1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ

131 1K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Cà Phê Chế Biến Việt Nam Trên Thị Trường Hoa Kỳ
Tác giả Phạm Minh Đức
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Hoa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Phát Triển
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CÀ PHÊ CHẾ BIẾN 4 1.1. Một số vấn đề cơ bản về năng lực cạn

Trang 1

  

Khóa luận tốt nghiệp

Tên đề tài:

Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến

Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ

Sinh viên thực hiện : PHẠM MINH ĐỨC

Giáo viên hướng dẫn: THS NGUYỄN THỊ HOA

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN

  

Khóa luận tốt nghiệp

Tên đề tài:

Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến

Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ

Sinh viên thực hiện : PHẠM MINH ĐỨCChuyên ngành :Kinh tế phát triển

Trang 3

Lời cam đoan

Tên em là: Phạm Minh Đức

Sinh viên lớp: KTPT.47B

Em xin cam đoan khóa luận là kết quả nghiên cứu độc lập sau thời gian 15 tuần thực tập tại Vụ kế hoạch-Bộ Công thương

Khóa luận là sự cố gắng tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu của bản thân cùng với

đó là sự nhiệt tình giúp đỡ chỉ bảo của cán bộ hướng dẫn, Phó Vụ trưởng Hoàng Thị Tuyết Hoa và giáo viên trực tiếp hướng dẫn, cô giáo Ths.Nguyễn Thị Hoa Khóa luận có tham khảo một số kiến thức, số liệu nhưng hoàn toàn có sự chọn lọc, phân tích và trích dẫn nguồn cụ thể

Em xin cam đoan khóa luận không phải sao chép của bất kì công trình nghiên cứu nào Nếu không đúng sự thật em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Sinh viên: Phạm Minh Đức

Trang 4

ICO :Tổ chức cà phê quốc tê

NCA :Hiệp hội cà phê Mỹ

VICOFA :Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam

WTO :Tổ chức thương mại thế giới

MFN :Quy chế tối huệ quốc

OECD :Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

USVTC :Hội đồng thương mại Việt Mỹ

WEF :Diễn đàn kinh tế thế giới

WB :Ngân hàng Thế giới

IMF :Quỹ Tiền tệ quốc tế

ABIC :Hiệp hội các nhà rang xay cà phê Brazil APEX :Cục Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Brazil VinaCafe :Tổng công ty cà phê Việt Nam

VGG :Vietnam Global Gateway

TNS : Trung tâm nghiên cứu thị trường Hoa Kỳ

Trang 5

Bảng 2.1 : Tình hình sản xuất và kinh doanh Vinacafe Biên hòa

Bảng 2.2 : Điều tra về mức độ quan tâm của người dân Hoa Kỳ đối với các sản phẩm cà phê

Bảng 2.3 : Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của Việt Nam giai đoạn 2000-2007Bảng 2.4 : Tỷ lệ về sản lượng và doanh thu xuất khẩu của Vinacafe

Bảng 2.5 : Kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ Bảng 2.6 : Cơ cấu các loại cà phê xuất khẩu của Việt Nam sang

thị trường Hoa KỳBảng 2.7 : Mức tiêu thụ cà phê của Hoa Kỳ giai đoạn 2003-2007

Bảng 2.8 : Tỉ lệ cà phê Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ

Bảng 2.9 : Chất lượng cà phê nhân Việt Nam

Bảng 2.10 : Số lượng và cơ cấu lao động đang làm việc tại thời điểm

1 tháng 7 trong thành phần kinh tế nông lâm nghiệp

Bảng 2.11 : Trồng và thu hoạch cà phê ở Việt Nam

Bảng 2.12 : Giá một số loại cà phê uống liền ở Việt Nam

Bảng 2.13 : Giá cà phê uống liền Mulvadi Kona Gourmet của Hoa Kỳ

Bảng 3.1 :Kim ngạch thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ giai đoạn 2003-2007Bảng 3.2 : Kim ngạch thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ 2008-2009

Trang 6

Hình 2.1: Kim ngạch xuất khẩu cà phê bột của Việt Nam sang Hoa Kỳ

Hình 2.1: Kim ngạch xuất khẩu cà phê hòa tan của Việt Nam sang Hoa KỳHình 2.3: Kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Hoa KỳHình 2.4: Sự đa dạng trong các sản phẩm của cà phê Trung nguyên

Hình 2.5: Sự đa dạng trong các sản phẩm của Vinacafe

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 4

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA 4

SẢN PHẨM VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CÀ PHÊ CHẾ BIẾN 4

1.1 Một số vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của sản phẩm 4

1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 4

1.1.1.1 Cạnh tranh 4

1.1.1.2 Năng lực cạnh tranh 5

1.1.2 Các cấp độ năng lực cạnh tranh 6

1.1.2.1 Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia 6

1.1.2.2 Năng lực cạnh tranh cấp ngành (doanh nghiệp) 6

1.1.2.3 Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm 7

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng năng lực cạnh tranh của sản phẩm 8

1.1.3.1 Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô 8

1.1.3.2 Các yếu tố bên trong của bản thân doanh nghiệp 11

1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm 14

Để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm, người ta có thể sử dụng rất nhiều những tiêu chí khác nhau nhưng ta có thể kể tới một số những chỉ tiêu quen thuộc như sau: 14

1.1.4.1 Doanh thu 15

1.1.4.2 Thị phần 15

1.1.4.3 Chất lượng 17

1.1.4.4 Chi phí sản xuất và giá cả của sản phẩm 18

1.1.4.5 Mức độ hấp dẫn của sản phẩm 19

1.1.4.6 Thương hiệu của sản phẩm 19

1.1.4.7 Một số chỉ tiêu khác 20

1.1.5 Phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm 21

1.2 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến xuất khẩu của một số nước trên thế giới 22

1.2.1.Braxin 22

1.2.2 Indonexia 24

1.2.3 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 24

CHƯƠNG 2 27

Trang 8

2.1.2 Các loại cà phê chế biến của Việt Nam 29

2.1.3 Thực trạng sản xuất và chế biến cà phê của Việt Nam 32

2.1.3.1.Các nhà sản xuất và chế biến cà phê lớn ở Việt Nam 32

2.1.3.2 Quá trình sản xuất và chế biến 34

2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ 35

2.2.1 Khái quát về tình hình tiêu thụ cà phê chế biến của Hoa Kỳ 35

2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam ở thị trường Hoa Kỳ 38

2.2.1.1 Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô: 38

2.2.1.2 Các yếu tố bên trong của bản thân doanh nghiệp 42

2.2.3 Phân tích năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ 45

2.2.3.1 Doanh thu 45

2.2.3.2 Thị phần 54

2.2.3.3 Chất lượng 57

2.2.3.4 Chi phí sản xuất và giá cả của sản phẩm 59

2.2.3.5 Mức độ hấp dẫn của sản phẩm 64

2.2.3.6 Thương hiệu của sản phẩm 68

3.2.3.7 Các dịch vụ xúc tiến bán hàng 69

2.3 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ 72

2.3.1 Những mặt được 72

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 75

CHƯƠNG III 82

GIẢP PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH 82

CỦA CÀ PHÊ CHẾ BIẾN VIỆT NAM 82

TRÊN THỊ TRƯỜNG HOA KỲ 82

3.1 Định hướng, mục tiêu phát triển của cà phê chế biến Việt Nam (đến 2015) 82

3.1.1 Định hướng 82

3.1.2 Mục tiêu 83

3.2 Một số lưu ý khi xuất khẩu cà phê chế biến vào thị trường Hoa Kỳ 83 3.2.1 Đặc điểm chung về thị trường Hoa Kỳ 84

3.2.2 Quy định của Hoa Kỳ đối với hàng hóa nhập khẩu 90

Trang 9

3.2.3.2 Những khó khăn 95

3.3 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ 96

3.3.1 Các giải pháp từ phía doanh nghiệp 97

3.3.2 Các giải pháp từ phía người nông dân 103

3.4 Kiến nghị nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ 105

3.4.1 Các kiến nghị về phía Chính phủ 105

3.4.2 Các kiến nghị về phía hiệp hội cà phê 108

KẾT LUẬN 110

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

- Lý do chọn đề tài:

