Đề tài tham dự cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2008 Kỹ năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên với người nước ngoài – đề xuất giải pháp tham gia tổ chức phi chính phủ... Ch
Trang 1
Đề tài tham dự cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2008
Kỹ năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên với người nước ngoài – đề xuất giải pháp
tham gia tổ chức phi chính phủ
Trang 2http://svnckh.com.vn 0
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CÁC KHÁI NIỆM VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Kĩ năng giao tiếp 5
1.2 Giao tiếp (bằng) tiếng Anh 6
1.3 Sơ lược về việc học tiếng Anh của sinh viên đại học hiện nay 6
1.4 Tổ chức phi chính phủ (NGO) 7
1.4.1 Giới thiệu NGOs 7
1.4.2 NGOs hiện nay 8
1.4.3 NGOs ở Việt Nam 9
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12
2.1 Phương pháp nghiên cứu 12
2.1.1 Phiếu điều tra 12
2.1.2 Phỏng vấn 14
2.1.3 Quan sát 16
2.2 Kết quả nghiên cứu 16
2.2.1 Kết quả nghiên cứu về thực trạng kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên với người nước ngoài 17
2.2.2 Kết quả nghiên cứu về thực trạng kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên khi tham gia NGOs 23
2.2.2.1 Cơ hội giao tiếp với người nước ngoài cho sinh viên ở NGOs 23
2.2.2.2 Hiệu quả của việc tham gia NGOs tới kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên 25
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG GIAO TIẾP TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI-ĐỀ XUẤT THAM GIA NGOs 28
Trang 3http://svnckh.com.vn 1
3.1 Một số giải pháp chung 28
Trang 43.1.1 Đối với bản thân sinh viên 28
3.1.1.1 Học ở trên lớp 28
3.1.1.2 Tự học 30
3.2.2 Kiến nghị với nhà trường 34
3.2.2.1 Liên kết với các tổ chức giáo dục nước ngoài 34
3.2.2.2 Liên kết các câu lạc bộ trong trường với các tổ chức phi chính phủ và các doanh nghiệp 35
3.2 Giải pháp đề xuất: tham gia vào các hoạt động của NGOs 36
3.2.1 Tính vượt trội của tham gia NGOs so với các biện pháp học tiếng Anh khác 36
3.2.2 Những lợi ích khi tham gia NGOs 39
3.2.3 Những khó khăn khi tham gia NGOs và cách khắc phục 43
3.2.3.1 Khó khăn thường gặp phải khi tham gia NGOs 43
3.2.3.2 Đề xuất một số cách khắc phục khó khăn 45
3.2.4 Cách thức tham gia NGO hiệu quả 46
3.2.4.1 Tìm kiếm thông tin về NGOs 47
3.2.4.2 Lựa chọn công việc phù hợp 48
3.2.4.3 Làm việc hiệu quả ở NGOs 51
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ LỤC 1 i
PHỤ LỤC 2 ii
PHỤ LỤC 4 xiii
Trang 5http://svnckh.com.vn 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AIESEC Tổ chức thanh niên quốc tế phi lợi nhuận
AmCham Phòng Thương Mại Mỹ tại Việt Nam
BC English Club Câu lạc bộ tiếng Anh của Hội Đồng Anh
CFO Quỹ Vì Trẻ Em
DED Chương trình phát triển của Đức
ECOSOC Hội đồng Kinh tế-Xã hội của Liên Hợp Quốc
Enda Việt Nam Tổ chức về phát triển môi trường
HYEC Ha Noi Young English club
IDP Tổ chức Giáo dục Quốc tế của Australia tại Việt Nam IMF Quỹ tiền tệ Quốc tế
INDIGO Câu lạc bộ tiếng Anh và văn hóa thuộc tổ chức VPV
SNV Chương trình phát triển của Hà Lan
UNAIDS Chương Trình Phối Hợp Của Liên Hiệp Quốc về
HIV/AIDS UNICEF Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc
UNV Chương Trình Tình Nguyện Liên Hiệp Quốc
VNAH Hội Trợ giúp Người Tàn tật Việt Nam
Trang 6http://svnckh.com.vn 2 VPV Tổ chức tình nguyện vì hòa bình Việt Nam
Trang 7VSO Tổ chức Phục vụ tình nguyện Hải ngoại
VCCI Phòng Công Nghiệp và Thương Mại Việt Nam VFCD Tổ chức tình nguyện vì phát triển cộng đồng VUFO Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam
WB Ngân Hàng Thế Giới
WVV ức Tầm Nhìn Thế Giới Việt Nam
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng số 1: Danh sách các đối tượng được phỏng vấn 15 Bảng số 2: Giới thiệu một số công việc ở NGOs phù hợp với từng đối tượng sinh viên 51
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Khó khăn sinh viên gặp phải khi giao tiếp với người nước ngoài 17 Biểu đồ 2: Cơ hội giao tiếp với người nước ngoài của sinh viên đại học 19 Biểu đồ 3: So sánh vai trò việc học trên lớp và thực hành trong nâng cao kĩ năng giao tiếp tiếng Anh 21 Biểu đồ 4: Các phương pháp sinh viên sử dụng để nâng cao kĩ năng giao tiếp tiếng Anh 22 Biểu đồ 5: Cơ hội giao tiếp với người nước ngoài cho sinh viên ở NGOs 23 Biểu đồ 6: Công việc của sinh viên ở NGOs 25 Biểu đồ 7: Hiệu quả tham gia NGOs trong việc nâng cao khả năng giao tiếp tiếng Anh với người nước ngoài 26
