Luận văn Ý nghĩa cực cấp trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư khảo sát sự xuất hiện của các phương tiện diễn đạt YNCC trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư để thấy được sự xuất hiện của chúng như thế nào; phân tích đặc điểm của cách thức diễn đạt YNCC trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư để rút ra những đặc trưng cơ bản trong ccsh dùng của nhà văn... Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HÒ CHÍ MINH
Nguyễn Thanh Tuấn
Ý NGHĨA CỰC CÁP TRONG TÁC PHAM
CỦA NGUYÊN NGỌC TƯ
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HÒ CHÍ MINH
Nguyễn Thanh Tuấn
Y NGHIA CUC CAP TRONG TAC PHAM
CUA NGUYEN NGQC TU
Chuyên ngành _ : Ngôn ngữ học
Mã số : 60 22 02 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYÊN THỊ HAI Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 3
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bắt kì công trình nào khác
TP Hồ Chí Minh - 2015
Người thực hiện
Nguyễn Thanh Tuần
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Hai đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này, cảm ơn quý thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy và hỗ
trợ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Phòng Sau đại học, Thư viện, cùng các
phòng ban khác của trường Đại học Sư phạm TPHCM, những người đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và đồng nghiệp, bạn bè, những
người đã ủng hộ tôi rất nhiều khi tôi thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh — 2015
Người thực hiện
Nguyễn Thanh Tuần
Trang 5[x;y]: kí hiệu tài liệu x; trang y
Trang 6
ki HIEU TAC PHAM NGUYEN NGQC TU’
1 | Biển người mênh mông | Cánh đồng bắt tận CĐBT-BNMM
13 | Thương quá rau răm | Cánh đồng bất tận CĐBT-TQRR
18 | Củi mục trôi về Đảo D-CMTV
Trang 7
32 | Cái nhìn khắc khoải | Giao thira GT-CNKK
33 | Chuyện vui điện ảnh | Giao thừa GT-CVDA
miệt
42 | Người năm cũ Giao thừa GT-NNC
Trang 8
45 | Chuồn chuồn đạp nước | Gió lẻ GL-CCĐN
53 | Cảm giác trên dây Khói trời lộng lẫy KTLL-CGTD
Có con thuyền đã -
sg | Hiệu lâm nhỏ về g B edi lộng lẫy KTLL-HLN
của cô gái nhỏ
56 | Khoi trdi long lay Khói trời lộng lẫy KTLL-KTLL
58 | Nước như nước mắt _ | Khói trời lộng lẫy KTLL-NNNM
59 | Osho và bồ Khói trời lộng lẫy KTLL-OVS
60 | Rượu trắng Khói trời lộng lẫy KTLL-RT
62 | Thềm nắng sau lưng | Khói trời lộng lẫy KTLL-TNSL
63 | Cỏ xanh Ngọn đèn không tắt _ |NĐKT-CX
Trang 9
65 | Lý con sáo sang sông | Ngọn đèn không tắt | NDKT-LCSSS
66 | Nỗi buồn rất lạ Ngọn đèn không tắt _ |NĐKT-NBRL
Trang 11Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Quy ước trình bày
Danh mục các bảng,
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐỀN ĐÈ TÀI
1.1 Khái niệm cực cấp 13
1.2 Đặc điểm của các phương tiện cực cấp trong tiếng Việt 14 1.3 Đặc điểm phương ngữ Nam Bộ gắn với ý nghĩa cực cấp 19 Tiểu kết Chương I
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN THÊ HIỆN Ý NGHĨA CỰC CÁP TRONG TAC PHAM CUA NGUYEN
Trang 12Chương 3 ĐẶC ĐIÊM NGỮ NGHĨA CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN THÊ HIỆN Ý NGHĨA CỰC CÁP TRONG TAC PHAM CUA NGUYEN
3.3 Cách dùng từ ngữ theo nghĩa gốc và nghĩa chuyền 60 3.3.1 Cách dùng đúng theo nghĩa gốc và nghĩa chuyển trong tiếng toàn
dân và tiếng Nam Bộ 61
3.3.2 Cách dùng khác biệt của Nguyễn Ngọc Tư so với tiếng toàn dân
và tiếng Nam Bội 64
3.4 Cách dùng loạt đồng nghĩa để diễn đạt ý nghĩa cực cấp 68 3.4.1 Loạt đồng nghĩa của những ngữ có vị từ trung tâm giống nhau 69 3.4.2 Loạt đồng nghĩa của những ngữ có vị từ trung tâm khác nhau 78
Trang 131 Lí do chọn đề tài
Trong bối cảnh văn học Việt Nam thời đổi mới, Nguyễn Ngọc Tư tuy
mới xuất hiện ở những năm đầu của thế kỉ XXI nhưng đã tạo được dấu ấn
trong lòng độc giả và góp tiếng nói riêng vào nền văn học nước nhà Sinh ra
và lớn lên trên mảnh đất Cà Mau, mảnh đất tận cùng phía Nam của Tổ Quốc,
Nguyễn Ngọc Tư đã mang những đặc trưng của Nam Bộ vào văn chương, từ
phong tục tập quán đến việc sử dụng ngôn ngữ Đọc tác phẩm của Nguyễn
Ngọc Tư, độc giả không chỉ bị lôi cuốn bởi cái duyên kể chuyện, bởi những nhân vật sống động, gần gũi mà còn cảm nhận được đặc trưng của một vùng,
đất Một trong những điều làm nên nét riêng ấy chính là ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ mà Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng nhuần nhuyễn Khi tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ trong tác phâm của Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta sẽ tìm thấy
những nét độc đáo của nhà văn trong quá trình vận dụng từ ngữ địa phương
vào sáng tạo nghệ thuật Điểm qua các sáng tác của nhà văn, chúng tôi thấy
hiện lên vấn đề thú vị về cách diễn đạt ý nghĩa cực cấp (YNCC), một vấn đề
đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu gần đây nhưng chưa
được khai thác triệt để Chính vì thế, chúng tôi đã chọn đề tài Ý nghĩa cực cắp
trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Từ với hì vọng làm rõ hơn về những đặc
trưng trong cách diễn đạt YNCC của nhà văn nói riêng và trong ngôn ngữ của người dân Nam Bộ nói chung
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
a Ý nghĩa cực cấp trong tiếng Việt 'Về ý nghĩa “cực cấp” trong tiếng Việt từ lâu được các nhà ngôn ngữ học trong nước và nước ngoài lưu tâm theo hai hướng tiếp cận: (1) tiếng Việt có các phương tiện thể hiện ý nghĩa “cực cấp” (theo hướng này các tác giả xác
Trang 14định tiếng Việt có các phương tiện thể hiện ý nghĩa cực cấp, nhưng chỉ liệt kê
và phân chúng ra làm hai loại: cực cấp tương đối và cực cấp tuyệt đối như các ngôn ngữ Ấn Âu) Theo hướng này, có các tác giả: Trương Vĩnh Ký, Trần
Trọng Kim, Léopold Cadière, L.C Thompson, V.S Panfilov, Hồ Lê, Nguyễn Văn Tu, Đái Xuân Ninh, Lê Cận, Phan Thiều, Diệp Quang Ban, Hoàng