Ngày nay, cà phê đã càng ngày càng trở nên quá đỗi quen thuộc với người

dân trên toàn thế giới và kinh doanh cà phê cũng đã dần chiếm một vị trí rất quan

trọng trong nền kinh tế Đối với Việt nam cà phê là mặt hàng nông sản xuất khẩu

chủ lực chỉ đứng sau gạo, với số lượng xuất khẩu ngày càng tăng và chiếm một

tỷ trọng lớn Hàng năm xuất khẩu cà phê đem về cho nền kinh tế một lượng

ngoại tệ không nhỏ, đồng thời giải quyết hàng trăm nghìn công ăn việc làm cho

người lao động trong nước

Tuy nhiên Việt Nam mới chủ yếu đơn thuần xuất khẩu cà phê nhân và chỉ

nổi tiếng về việc xuất khẩu cà phê nhân Lượng cà phê bột, cà phê đã qua chế

biến xuất khẩu thấp và thương hiệu chưa cao khiến cho năng lực cạnh tranh yếu

Các sản phẩm chế biến từ cà phê Việt Nam xuất khẩu vẫn quá ít ỏi, chưa tương

xứng với tiềm năng của đất nước Mặt hàng cà phê chế biến vẫn chủ yếu mới chỉ

là tiêu thụ nội địa Khác với các nước, họ trồng cà phê, tiêu thụ và xây dựng

thương hiệu ở trong nước sau đó mới xuất khẩu, còn ở Việt Nam thì ngược lại,

một thời gian dài chỉ xuất khẩu và bây giờ quay lại xây dựng thương hiệu ở trong

nước nên thừa cà phê nhân nhưng thiếu thương hiệu cà phê thành phẩm mà bản

thân năng lực cạnh tranh của cà phê thành phẩm lại chưa cao

Trong khi đó xuất khẩu cà phê chế biến vào Hoa Kỳ lại là một cơ hội lớn

Hoa Kỳ là nước tiêu thụ cà phê vào cỡ lớn nhất thế giới đồng thời hiện cũng

đang là nước nhập khẩu cà phê nhân lớn nhất của Việt Nam Nhu cầu tiêu thụ cà

phê của Hoa Kỳ ngày càng tăng, cà phê trở thành thứ đồ uống quen thuộc thường

Trang 12

xuyên hàng ngày của đa số người dân Mỹ Đây thực sự là một thị trường lớn,

đầy tiềm năng cho các sản phẩm cà phê chế biến của Việt Nam

Chính vì vậy một yêu cầu cần thiết đặt ra cho cà phê Việt Nam trong

thời gian tới là cần mở rộng và phát triển mạnh hơn nữa các sản phẩm chế biến

của cà phê Việt Nam ra thị trường thế giới đặc biệt là thị trường Hoa Kỳ, không

những chỉ đơn thuần tăng doanh thu mà còn cần tăng cả về chất lượng, thị phần,

cải tiến đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm nhằm mục tiêu cuối cùng là nâng cao

năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến của Việt Nam trên thị trường quan trọng

hàng đầu này

Nhận thức được tầm quan trọng của việc xuất khẩu các sản phẩm cà phê

chế biến của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ, em chọn đề tài nghiên cứu “Nâng

cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ”

Qua đề tài này, em hi vọng sẽ có một cái nhìn rõ hơn về thực trạng năng lực cạnh

tranh của cà phê Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ và từ đó có thể đưa ra một số

những kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản

phẩm cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường này

- Kết cấu của khóa luận gồm ba phần chính:

Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của sản phẩm và kinh

nghiệm quốc tế về nâng cao năng lực cạnh tranh cà phê chế biến

Chương 2: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt

Nam trên thị trường Hoa Kỳ

Chương 3: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế

biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ

Trang 13

- Phương pháp nghiên cứu:

Cách thức giải quyết vấn đề: thu thập số liệu từ các báo cáo, tài liệu

thống kê dưới các dạng văn bản của Bộ Công thương (bao gồm cả văn bản giấy

và văn bản mềm), kết hợp với các nguồn số liệu tham khảo từ sách báo,

Internet…

- Mục đích nghiên cứu:

Cà phê chế biến của Việt Nam còn ít, năng lực cạnh tranh còn chưa cao

nên không tránh khỏi sự cạnh tranh khắc nghiệt từ các đối thủ cạnh tranh lớn

khác Chính vì vậy đề tài này, khóa luận hi vọng sẽ đề xuất được một số những

giải pháp để nâng cao được năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam

trên thị trường Hoa Kỳ

- Lời cảm ơn:

Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới cán bộ hướng dẫn, Phó Vụ trưởng

Hoàng Thị Tuyết Hoa cùng các chuyên viên tại Vụ kế hoạch- Bộ Công Thương đã

tạo điều kiện giúp đỡ để em có thể hoàn thành tốt đợt thực tập

Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo hướng

dẫn Ths.Nguyễn Thị Hoa đã tận tình theo sát giúp đỡ em trong suốt thời gian qua

Em xin chân thành cảm ơn

Sinh viên: Phạm Minh Đức

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA

SẢN PHẨM VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ NÂNG CAO

NĂNG LỰC CẠNH TRANH CÀ PHÊ CHẾ BIẾN

1.1 Một số vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của sản phẩm

1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

1.1.1.1 Cạnh tranh

Ngày nay, cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị

trường, là động lực phát triển của nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường cạnh

tranh cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường

nhằm giành được ưu thế hơn về cùng một loại sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ,

về cùng một loại khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh Nó được coi là sự

sống còn của doanh nghiệp, là cơ hội cho sự tồn tại và phát triển của các sản

phẩm hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp

Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những cá

nhân, tập thể có chức năng như nhau nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình”

Điều đó có nghĩa là nâng cao vị thế của người này và làm giảm vị thế của người

khác

Trong khi đó tổ chức OECD lại định nghĩa : “Cạnh tranh là khả năng của

các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và các vùng trong việc tạo ra việc làm và thu

nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.

Trang 15

Trên thực tế thì có nhiều quan niệm về cạnh tranh khác nhau tuy nhiên đều

thống nhất: “Cạnh tranh được hiểu là sự đấu tranh gay gắt quyết liệt giữa các

đối thủ trên thị trường nhằm giành giật điều kiện sản xuất và nơi tiêu thụ hàng

hóa dịch vụ có lợi nhất Đồng thời cạnh tranh tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất

phát triển”.

Như vậy có thể thấy cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của

nền kinh tế thị trường, tất yếu không thể không có trong nền kinh tế thị trường,

phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể của nền kinh tế cùng theo đuổi

mục đích lợi nhuận tối đa Và theo thời gian, tính chất cạnh tranh trong nền kinh

tế sẽ ngày càng quyết liệt

1.1.1.2 Năng lực cạnh tranh

Cạnh tranh là một tất yếu và để thắng trong quá trình cạnh tranh thì nhân tố

tiên quyết là năng lực cạnh tranh của chủ thể cạnh tranh Cũng như cạnh tranh thì

hiện tại vẫn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực cạnh tranh nhưng ta

có thể hiểu một các đơn giản đó là khả năng của các chủ thể để có thể giành

được những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất trên thị trường nhằm đem

lại lợi nhuận cao hơn

Trong từ điển Tiếng Việt, năng lực cạnh tranh được định nghĩa như sau:

“Năng lực cạnh tranh là khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của

những hàng hoá cùng loại, trên cùng một thị trường tiêu thụ”.

Theo học giả kinh tế Michaer.E.Porter, không có một định nghĩa thật sự về

năng lực cạnh tranh và không có một lí thuyết nào giải thích nó được chấp nhận

một cách phổ biến

Trang 16

Theo tạp chí kinh tế và phát triển, số 84 tháng 6 năm 2004, thạc sỹ Phạm

Đình Huỳnh: “Năng lực cạnh tranh là khả năng đạt được và duy trì thị phần có

lãi”.

1.1.2 Các cấp độ năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh thường được nhìn nhận dưới ba cấp độ đó là năng lực

cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của ngành (doanh nghiệp) và năng

lực cạnh tranh của sản phẩm Trong đó năng lực cạnh tranh sản phẩm là cốt lõi

tạo nên sức cạnh tranh của ngành (doanh nghiệp), và tổng hợp lại góp phần nâng

cao năng lực cạnh tranh của quốc gia

1.1.2.1 Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia

Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia được hiểu là khả năng cạnh tranh của

một nước để sản xuất hàng hóa dịch vụ đáp ứng được thử thách của thị trường

quốc tế, đồng thời mở rộng được thu nhập thực tế của cư dân nước đó Nó là

những lợi thế so sánh của quốc gia có được so với các quốc gia khác, đó là

những lợi thế về các nguồn lực như lao động, tài nguyên, trình độ công nghệ, lợi

thế về vị trí địa lý, lợi thế về quy mô…

Theo Diễn đàn kinh tế thế giới WEF (năm 1997): Năng lực cạnh tranh của

quốc gia được hiểu là “sức mạnh thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ mô Đó là

năng lực của một nền kinh tế đạt được và duy trì mức tăng trưởng bền vững, thu

hút đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống người dân trên cơ

sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác.”