Trang 9http://svnckh.com.vn 1
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, đất nước ta đang trong giai đoạn mở cửa nền kinh tế, mở rộng quan hệ hợp tác với các nước khác trong khu vực và trên thế giới, có rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài cũng như du khách quốc tế đang và sẽ lựa chọn Việt Nam
là điểm đến của họ Trong khi đó, đã có nhiều bài nghiên cứu và bài báo từ năm năm trở lại đây cho thấy có một thực tế đáng buồn là giới trẻ Việt Nam mặc dù được học tiếng Anh như một môn học chính thức ở nhà trường nhưng hầu như vẫn tỏ ra rất thiếu tự tin khi giao tiếp với người nước ngoài Nhiều sinh viên tốt nghiệp phổ thông trung học mà khi gặp người nước ngoài vẫn không thể nói gì hơn những câu đơn giản như chào hỏi, giới thiệu bản thân Điều này khiến chúng ta đặt ra một dấu hỏi về chất lượng đào tạo ngoại ngữ của hệ thống giáo dục Việt Nam Việc giao tiếp ngoại ngữ kém, đặc biệt là giao tiếp tiếng Anh - ngôn ngữ chính thức được sử dụng trong các giao dịch thương mại và các văn bản mang tính quốc tế, có ảnh hưởng không nhỏ đến sự thành công và kĩ năng cạnh tranh của các bạn khi làm việc trong môi trường hội nhập, chuyên nghiệp
và đa văn hóa sau này Tuy nhiên cũng không thể phủ định rằng có những trường phổ thông và đại học ở Việt nam có chất lượng đào tạo Anh ngữ tốt hơn nhiều so với mặt bằng chung vì các trường đại học do có đội ngũ giáo viên khá hơn, sinh viên đầu vào cao hơn và có cơ sở vật chất khá hoàn thiện Như vậy liệu ta có thể trông đợi vào một đội ngũ những sinh viên tốt nghiệp các trường đại học như vậy sẽ là những người có kĩ năng giao tiếp tiếng Anh tốt, đủ tự tin
và năng lực để trở thành những người dẫn dắt vận mệnh của cả đất nước sau này?
Chính vì thế, nhóm nghiên cứu đã chọn “Kĩ năng giao tiếp tiếng Anh với
người nước ngoài của sinh viên tiếng Anh- Đề xuất giải pháp tham gia tổ chức phi chính phủ” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình
Trang 10http://svnckh.com.vn 2
2 Mục tiêu nghiên cứu
Từ những suy nghĩ đó, chúng tôi thực hiện bài nghiên cứu này nhằm mục tiêu chính là tìm hiểu thực trạng về kĩ năng giao tiếp với người nước ngoài của các sinh viên nằm trong đối tượng nghiên cứu, từ đó đề xuất giải pháp để nâng cao kĩ năng đó Cụ thể hơn, chúng tôi tập trung nghiên cứu về hiệu quả của việc tham gia hoạt động tại các tổ chức phi chính phủ (NGOs) với hy vọng đây sẽ là một giải pháp mới mẻ giúp sinh viên không những cải thiện tốt kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của mình mà còn nâng cao lòng tự tin khi làm việc trong môi trường quốc tế sau này
3 Đối tượng nghiên cứu
Để phục vụ tốt nhất cho mục tiêu của bài nghiên cứu, đối tượng mà chúng tôi chọn để nghiên cứu chỉ là một phân lớp của sinh viên Việt Nam: đó là các sinh viên có nền tảng tiếng Anh khá1
và đang tiếp tục phấn đấu trong môi trường đào tạo ngoại ngữ khá tốt; những sinh viên này cũng đều có mong muốn nâng cao kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Anh của mình
Sau khi tìm hiểu về các khóa học đào tạo tại các trường đại học cũng như trình độ tiếng Anh chung của sinh viên trong trường, dựa trên mục đích nghiên cứu, chúng tôi đã quyết định chọn những sinh viên sau đây làm đối tượng điển hình cho bài nghiên cứu của mình:
- Đại học Quốc gia Hà Nội và trường Đại học Hà Nội, từ năm thứ hai trở lên
Sinh viên Việt Nam thi đầu vào khối D của trường Đại học Ngoại thương và Đại học Bách khoa Hà Nội, từ năm thứ hai trở lên
Sinh viên Việt Nam thi đầu vào khối A của trường Đại học Ngoại thương, từ năm thứ ba trở lên
Trang 11http://svnckh.com.vn 3
Để thực hiện bài nghiên cứu, chúng tôi chọn ra sinh viên chuyên ngành tiếng Anh ở bốn trường đại học tiêu biểu ở Hà Nội: Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Quốc Gia Hà Nội, Đại học Hà Nội, Đại học Ngoại Thương Hà Nội và Đại học Bách Khoa Hà Nội
Người nước ngoài được nhắc tới trong bài nghiên cứu1
là những người có trình độ và kĩ năng giao tiếp tiếng Anh tốt, hầu hết là những người đến từ châu
Âu, châu Úc và Bắc Mỹ sử dụng thành thạo tiếng Anh như ngôn ngữ mẹ đẻ của mình
Các tổ chức phi chính phủ trong phạm vi nghiên cứu2 của chúng tôi là
những tổ chức sử dụng tiếng Anh trong hoạt động giao tiếp và quản lý