Văn Thung, và (2) tiếng Việt có các hình thức thể hiện ý nghĩa mức độ cao (theo hướng này các tác giả không xem tiếng Việt có các phương tiện thể hiện
ý nghĩa cực cấp hay ít ra là không bàn về vấn đề này Các tác giả cho rằng
những biểu thức như đẹp nhát, xấu nhất, tốt nhất, chỉ là so sánh tuyệt đối hoặc những biểu thức như cực/ cực kì đẹp, cao tột cùng, xấu vô cùng, biểu
hiện ý nghĩa nhấn mạnh Còn những biểu thức khác như: a) ngữ đoạn đen
thui, bạc phếch, xa tít, ; b) ngữ láy khít khit, sát sat, sạch sành sanh, ; e) thành ngữ so sánh đẹp như tiên, chậm như rùa, đen như củ súng, ; d) ngữ đoạn mang tính thành ngữ tiếc/thương đứt ruột, đau xé lòng, các tác giả cho
rằng chúng chỉ có ý nhấn mạnh và sắc thái hoá Đây chính là quan điểm của
các tác giả Phan Khôi, Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê, Lê Văn Lý, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Than, Ci Dinh Tú, Hoàng Văn Hành, Đào Thản, [12, tr.16]
Kế thừa những thành quả nghiên cứu kể trên, tác giả Phạm Hùng Dũng
đã nghiên cứu và công bố các công trình liên quan đến ý nghĩa “cực cấp” như:
-_ Phạm Hùng Dũng (2009), Ý nghĩa cực cấp trong các biểu thức láy
Tap chi Khoa hoc DHSP TPHCM, số 17/2009
- Pham Hing Ding (2010), Ý nghĩa cực cấp trong tiếng Việt và tiếng, Anh Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, số 9/2010
- Pham Hing Ding (2011), Ý nghĩa cực cấp trong thành ngữ tiếng
'Việt và tiếng Anh Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 9/2011
Trang 15- Pham Hing Ding (2011), Phép ân dụ biểu hiện ý nghĩa “cực cấp” trong tiếng Việt Tạp chí Ngôn ngữ, số 12/2011
Đặc biệt, vào năm 2013, với luận án Tiến sĩ Các phương tiện thể hiện ý
nghĩa cực cấp trong tiếng Liệt (có so sánh tiếng Anh), tác giả Phạm Hùng Dũng đã làm rõ đặc điểm của các phương tiện thể hiện ý nghĩa cực cấp trong tiếng Việt thông qua việc phân tích các ngữ liệu tiếng Việt cũng như đối chiếu với cách diễn đạt ý nghĩa cực cấp trong tiếng Anh Từ quá trình tổng kết các công trình nghiên cức trước đây về vấn đề cực cấp, tác giả luận án đã đi đến nhận định: ¥ nghia “cực cấp” là một phạm trù phổ quát, tức ngôn ngữ nào
cũng có phương tiện thể hiện “Cực cấp” thường được phân ra hai loại “cực
cấp tương đổi " và “cực cấp tuyệt đối ” [12, tr208] Tập hợp nhiều nguồn cứ liệu và bằng phương pháp nghiên cứu miêu tả, thống kê, đối chiếu tác giả đã
hệ thống hóa các phương tiên CC trong tiếng Việt và làm rõ tính chất phong phú và những khác biệt tỉnh tế về ý nghĩa của chúng Cụ thể, tác giả rút ra
nhận xét: Khác với những ngôn ngữ biến hình có PTCC được ngữ pháp hóa,
trong tiếng Việt, là ngôn ngữ đơn lập không biến hình, ý nghĩa “cực cấp "chỉ được đánh dấu bằng phương tiện từ vựng, thường được sử dụng nhiều trong:
khẩu ngữ, ngôn ngữ văn chương, báo chí và quảng cáo [12, tr.208] Xét trên
bình diện cấu trúc, tác giả chứng minh các phương tiện CC trong tiếng Việt có
hình thức cấu trúc khác nhau: có ?hể là từ, ngữ đoạn hoặc thành ngữ (một loại
ngữ đoạn đặc biệt) Trừ PTCC là vị từ trạng thái cực cắp, các PTCC còn lại,
dù với hình thức nào, cầu trúc của chúng thường có hai về có quan hệ chặt
chẽ với nhau: về thứ nhất là vị từ trạng thái thang độ chỉ tính chất, trạng thái
của SI/ HT; về thứ hai biểu hiện ý nghĩa “cực cáp” có chức năng bồ nghĩa
cho về thứ nhất Về thứ hai rất đa dạng về hình thức cấu tạo, có thể Ì
trạng thái cực cấp với hình thức ràng buộc tương đối/ tuyệt đối; láy vị từ trạng thái thang độ; ngữ láy; từ/ ngữ đoạn chỉ mức độ “cực cáp” [12, tr.208-
Trang 16209] Xét ở bình diện tri nhận, tác giả khẳng định: các phương tiện cực cấp có
khả năng phản ánh khác nhau [ ] Ý nghĩa trí nhận và thái độ khác nhau là
do các vị từ trạng thái cực cấp và các từ chỉ mức độ cực cấp biểu hiện, đồng thời qua đó chúng biểu hiện sự tri nhận tỉnh tế tính chất, trang thai SV/HT
của chủ thể phát ngôn Nghĩa là ý nghĩa “cực cắp” trong tiếng Liệt chỉ có thể
được đánh dấu bằng phương tiện từ vựng [12, tr.209] Tóm lại, luận án đã
góp phần giải quyết một số vấn đề về lí luận và thực tiễn, nhất là trong lĩnh
vực dạy và học ngôn ngữ Luận án đã hệ thống hóa và khảo sát các phương
tiện CC trong tiếng Việt và phân tích đặc điểm cấu tạo và ý nghĩa của chúng
Qua đó luận án làm rõ một số khía cạnh về đặc điểm loại hình của tiếng Việt, cũng như đặc điểm tri nhận của người Việt thể hiện qua cách dùng các phương tiện hữu quan Đặc biệt, bằng việc đối chiếu với tiếng Anh, tác giả đã
cho ta một bức tranh đầy đủ về những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn
ngữ trong cách diễn đạt ý nghĩa cực cấp Nhìn chung, luận án đã mang lại cho
người đọc một cái nhìn toàn diện và sâu sắc về các phương tiện thể hiện ý
nghĩa cực cấp trong tiếng Việt
Qua luận án của Phạm Hùng Dũng và các công trình nghiên cứu trước
đó, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu về YNCC chỉ được xét trên diện rộng
của ngôn ngữ toàn dân chứ chưa được xét ở từng phương ngữ đề thấy được những nét đặc trưng riêng biệt khi vận dụng vào từng vùng miền cụ thể
b Ý nghĩa cực cấp trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư
Trong vài năm trở lại đây, việc nghiên cứu truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư ở góc độ Ngôn ngữ học đã được quan tâm và khai thác Tuy nhiên,
vấn đề về cách diễn đạt YNCC chỉ được đề cập sơ lược nhằm làm rõ cho một
số luận điểm có liên quan đến đặc điểm ngôn ngữ của Nguyễn Ngọc Tư Theo khảo sát, vấn đề này đã được đề cập ở các công trình nghiên cứu sau:
Trang 17Nguyễn Thành Ngọc Bảo (2008), trong luận văn thạc sĩ Đặc điểm
truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Ti, đã đề cập đến các từ ngữ diễn tả VNCC