1.1.2.2 Năng lực cạnh tranh cấp ngành (doanh nghiệp)

Sự tồn tại của mỗi quốc gia không thể thiếu sự hoạt động của các ngành,

doanh nghiệp lớn và nhỏ trong quốc gia đó Và nâng cao năng lực cạnh tranh của

Trang 17

từng ngành (doanh nghiệp) sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc

gia Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là “khả năng một doanh

nghiệp tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới

dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực

của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh các thị trường

mới” Như vậy năng lực cạnh tranh cấp ngành (doanh nghiệp) đồng nghĩa với kết

quả kinh doanh và lợi nhuận Là lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ trong

việc thoã mãn những nhu cầu của khách hàng nhằm mục đích lợi nhuận Đó là

các yếu tố nội tại của doanh nghiệp như vốn, lao động, công nghệ…

1.1.2.3 Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm

Theo tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 317, tháng 10 năm 2004 của TS Nguyễn

Văn Thanh: “Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm được hiểu là khả năng mà sản

phẩm có được nhằm duy trì được vị thế của nó một cách lâu dài trên thị trường

cạnh tranh”

Năng lực cạnh tranh sản phẩm được nhận biết qua lợi thế cạnh tranh của

sản phẩm đó với các sản phẩm khác cùng loại Đó là những đặc tính, giá trị sử

dụng mà sản phẩm có được lợi thế so với các sản phẩm thay thế như chất lượng,

mẫu mã, giá cả…Nếu sản phẩm giống nhau về hình thức kiểu dáng, mẫu mã…

mà có chi phí trên một đơn vị thấp hơn từ đó dẫn đến giá thành và giá bán sản

phẩm thấp hơn, có chất lượng cao hơn do được áp dụng khoa học kĩ thuật, công

nghệ tiên tiến…so với đối thủ cạnh tranh cùng sản xuất sản phẩm đó, thì doanh

nghiệp đó đã tạo ra sản phẩm có năng lực cạnh tranh Ngoài ra thì năng lực cạnh

tranh của sản phẩm còn được thể hiện ở rất nhiều mặt khác như khả năng đáp

ứng và thỏa mãn khách hàng, hệ thống mạng lưới bán hàng và sau bán hàng

tốt…

Trang 18

Như vậy ta có thể thấy ba cấp độ của năng lực cạnh tranh mặc dù có sự độc

lập tương đối nhưng giữa chúng vẫn tồn tại mối quan hệ mật thiết Năng lực

cạnh tranh sản phẩm sẽ là yếu tố cơ bản tạo nên năng lực cạnh tranh của ngành

(doanh nghiệp), và tổng hợp lại góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc

gia Ngược lại, năng lực cạnh tranh của quốc gia được nâng cao sẽ tạo điều kiện

nâng cao năng lực cạnh tranh ngành hay doanh nghiệp, và chính năng lực cạnh

tranh của doanh nghiệp khi được nâng cao sẽ tạo nên sức hút, sự hấp dẫn với sản

phẩm, dịch vụ của người tiêu dùng từ đó tạo nên năng lực cạnh tranh cho sản

phẩm

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố bao

gồm cả những yếu tố thuộc môi trường vĩ mô cũng như các yếu tố thuộc bản

thân nội tại của các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm

1.1.3.1 Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô

Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô có ảnh hưởng lớn tới khả năng cạnh

tranh của sản phẩm Tùy theo từng loại sản phẩm mà nó có thể ảnh hưởng trực

tiếp hay gián tiếp tạo ra những cơ hội, tiềm năng cũng như những khó khăn thách

thức cho các sản phẩm cạnh tranh trên thị trường

• Các yếu tố kinh tế

Các yếu tố kinh tế thuộc môi trường vĩ mô như sự tăng trưởng của nền

kinh tế, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán…có ảnh hưởng rất

lớn đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp cần

phải nắm chắc và có dự báo về xu hướng biến động của các yếu tố khi đưa ra các

Trang 19

quyết định về chính sách sản phẩm để từ đó có những biện pháp để hạn chế rủi

ro cho khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường

Lãi suất ngân hàng: Lãi suất ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng

cạnh tranh của sản phẩm Nếu lãi suất cho vay của ngân hàng cao sẽ dẫn đến chi

phí đầu vào tăng lên, giá thành sản phẩm cũng vì thế tăng lên Kết quả là khả năng

cạnh tranh của sản phẩm giảm đi nhất là khi các đối thủ cạnh tranh có tiềm lực

mạnh về vốn Và ngược lại nếu lãi suất ngân hàng thấp sẽ làm chi phí đầu vào

giảm, giá thành giảm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản

xuất và cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trường bằng công cụ giá

Tỷ giá hối đoái: Nhân tố này cũng có ảnh hưởng lớn tới năng lực cạnh

tranh của sản phẩm Nếu đồng nội tệ lên giá, giá cả của sản phẩm trong nước

giảm dẫn đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm ở nước ngoài giảm, khi đó giá

bán của hàng hoá tính bằng đồng ngoại tệ sẽ cao hơn các đối thủ cạnh tranh Hơn

nữa, khi đồng nội tệ lên giá khuyến khích nhập khẩu vì giá hàng nhập khẩu sẽ

giảm và như vậy khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trong nước sẽ bị giảm

ngay cả trên thị trường trong nước Ngược lại khi đồng nội tệ giảm giá, khả năng

cạnh tranh của các sản phẩm trên cả thị trường trong nước và thị trường xuất

khẩu sẽ tăng vì khi đó giá bán hàng hoá giảm hơn so với các đối thủ cạnh tranh

nước ngoài

Sự tăng trưởng kinh tế: điều này thể hiện nền kinh tế phát triển, thu nhập

dân cư cao dẫn đến khả năng tiêu dùng hàng hóa dịch vụ cao Nền kinh tế phát

triển cùng với các yếu tố khác như lãi suất ngân hàng, lạm phát, tốc độ tăng giá

tiêu dùng…được giữ ở mức ổn định sẽ giúp doanh nghiệp có nhiều cơ hội cho

việc đầu tư trang thiết bị cũng như mở rộng sản xuất từ đó gián tiếp dẫn tới khả

năng nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm

Trang 20

• Các yếu tố chính trị, pháp luật

Đây là yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến sự đầu tư cho sản phẩm của

doanh nghiệp và nhất là cơ hội tìm kiếm và mở rộng thị trường của sản phẩm

Yếu tố chính trị, pháp luật thể hiện ở mức độ ổn định chính trị của quốc gia, hiệu

lực và mức độ ổn định của luật pháp, cơ sở hành lang pháp lí… Sự ổn định của

chính trị xã hội là điều kiện để nhà đầu tư tiến hành hoạt động đầu tư của mình,

kích thích cầu tiêu dùng tăng lên Chính trị xã hội ổn định cũng giúp nhu cầu của

khách hàng không có những biến động giảm

• Các yếu tố văn hóa xã hội

Yếu tố văn hóa xã hội có ảnh hưởng lớn tới năng lực cạnh tranh của sản

phẩm, thể hiện ở các khía cạnh như tập quán và thị hiếu tiêu dùng, truyền thống

văn hóa dân tộc, các chuẩn mực đạo đức… Chính vì vậy các yếu tố văn hóa xã

hội không những có những tác động đáng kể tới nhu cầu sử dụng và tiêu dùng

sản phẩm của khách hàng mà còn ảnh hưởng tới tư tưởng chủ đạo từ đó quyết

định đến tính năng, kiểu dáng, biểu tượng logo, mẫu mã sản phẩm…

• Yếu tố môi trường kinh doanh quốc tế

Mỗi doanh nghiệp là một cá thể của nền kinh tế quốc dân, mỗi nền kinh tế

là một bộ phần cấu thành nền kinh tế thế giới Vì thế tình hình kinh tế, hệ thống

luật pháp thế giới…sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động của mỗi doanh nghiệp, tới

khả năng cạnh tranh của các sản phẩm Đây được coi là yếu tố quan trọng trong

thời đại hội nhập kinh tế như hiện nay Môi trường kinh doanh quốc tế sẽ tạo ra

những cơ hội, tiềm năng cũng như những khó khăn thách thức cho các sản phẩm

cạnh tranh trên thị trường rộng lớn hơn

Trang 21

1.1.3.2 Các yếu tố bên trong của bản thân doanh nghiệp

• Nhóm các hoạt động chính (ảnh hưởng trực tiếp)

Nhóm các hoạt động này bao gồm các hoạt động liên quan đến việc sản

xuất tạo ra sản phẩm, hoạt động marketing, và việc đưa sản phẩm hàng hóa đến

tay người tiêu dùng, các dịch vụ bán hàng và sau bán hàng Chúng có ảnh hưởng

trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm, gồm có:

Hoạt động hậu cần đầu vào: là các hoạt động chuẩn bị đầu vào cho quá

trình sản xuất, nó quyết định đến chi phí sản xuất và chất lượng của sản phẩm từ

đó ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm: quá trình vận chuyển, tiếp

nhận, kiểm tra, bảo quản nguyên nhiên vật liệu đầu vào cho việc sản xuất tạo ra

sản phẩm

Hoạt động sản xuất: là hoạt động để biến nguyên liệu đầu vào thành các sản

phẩm đầu ra như quyết định công nghệ sản xuất hay gia công, cân đối dây chuyền

sản xuất, quyết định mức sản lượng, kiểm tra chất lượng sản phẩm, đóng gói…

Hoạt động hậu cần đầu ra: các hoạt động cần thiết nhằm đưa sản phẩm đến

tay người tiêu dùng như bảo quản sản phẩm sau sản xuất, đóng kiện hàng hóa, lựa

chọn kênh phân phối, lựa chọn thị trường tiêu thụ và vận chuyển hàng hóa…

Hoạt động marketing và bán hàng: các hoạt động nhằm giới thiệu các sản

phẩm đến với người tiêu dùng, việc lựa chọn nhà phân phối, phương thức phân

phối, phương thức thanh toán, các hoạt động quảng cáo khuyến mại xúc tiến bán

hàng…

Trang 22

Hoạt động sau bán hàng: các hoạt động nhằm duy trì nâng cao giá trị uy

tín cho sản phẩm, tạo niềm tin cho khách hàng về sản phẩm như các dịch vụ hỗ

trợ khách hàng về việc vận chuyển, sửa chưa, lắp đặt, bảo dưỡng…

• Nhóm các hoạt động hỗ trợ (ảnh hưởng gián tiếp)

Các yếu tố thuộc nhóm này sẽ ảnh hưởng gián tiếp tới năng lực cạnh tranh

của sản phẩm, bao gồm:

Khả năng thu mua các yếu tố đầu vào: yếu tố này giúp cho sản phẩm có

được ưu thế về chi phí, nó cũng có thể quyết định tới chất lượng của sản phẩm

đảm bảo cho sự ổn định của sản phẩm trên thị trường cạnh tranh

Vốn: Để duy trì và phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm

dịch vụ của một doanh nghiệp, yếu tố vốn đóng vai trò cực kỳ quan trọng Vốn

đảm bảo cho việc duy trì, mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh

nghiệp Nếu một doanh nghiệp có tình trạng tài chính tốt, khả năng huy động

vốn là lớn sẽ cho phép doanh nghiệp có điều kiện để mở rộng sản xuất kinh

doanh, đổi mới công nghệ và máy móc thiết bị, đồng thời tăng khả năng hợp tác

đầu tư về liên doanh liên kết, đa dạng hóa đổi mới sản phẩm, chú trọng nhiều

hơn cho các công tác ở khâu sau của quá trình sản xuất như marketing, quảng

cáo tiếp thị, các dịch vụ bán hàng và sau bán hàng…tạo nên khả năng cạnh tranh

cao hơn cho sản phẩm

Khoa học công nghệ: Là yếu tố sáng tạo nên những sản phẩm mới cũng

như huỷ diệt những sản phẩm cũ, lạc hậu Muốn có những sản phẩm có lợi thế

cạnh tranh trên thị trường cần phải được hỗ trợ sản xuất bởi công nghệ mới và

hiện đại thông qua các hoạt đọng nghiên cứu và triển khai (D&R) của doanh

nghiệp Công nghệ hiện đại sẽ giúp doanh nghiệp có được những sản phẩm có

Trang 23

chất lượng cao, mẫu mã phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng và nó cũng

quyết định năng suất lao động của người lao động trong doanh nghiệp, từ đó ảnh

hưởng tới chi phí, giá thành của sản phẩm cạnh tranh

Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực được coi là vấn đề có ý nghĩa sống còn

với mọi tổ chức trong tương lai Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được chia

làm ba cấp:

Quản trị viên cấp cao: Gồm ban giám đốc và các trưởng phó phòng ban

Đây là đội ngũ có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh hàng hóa

và dịch vụ Nếu họ có trình độ quản lý cao, có nhiều kinh nghiệm kinh doanh

trên thương trường, có khả năng đánh giá và quan hệ đối ngoại tốt thì doanh

nghiệp sản xuất sản phẩm sẽ có sức cạnh tranh cao các đối thủ cạnh tranh và

ngược lại

Quản trị viên cấp trung gian: Đây là đội ngũ trực tiếp quản lý phân

xưởng sản xuất sản phẩm đòi hỏi phải có có kinh nghiệm công tác, khả năng ra

quyết định và điều hành công tác

Đội ngũ quản trị viên cấp cơ sở: Khả năng cạnh tranh của sản phẩm chịu

sự chi phối của đội ngũ này thông qua các yếu tố như: năng suất lao động, trình

độ tay nghề, ý thức trách nhiệm, kỷ luật lao động và sự sáng tạo của họ bởi vì

các yếu tố này chi phối việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản

phẩm cũng như tạo thêm tính ưu việt, độc đáo mới lạ của sản phẩm Đội ngũ này

và yếu tố công nghệ có mối quan hệ mật thiết với nhau đóng vai trò then chốt

trong việc nâng cao năng suất sản xuất, số lượng cũng như chất lượng sản phẩm

từ đó góp phần nâng cao năng lực canh tranh của các sản phẩm của doanh

nghiệp

Trang 24

Cơ sở hạ tầng: là yếu tố hỗ trợ quan trọng cho việc tạo nên lợi thế cạnh

tranh của sản phẩm Cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại giúp doanh nghiệp hoạt

động dễ dàng hơn, năng suất cao hơn, hiệu quả lớn hơn…Qua đó kéo theo những

ưu thế khác về chất lượng, chi phí, giá thành sản phẩm…Ngoài ra nó cũng thể

hiện ở quy mô và năng lực sản xuất của doanh nghiệp Nếu quy mô và năng lực

sản xuất lớn sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra khối lượng sản phẩm lớn hơn, qui mô

sản xuất lớn sản xuất càng nhiều sản phẩm thì chi phí cận biên cho sản xuất đơn

vị sản phẩm tiếp theo nhỏ dần, và như vậy giá thành đơn vị sản phẩm càng hạ

nhờ đó sản phẩm cạnh tranh hơn các đối thủ cạnh tranh khác về giá thành, quy

mô lớn giúp doanh nghiệp hiểu rõ khách hàng từ đó sản phẩm có thể chiếm lĩnh

và khẳng định chỗ đứng trên nhiều thị trường khác nhau, giảm thiểu sự xâm

nhập của đối thủ cạnh tranh khác

Năng lực quản lý: Trình độ tổ chức quản lý được thể hiện thông qua cơ

cấu tổ chức, bộ máy quản trị, hệ thống thông tin quản lý, bầu không khí và đặc

biệt là nề nếp hoạt động của doanh nghiệp Mỗi loại hình doanh nghiệp đều có

những cách thức tổ chức ban lãnh đạo cũng như có năng lực quản lý khác nhau

Sự chủ động, khôn ngoan, nhạy bén trong quản lý giúp doanh nghiệp tận dụng

được cơ hội, chiếm được thời cơ trong việc sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch

vụ trước các đối thủ cạnh tranh của mình

1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm, người ta có thể sử dụng

rất nhiều những tiêu chí khác nhau nhưng ta có thể kể tới một số những chỉ tiêu

quen thuộc như sau:

Trang 25

1.1.4.1 Doanh thu

Doanh thu là số tiền thu được khi bán hàng hoá hoặc dịch vụ Bởi vậy mà

doanh thu có thể được coi là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá năng lực cạnh tranh