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt kết quả cao nhất, chúng tôi đã tận dụng hai nguồn thông tin: thông tin thứ cấp- chúng tôi thu thập từ các bài báo và thông tin sơ cấp- chúng tôi thu thập từ các các phương pháp điều tra, phỏng vấn và quan sát Trên cơ sở hai nguồn thông tin này, chúng tôi đã tiến hành phân tích, đánh giá để đưa ra những nhận định về thực trạng kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Anh của sinh viên học ngoại ngữ Từ đó, chúng tôi đề xuất giải pháp cho bản thân sinh viên và kiến nghị đối với nhà trường
nhằm nâng cao kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên
6 Hạn chế của đề tài
Trong quá trình thực hiện và hoàn thiện đề tài, nhóm nghiên cứu không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, điển hình là việc còn thiếu kinh nghiệm nghiên cứu, nguồn dữ liệu thứ cấp chưa nhiều, phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn ở thành phố Hà Nội, mẫu điều tra nhỏ, thời gian tiến hành điều tra là vào dịp hè khi sinh viên được nghỉ buộc nhóm phải chuyển từ mẫu điều tra qua giấy sang mẫu điều tra điện tử, dẫn đến việc hạn chế quy mô điều tra và tầm kiểm soát của nhóm nghiên cứu đối với đối tượng điều tra… Từ những hạn chế đó, chúng tôi lấy làm kinh nghiệm và bài
Trang 12Chương 1: Các khái niệm và cơ sở lý luận
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao kĩ năng giao tiếp tiếng Anh với người nước ngoài của sinh viên - Đề xuất giải pháp tham gia NGOs
Trang 13http://svnckh.com.vn 5
CHƯƠNG 1: CÁC KHÁI NIỆM VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong chương này, chúng tôi xin đưa ra các khái niệm có liên quan tới đề tài được nghiên cứu, gồm có “kĩ năng giao tiếp”, “giao tiếp tiếng Anh”, “sinh viên”, “người nước ngoài” và “tổ chức phi chính phủ- NGO” Các khái niệm đó đều được giới hạn về nội dung trong phạm vi nghiên cứu Ngoài ra chúng tôi xin được cung cấp thêm một số khái niệm và thông tin cơ bản có liên quan tới các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam với hy vọng độc giả sẽ có cái nhìn toàn diện hơn
2
bằng ngôn ngữ nói và cử chỉ
nghiên cứu này n khả năng vận dụng những kinh nghiệm
của bản thân và của người khác sao cho người khác
Trang 14http://svnckh.com.vn 6
1.2 Giao tiếp (bằng) tiếng Anh
1.1
1.3 Sơ lƣợc về việc học tiếng Anh của sinh viên đại học hiện nay
Từ khi còn học tiểu học, học sinh Việt Nam đã được tiếp cận với tiếng Anh như một bộ môn chính và bắt buộc của nhà trường trong chương trình đào tạo Bắt đầu với những từ, những câu giao tiếp rất căn bản như “hello”,
“goodbye”, “how are you”, “what’s your name?”…, dần dần khi học nâng cao lên phổ thông, học sinh được tiếp xúc với những tình huống với cấu trúc ngữ pháp phức tạp hơn và vốn từ vựng đòi hỏi phải tăng lên rất nhiều Lên đại học, đặc biệt đối với những sinh viên tiếp tục học môn tiếng Anh như một môn học chính trên lớp thì tổng thời lượng tiếp xúc với tiếng Anh kể từ khi bắt đầu học ở tiểu học là tương đối dài (khoảng từ trên 3 năm tới 10 năm) Thế nhưng, theo thực trạng điều tra của các năm về trước1 cho thấy vẫn có rất nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học không thể nói nhiều hơn những câu chào hỏi căn bản khi tiếp xúc với người nước ngoài Thực trạng này có thể được giải thích bởi chất
1
Xem bài báo của Đặng Ngọc Trâm đăng trên tờ Bản tin ĐHQG Hà Nội - số 172, tháng 6/2005; bài tham luận của Lê Thái Hưng với đề tài “Một số suy nghĩ về việc giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành hiện nay”, Hội thảo Anh văn chuyên ngành, An Giang 18/01/2008
Trang 15http://svnckh.com.vn 7
lượng giáo dục chưa đồng bộ từ các cấp dưới đại học về bộ môn tiếng Anh, khiến cho nhiều sinh viên khi vào đại học, đặc biệt là các trường đại học khối kỹ thuật, có nền tảng ngoại ngữ còn yếu và bị hổng kiến thức ngoại ngữ từ trước đó
Vì thế khi họ tiếp tục được giảng dạy tiếng Anh ở đại học, phần lớn trong số họ không thể theo kịp tốc độ và vì thế mà hiệu quả tiếp thu giờ học trên lớp rất thấp, dẫn tới kiến thức ngày càng hổng nặng hơn Hơn nữa, do thời lượng giảng dạy môn tiếng Anh ở Đại học là có hạn, ví dụ một số trường đại học chỉ đưa môn tiếng Anh vào chương trình giảng dạy trong 1 – 2 năm đầu tiên Và đặc biệt đối với các trường đại học ở xa trung tâm thành phố hay ở các khu vực kinh tế kém phát triển, chất lượng giảng dạy và trang thiết bị phục vụ cho môn học này còn kém hoặc chưa được coi trọng đúng mức Vì vậy mà không tạo ra được sức bật hoặc gây hứng thú đối với môn học cho sinh viên nên sinh viên càng ít quan tâm tới bộ môn này