“Tác giả cho rằng đặc sắc nhất trong việc sử dụng từ ngữ của Nguyễn Ngọc Tư
những từ ngữ diễn tả trạng thái và mức độ của tình cảm trong những trường đoạn độc thoại nội tâm của nhân vật Trong những từ được tác giả trích dẫn
có sự xuất hiện của các từ ngữ thể hiện YNCC như: bằn bặt, buôn hiu, lang xet, trớt he Bàn về việc sử dụng những từ này, tác giả khẳng định: Tính rừ chỉ
mức độ, trạng thái tình cảm của các nhân vật cũng như tính chất của sự vật
hiện tượng, theo chúng tôi, là một đóng góp xuất sắc và có giá trị của Nguyễn Ngọc Từ, góp phân phổ biến ngôn ngữ Nam Bộ ra khỏi “văn giới ” phía Nam, cũng như là nguôn tư liệu nghiên cứu phong phú cho các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ Nam Bộ [2, tr.107] Như vậy mặc dù tác giả trên có đề cập đến
phương tiện thể hiện YNCC trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư nhưng
không xác định các từ ngữ ấy là phương tiện thể hiện YNCC ma chỉ gọi là
tính từ chỉ mức độ và trạng thái Đồng thời, tác giả cũng không khai thác sâu
mà chỉ liệt kê các phương tiện CC để phục vụ cho việc làm rõ đặc điểm ngôn
ngữ truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
Dương Thanh Bình (2009), trong bài viết Tìm hiểu ngôn ngữ truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Từ, đăng trên tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, đã khai
thác đặc điểm ngôn ngữ của Nguyễn Ngọc Tư trên các bình diện ngữ âm, từ
vựng và cú pháp Tác giả nhấn mạnh cách sử dụng từ ngữ giàu màu sắc địa phương của Nguyễn Ngọc Tư, trong đó có đề cập đến cách dùng từ ngữ liên quan đến YNCC nhưng tác giả chỉ xác định đây là những từ khẩu ngữ chứ chưa khẳng định chúng là phương tiện thể hiện YNCC: phân lớn từ khẩu ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Từ bao gồm một từ gốc kết hợp với các yếu
16 khác, như: lạnh trơ, dễ ợt, chết điếng, chết ngắc, gọn hơ, sướng ran,[ ] Những từ khẩu ngữ (dạng thêm yếu tố vào từ gốc) này mang tính chất biểu
Trang 18cảm rất cao, thể hiện được đa dạng những cung bậc tình cảm, sắc thái đối với
sự vật, sự việc, hiện tượng, con người [3, tr.26]
Trần Trọng Bình (2010), trong bài viết Đặc /zng ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Từ trên trang web http://www.viet-studies.info, đã khẳng, định Nguyễn Ngọc Tư có khả năng vận dụng một cách sáng tạo nhằm biến
ngôn ngữ đời thường của người bình dân thành ngôn ngữ văn học rất độc đáo
Để làm sáng tỏ nhận định này, tác giả đã đưa ra những dẫn chứng để thuyết phục: Để điển tả nỗi buôn, Nguyễn Ngọc Từ có những cách nói rất “bình dân” như: “buôn ác chiến”; ( Nhờ giữa hai bài hát có mục nhắn tìm con
buôn ác chiến — Cải ơi); “buỗn vô địch cấp huyện ” (Máy chuyện này may mà Xuyến giấu trong lòng, phải kể ra là buôn vô địch cấp huyện chứ sá gì cái mũi So Le nhỏ nhoi này - Duyên phận So Le); “buôn như sắp đâm đầu xuống sông mà chết” (Dưới ghe ngó lên, mặt người phụ nữ buôn so, buồn như sắp đâm đâu xuống sông mà chết — Cái nhìn khắc khoải), buôn chao chát trong lòng (Tự dưng tôi nghe nỗi buôn chao chát trong lòng - Một mới tình [ ] Ngoài ra, người đọc còn bắt gặp rất nhiều những cách nói rất ngộ nghĩnh và
bắt ngờ khác như: “già câng, già cắc”, “già cóc thùng thiết, “dep dit din”,
“rau thúi ruột”, “lạnh teo dai”, “ngôi vễnh phau câu ”, “tính tình hịch hạc ”,
“cả đám cà xình, cà xang ", “ngày trăm lượt chèo nát mặt sông ”, “lội tới lội
lui thiếu điều sạt bờ dừa nhà ông già vợ”, Trong những từ ngữ được dẫn
ra, có một số từ ngữ không phải là phương tiện CC như: cá đám cà xình, cà
xang; tính tình hịch hạc Đồng thời, tác giả gọi chung tắt cả những từ ngữ đã
nêu là cách nói bình dân Như vậy, trong phạm vi một bài báo, tác giả bài viết
chỉ nêu lên những từ ngữ ấy để làm rõ cho luận điểm về cách dùng từ độc
đáo, sáng tạo của nhà văn chứ không phân tích và xác định đây là những
phương tiện thể hiện YNCC Tuy nhiên, một điểm nỗi bật trong phần này là tác giả đã đề cập đến các thành ngữ già cóc thùng thiết, già câng già cắc, các
Trang 19quán ngữ đẹp dữ dần, rằu thúi ruột hay phép so sánh buôn như sắp đâm đầu xuống sông mà chết mà luận văn xác định là phương tiện CC Đây chính là
những ngữ liệu mang tính gợi mở cho luận văn
Nguyễn Thị Như Thao (2011), trong luận văn thạc sĩ Đặc điểm cách sử
dụng từ ngữ trong truyện ngắn và tạp văn của Nguyễn Ngọc Từ đã khảo sát, thống kê và trình bày vấn đề YNCC Trong mục 2.3 Cách sử dụng từ ngữ biểu đạt ý nghĩa cực cấp của luận văn, tác giả đã đưa ra ba điều mới trong
cach str dung tinh (ừ trạng thái của Nguyễn Ngọc Tư: Thứ nhất khi sử dụng
tính từ trạng thái đa số tác giả sử dụng những cụm từ gồm hai âm tiết [ ]
thống kê của chúng tôi thì có trên 475 lần Nguyễn Ngọc Từ sử
dụng các cụm từ này và dường như câu nào cũng sử dụng (sự vật sự việc +
đặc điểm của sự vật sự việc đó), như: nhát hít, nhẹ hẻu, nhỏ rúm,[ ] [54,
tr76]; “Thứ hai tần số sử dụng các tính từ trạng thái này cao và số lượng từ ngữ rất phong phú, cùng một tính chất trạng thái nhưng có rất nhiều mức độ
khác nhau — đây là một điêi
vị từ vựng biểu thị ý nghĩa cực cắp như: chí, chúa, cực, đại, tối, tuyệt, siêu
Có chăng Nguyễn Ngọc Từ hay sử dụng từ “cực kì”, “thiệt” và kết hợp với một từ nào đó mà tác giả muốn tăng cường nhắn mạnh [54, tr80]° Đồng
thời, tác giả nhận định: Điều đặc biệt trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Từ là
“Hình thức thể hiện ý nghĩa cực cấp bằng ngữ đoạn” [54, tr.76] Như vậy,
luận văn này đã xác định những từ ngữ nêu trên là phương tiện thể hiện YNCC Tuy nhiên, với khoảng 5 trang luận văn, tác giả chỉ dừng lại ở việc
thống kê và chỉ đưa ra những đặc điểm khái quát trên bình diện cấu trúc
Qua việc phân tích những bài viết và công trình nghiên cứu có liên quan