Căn cứ vào chỉ tiêu doanh thu qua từng thời kỳ hoặc qua các năm ta có thể đánh

giá được kết quả hoạt động kinh doanh là tăng hay giảm, theo chiều hướng tốt

hay xấu Nhưng để đánh giá được hoạt động kinh doanh đó có mang lại được

hiệu quả hay không ta phải xét đến những chi phí đã hình thành nên doanh thu

đó Nếu doanh thu và chi phí để sản xuất ra sản phẩm đều tăng lên qua các năm

nhưng tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi phí tức tồn tại khả

năng duy trì và tăng thêm về lợi nhuận thì hoạt động sản xuất và kinh doanh vẫn

được đánh giá là tốt, doanh nghiệp đã biết phân bổ và sử dụng hợp lý yếu tố chi

phí, bởi một phần chi phí tăng thêm đó được doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh

doanh, đầu tư mua sắm trang thiết bị và xây dựng cơ sở hạ tầng…Một sản phẩm

có khả năng tăng cao và duy trì doanh thu, lợi nhuận thì đồng nghĩa năng lực

cạnh tranh của sản phẩm đó cao hơn và ngược lại Đây là một trong những chỉ

tiêu cơ bản nhất để đánh giá năng lực cạnh tranh khi sản phẩm tham gia trên thị

trường

1.1.4.2 Thị phần

Thể hiện ở khả năng chiếm lĩnh và ngày càng tăng thị phần của sản phẩm

Nó chứng tỏ mức độ đáp ứng nhu cầu khách hàng của sản phẩm Những sản

phẩm có thị phhần càng lớn và khả năng ngày càng tăng thị phần trong tương lai

thì khả năng cạnh tranh của sản phẩm đó càng lớn và ngược lại Thị phần càng

lớn cho thấy mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó, đồng

thời phản ánh được năng lực cạnh tranh cao của sản phẩm đó trên thị trường

Trang 26

Thị phần có thể được hiểu là phần trăm thị trường tính theo doanh số mà

doanh nghiệp thu được hoặc theo khối lượng sản phẩm bán ra trên thị trường

Nghĩa là thị phần của sản phẩm phản ánh sản phẩm đó chiếm bao nhiêu phần

trăm thị trường

Người ta thường xem xét các loại thị phần sau:

- Thị phần của sản phẩm của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trường sản

phẩm: đó chính là tỷ lệ % giữa doanh thu sản phẩm của doanh nghiệp so với

doanh số của toàn ngành

- Thị phần của sản phẩm của doanh nghiệp so với phân khúc mà nó phục

vụ: đó là tỷ lệ % giữa doanh thu sản phẩm của doanh nghiệp so với doanh thu

của toàn khúc thị trường sản phẩm

- Thị phần tương đối: đó là tỷ lệ so sánh về doanh thu sản phẩm của doanh

nghiệp so với doanh thu sản phẩm của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trên thị

liền với chỉ tiêu doanh thu bán hàng của sản phẩm, dịch vụ

Thông qua sự biến động của các chỉ tiêu này ta có thể biết được vị thế của

sản phẩm trong cạnh tranh trên thị trường như thế nào Doanh nghiệp sản xuất

sản phẩm cũng sẽ biết mình đang đứng ở vị trí nào để từ đó có thể vạch ra chiến

lược hành động cho hợp lý

Trang 27

1.1.4.3 Chất lượng

Chất lượng sản phẩm được hình thành từ khâu thiết kế tới tổ chức sản

xuất, tiêu thụ và sau tiêu thụ sản phẩm, nó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như

công nghệ, dây chuyền sản xuất, nguyên nhiên liệu làm yếu tố đầu vào, trình độ

sản xuất, cơ sở vật chất… chất lượng sản phẩm không chỉ thể hiện ở việc đảm

bảo các thông số kĩ thuật mà còn thể hiện ở việc phù hợp và đáp ứng tốt mọi nhu

cầu của khách hàng, đem lại cho khách hàng độ thỏa mãn cao hơn so với các đối

thủ cạnh tranh Đây là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu để đánh giá năng lực cạnh

tranh của sản phẩm

Khi hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra, để nâng cao sức cạnh tranh của sản

phẩm thì yếu tố chất lượng sản phẩm đóng góp quan trọng cho sự tồn tại của sản

phẩm trên thị trường Sản phẩm đó không chỉ đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc gia

mà phải đạt tiêu chuẩn quốc tế Khi đó, chất lượng sản phẩm nói lên năng lực

cạnh tranh của sản phẩm cao hay thấp

Một sản phẩm có chất lượng cao ngoài việc đảm bảo các tiêu chuẩn chất

lượng thì cần có thêm những chất lượng vượt trội khác so với các đối thủ cạnh

tranh như chất lượng các nguyên liệu đầu vào thể hiện ở ưu thế về tài nguyên

thiên nhiên, đất đai, khí hậu…

Chất lượng sản phẩm chính là một khái niệm tổng hợp của rất nhiều tiêu

chí, nó là sự kết hợp hài hoà của năng suất sản lượng, trình độ công nghệ, các chỉ

tiêu cảm quan, mức độ an toàn của sản phẩm, các biện pháp bảo vệ thực vật,

thuỷ lợi, trình độ quản lý và cuối cùng là thị hiếu, nhu cầu tiêu thụ Do đó, để

đánh giá được yếu tố chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng đến khả năng cạnh

tranh của sản phẩm đó như thế nào thông qua đánh giá định tính và định lượng

Trang 28

nhưng thông thường thì biện pháp định tính sẽ được áp dụng qua đánh giá về độ

thỏa mãn nà sản phẩm đem lại cho khách hàng

1.1.4.4 Chi phí sản xuất và giá cả của sản phẩm

Đây là chỉ tiêu định lượng mà ta có thể dễ dàng nhận thấy nhất

Chi phí sản xuất của sản phẩm là giá trị của tất cả các yếu tố đầu vào hình

thành nên sản phẩm như: nguyên vật liệu, nhân công, công nghệ sản xuất Tổng

hợp chi phí sản xuất sẽ có giá thành của sản phẩm, qua giá thành sẽ xác định

được giá bán trên thị trường Do vậy, muốn có giá bán sản phẩm thấp thì doanh

nghiệp phải tìm giảm chi phí sản xuất tức là phải tận dụng hợp lý các nguồn lực

sẵn có như tài nguyên phong phú nguồn nhân lực dồi dào, đồng thời đổi mới

thiết bị và công nghệ sản xuất, nâng cao hiệu quả quản lý có như vậy mới hạ

được giá thành sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá

Chi phí sản xuất thấp thì giá bán sản phẩm sẽ thấp hơn, sản phẩm có sức

cạnh tranh tốt hơn các sản phẩm khác khi phải cạnh tranh về giá Khi đó, sản

phẩm được người tiêu dùng lựa chọn nhiều hơn, chỗ đứng của sản phẩm một

phần được khẳng định Điều này đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế thị trường

có sự cạnh tranh lớn như hiện nay thì khách hàng có quyền lựa chọn cho mình

những sản phẩm tốt nhất và nếu cùng một mặt hàng sản phẩm, cùng chất lượng,

kiểu dáng mẫu mã thì tất nhiên sản phẩm nào được bán với giá thấp hơn thì sẽ

được khách hàng lựa chọn Vì vậy giá cả là công cụ cạnh tranh hữu hiệu trên thị

trường

Để chiếm ưu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có sụ lựa chọn

các chính sách giá thích hợp cho từng loại sản phẩm ở từng giai đoạn trong chu

kỳ sống của sản phẩm hay tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng vùng thị trường Có

Trang 29

thể đó là chiến lược của từng doanh nghiệp để thu hút khách hàng và tất nhiên

khả năng cạnh tranh của sản phẩm nhờ đó sẽ cao hơn

1.1.4.5 Mức độ hấp dẫn của sản phẩm

Là các đặc điểm bên ngoài dễ dàng nhận thấy của sản phẩm như mẫu mã,

màu sắc, kiểu dáng…đây cũng là một yếu tố không thể thiếu tạo nên sức cạnh

tranh cho sản phẩm Không tính đến các sản phẩm có thương hiệu đã được người

tiêu dùng biết đến thì giữa vô vàn sản phẩm thì những sản phẩm có mẫu mã, màu

sắc, kiểu dáng đẹp mắt sẽ thu hút được sự chú ý của khách hàng ngay tức khắc

cho dù họ chưa biết sản phẩm như thế nào, chất lượng ra sao Mặc dù đây chỉ là

những chỉ tiêu định tính nhưng cũng là chỉ tiêu quan trọng mà mỗi sản phẩm cần

chú ý

1.1.4.6 Thương hiệu của sản phẩm

Đây là yếu tố quan trọng mà các sản phẩm cần hướng tới Chỉ tiêu này khó

định lượng tuy nhiên là yếu tố quan trọng để tạo nên sự khác nhau về khả năng

cạnh tranh của sản phẩm Thương hiệu, uy tín của sản phẩm được hình thành dựa

trên chất lượng, giá trị sử dụng của sản phẩm, các dịch vụ bán hàng và sau bán

hàng, thời gian giao hàng, quy mô của doanh nghiệp

Hiện nay vấn đề thương hiệu đã được chú trọng hơn trước rất nhiều, có

nhiều ý kiến cho rằng thương hiệu là nhân tố quan trọng thứ hai chỉ sau chất

lượng, xếp trước yếu tố giá trong việc tạo nên thành công trong khả năng cạnh

tranh của sản phẩm Những sản phẩm nổi tiếng có thương hiệu mạnh sẽ có chiếm

được uy tín và lòng tin từ phía khách hàng Do đó khi sản phẩm đưa ra thị trường

có thể nhanh chóng thu hút được người tiêu dùng Khách hàng khi đó sẽ biết

Trang 30

đến, tin tưởng và trung thành với sản phẩm hơn và sản phẩm tất nhiên sẽ có khả

năng cạnh tranh cao hơn

1.1.4.7 Một số chỉ tiêu khác

Ngoài những tiêu chí quen thuộc như trên thì để đánh giá năng lực cạnh

tranh của sản phẩm người ta còn sử dụng một số chỉ tiêu khác như các kênh phân

phối, dịch vụ sau bán hàng, các hoạt động marketing, quảng cáo, khuyến mại hỗ

trợ đầu ra tiêu thụ sản phẩm, môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý…Đây