Trên đây là thực trạng về kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên các ngành đại học nói chung Tuy nhiên đối với các trường đại học chuyên về ngoại ngữ, hoặc một số trường đại học ở Hà Nội như trường Đại học Ngoại thương, trường Đại học Ngoại ngữ, trường Đại học Hà Nội, trường Đại học Bách Khoa (khoa tiếng Anh chuyên ngành kĩ thuật) … vốn là các trường coi bộ môn tiếng Anh như một bộ môn quan trọng không thể thiếu, được giảng dạy trong cả quá trình đào tạo ở Đại học (4 – 5 năm), với đội ngũ giảng viên khá tốt đến rất tốt, và đặc biệt là sinh viên thi đầu vào đã có một nền tảng tiếng Anh khá (đối với các sinh viên thi đầu vào khối D), thì thực trạng trên đã thay đổi như thế nào? Đó chính là câu hỏi mà chúng tôi sẽ hi vọng tìm thấy câu trả lời ở phần kết quả nghiên cứu trong bài nghiên cứu này
1.4 Tổ chức phi chính phủ (NGO)
1.4.1 Giới thiệu NGOs
Tổ chức phi chính phủ (Non-Governmental Organizations, gọi tắt là NGOs) đã tồn tại hàng trăm năm trên thế giới dưới nhiều dạng khác nhau Nguồn gốc xa xưa của NGOs vốn là những nhóm nhỏ làm từ thiện Tiêu chí
Trang 16http://svnckh.com.vn 8
hoạt động của các tổ chức này là cứu trợ nhân đạo đối với nạn nhân chiến tranh, thiên tai và nghèo đói, không phân biệt chính kiến và địa dư Cho tới nay trên thế giới, các nước có quan điểm khác nhau về phân loại và định nghĩa về NGOs Tuy nhiên những quan điểm đó đều có một số điểm chung nhất định Bài nghiên cứu xin giới thiệu một vài quan điểm chủ yếu đại diện
Theo Bộ Ngoại Giao Việt Nam, “theo luật pháp một số nước, các tổ chức NGOs bao gồm các chủ thể có tư cách pháp nhân, là những tổ chức không thuộc chính phủ như các Viện, các tổ chức tư nhân hay công cộng hoặc các Quỹ Các NGOs đó là những tổ chức phi lợi nhuận, được lập ra hợp pháp và có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước đó và theo pháp luật của nước cho đặt trụ
sở chính” 1
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, “các NGOs là bất kỳ tổ chức quốc
tế nào được lập ra không phải do một thoả thuận liên chính phủ quốc tế, nhưng NGOs đó có thể bao gồm các tổ chức có thành viên do chính phủ cử ra, với điều kiện thành viên đó không được can thiệp vào quyền tự do bày tỏ ý kiến của tổ chức đó” 2
Nhìn chung, các khái niệm trên đều cho thấy NGOs là những tổ chức được thành lập một cách hợp pháp và tự nguyện Các tổ chức này không thuộc
bộ máy hành chính nhà nước và hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận thương mại
1.4.2 NGOs hiện nay
Tiếng nói của NGOs đối với các vấn đề thuộc mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế ngày càng được các nước và các tổ chức quốc tế lớn như Liên Hợp Quốc (LHQ), Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) và đặc biệt các tổ chức ngân hàng, tài chính thế giới như World Bank (WB) và Quỹ tiền
1
Nguồn: website chính thức của Bộ ngoại giao Việt Nam:
http://www.mofa.gov.vn/vi/ctc_quocte/un/nr040819155753/nr060928111253/ns07073109292 8/view
2
Website chính thức của Bộ ngoại giao Việt Nam:
http://www.mofa.gov.vn/vi/ctc_quocte/un/nr040819155753/nr060928111253/ns07073109292 8/view
Trang 17http://svnckh.com.vn 9
tệ Quốc tế (IMF) quan tâm Tính đến năm 2006 đã có gần 2,870 tổ chức NGO
có quy chế tham khảo ý kiến với Hội đồng Kinh tế-Xã hội-ECOSOC của LHQ (năm 1946 chỉ có 41 tổ chức được Hội đồng cho hưởng qui chế; năm
1993 có 978; năm 1997 có 1,356) Theo quy định, số NGOs này được phát biểu, tham gia thảo luận tại các cuộc họp của ECOSOC và đưa ra những đề mục quan tâm vào chương trình nghị sự của cơ chế này hoặc các tiểu ban trực thuộc Hội đồng Năm 1986, UNDP thành lập riêng một vụ chuyên theo dõi và phối hợp hoạt động với các NGOs WB hàng năm đều tổ chức các Hội nghị tư vấn với NGOs Sự tham gia của các tổ chức NGO trên các diễn đàn khác về kinh tế, xã hội và phát triển ngày một tăng, đồng thời tổ chức những diễn đàn riêng của mình song song với những Hội nghị quốc tế Với tiếng nói của mình, NGOs đã đóng góp đáng kể vào sự thành công của nhiều hội nghị quốc tế lớn trong những năm qua như Hội nghị Thế giới về Phụ nữ, Hội nghị Thế giới về Dân số và Phát triển, Hội nghị Thượng đỉnh về Phát triển xã hội , Hội nghị Thế giới về Môi trường
1.4.3 NGOs ở Việt Nam
Các tổ chức phi chính phủ nước ngoài có quan hệ với Việt Nam rất sớm Sau 1975, phần lớn số NGOs nước ngoài đã chấm dứt hoạt động ở miền Nam Việt Nam Sau đó các NGOs đã dần dần trở lại Việt Nam Đến năm 1978 đã có