đến đề tài, chúng tôi nhận thấy vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu riêng biệt và chỉ tiết về phương tiện CC trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư
Trang 20hay nói cách khác đề tài này vẫn còn bỏ ngỏ Trên cơ sở kế thừa những thành
quả nghiên cứu trước đây, luận văn đặt ra mục tiêu tìm hiểu, phân tích đầy đủ
và toàn điện hơn về cách diễn đạt YNCC trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc
Tư,
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài Ý nghĩa cực cấp trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Từ, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của mình là các phương tiện thể hiện ý nghĩa cực cấp trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư Theo đó chúng tôi giới
hạn phạm vi khảo sát là các truyện ngắn của nhà văn đã được xuất bản, cụ thể
là các tác phẩm nằm trong 7 tập truyện ngắn sau: Cánh đông bắt tận, Đảo,
Giao thừa, Gió lẻ và 9 câu chuyện khác, Khói trời lộng lẫy, Ngọn đèn không
tắt, Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
4 Mục đích nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi xác định các mục đích sau:
Khảo sát sự xuất hiện của các phương tiện diễn đạt YNCC trong tác
phẩm của Nguyễn Ngọc Tư đề thấy được sự xuất hiện của chúng như thé nao
Phân tích đặc điểm của cách thức diễn đạt YNCC trong tác phẩm của
Nguyễn Ngọc Tư để rút ra những đặc trưng cơ bản trong cách dùng của nhà
văn Từ đó, luận văn góp phần làm rõ thêm đặc điểm ngôn ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư cũng như đặc điểm của cach dién dat YNCC trong
phương ngữ Nam Bộ
5 Nguồn ngữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng trực tiếp 74 truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư trong 7 tập truyện, cụ thể như sau:
Tập truyện Đáo gồm 17 tác phẩm: Áo đỏ bắt đèn, Bang quo khói nắng,
Biến mắt ở thư viện, Coi tay vào sáng mưa, Củi mục trôi về, Chụp ảnh gia
Trang 21đình, Đánh mắt cô đâu, Đảo, Đi bụi, Đường về Xéo Dang, Luu Lac, Mia mat
rụng, Mưa qua trảng gió, Sổ lông, Tro tàn rực rỡ, Vị của lời câm, Xác bụi Tập truyện Cánh đông bắt tận gồm 13 tác phẩm: Biển người mênh mông, Cải ơi, Cánh đẳng bắt tận, Cuối mùa nhan sắc, Dòng nhớ, Duyên phận so le, Hìu hiu gió bắc, Huệ lấy chông, Mối tình năm cũ, Một trái tim khô, Nhà cổ,
Nhớ sông, Thương quá rau răm
Tập truyện Giao :hừa gồm 12 tác phẩm: Bởi yêu thương, Cái nhìn khắc
khoải, Chuyện vui điện ảnh, Đời như ý, Giao thừa, Làm má đâu có dễ, Làm
mẹ, Một dòng xuôi mái miết, Một mối tình, Ngày đã qua, Ngày đùa, Người
năm cũ
Tập truyện Gió /¿ gồm 10 tác phẩm: Au tho tuoi dep, Của ngày đã mắt,
Chuôn chuôn đạp nước, Gió lẻ, Một chuyện hẹn hò, Núi lở, Sâu trên đỉnh
Puvan, Tinh tham, Tho Sau, Vét chim trời
Tập truyện Khói trời lộng lẫy gồm 10 tác phẩm: Cảm giác trên dây, Có con thuyên đã buông bờ, Hiểu lầm nhỏ về gia tài của cô gái nhỏ, Khói trời lộng lẫy, Mộ gió, Nước như nước mắt, Osho và bổ, Rượu trắng, Tình lơ, Thềm nắng sau lưng
Tập truyện Ngọn đèn không tắt gồm 6 tác phẩm: Cỏ xanh, Chuyện của Điệp, Lý con sáo sang sông, Nổi buôn rất lạ, Ngọn đèn không tắt, Ngôn
Thu thập ngữ liệu: chúng tôi tiến hành thu thập ngữ liệu từ các tác
phẩm truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư để làm cơ sở cho việc phân
tích.
Trang 22Thống kê ngữ liệu: phương pháp thống kê được chúng tôi sử dụng để thống kê tất cả các yếu tố cực cấp trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Từ
Sở sánh: sau khi thu thập và phân tích ngữ liệu, chúng tôi đưa ra những
nhận định đánh giá đồng thời có sự so sánh kết quả thu được với nhau nhằm làm bật lên các luận điểm của đề tài
Phân tích ngôn ngữ: phân tích ngữ liệu từ góc độ phân tích cú pháp,
ngữ nghĩa
Trong suốt quá trình nghiên cứu, giải quyết những vấn đề mà luận văn
đề ra, các phương pháp trên đây không phải thực hiện riêng lẻ, biệt lập mà
phối hợp với nhau
6 Những đóng góp của luận văn
Khi chọn đề tài này, luận văn hy vọng sẽ đóng góp:
'Về phương diện lý luận, chúng tôi mong muốn được góp thêm cái nhìn
cụ thể về YNCC cũng như góp phần làm rõ hơn về đặc điểm ngôn ngữ của
Nguyễn Ngọc Tư và đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ
Về phương diện thực tiễn, chúng tôi mong muốn có những đóng góp thiết thực cho các nhà nghiên cứu về phương tiện thể hiện YNCC cũng như cung cấp dữ liệu cho việc biên soạn từ điền phương ngữ Nam Bộ nói riêng và
từ điển tiếng Việt nói chung Ngoài ra, luận văn cũng có thể làm tài liệu tham
khảo mang tính liên ngành: Ngôn ngữ học — Xã hội học, Ngôn ngữ học ~ Văn
Trang 23học cũng như làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy Từ vựng học và Phương ngữ học
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài
Ở chương này, chúng tôi trình bày những lí thuyết liên quan đến đề tài
với các nội dung chính sau:
Trình bày khái niệm về cực cấp và xác định nội hàm khái niệm cực cấp
được sử dụng trong luận văn
Nêu đặc điểm của các phương tiện thể hiện ý nghĩa cực cấp trong tiếng
rõ các mô hình cầu trúc sau:
Phương tiện cực cấp thuộc đơn vị từ vựng: từ và ngữ
Phương tiện cực cấp là biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ, ngoa dụ, điệp
ngữ, phụ chú ngữ
Phương tiện cực cấp là cấu trúc cú pháp
Tiểu kết Chương 2
Trang 24Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của các phương tiện thể hiện ý nghĩa cực cấp trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư
Luận văn sẽ phân tích đặc trưng ngữ nghĩa của các phương tiện thể hiện
YNCC trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư Cụ thể luận văn sẽ triển khai
các nội dung sau:
Cách dùng từ ngữ theo nghĩa gốc
Cách dùng từ ngữ theo nghĩa chuyền
Cách dùng từ ngữ theo nghĩa gốc lẫn nghĩa chuyển
Cách dùng loạt đồng nghĩa đẻ diễn đạt ý nghĩa cực cấp
Tiểu kết Chương 3.