cũng là những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh

cho sản phẩm

Hệ thống phân phối: giải quyết vấn đề hàng hoá dịch vụ được đưa đến người

tiêu dùng như thế nào Các doanh nghiệp tổ chức và quản lý hoạt động phân phối

thông qua các hệ thống kênh phân phối (con đường mà hàng hoá được lưu thông

từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng) Để hoạt động tiêu thụ sản phẩm được diễn

ra thông suốt, thường xuyên và đầy đủ doanh nghiệp cần phải lựa chọn các kênh

phân phối, nghiên cứu các đặc trưng của thị trường, của khách hàng Từ đó có các

chính sách phân phối sản phẩm hợp lý, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Chính sách phân phối sản phẩm hợp lý sẽ giúp tăng nhanh vòng quay của vốn,

thúc đẩy tiêu thụ, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm

Các hoạt động hỗ trợ đầu ra tiêu thụ sản phẩm: là những yếu tố quan trọng

góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm Việc lựa chọn thị trường

tiêu thụ tốt kết hợp với các chính sách marketing, quảng cáo, khuyến mại…hợp

lý chắc chắn sẽ đem lại những ưu thế rõ nét cho sản phẩm sản phẩm được sản

xuất ra cần thiết phải có những hoạt động này thì mới có thể đến được với tay

người tiêu dùng

Trang 31

Các dịch vụ kèm theo: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính cạnh

tranh cao như hiện nay, vai trò của các dịch vụ kèm theo hàng hoá ngày càng

quan trọng Nó bao gồm các hoạt động trong và sau bán hàng như vận chuyển,

bao gói, lắp đặt, bảo dưỡng, bảo hành, tư vấn Cải tiến dịch vụ cũng chính là

nâng cao chất lượng hàng hoá sản phẩm Do đó phát triển hoạt động dịch vụ là

rất cần thiết, nó đáp ứng mục tiêu phục vụ khách hàng tốt hơn, tạo ra sự tín

nhiệm, sự gắn bó của khách hàng đối với doanh nghiệp đồng thời giữ gìn uy tín

của doanh nghiệp Từ đó sản phẩm có thể thu hút được khách hàng, tăng khả

năng cạnh tranh trên thị trường

1.1.5 Phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm

- Đánh giá qua phương pháp chuyên gia: Để đánh giá năng lực cạnh tranh

của sản phẩm ta có thể sử dụng phương pháp chuyên gia (đo lường và đánh giá

cho điểm) Trên cơ sở các tiêu chí, các chuyên gia đánh giá khả năng cạnh tranh

của từng tiêu chí trên thị trường để cho điểm dựa vào tầm quan trọng của mỗi chỉ

tiêu xác định trọng số cho nó với tổng trọng số bằng 1 Từ đó ta có thể tổng hợp,

tính được điểm trung bình và xác định được vị trí cạnh tranh của sản phẩm trên

thị trường

- Một cách làm đơn giản hơn là vẫn sử dụng các chỉ tiêu trên nhưng ta có

thể đánh giá trực tiếp năng lực cạnh tranh theo từng tiêu chí Dựa vào những tiêu

chí cụ thể như doanh thu, thị phần, giá cả…mà ta có thể đánh giá được khả năng

cạnh tranh của sản phẩm so với các đối thủ khác trên thị trường

Và khóa luận cũng sẽ sử dụng phương pháp này để phân tích thực trạng

năng lực cạnh tranh của các sản phẩm cà phê chế biến Việt Nam xuất khẩu trên

thị trường Hoa Kỳ ở chương II

Trang 32

1.2 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến xuất

khẩu của một số nước trên thế giới

1.2.1.Braxin

Braxin được xem là cường quốc xuất khẩu cà phê nhân lớn nhất thế giới

và Braxin đặc biệt nổi tiếng với việc sản xuất cà phê Arabica do điều kiện thổ

nhưỡng, khí hậu…Không những chú trọng vào việc đảm bảo cà phê nhân xuất

khẩu để giữ vững vị thế số một trên thị trường thế giới mà Braxin cũng có những

định hướng và chính sách của riêng mình cho việc tập trung cà phê nhân vào

việc chế biến không chỉ nhằm phục vụ thị trường nội địa trong nước mà còn

nhằm mục tiêu xa hơn đó là xuất khẩu Braxin chú trọng tới chất lượng của cà

phê chế biến ngay từ khâu trồng trọt, thu hoạch… chất lượng được đảm bảo ngay

từ nguyên vật liệu đầu vào Bởi ngoài những hương vị vốn có nhờ vào những ưu

thế về điều kiện tự nhiên thì chất lượng cà phê nhân có tốt thì cà phê chế biến

sau này mới có chất lượng cao Thêm vào đó là việc đầu tư, đổi mới dây chuyền

sản xuất chế biến cà phê theo hướng chuyên đại hóa và chuyên môn hóa

Ta có thể khái quát kinh nghiệm về tổ chức sản xuất, chế biến cà phê của

Braxin qua một số điển nhấn chính sau:

- Ngành cà phê của Braxin đã được nhiều chuyên gia khái quát bằng 6 chữ

“Truyền thống – chất lượng – hiện đại” Cà phê Braxin được sản xuất tại các

nông trường lớn chuyên canh, áp dụng kĩ thuật sản xuất tiên tiến và công nghệ

chế biến hiện đại đảm bảo cả về số lượng và chất lượng nguồn nguyên liệu đầu

vào cho quá trình chế biến cà phê Việc sản xuất tại các nông trường lớn chuyên

canh không những đem lại những thuận lợi về quy mô, năng suất… mà Braxin

cũng sẽ điều kiện áp dụng các kĩ thuật mới về giống cây trồng, phân bón, chăm

Trang 33

sóc, thu hoạch…hay các công nghệ tiên tiến hiện đại Chủng loại cà phê được

nghiên cứu và áp dụng những loại mới chất lượng cao như cà phê hảo hạng, cà

phê hữu cơ…

- Chính phủ có các chương trình tín dụng hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản

xuất, xuất khẩu cà phê rang xay sang cà phê hòa tan, tài trợ 50% chi chí nghiên

cứu và phát triển các sản phẩm cà phê chế biến cho các nhà sản xuất và xuất

khẩu cà phê chế biến

- Chính phủ Braxin định hướng trong dài hạn ngành cà phê của mình đi

theo hướng xuất khẩu cà phê chế biến do đó đã và đang có những kế hoạch hỗ

trợ các nhà máy chế biến mới cho hướng xuất khẩu cà phê hòa tan Hiệp hội các

nhà rang xay cà phê Brazil (ABIC) và Cục Xúc tiến Thương mại và Đầu tư

Brazil (APEX) mới đây đã bắt đầu chương trình hành động mới cụ thể của giai

đoạn 2009-2010 nhằm xúc tiến việc xuất khẩu cà phê rang xay của Brazil

Với tổng số vốn đầu tư lên đến 10,1 triệu USD, kế hoạch này sẽ sử dụng

các chiến lược mới hướng đến các nước xuất khẩu chính của cà phê Brazil như

Chile, Panama, Thổ Nhĩ Kỳ, Singapore

Kế hoạch hành động mới bao gồm sự hợp tác với các hiệp hội ‘chefs de

cuisine’ và việc hình thành một Tổ công tác cà phê Barista Brazil Nhóm công

tác này sẽ chịu trách nhiệm đi ra nước ngoài và quảng bá thương hiệu cà phê

Brazil: “Cafés do Brasil”