70 NGOs đặt quan hệ với Việt Nam, giá trị viện trợ khoảng 30 triệu đô la Mỹ/năm, chủ yếu viện trợ nhân đạo (lương thực, thuốc men ), giúp ta khắc phục hậu quả chiến tranh Đặc biệt, kể từ năm 1986, nhờ chính sách Đổi mới của Nhà nước ta và chủ trương về hội nhập quốc tế, nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức NGO quốc gia và quốc tế, góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân các nước, các tổ chức NGO nước ngoài có quan hệ với ta tăng lên và giá trị viện trợ tăng dần Từ 70 đến 100
tổ chức NGO với tổng giá trị viện trợ khoảng 20-30 triệu đô la Mỹ/ năm trong giai đoạn 1986-1992 Trong hơn 10 năm qua (1994-2006), số lượng các tổ chức
có quan hệ với Việt Nam đã tăng gấp 3 lần, từ 210 tổ chức vào năm 1994 lên
Trang 18Để tiếp tục chủ động tranh thủ, quản lý tốt hoạt động và nâng cao hiệu quả
sử dụng viện trợ phi chính phủ, Chính phủ ta đã tổ chức hai Hội nghị quốc tế lớn tại
Hà Nội, đó là Hội nghị Tổng kết 10 năm (1991-2001) công tác phi chính phủ nước ngoài (tháng 2/2002) và Hội nghị quốc tế về Sự hợp tác giữa Việt Nam và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (tháng 11/2003) Kết quả của hai hội nghị trên đã và đang đóng góp vào những nỗ lực của Nhà nước ta nhằm tạo môi trường ngày càng thuận lợi hơn về cơ chế và pháp lý cho các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam hiện tại và trong tương lai
Để tranh thủ nguồn viện trợ của NGOs phục vụ nhu cầu phát triển kinh
tế-xã hội trong điều kiện đất nước còn khó khăn, Chính phủ ta đang tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp qui để tạo môi truờng pháp lý thuận lợi cho hoạt động của các NGOs nước ngoài tại Việt Nam và với những tổ chức NGOs nước ngoài hay cá nhân có đóng góp tích cực và hiệu quả cho các chương
Trang 19http://svnckh.com.vn 11 trình phát triển và nhân đạo tại Việt Nam đều được nhân dân và Nhà nước ta hoan nghênh và ghi công
Trang 20http://svnckh.com.vn 12
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1 đã đưa ra các khái niệm cơ bản được sử dụng trong bài nghiên cứu cùng với một vài thông tin vắn tắt về các tổ chức phi chính phủ- khái niệm
sẽ được nhắc tới rất nhiều ở các chương sau của công trình Ở chương 2 này, chúng tôi xin được trình bày chi tiết về các phương pháp đã dùng để nghiên cứu,
lý do tại sao chúng tôi lựa chọn những phương pháp này; đồng thời công bố kết quả nghiên cứu, bao gồm (a) thực trạng về kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên với người nước ngoài và (b) sự thay đổi về kĩ năng đó khi sinh viên tham gia NGOs
2.1 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu bao gồm (a) điều tra, (b) phỏng vấn và (c) quan sát Mỗi một phương pháp được sử dụng đều có mục đích và phương pháp tiến hành với những ưu nhược điểm riêng Tuy nhiên, chúng đều hướng tới mục đích chung là tìm ra các số liệu, thông tin cần thiết để dựa trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra những nhận xét, đánh giá về thực trạng, đó cũng chính là phần kết quả nghiên cứu sẽ được đề cập tới trong phần 2.2 của bài nghiên cứu này
2.1.1 Phiếu điều tra
1
Xem nội dung chi tiết tại phụ lục, phần “Câu hỏi điều tra”
Trang 21- Tìm ra lợi ích có được và khó khăn phải đối mặt khi sinh viên tham gia NGOs (đối tượng điều tra là sinh viên thuộc đối tượng nghiên cứu và là những sinh viên đã từng hoặc hiện tại đang tham gia NGOs trong ít nhất hai tuần) bằng các câu hỏi nhiều lựa chọn và phần tự do trình bày ý kiến riêng có liên quan trực tiếp tới vấn đề cần tìm hiểu Điều này giúp chúng tôi phân tích sâu hơn về giải pháp tham gia NGOs mà chúng tôi sẽ đề cập tới ở phần 3.2 của chương 3
* Phương pháp tiến hành:
- Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên
- Mẫu điều tra: 83 sinh viên thuộc đối tượng nghiên cứu
- Phiếu điều tra: là một bảng gồm 11 câu hỏi, trong đó có 07 câu dành riêng cho sinh viên tham gia NGOs
Do thời điểm tiến hành phát phiếu điều tra là tháng 07 năm 2008, đúng vào kỳ nghỉ hè của sinh viên nên chúng tôi gặp khó khăn trong việc phát phiếu điều tra trực tiếp với số lượng lớn Để khắc phục khó khăn này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thiết kế bản điều tra điện tử trên trang web: www.surveymonkey.com1 với nội dung tương tự phiếu điều tra trên giấy trước
1
Xem nội dung chi tiết ở phụ lục, phần “Bảng câu hỏi điều tra”