Trang 25CƠ SỞ LÍ LUẬN LIEN QUAN DEN DE TAI
1.1 Khái niệm cực cấp
Mỗi sự vật, hiện tượng đều mang tính chất, trạng thái Trong đó có
những tính chất, trạng thái là bình thường, phổ biến nhưng có những tính
chất, trạng thái vượt quá ngưỡng bình thường, đạt đến mức cực cấp Cực cấp
(CC) trong tiếng Anh gọi là superlative (gốc tiếng Latin 1a superlatis) c6
nghĩa là vượt hơn mọi thứ, thuộc mức độ cao nhất Theo Edward Sapir, có sự
khu biệt cực cấp trong so sánh với cực cắp trong thang độ Cực cấp trong so sánh được xác lập trong một tập hợp các sự vật, hiện tượng (từ ba sự vật, hiện
tượng trở lên) có cùng tính chị
, trang thái theo một phạm trù, trong đó tính
chất, trạng thái của sự vật, hiện tượng đang xét có mức độ về tính chất, trạng
thái cao hơn hẳn so với các sự vật, hiện tượng còn lại trong tập hợp đó Đây là
loại cực cấp tương đối (relative superlative), một loại CC có giới hạn Còn cực cấp trong thang độ là tính chất, trạng thái của một sự vật, hiện tượng đang xét được xác định có mức độ vượt hơn tính chất, trạng thái của tất cả
những sự vật, hiện tượng khác có tính chất, trạng thái cùng phạm trù Đây là
loại cực cáp tuyệt đói (absolute superlative) [73, tr.145 — 146]
Do tính chất so sánh có điều kiện, hình thức diễn đạt CC tương đối khá đơn giản và dễ dàng nhận diện, trong khi đó CC tuyệt đối biểu thị tính chất,
trạng thái của sự vật, hiện tượng ở mức độ tột cùng, tột đỉnh và có những biểu hiện phức tạp hơn nhiều nên trong luận văn, chúng tôi không nghiên cứu
những hình thức diễn đạt cực cấp tương đối mà chỉ tập trung vào những hình thức diễn đạt cực cấp tuyệt đối trong tiếng Việt nói chung và trong ngôn ngữ
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nói riêng Đồng thời, luận văn cũng đồng tình với quan niệm của tác giả Phạm Hùng Dũng về vấn đề này: “Ý nghĩa cực
Trang 26cấp là ý nghĩa gắn với mức độ tột cùng, tột đỉnh của tính chất, trạng thái của
sự vật, hiện tượng” [12, tr.24 -25]
1.2 Đặc điểm của các phương tiện cực cấp trong tiếng Việt
Khác với những ngôn ngữ biến hình, các phương tiện thể hiện YNCC trong tiếng Việt không được ngữ pháp hóa mà được đánh dấu bằng phương,
tiện từ vựng Theo các tài liệu đề cập đến vấn đề này, cụ thể là các tài liệu
[12], [20], [26], trong tiếng Việt có các phương tiện sau:
Trước hết các phương tiện CC có cấu tạo là từ Hiện nay, quan điểm từ
và kích thước từ của tiếng Việt trong giới Việt ngữ học vẫn chưa thống nhất Tiêu biểu là hai quan điểm: quan điểm thứ nhất nhập những từ đơn, từ ghép,
từ láy thành một phạm trù từ, đối lập với khái niệm cụm từ trong hệ thống đơn vị từ vựng; quan điểm thứ hai xác định trong tiếng Việt không có cái gọi
là từ láy, từ ghép mà chỉ có ngữ láy, ngữ ghép vì cho rằng từ láy, từ ghép có
cấu tạo giống như cụm từ [11, tr.89] Để thuận lợi cho quá trình nghiên cứu,
người viết đi theo quan điểm thứ hai vì quan điểm này phản ánh đúng đặc
trưng loại hình của từ trong tiếng Việt cũng như những ngôn ngữ đơn lập khác Đồng thời, chúng tôi cũng xác định “những đơn vị từ vựng có vỏ ngữ
âm trùng với âm tiết mới là từ của tiếng Việt tắt cả những đơn vị từ vựng có
chất liệu lớn hơn âm tiết đều là ngữ” [17, tr.6] Các từ thể hiện YNCC tôn tại
song song với những từ cùng chỉ về tính chất, trạng thái với nó ở mức độ
thông thường Khi miêu tả sự vật ở trạng thái hết mức để chứa, tiếng Việt có
từ đậy Ý nghĩa mức độ của từ đây là nhận định khái quát có so sánh với mức bình thường Thế nhưng, khi muốn diễn đạt tính chất này ở mức độ CC người Việt lại dùng vị từ ấp với ý nghĩa đẩy đến mức không còn chứa thêm vào được nữa [69, tr.15] Như vậy, ắp là một phương tiện thể hiện YNCC trong tiếng Việt Tương tự như thế, trong tiếng Việt có các từ chỉ YNCC như: ngái, quánh, tít, thắm, tru,
Trang 27Thứ hai, phương tiện CC có cấu tạo là ngữ ghép và ngữ láy, cụ thể: Ngữ ghép có chứa vị từ cực cấp: VT cực cấp giữ nhiệm vụ bổ nghĩa
mức độ CC cũng như thể hiện sắc thái biểu cảm Ngữ đoạn này được chia
thành hai dạng nhỏ Dạng có vị từ CC với hình thức ràng buộc không cố định
vị trí với VT thang độ cùng phạm trù trong chức năng bổ nghĩa để có phương, tiện biểu hiện YNCC là ngữ đoạn như: đây ắp - ấp đẩy; sâu thắm - thắm sâu;
nặng trầu - trïu nặng, Dạng này được gọi là vị từ cực cấp với hình thức
ràng buộc tương đối Còn vị từ CC chỉ có chức năng bổ nghĩa cho VT thang
độ tạo thành phương tiện biểu hiện YNCC là ngữ đoạn như: đỏ au, đó choé,
thẳng băng, được gọi là vị từ cực cấp với hình thức ràng buộc tuyệt đối Ngữ ghép có yếu tô láy: VT kết hợp với các ngữ láy để tạo thành ngữ
CC Ngữ láy có thể là láy đôi: đẩy ăm dp, cao ngân ngất, nặng trìu
triu, .hoac lay ba: bé téo téo teo, trắng non non non, mệt lử lừ lư,
Ngữ đoạn ghép hai ngữ đoạn CC: đây là loại ngữ đoạn ghép hai ngữ đoạn CC có cùng một phạm trù để tạo thành một ngữ đoạn CC cũng diễn đạt
mức độ cực cấp như hai ngữ đoạn cấu thành nhưng mang sắc thái nhắn mạnh
hon Mép ti mép được ghép lại từ hai ngữ CC máp dí và mập ủ Tuy nhiên,
vị trí của hai ngữ đoạn cấu thành này có thể hoán đổi cho nhau và tạo ra ngữ
ghép mắp ù mập ú Tương tự như thế, trong tiếng Việt có các ngữ CC như: già cần già côi — già cối già cần; thưa rinh thưa rằng — thưa rang thea rinh, tina ú nân — ú nẫn ú na,
Ngữ đoạn có từ chỉ mức độ CC: VT sẽ kết hợp với các từ chỉ mức độ
CC như chí, chúa, cực, đại, tối, tuyệt, siêu đễ tạo thành các ngữ CC Các từ
chỉ mức độ CC có thể đứng trước hoặc đứng sau VT: /uyệt đẹp — đẹp tuyệt tuyệt hay — hay tuyệt Tuy nhiên, không phải từ chỉ mức độ CC nào cũng có
thể xuất hiện cả hai vị trí Chẳng hạn những từ như chí, chúa, siêu chỉ đứng
trước VT: chí phải, chúa nhát, siêu nhanh
Trang 28Ngữ đoạn có yếu tố tình thái: VT kết hợp với các yếu tố tình thái như ơi
là, thiệt là, quá là, đễ tạo thành ngữ đoạn CC Trong ngữ đoạn này, VT
được lặp lại và yếu tố tình thái sẽ chen vào giữa hai tiếng như các ngữ đoạn sau: đẹp øï là đẹp, xấu £hiệt là xấu, hay quá là hay,
ANgữ láy: có thể chia các ngữ dạng này thành các nhóm: láy âm hoặc láy
vần không thể kết hợp với các từ chỉ mức độ: mênh mông, hun hút, lê thê ; láy hoàn toàn (có biến thanh) không theo quy tắc hài thanh: cón con, đứng
dung, khit khit, xốp xộp, cứng cừng cựng, héo hèo hẹo, khit khin khit, cén còn con, dửng dừng dưng,
Ngoài các ngữ trên, thành ngữ (idiom) cũng là phương tiện thể hiện
YNCC Nếu lấy sự xuất hiện của yếu tố so sánh, chúng ta có thể chia thành ngữ thành hai nhóm: thành ngữ có yếu tố so sánh và thành ngữ không có yếu
tố so sánh Thành ngữ có yếu tố so sánh biểu hiện YNCC có dang (A) như B:
nhanh như cắt, trắng như tuyết, khoẻ như trâu, Trong đó A là một vị từ chỉ đặc điểm tính chất, B là phần so sánh điển hình cho YNCC Tuy nhiên, nhiều
trường hợp về A có thể vắng mặt và được hiểu ngầm: ø hai giọt nước (với
ý nghĩa là rất giống), như nước với lửa (với ý nghĩa là đối lập), như ngi trên đồng lửa (với ý nghĩa là nóng lòng), Còn thành ngữ không có yếu tố so
sánh thê hiện YNCC có thể được cấu thành theo quy tắc đối xứng: mặt sứa
san lim, hết hôn hết vía, ghét cay ghét đắng, hay không quy tắc: không một tắc đất cắm dài, giàu nứt đồ đồ vách, hết đường tương chao,
Không những thế, các biện pháp tu từ cũng là một phương tiện thể hiện
YNCC Trong dé dn du (metaphor) va ngoa du (hyperbole) là hai biện pháp
thể hiện chủ yếu:
Theo lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, cấu trúc 4n du là mộ
thống ánh xạ giữa hai miền: nguồn (source) và đích (target) Trong tiếng Việt, những từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người thường được dùng làm nguồn trong
Trang 29các phương tiện biểu hiện YNCC Chẳng hạn như /ạnh cắt da cắt thịt, dau xé
thịt, dau đứt ruột, giận sôi gan, tức bể bụng, sợ tái mặt, ngượng chín người
là những phương tiện thê hiện ý nghĩa cực cấp có ẩn dụ hành động cđi, xé,
thắt hay ân dụ quá trình bể, chín, tái, sôi tác động đến các bộ phận cơ thé
gây ra trạng thái CC
'Ngoa dụ là một biện pháp dễ dàng tạo ra các phương tiện CC bởi tính
chất phóng đại mức độ, quy mô tính chất của sự vật, hiện tượng Trong tiếng
Việt, VT có thể kết hợp với các ngữ đoạn như muốn chết, thấy ông bà ông vải, ngút trời, không chịu nỗi, đễ tạo ra ngữ CC: đau muốn chết, buôn thấy ông bà ông vải, giận ngút trời, mệt không thể chịu nỗi,
Có thể khái quát các phương tiện thể hiện YNCC trong tiếng Việt qua bảng tóm tắt sau:
Trang 30Bảng 1.1 Bảng tóm tắt các phương tiện cực cấp trong tiếng Việt [12, Tr.111]
Ngữ láy biểu hiện ý nghĩa | [(e)'(Te)T]: | thủi thùi thui
cực cấp không xác định | [T(te)''(te)'(Te | Dầy ăn đầy ấp, đen thui
[TŒe)T(e)] |Bé tin hin, cao lêu hay nghêu, rộng mênh mông [T(e)T(Te]
[T42]
3/ ghép hai ngữ đoạn cực | [T(Tel)T(te2)] | Béo ních béo núc, chắc
cấp cùng phạm trù hay nich chic nui, xa tit xa
[T(c2)T(Te1)] | tắp, xa tắp xa tít
4/ Vị từ trạng thái thang |[T(de)] — hay -cực đẹp, cực kỳ
độ + từ chỉ mức độ cực | [(de)T] đẹp, đẹp cực kì, buồn
cấp kinh khủng
5/ Có yếu tô tình thái [T(Githiệt làyT | Ngon ơi/ thiệt là ngon,
đẹp ơi/ thiệt là dep 3/ 1/ Thành ngữ so sánh T như B Nóng như lửa, đẹp như
Thành Như B tiên, Như diều gặp gió
ngữ |2/ Thành ngữ không có Cứng đầu cúng cô, gan
pháp tu | trình, tính chấU trạng thái thấu xương, tiếc đứt ruột
từ có yếu tố cơ thể người
thường |2/Nói quá [Twa Cao ngất trời, buôn chết
dùng di được, rẻ bất ngờ
Trang 311.3 Đặc điểm phương ngữ Nam Bộ gắn với ý nghĩa cực cấp
Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học dé chỉ sự biểu hiện của
ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thê với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác |6, tr.29] Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau khi phân chia các vùng phương ngữ (dialect)
trong tiếng Việt Đề thuận lợi cho việc nghiên cứu, trong luận văn, chúng tôi
theo với quan điểm của Hoàng Thị Châu vì đây là quan điểm được đa số nhà
nghiên cứu đồng tình và phân chia phương ngữ thành ba vùng: phương ngữ Bắc (các tỉnh từ Ninh Bình trở ra), phương ngữ Trung (các tính từ Thanh Hóa
đến Hué), phương ngữ Nam (các tỉnh từ Đà Nẵng trở vào đến Cà Mau) [6,
tr.9] Từ thế kỉ XVII, xuất hiện tiếng Việt ở địa phương Nam Bộ - vùng địa lí
từ Đồng Nai, Sông Bé đến mũi Cà Mau Tiếng Việt ở vùng này được Nguyễn
Văn Ái, Trần Thị Ngọc Lang, Hồ Lê, Thạch Phương, Huỳnh Lứa, Nguyễn
Quang Vinh, Bùi Khánh Thế, gọi là phương ngữ Nam Bộ Như vậy, không gian địa lí của phương ngữ Nam Bộ được xác định hẹp hơn không gian địa lí của phương ngữ Nam Ranh giới phương ngữ Nam Bộ trùng với ranh giới địa 1í tự nhiên Nam Bộ Đây cũng là quan điểm trong việc xác định vùng phương
ngữ Nam Bộ của chúng tôi khi thực hiện đề tài có liên quan đến vấn đề này
Nhu Hoàng Thị Châu nhận xét: “Một phương ngữ được xác định bằng
một tập hợp những đặc trưng ở nhiều mặt: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng ngữ nghĩa đối lập với phương ngữ khác” [5, tr.90], bất kì một phương ngữ nào cũng đều có những nét đặc trưng về ngữ âm, từ vựng — ngữ nghĩa, ngữ pháp
so với các phương ngữ khác Để tạo tiền đề cho việc nghiên cứu, luận văn chỉ
khái quát những đặc điểm tiêu biểu có liên quan đến cách diễn đạt VNCC Theo đó, phương ngữ Nam Bộ có các đặc trưng sau:
Về ngữ âm, phương ngữ Nam Bộ chỉ có năm thanh: ngang, huyền, hỏi, sắc, nặng vì không phân biệt thanh hỏi và thanh ngã; âm đầu không có 3 phụ
Trang 32âm cong lưỡi /ø ⁄ /⁄⁄ ⁄/ và không có phụ âm môi răng ⁄+⁄ Về phần vần, âm
đệm /w/ hoặc bị lược bỏ (ñuyền -> liến) hoặc được nhấn mạnh thành âm chính
(loan -> lon); các nguyên âm đôi khi di voi -m/, ⁄-p/ cuối thì mắt yếu tố sau
(tiêm -> tim, lượm ~> lựm); và âm chính /ã/ trong van ay doc thanh ai (tay->
tai) Về âm cuối, người Nam Bộ phát âm không phân biệt /-z⁄, ⁄-/ (tan —
tang), /-// và /-k/ (tic — tắt)
Về từ vựng, xuất hiện nhiều những từ ngữ chỉ mức độ CC (kí hiệu AX,
trong đó A là vị từ, X là yếu tố làm tăng mức độ của A) Việc sử dụng những
từ ngữ này có đặc điểm sau:
Phương ngữ Nam Bộ sử dụng nhiều kết cấu AX hơn ngôn ngữ toàn
dân Với một yếu tố A, trong phương ngữ Nam Bộ có nhiều yếu tố X hơn Chẳng hạn, tính từ chỉ màu sắc đen, ngoài những từ có trong tiếng Việt phổ
thông, phương ngữ Nam Bộ còn có: đen lêm, đen mò, đen mù, đen hắc, đen
ham, den tray, den hin, den nhiền, Đây cũng chính là minh chứng phản ánh
một đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ giàu sắc thái về mức độ các thuộc tính
của sự vật
Phương ngữ Nam Bộ sử dụng nhiều yếu tố vốn có trong tiếng Việt phô thông làm yếu tố chỉ mức độ, trong khi tiếng Việt phô thông lại không dùng: ngay chò, giòm rụm, dịu nhiễu, rồi nùi,
Phương ngữ Nam Bộ còn sử dụng nhiều yếu tố riêng của tiếng địa
phương đề làm từ trỏ mức độ: chín rệu, nhọn lêu, nát bắn, mềm nhudt,
Phương ngữ Nam Bộ rất hay dùng ghép láy A-X-A-Y để nhấn mạnh
mức độ cao vì thế tạo thêm nhiều kết cấu trỏ mức độ: :hza rích thưa rác, rít
chit rit ching, khuya léc khuya lo,
Bên cạnh các quán ngữ sử dụng phổ biến trong ngôn ngữ toàn dân,
phương ngữ Nam Bộ còn hình thành các quán ngữ đặc thù, trong đó có các
quán ngữ diễn đạt mức độ cực cấp: quá cỡ thợ mộc, quá xá quà xa, tận cùng.