- Tập trung hơn nữa vào thị trường nội địa để từ đó làm bàn đạp cho việc

xuất khẩu các sản phẩm cà phê chế biến Hiện nay thì Braxin là nước tiêu thụ cà

phê vào dạng lớn nhất thế giới, với trung bình hàng năm khoảng 4,9 kg/người

Trang 34

Như vậy việc chủ động trong việc sản xuất và chế biến không những giúp Braxin

đáp ứng tốt nhu cầu trong nước mà còn khích thích xuất khẩu

1.2.2 Indonexia

Nhờ có lực lượng lao động dồi dào, điều kiện tự nhiên thuận lợi và chính

sách hướng về xuất khẩu hợp lý mà Indonexia cũng đã trở thành một trong những

nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới và đặc biệt là xuất khẩu cà phê Robusta

Về kinh nghiệm về tổ chức sản xuất, chế biến cà phê xuất khẩu của

Indonexia ta có thể thấy một số điểm cơ bản sau:

- Có các chính sách nhằm tăng cường giám sát chất lượng, đầu tư máy móc

thiết bị…Cũng như Braxin, Indonexia chú trọng tới chất lượng của cà phê chế

biến ngay từ khâu trồng trọt, thu hoạch… chất lượng được đảm bảo ngay từ

nguyên vật liệu đầu vào Trước đây cà phê nhân của Indonexia có chất lượng thấp,

thường phơi chưa đến độ khô cần thiết và có tạp chất Tuy nhiên Indonexia đã có

những giải pháp hữu hiệu để giảm tỷ lệ các hạt cà phê ẩm, mốc nâng cao chất

lượng cà phê nhân đảm bảo cho việc chế biến, đồng thời đầu tư máy móc thiết bị

thu gom, sản xuất, chế biến…để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm

- Không chỉ chú trọng trong sản xuất chế biến cà phê mà Indonexia còn

chú trọng tới cả lĩnh vực lưu thông cho sản phẩm như việc cải tiến tiếp thị,

nghiên cứu thị trường Hoa Kỳ cũng như các thị trường khác, tìm hiểu về các đối

thủ cạnh tranh hiện tại về cà phê hòa tan

1.2.3 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Từ thực tiễn và kinh nghiệm tổ chức sản xuất chế biến cà phê xuất khẩu

của một số nước như Braxin, Indonexia, chúng ta có thể rút ra một số những bài

Trang 35

học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong việc xuất khẩu các sản phẩm cà phê chế

biến của mình sang các thị trường khác trên thế giới đặc biệt là thị trường Hoa

Kỳ, một thị trường có mức tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới chứa đựng đầy tiềm

năng và cơ hội phát triển:

Thứ nhất, các doanh nghiệp cần chủ động, tăng cường giám sát đảm bảo số

lượng và chất lượng đầu vào Chú trọng từ những hoạt động đầu của quá trình sản

xuất chế biến như trồng trọt, thu hái đến chế biến để sản phẩm có chất lượng cao

đảm bảo các tiêu chuẩn về chất lượng của Hoa Kỳ Tăng cường kiểm tra, giám sát

chất lượng sản phẩm bằng việc hướng dẫn, theo dõi thường xuyên người trồng cà

phê, các cơ sở chế biến tuân thủ nghiêm ngặt những yêu cầu về kĩ thuật

Thứ hai, doanh nghiệp cần chú trọng tới việc đầu tư đổi mới trang thiết bị

máy móc kĩ thuật Đổi mới theo hướng áp dụng nhiều những công nghệ chế biến

hiện đại đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm của quốc gia, quốc tế Cần

thiết phải chủ động trong công nghệ máy móc sản xuất chế biến nhằm tránh tình

trạng phụ thuộc nước ngoài và định hướng xa hơn cho việc xuất khẩu

Thứ ba, bản thân doanh nghiệp cần có những nghiên cứu cần thiết về thị

trường xuất khẩu và các đối thủ cạnh tranh lớn, tiềm ẩn Thị trường Hoa Kỳ là

một thị trường lớn đầy tiềm năng nhưng là một môi trường cạnh tranh khắc

nghiệt với nhiều đối thủ cạnh tranh lớn, không thiếu những khó khăn thách thức

thậm chí rủi ro nên cần có những nghiên cứu cụ thể để có những chính sách hợp

lý khi xuất khẩu hợp lý sang thị trường này

Bên cạnh đó, cần thiết phải chú trọng tới cả các hoạt động phía sau của

quá trình sản xuất chế biến như đảm bảo đầu ra của sản phẩm: lưu thông, quảng

cáo tiếp thị, dich vụ sau bán hàng…Hơn nữa, tập trung hơn khai thác mạnh vào

Trang 36

thị trường trong nước để từ đó tạo nên bàn đạp cho việc xuất khẩu các sản phẩm

cà phê chế biến sang các thị trường nước ngoài

Ngoài ra, chính phủ và hiệp hội cà phê Việt Nam cần có vai trò nhất định

trong việc hỗ trợ doanh nghiệp và người nông dân Những định hướng, chính

sách hợp lý cùng với hành lang pháp lý thuận lợi sẽ có tác dụng khích thích,

khuyến khích cả doanh nghiệp và người nông dân trong việc sản xuất chế biến cà

phê nhằm mục đích xuất khẩu

Như vậy với việc nghiên cứu kinh nghiệm trong việc nâng cao năng lực

cạnh tranh của cà phê chế biến xuất khẩu của hai cường quốc lớn trên thế giới là

Braxin và Indonexia, ta có thể rút ra được những điểm đáng chú ý lớn Tuy

nhiên, những kinh nghiệm đó được học hỏi và sử dụng đến đâu cho chính Việt

Nam khi Việt Nam xuất khẩu các sản phẩm cà phê chế biến sang thị trường Hoa

Kỳ để nó trở thành những bài học thực sự bổ ích và có ý nghĩa thì chúng ta cần

thiết phải nắm được thực tế năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam

xuất khẩu trên thị trường Hoa Kỳ Chỉ có như vậy thì ta mới có thể áp dụng

những bài học kinh nghiệm của Braxin và Indonexia một cách hiệu quả cho Việt

Nam để từ đó đưa ra những giải pháp hữu hiệu góp phần nâng cao được năng lực

cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường này

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÀ PHÊ

CHẾ BIẾN VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG HOA KỲ

2.1 Giới thiệu chung về cà phê chế biến của Việt Nam

2.1.1.Lịch sử hình thành ngành cà phê chế biến của Việt Nam

• Ngành cà phê Việt Nam

Cây cà phê đầu tiên được người Pháp đưa vào Việt nam từ năm 1870,

nhưng mãi đến đầu thế kỷ 20 mới được phát triển trồng ở một số đồn điền của

người Pháp Năm 1930, Việt Nam đã có 5.900 ha diện tích trồng cà phê và đến

những năm 1960-1970 đã phát triển một số nông trường quốc doanh về cà phê ở

các tỉnh phía Bắc Đặc biệt ở trong khoảng thời gian này thì vào năm 1964-1967

chúng ta có được diện tích trồng cà phê lớn nhất là 13.000 ha

Sau 1975, cây cà phê ở Việt Nam mới thực sự được phát triển mạnh tại

các tỉnh Tây nguyên Ngành cà phê nước ta từ đó đã có những bước phát triển

nhanh vượt bậc Chỉ trong vòng 15-20 năm trở lại đây chúng ta đã đưa sản lượng

cà phê cả nước tăng lên hàng trăm lần Đến nay ngành cà phê Việt Nam có

khoảng 500.000 ha diện tích trồng cà phê với sản lượng hàng năm trên 80 vạn

tấn đưa Việt Nam thành nước xuất khẩu cà phê nhân lớn thứ hai thế giới

Ngành cà phê Việt Nam hiện nay đã có Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam

với tên viết tắt là Vicofa với 78 thành viên Trong đó Tổng công ty cà phê Việt

Nam (VinaCafe) là thành viên lớn nhất hiệp hội và cũng như của ngành cà phê

Việt Nam hiện nay

Trang 38

Toàn ngành cà phê Việt Nam hiện nay có khoảng gần 200 đơn vị tham

gia xuất khẩu cà phê trong đó có 78 đơn vị là thành viên của Vicofa Mỗi năm

toàn ngành cà phê xuất khẩu khoảng 700 nghìn tấn cà phê nhân với giá trị

khoảng 400 – 600 triệu USD và thu hút bình quân 600.000 lao động mỗi năm

• Ngành cà phê chế biến của Việt Nam

Ngoài việc cần nâng cao chất lượng cà phê hạt xuất khẩu để có mức giá

xuất khẩu tốt hơn thì nhu cầu đặt ra đối với nước ta hiện nay là phát triển cà phê