Trang 22http://svnckh.com.vn 14
đó và gửi đường dẫn của trang web này vào hơn 150 địa chỉ thư điện tử và các hình thức liên lạc điện tử khác của các sinh viên thuộc đối tượng nghiên cứu Danh sách địa chỉ liên lạc này được nhóm nghiên cứu thu thập bằng cách liên hệ với lớp trưởng (hoặc thành viên) của các lớp tiếng Anh thuộc các trường Đại học, đề nghị được cung cấp danh sách lớp cùng địa chỉ thư điện tử Sau khi tiến hành gửi phiếu điều tra điện tử, chúng tôi đã nhận được 83 thông báo trả lời, nghĩa là tỷ lệ phản hồi đạt 55,33% Riêng các câu hỏi thuộc phần dành cho sinh viên đã hoặc đang tham gia NGOs, chúng tôi nhận được trung bình 37 phản hồi cho mỗi câu hỏi, chiếm 44,58% số lượng người tham gia trả lời và 24,67% số người được gửi bảng câu hỏi Phần trả lời câu hỏi điều tra của các bạn là số liệu thống kê quan trọng được dùng để phân tích thực trạng của bài nghiên cứu này
2.1.2 Phỏng vấn
* Mục đích:
Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi giúp chúng tôi có một cái nhìn khái quát về thực trạng nghiên cứu Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi sự kiểm soát chặt chẽ về đối tượng trả lời phiếu điều tra và phụ thuộc nhiều vào thái độ của người trả lời phiếu có nghiêm túc và có hợp tác hay không, mà những điều đó phiếu điều tra điện tử không thể đáp ứng được Hơn nữa, đối tượng được điều tra ở phương pháp phiếu điều tra chỉ có sinh viên, tức là ý kiến đưa ra có thể bị thiên lệch và mang tính chủ quan một phía Bởi vậy, chúng tôi tiến hành phương pháp phỏng vấn đối với nhiều đối tượng khác nhau để kiểm chứng độ chính xác và đảm bảo độ khách quan cho kết quả thu được từ phương pháp phiếu điều tra, đồng thời để có cái nhìn cụ thể và chuyên sâu hơn về thực trạng cần nghiên cứu
* Phương pháp tiến hành:
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn 02 giáo viên Đại học có kinh nghiệm trong việc giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên; 02 sinh viên đã có kinh nghiệm tham gia hoạt động tại NGOs, 02 chuyên gia làm việc tại NGOs và 02 người nước ngoài đã có một thời gian sinh sống tại Việt Nam Các câu hỏi trong bài phỏng
Trang 23http://svnckh.com.vn 15
vấn 1 của chúng tôi đều tập trung vào nhận xét, đánh giá của họ về kĩ năng giao tiếp Tiếng Anh của sinh viên chuyên ngành, quan điểm của họ về việc sinh viên tham gia NGOs, cũng như những gợi ý, đề xuất thực tế và hiệu quả có thể nâng cao kĩ năng giao tiếp đó
Chi tiết về các đối tượng được phỏng vấn của chúng tôi được tóm tắt trong bảng sau:
Bảng số 1: Danh sách các đối tượng được phỏng vấn
3 Nguyễn Lê
Tường Vân
Biên dịch viên, phiên dịch viên, tình nguyện viên
8 NGOs khác nhau Trực tiếp
4 Đỗ Minh Huệ Tình nguyện viên VPV (Volunteers for Peace –
Vietnam) Trực tiếp
5 Đào Lan Hương Điều phối viên SJ (Solidariés Jeunesses) Trực tiếp
6 Đỗ Tư Duy Điều phối viên VPV (Volunteers for Peace –
Vietnam) Trực tiếp
7 Andrew Groban Chuyên gia khảo
8 Jody Kurtze Tình nguyện viên VPV (Volunteers for Peace –
Trang 24có độ chính xác và trung thực rất cao Đây sẽ là dẫn chứng tốt phục vụ cho bài nghiên cứu của chúng tôi
-Anh),
- tin, hỏi thăm một người bạn
2.2 Kết quả nghiên cứu
Sự kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu đã giúp chúng tôi tổng hợp được những số liệu cần thiết và phong phú Mặc dù sử dụng ba phương pháp khác nhau nhưng kết quả chúng tôi thu được rất ít mâu thuẫn, không những thế, chúng còn bổ trợ, giải thích cho nhau Có thể tóm tắt các kết quả đó thành hai phần chính như sau: một là, kết quả về thực trạng kĩ năng giao tiếp tiếng Anh
Trang 25Phát âm chưa chuẩn
Khả năng nghe hiểu chưatốt
Bí từ
Theo kết quả tổng hợp từ phiếu điều tra, chúng tôi thấy có 57 trên tổng số
83 sinh viên gặp khó khăn về từ vựng khi giao tiếp với người nước ngoài, chiếm tới 68,7% Trong khi đó 31 sinh viên (chiếm 37,3%) gặp vấn đề về kĩ năng nghe hiểu của mình, 22 sinh viên (chiếm 26,5%) giao tiếp khó khăn do phát âm chưa chuẩn gây khó hiểu cho người nghe, và chỉ có 6 sinh viên không cảm thấy khó khăn gì khi giao tiếp với người nước ngoài, chiếm 7,2% - đây thực sự là một con
Trang 26http://svnckh.com.vn 18
số khá khiêm tốn so với những gì ta vẫn nghĩ về các trường có đầu vào và chất lượng đào tạo tốt như các trường đại học chúng tôi nghiên cứu
Như vậy ta có thể thấy số sinh viên có kĩ năng nói tiếng Anh lưu loát, đọc
