảm bảo quá
trình hydrate hóa và phản ứng đông kết hoàn toàn) Tránh lộ tuỷ răng bằng cách trám
Phản ứng gây đột biến và ung thư
GIC thông thường không gây độc hại trong thử nghiệm Ames Tuy nhiên, GIC bị biến
đổi bằng nhựa nhiều lần sẽ gây độc tế bào và gây ra đột biến gen, với các thành phần
trong chất lỏng là nguyên nhân gây ra phản ứng này
Lưu ý: Trong thời gian đông cứng, GIC có khả năng giải phóng fluoride dưới dạng ion,
phòng sâu răng và kháng khuẩn Do phóng thích flouride nên GIC tăng khả năng tái
khoáng cho mô cứng (đáy và thành lỗ trám), chống sâu răng tái phát Tuy nhiên, cũng
Trang 28bởi vậy mà GIC có thể gây cho răng sự nhạy cảm kéo dài ở các mức độ từ nhẹ đến
nặng
3.2.5.2.Tác động toàn thân
Không có bằng chứng về việc GIC gây bất cứ phản ứng toàn thân nào Tuy nhiên, để
đảm bảo an toàn, độc tính của GIC phải luôn được kiểm duyệt trước khi tung ra thị
Kĩ thuật trám Sandwich: trám lót GIC làm nền cho composite
Sâu răng tiến triển hoặc những bệnh nhân có nguy cơ sâu răng cao
3.2.6.2 Resin-modified Glass Ionomers Cements
3.2.7 Ưu điểm
3.2.7.1 GIC
Độ bám dính: Độ bám dính cố định vào cấu trúc răng do liên kết hóa học với men
răng và ngà răng thông qua trao đổi ion
Tương hợp sinh học: GIC tương hợp sinh học vì các phân tử axit polyacrylic có
kích thước và trọng lượng phân tử lớn ngăn cản sự xâm nhập của các chất tạo
màng