chế biến bởi nó vừa có thể gia tăng giá trị xuất khẩu của cà phê Việt Nam, vừa

có thể giảm bớt sự phụ thuộc của ngành cà phê Việt Nam vào các nhà kinh

doanh, sản xuất nước ngoài

Tuy nhiên ở thời điểm hiện tại, ngành cà phê chế biến sâu của Việt Nam

vẫn chỉ phát triển ở một mức độ nhất định nên chưa phát huy được hết lợi thế

của mình Có thể nói ngành cà phê chế biến của Việt Nam vẫn còn khá khá non

trẻ, tính đến trước thời điểm tháng 11 năm 2005, có ba đơn vị sản xuất cà phê

hòa tan với tổng công suất 2200 tấn/năm Trong đó, Vinacafé: 1000 tấn/năm

đang chạy hết công suất, Nescafé: 1000 tấn/năm, Trung Nguyên: 200 tấn/năm

chưa đưa vào sử dụng

Đến ngày 2/11/2005, Công ty cà phê Trung Nguyên đã đưa vào hoạt động

Nhà máy cà phê hòa tan G7 tại Khu công nghiệp Tân Đông Hiệp A, tỉnh Bình

Dương (Nhà máy có diện tích 3 ha, công suất 3.000 tấn cà phê hòa tan/năm, tổng

vốn đầu tư trên 10 triệu USD) và đến năm 2007, VinaCafe cũng sở hữu cho

mình một nhà máy cà phê hoà tan 20 triệu USD, với công suất 3.000 tấn/năm

Giữa tháng 10/2008, công ty cà phê Trung Nguyên đã xây dựng một nhà

máy chế biến cà phê ở Ðak Lak có công suất 1.500 tấn mỗi năm Theo dự kiến,

Trang 39

Trung Nguyên đầu tư 8 triệu đô la Mỹ để sản xuất cà phê hoà tan và sẽ hoàn

thành vào cuối năm tới

Ngoài việc tập trung khai thác thị trường trong nước, mỗi năm các doanh

nghiệp còn xuất khẩu từ 500 - 600 tấn cà phê hoà tan với kim ngạch 1,5 - 2 triệu

đô la Mỹ

2.1.2 Các loại cà phê chế biến của Việt Nam

Trước khi nói về cà phê chế biến chúng ta cũng cần hiểu qua về một số

loại cây cà phê được trồng chủ yếu ở Việt Nam Bởi đó là những nguyên liệu đầu

vào cho quá trình chế biến sau này, chính từ nó mà người ta sản xuất chế biến ra

những loại đồ uống mang hương vị riêng, cũng như pha trộn nó để tạo ra được

cảm giác mới lạ trong việc thưởng thức cà phê cho người tiêu dùng

• Một số loại cà phê nhân cơ bản

Cà phê nhân nguyên chất có rất nhiều loại khác nhau Theo thống kê, trên

thế giới hiện nay có khoảng 70 loại cà phê nhân đang được trồng và xuất khẩu

Trong đó phổ biến nhất về diện tích trồng cũng như vai trò quan trọng trên thị

trường cà phê thế giới có 1 số loại sau:

- Rubusta (cà phê vối): Đây cũng là loại được trồng chủ yếu ở Việt Nam

(chiếm 65% tổng diện tích trồng ở Việt Nam) do phù hợp với điều kiện thời tiết,

khí hậu cũng như đất đỏ bazan ở Tây Nguyên Trồng loại này đơn giản, chi phí

ít, thường sau một năm đã cho quả thu hoạch với năng suất cao Hằng năm đạt

90-95% tổng sản lượng cà phê của Việt Nam

- Arabica (cà phê chè) với 2 loại là Moka và Catimor Ở Việt Nam thì Moka

ít được trồng do cho sản lượng thấp mà giá xuất lại cao còn Catimor thì trái chín

Trang 40

vào mùa mưa, đòi hỏi trồng không tập trung khiến chi phí cao do đó cũng không

được trồng nhiều ở Việt Nam Tuy nhiên cà phê Arabica lại là loại được thế giới

ưu chuộng nhất (70-80% nhu cầu thế giới)

- Cheri (cà phê mít): Việt Nam cũng có trồng nhưng loại này ít phổ biến

hơn do vị rất chua nên không được thế giới không ưu chuộng

Cà phê quả tươi sau khi thu hoạch qua quá trình sơ chế sẽ cho ta cà phê

nhân Từ cà phê nhân qua quá trình chế biến công nghiệp sẽ cho ta các sản phẩm

tinh chế như là cà phê rang xay pha phin (cà phê bột) hay các sản phẩm cà phê

hoà tan, cà phê sữa Các sản phẩm tinh chế này được đóng gói nhãn mác bao bì

và qua các kênh phân phối được đem ra thị trường bán cho người tiêu dùng, là

nhũng người mua cuối cùng

• Các loại cà phê chế biến của Việt Nam

Ở Việt Nam, thị trường cà phê chế biến hiện nay được chia thành hai phân

khúc rõ ràng: cà phê rang xay (cà phê bột hay cà phê phin) chiếm khoảng 2/3 sản

lượng cà phê được tiêu thụ và cà phê hoà tan chiếm 1/3

Và trong số các loại cà phê hòa tan đang cạnh tranh trên thị trường thì cà

phê hòa tan nguyên chất chỉ chiếm 14%, còn lại 86% là cà phê hòa tan 3 trong 1,

người dân gọi là cà phê sữa (vì có bổ sung thêm đường và bột sữa) Nếu tất cả

công suất của các nhà máy cà phê hòa tan ở Việt Nam sử dụng để sản xuất cà

phê hòa tan 3 trong 1 thì tổng sản lượng sẽ là 23.000 tấn/năm

Cà phê bột pha phin kiểu truyền thống vốn có tiền lệ là không có nhiều

thay đổi trong thành phần chất lượng mà chủ yếu tìm kiếm sự mới lạ trong

phong cách trình bày bao bì sản phẩm Thế nhưng trong những năm gần đây, các

Ngày đăng: 04/12/2012, 09:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình sản xuất và kinh doanh Vinacafe Biên hòa - Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất và kinh doanh Vinacafe Biên hòa (Trang 43)
Bảng 2.2: Điều tra về mức độ quan tâm - Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ
Bảng 2.2 Điều tra về mức độ quan tâm (Trang 46)
Bảng 2.5:  Kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ - Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ
Bảng 2.5 Kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ (Trang 59)
Hình 2.1: Kim ngạch xuất khẩu cà phê hòa tan  của Việt Nam sang Hoa Kỳ - Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ
Hình 2.1 Kim ngạch xuất khẩu cà phê hòa tan của Việt Nam sang Hoa Kỳ (Trang 60)
Hình 2.2: Kim ngạch xuất khẩu cà phê bột của Việt Nam sang Hoa Kỳ - Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ
Hình 2.2 Kim ngạch xuất khẩu cà phê bột của Việt Nam sang Hoa Kỳ (Trang 61)
Hình 2.3: Kim ngạch xuất khẩu  cà phê Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ - Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ
Hình 2.3 Kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ (Trang 63)
Bảng 2.6: Cơ cấu các loại cà phê chế biến   của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ - Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ
Bảng 2.6 Cơ cấu các loại cà phê chế biến của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ (Trang 64)
Bảng 2.7: Mức tiêu thụ cà phê của Hoa Kỳ giai đoạn 2003-2007 - Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ
Bảng 2.7 Mức tiêu thụ cà phê của Hoa Kỳ giai đoạn 2003-2007 (Trang 67)
Bảng 2.11: Trồng và thu hoạch cà phê ở Việt Nam - Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ
Bảng 2.11 Trồng và thu hoạch cà phê ở Việt Nam (Trang 74)
Bảng 2.12: Giá một số loại cà phê uống liền ở Việt Nam - Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ
Bảng 2.12 Giá một số loại cà phê uống liền ở Việt Nam (Trang 74)
Bảng 2.13: Giá cà phê uống liền  Mulvadi Kona Gourmet của Hoa Kỳ - Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ
Bảng 2.13 Giá cà phê uống liền Mulvadi Kona Gourmet của Hoa Kỳ (Trang 75)
Hình 2.4: Sự đa dạng trong các sản phẩm của cà phê Trung nguyên Trung nguyên - Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ
Hình 2.4 Sự đa dạng trong các sản phẩm của cà phê Trung nguyên Trung nguyên (Trang 78)
Hình 2.5: Sự đa dạng trong các sản phẩm của Vinacafe Vinacafe - Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ
Hình 2.5 Sự đa dạng trong các sản phẩm của Vinacafe Vinacafe (Trang 79)
Bảng 3.2: Kim ngạch thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ  năm 2008-2009 - Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ
Bảng 3.2 Kim ngạch thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ năm 2008-2009 (Trang 97)
Bảng 3.3: Dự báo cơ cấu thị trường xuất khẩu cả năm  trong hai năm 2009 và 2010 - Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ
Bảng 3.3 Dự báo cơ cấu thị trường xuất khẩu cả năm trong hai năm 2009 và 2010 (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w