và viết thông thạo sau khi ra trường còn khá hạn chế Điều này cũng phù hợp với những gì chúng tôi quan sát được khi tạo tình huống giao tiếp với người nước ngoài cho các bạn sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ- Đại học quốc gia Hà Nội và Đại học Hà Nội
phần đông các bạn còn gặp ít nhiều khó khăn khi diễn đạt; trong khi đó những bạn thực sự tự tin, nói tiếng Anh lưu loát và chính xác lại chiếm rất ít Phát biểu về vấn đề này, cô giáo Lê Thu Bích, giảng viên hệ đại trà năm thứ nhất khoa tiếng Anh trường Đại học
Ngoại ngữ- Đại học quốc gia Hà Nội cho biết: “Mặt bằng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên năm thứ nhất hệ chính quy còn hạn chế Khi cho các em giao tiếp với người nước ngoài, sau đó trong phiếu điều tra phản hồi, chỉ có khoảng 1-2
em trong lớp 25 người hiểu được 70% nội dung, các em khác chỉ hiểu được tối
đa 50% hoặc thấp hơn những gì họ truyền đạt Với sinh viên hệ chất lượng cao thì con số này có thể cao hơn”.1
Tìm hiểu về vấn đề này, chúng tôi có phỏng vấn Jody Kurtze, tình nguyện viên người Áo đang hoạt động tại tổ chức VPV (Volunteers For Peace- Vietnam) Chị là người đã tham gia các hoạt động tình nguyện do VPV tổ chức
ở Việt Nam trong vòng gần 10 tháng và có nhiều cơ hội tiếp xúc với sinh viên
1
Trích từ bài phỏng vấn số 1 của bảng số 1
Trang 27http://svnckh.com.vn 19
các trường Đại học ở Hà Nội thông qua các hoạt động đó Jody cho biết các tình nguyện viên tham gia tổ chức hầu hết đều có nền tảng tiếng Anh khá vì họ là những sinh viên đã, đang học chuyên ngành tiếng Anh hoặc các chuyên ngành mang yếu tố quốc tế tại các trường đại học và cao đẳng Tuy nhiên, khi Jody có
cơ hội được tiếp xúc với nhiều bạn đến từ trường Đại học Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ, khoa tiếng Anh chuyên ngành của Đại học Bách Khoa…, chị nhận thấy rằng khi mới tham gia vào tổ chức, rất nhiều bạn nói chuyện còn ấp úng, e ngại, thiếu tự tin và thường phản ứng chậm trước các câu hỏi, thậm chí nhiều lúc chỉ biết cười thay câu trả lời
Một trong những nguyên nhân khiến cho các sinh viên khá tiếng Anh trên lớp nhưng giao tiếp với người nước ngoài chưa tốt đó là cơ hội cho họ giao tiếp thực tế với người nước ngoài chưa nhiều Chỉ có khoảng 34,9% đối tượng điều tra thường xuyên được tiếp xúc với người nước ngoài, mà phần lớn đó là các cơ hội do họ tự tạo ra (ví dụ như tham gia các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, tìm tới các địa điểm có người nước ngoài tới du lịch…) chứ không phải do nhà trường hoặc các tổ chức khác tạo điều kiện Trong khi đó chiếm tới 41,0% là những bạn chỉ thỉnh thoảng giao tiếp với người nước ngoài khi được tạo điều kiện bởi các câu lạc bộ, nhà trường hoặc các tổ chức bên ngoài… Có tới 15,7% các bạn sinh viên hiếm khi tiếp xúc với người nước ngoài (1-2 lần/năm) và 8,4% chưa bao giờ giao tiếp với người nước ngoài
Biểu đồ 2: Cơ hội giao tiếp với người nước ngoài của sinh viên đại học
Đơn vị: %
Trang 28Cơ hội được giao tiếp với người nước ngoài ảnh hưởng khá nhiều tới sự tiến bộ Anh ngữ của sinh viên, đặc biệt là kĩ năng nghe hiểu, phát âm và nói đúng ngữ điệu Những kĩ năng này cũng được giảng dạy ở trên lớp nhưng có khác biệt so với giao tiếp thực tế ở bên ngoài Trong bài phỏng vấn về vấn đề này của nhóm nghiên cứu khoa học, cô giáo Lê Thu Bích - giảng viên khoa tiếng
Anh trường Đại học Ngoại ngữ- Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết: “Kĩ năng giao tiếp thực hành trên lớp và thực tế giao tiếp với người nước ngoài có khác nhau Ở trên lớp mức độ hiểu thông tin tiếp nhận của sinh viên tốt hơn (do giáo viên cũng có điều chỉnh tốc độ nói, ngôn ngữ sử dụng cho phù hợp với trình độ của sinh viên, sinh viên cũng quen với giọng và ngữ điệu của giáo viên), và kĩ năng giao tiếp của sinh viên cũng tốt hơn, do các em đã quen với môi trường giao tiếp đó, các em có thể sử dụng tiếng việt khi bí từ, đôi khi các em diễn đạt sai giáo viên vẫn có thể hiểu được do đó là những lỗi thông thường hay mắc phải Giao tiếp với người nước ngoài các em sẽ gặp khó khăn hơn, do tốc độ nói của người bản xứ nhanh hơn, nuốt âm nhiều hơn, sử dụng nhiều từ lóng hơn, nhiều từ các em phát âm sai, nên khi nghe cách phát âm chính xác hơn, các em không thể nhận biết v v.” 1 Chính vì thế, giao tiếp với người nước ngoài có thể giúp sinh viên nhận biết lỗi sai trong phát âm và ngữ điệu nói, đồng thời giúp
1
Trích từ bài phỏng vấn số 1 của bảng số 1.