Trang 33bằng số, hết nước hết cái, mút chỉ cà tha, nưút mùa Lệ Thuỷ, tan nát đời cô Luu, tệ hơn vợ thằng Đậu,
Vé ngữ pháp, giữa ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ về cơ bản không
khác nhau nhiều như Hoàng Thị Châu nhận xét: “Khi việc miêu tả chi thu hep vào ngữ pháp mà thôi thì sự khác nhau giữa phương ngữ với ngôn ngữ toàn
dân thường không có gì quan trọng” [5, tr.21] Chính sự thống nhất về ngữ
pháp giữa các phương ngữ với nhau và với ngôn ngữ toàn dân nên tiếng Việt
mới đảm bảo được tính thống nhất trong toàn cộng đồng Tuy nhiên, nói
như vậy không phải giữa các phương ngữ không có đặc điểm khác nhau Phương ngữ Nam Bộ có hiện tượng rút gọn (rút gọn hai từ thành một từ bằng
cách dùng thanh hỏi để biến âm từ thứ nhất như kiểu /rong + dy -> trỏng, rút
gon tir phiém định và từ chỉ định đi kèm các từ chỉ lượng theo kiểu /ớn bao nhiêu -> bao lớn); hiện tượng dùng từ có để nêu sự tổn tại của sự vật như các
kết cầu không có/ đừng có/ chưa có + động từ; hiện tượng biến đổi thanh điệu
để tạo ra các từ mang ý nghĩa mới như mặn -> mắn (hơi mặn); và các kết cầu trỏ ý nghĩa tuyệt đối, một đặc trưng liên quan đến cách diễn dat YNCC
Phương ngữ Nam Bộ thường dùng cụm từ không hà đặt ở cuối câu để trỏ sự
khẳng định tuyệt đối Chang hạn như:
(1)Nó không học hành gì cả, chi đi chơi không hà
(2)Cây ớt ra trái nào chưa?
~ Chưa, chỉ có lá không hà
Cách diễn đạt này nhằm khẳng định mức độ tuyệt đối của sự việc: nó chi
đi chơi thôi, cây toàn là lá Từ không trong hai câu chẳng được dùng để phủ
định một từ nào rõ rệt cả Với ý nghĩa đó, cách dùng &»ông hả được coi là
một đặc điểm ngữ pháp.
Trang 34TIỂU KET CHƯƠNG 1
Trong chương này, chúng tôi đã trình bày một cách khái quát những vấn
đề cơ bản nhất làm tiền đề cho những nghiên cứu ở các chương sau Cụ thể:
Cực cắp là khái niệm chỉ mức độ cao nhất của tính chất, trạng thái của
sự vật, hiện tượng Theo Sapir, cực cấp gồm hai loại: cực cấp tương đối và cực cấp tuyệt đối Tuy nhiên, trong luận văn khái niệm cực cáp được hiểu
theo nghĩa hẹp hơn, chỉ giới hạn ở cực cấp tuyệt đối Theo đó, chúng tôi xác
định ý nghĩa cực cấp là ý nghĩa gắn với mức độ tột cùng, tột đỉnh của tính
chất, trạng thái của sự vật, hiện tượng
Trong tiếng Việt nói chung và phương ngữ Nam Bộ nói riêng có nhiều phương tiện thể hiện ý nghĩa cực cấp, chủ yếu là phương tiện từ vựng.
Trang 35[PAC DIEM CÁU TRÚC CỦA CÁC PHƯƠNG TIEN THE
HIEN Y NGHIA CUC CAP TRONG TAC PHAM CUA NGUYEN NGOC TU
2.1 Phương tiện cực cấp là từ và ngữ
2.1.1 Phường tỉ
cực cấp là từ
Trong truyện ngắn mà chúng tôi đã khảo sát, Nguyễn Ngọc Tư sử dụng
các từ thể hiện VNCC sau: ấp, bớt, đẫm, hệt, kiệt, lút, muối, mướt, ngắt, nhóc,
nhói, quánh, quạnh, quặn, rành, sẫm, thắm, thẩm, trïu Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: ắp có nghĩa là đậy đến mức không còn chứa
thêm được nữa [69, tr.15], hệt có nghĩa là giống hoàn toàn, không khác một
chút nào Nhà văn đã dùng ấp thay cho đậy; hệt thay cho giống khi muốn biểu đạt tính chất ở mức độ CC Tương tự như thế, tác giả đã dùng ngái thay cho
thơm, quánh thay cho đặc, triu thay cho nặng, khi muốn diễn đạt ở mức độ
CC Có nghĩa là ngoài nghĩa chỉ tính chất, trạng thái vốn có ở từ chỉ mức độ
khái quát tương ứng thì những từ này còn kèm theo nghĩa chỉ mức độ CC Bên cạnh những từ thể hiện VNCC thuộc ngôn ngữ toàn dân, tác giả còn dùng hai từ thuộc phương ngữ Nam Bộ là nhóc và rành Theo Từ điển từ ngữ Nam
Bộ của Huỳnh Công Tín, nhóc có nghĩa là nhiều, vô số kế, có số lượng không
thể đếm hét được hoặc đây ắp, tràn đây, đây ứ, vượt quá kích cỡ của một vật đựng [5§, tr919]; rành có nghĩa là sành, thạo, biết rất rõ, am hiểu sâu sắc,
thực hiện một cách nhanh nhẹn, không sai sót [59, tr.1024] Về cơ bản, hai từ
này cũng giống như những từ ngữ thể hiện YNCC khác nhưng nó còn thể hiện thêm màu sắc Nam Bộ,
Nhìn chung, việc sử dụng những từ này phản ánh cách dùng từ chọn
lọc, chính xác và tinh tế trong việc miêu tả trạng thái, tính chất của sự vật
Trang 36cũng như thể hiện vốn từ phong phú của nhà văn Khi hoạt động trong câu,
những từ này có khả năng hoạt động độc lập:
~ Trời vẫn trĩu đầy nước, tối âm u
Xét về mặt kết cấu, những ngữ ghép CC dạng này được Nguyễn Ngọc
Tư vận dụng từ trong ngôn ngữ toàn dân: bén ngói, biệt tăm, buôn xo, cay xẻ,
cong oằn, cũ mèm, chậm rì, dài nhằng, đen thui, đục ngẫu, giống hệt, im phắt, nhỏ xíu, sáng quắc, say mèm, và có cấu tạo theo mô hình chính phụ Trong
đó, yếu tố chính là vị từ trung tâm (VTTT) của ngữ, mang đặc điểm, tính chất
còn yếu tố phụ là một VT mờ nghĩa, mang YNCC hoặc mang ý nghĩa sắc thái hoá Chẳng hạn nhu say mém bao gồm say là VTTT tinh chat trang thai, mém
là PN bổ sung, miêu tả mức độ và sắc thái biểu cảm cho VTTT Có thể phân
ngữ ghép có PN là từ thành hai loại:
Loại thứ nhất: Phụ ngữ là vị từ mang ý nghĩa sắc thái hoá
Những VT này là những từ gợi tả, khi kết hợp với VTTT sẽ tạo thành ngữ ghép CC: bén lẹm, béo ngậy, bóng lộn, bóng mượt, buôn rượi Đặc
biệt, có những PN vốn là những hình vị tự do, đồng nghĩa hoặc gần nghĩa với 'VTTT nhưng theo thời gian, chúng mát dần vai trò của một hình vị độc lập và
Trang 37có xu hướng kết hợp với các hình vị có nghĩa tương đương để tạo ra từ ghép
mà ở đó chúng giữ chức năng biểu thị một sắc thái biểu cảm của ngữ: đó đu,
trắng bóc, trắng bệch, Xét ở bình diện lịch đại, PN dạng này có thê thuộc
nhiều nguồn gốc khác nhau Có trường hợp PN có gốc Môn — Khmer, ching
hạn như zw bắt nguồn từ chữ ch au, có nghĩa là đó đều và đậm; bóc (trong
trắng bóc) có nguồn gốc từ chữ & bok có nghĩa là rát (rắng; và có trường hop
PN có gốc Hán Việt như bệch (trong trắng bệch) vốn có nguồn gốc từ yếu tố
bạch (trắng) trong từ Hán Việt [26]
Loại thứ hai: Phụ ngữ là từ chỉ mức độ cực cấp
Như đã đề cập ở phần 1.1, các từ chỉ ý nghĩa cực cấp có thé đảm nhận
vai trò PN trong ngữ CC Từ hệt, đặc, thẩm, trữu, khi kết hợp với các vị từ
chỉ tính chất, trạng thái ở mức độ khái quát sẽ tạo thành các ngữ ghép CC:
giống hệt, quánh đặc, sâu thắm, nặng trĩu, xa thăm Cũng có những thành tố phụ đồng nghĩa với thành tố chính Theo chúng tôi, đây không phải là những,
từ ghép đẳng lập song tiết, mà là những tổ hợp chính — phụ Vì những thành
tố đứng ở vị trí thứ hai đã chuyển chức năng chỉ ý nghĩa mức độ cực cấp tuyệt đối, chúng không còn giữ nguyên ý nghĩa tính chất như khi là tính từ hoạt
động độc lập Đây là hiện tượng điệp nghĩa Nhưng chính hiện tượng điệp
nghĩa này đã tạo nên YNCC của cả tổ hợp
Bên cạnh những ngữ ghép thuộc vốn từ toàn dân, nhà văn còn vận dụng
những ngữ ghép thuộc phương ngữ Bắc: béo ngậy, mới tỉnh, nặng trĩu, ngang
phè, tím ngắt, tỉnh bơ, tròn xoe, Cách dùng này phản ánh xu hướng lan tỏa
vào nhau của tiếng nói các vùng miễn trong bối cảnh đất nước thống nhất, giao thương phát triển mạnh như hiện nay Song song đó, nhà văn cũng sử
Trang 38tối thui, ướt mem, y chang, Những ngữ ghép này tồn tại song song với các ngữ ghép đồng nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân và có thể cùng xuất hiện trong,
một văn cảnh Nhỏ (hó (phương ngữ Nam Bộ) và nó xí (ngôn ngữ toàn dân)
là một minh hoạ Tác giả dùng cả hai để miêu tả đáng người
Nét độc đáo trong những ngữ CC trên được thể hiện khi tác giả sử dụng
yếu tố phụ trong ngữ ghép Phụ ngữ vốn là yếu tố bổ nghĩa cho một vị từ chỉ
tính chất, trạng thái này lại được dùng để bổ nghĩa cho vị từ chỉ tính chất,
trạng thái khác nếu cả hai vị từ cùng thuộc một trường từ vựng (/exical field):
Muối vốn la PN đi kèm với VT trang dé chi vé mau tring sang min lai
được nhà văn kết hợp với VT xanh (một từ thuộc trường từ vựng màu sắc như
từ xanh) để tạo ra ngữ ghép xanh muối
út thường đi kèm với VT cong để tạo ra ngữ ghép cong vú dùng chỉ
về độ cong biến dạng theo chiều hướng đi lên lại kết hợp với VT nhọn để tạo
ra ngữ ghép nhọn vi.
Trang 39Nhiều lúc, giữa hai VT không thuộc cùng trường từ vựng:
Sam có nghĩa là đậm, tối màu thường đi kèm với phạm trù màu sắc lại kết hợp với VT im, một từ thuộc phạm trù âm lượng dé tao thành ngữ CC im
sâm
"Thậm chí, nhiều trường hợp giữa VT và PN được kết hợp một cách võ
đoán, tạo ra những ngữ ghép rất lạ, khó tìm ra quy tắc kết hợp: đỏ eng, xanh
— thắm sâu; hìu quạnh — quạnh hiu; xanh thâm — thẫm xanh,
Thứ hai, sử dụng những ngữ CC đồng nghĩa hoặc gần nghĩa có hình
thức tương tự như nhau, chỉ khác nhau một vài đặc điểm ngữ âm nào đó ở PN:
PN chỉ khác nhau về dấu thanh: cứng đơ — cứng đờ; héo queo — héo quéo; ướt đầm — ướt đẫm; ướt mèm — ướt mem
PN chỉ khác nhau về phụ âm đầu: cao nhòng — cao ngòng; bóng nhẫy — bóng mẫy; tới nhẹp — ướt mẹp; 6m rém - 6m som, teo quat — teo ngdt;
Thứ ba, sử dụng một số PN với tần số cao để tạo ra các ngữ CC độc đáo:
PN ngắt: chai ngắt, đẹt ngắt, nguội ngắt, lạnh ngắt, lặng ngắt, tái ngắt, tím ngắt, vắng ngắt, xanh ngắt,
PN quất: đen quất, héo quát, khô quất, mặn quát, teo quất,
PN nhữ: đau nhit, do nhừ, mệt nhừ, mỏi nhừ, rạn nhữ,
Trang 40Trong những ngữ này, những ngữ lặng ngất, đen quất, mặn quất, đỏ
nhữ, rạn nhừ là các kết cầu khá lạ mà nhà văn đã sử dụng
Ngoài những PN trên, tác giả còn có thói quen dùng từ sẩm và thdm kết
hợp với vị từ chỉ màu sắc đề tạo thành ngữ CC:
DN (hâm: đỏ thâm, tím thẫm, xanh thẫm
PN sẩm: đen sẫm, vàng sẫm
Xét về mặt sử dụng, những ngữ ghép dạng này có những đặc điểm sau:
Một ngữ CC có thể được sử dụng nhiều lần: /nh ngắt (12 lần), già nưa (11 lần), lạnh tanh (9 lần), trong vắt (9 lần), trong veo (9 lần), buôn rượi (8
lần), nhỏ xí: (8 lần), giống hệt (§ lần), y hệt (8 lần), bén ngót (17 lần), ướt đầm
(7 lan), y chang (6 lần),
Một VTTT có thê kết hợp với nhiều PN để tạo ra số lượng lớn các ngữ
CC, đặc biệt là những vị từ chỉ màu sắc Những ngữ này chỉ khác nhau về ý nghĩa sắc thái hoá
VT đen: đen nhém, đen nhức, đen quất, đen sẫm, đen sì, đen thắm, den thấm, đen thui, đen trũi, đen sỉ
VT đỏ: đó au, đó bừng, đỏ eng, đỏ lòm, đó lựng, đỏ nhói, đỏ nhừ, đỏ ối,
đỏ phừng, đỏ quạch, đỏ rực, đỏ thắm, đỏ thẳm, đỏ thẩm
VT trắng: mắng đã, trắng dớn, trắng muốt, trắng nhởn, trắng nhot, trắng tươi, trắng xoá
VT xanh: xanh chằng, xanh dờn, xanh ẻo, xanh lè, xanh lưới, xanh
miễt, xanh mịt, xanh muốt, xanh mưới, xanh ngắt, xanh rì, xanh ron, xanh