Trang 29http://svnckh.com.vn 21
sinh viên có cơ hội thực hành những kiến thức đã được học trên lớp và kiểm tra chúng; cũng như học hỏi thêm thông tục, khẩu ngữ, văn phong nói của người nước ngoài, điều này ít được dạy trên lớp nhưng lại đặc biệt cần thiết trong giao tiếp tiếng Anh hàng ngày
Về phía sinh viên, khi được hỏi về vai trò của việc học tiếng Anh trên trường đối với kĩ năng giao tiếp tiếng Anh như thế nào, chỉ có 3,6% cho rằng cứ học tốt trên lớp là đủ để giúp bạn tự tin giao tiếp với người nước ngoài Trong khi đó, 43,4% cho rằng học trên trường giúp một phần lớn, phần còn lại phải thực hành thực tế, tức là vai trò của việc học trên trường không phải là tuyệt đối nhưng vẫn chiếm vai trò quan trọng hơn cả Điều đáng lưu ý là có tới 53% ý kiến sinh viên cho rằng học trên trường chỉ là lý thuyết chay và chính thực hành mới là yếu tố quan trọng giúp bạn giao tiếp tự tin với người nước ngoài Điều này cho thấy sinh viên đánh giá cao tầm quan trọng của việc thực hành thực tế khi học ngoại ngữ và cũng có nhu cầu rất lớn về việc này
Biểu đồ 3: So sánh vai trò việc học trên lớp và thực hành trong nâng cao kĩ
năng giao tiếp tiếng Anh
Học trên lớp là phụ, thực hành là chính
Để có thêm cơ sở tìm ra nguyên nhân của thực trạng về kĩ năng giao tiếp của sinh viên với người nước ngoài, chúng tôi điều tra về các phương pháp mà sinh viên đã sử dụng để nâng cao kĩ năng ngoại ngữ của mình Kết quả cho thấy
Trang 30http://svnckh.com.vn 22
phần lớn các bạn sinh viên đều sử dụng cách tham gia các câu lạc bộ tiếng Anh, chiếm tới 62,7% Ngay sau đó, có tới 51,8% chọn tự học tiếng Anh là một trong
những phương pháp nâng cao kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của mình Có 32,5%
các bạn coi việc tham gia các tổ chức phi chính phủ (NGOs) nhƣ một trong các cách nâng cao kĩ năng ngoại ngữ Cuối cùng là 25,3% các bạn chọn cách
đến các địa điểm có nhiều khách du lịch nước ngoài
Biểu đồ 4: Các phương pháp sinh viên sử dụng để nâng cao kĩ năng giao tiếp
Tham gia NGOs Đến địa điểm có khách du lịch
Như vậy ta có thể thấy mặc dù đề cao vai trò của thực hành trong việc học ngoại ngữ, vẫn rất đông các bạn tiếp tục sử dụng cách tự học, tự suy nghĩ, tự
Trang 31http://svnckh.com.vn 23
quan sát Các bạn cũng cố gắng tự tạo cơ hội thực hành giao tiếp cho mình bằng cách tham gia các câu lạc bộ tiếng Anh, đến các địa điểm đông khách du lịch Tuy nhiên, không ai có thể biết chắc về hiệu quả của những phương pháp này do
ở các câu lạc bộ tiếng Anh hiện nay hiếm khi có người nước ngoài tham gia, sinh viên chủ yếu giao tiếp với nhau nên ít có cơ hội luyện giao tiếp với người nước ngoài Một số bạn chọn tham gia các tổ chức phi chính phủ để nâng cao kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của mình- đây là một điều khá mới mẻ nên tỷ lệ sinh viên chọn phương án này chưa nhiều Mặc dù vậy chúng tôi xin tập trung nghiên cứu tính hiệu quả và tính khả thi của phương pháp học này, vì nó mang tính mới
mẻ nhưng đồng thời có thể mang tính hiệu quả rất cao Kết quả nghiên cứu đó được trình bày ở phần 2.2.2 Kết quả nghiên cứu về thực trạng kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên khi tham gia NGOs; chi tiết về giải pháp tham gia NGOs sẽ được trình bày rõ hơn ở chương 3 – Một số giải pháp nâng cao kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên với người nước ngoài – Đề xuất tham gia NGOs
2.2.2 Kết quả nghiên cứu về thực trạng kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên khi tham gia NGOs
2.2.2.1 Cơ hội giao tiếp với người nước ngoài cho sinh viên ở NGOs
Biểu đồ 5: Cơ hội giao tiếp với người nước ngoài cho sinh viên ở NGOs
Trang 32http://svnckh.com.vn 24
Ở các NGOs quốc tế, các bạn sinh viên sẽ có cơ hội được tiếp xúc với người nước ngoài bởi làm việc trong cùng một môi trường Tuy nhiên tùy vào từng lĩnh vực hoạt động, công việc khác nhau mà các bạn sinh viên có cơ hội khác nhau để giao tiếp với người nước ngoài Theo điều tra của chúng tôi, khi làm việc ở NGOs thì cơ hội đó cho các bạn là khá cao: 23,7% rất thường xuyên
có dịp giao tiếp với người nước ngoài (có thể gặp hàng ngày hoặc mọi lúc khi muốn) và 44,7% các bạn trả lời là khá thường xuyên (gặp hàng ngày nhưng phải phụ thuộc vào lịch của tổ chức sắp xếp)- chiếm tổng cộng 68,2% lượng sinh viên điều tra Trong khi đó lượng sinh viên thỉnh thoảng mới có dịp tiếp xúc (khoảng 1-2 lần/tuần) chiếm 28,9% và có một lượng rất nhỏ sinh viên hầu như không có cơ hội giao tiếp với người nước ngoài, chiếm 2,6% Như vậy khi sinh viên tham gia vào một NGO họ đã làm tăng cơ hội cho mình để giao tiếp với người nước ngoài Đa phần trong số họ làm công việc đòi hỏi và được tạo điều kiện để giao tiếp với người nước ngoài thường xuyên – đây là một nhân tố quan trọng giúp họ thực hành kiến thức ngoại ngữ học ở trên lớp và tạo phản xạ nhạy bén hơn trong giao tiếp bằng ngoại ngữ hàng ngày
Vậy ở NGOs, các sinh viên đã tham gia với tư cách gì? Trước hết, sinh viên đang học tập tại các trường đại học bị bó hẹp về thời gian do phải hoàn thành các môn học trên lớp, họ lại chưa có bằng đại học và đa phần còn thiếu kinh nghiệm làm việc Mặc dù vậy, điểm mạnh của họ là sự năng nổ, nhiệt tình, không ngại thử thách và thích khám phá, trải nghiệm, nhanh chóng tiếp thu những điều mới mẻ và đa phần mong muốn được đóng góp cho xã hội Ngoài ra đối với các sinh viên là đối tượng nghiên cứu của chúng tôi, điểm mạnh của họ còn là có nền tảng ngoại ngữ khá và rất ưa thích các cơ hội giúp mình nâng cao
kĩ năng ngoại ngữ Chính vì vậy mà hiện nay xu hướng sinh viên tham gia vào NGOs ngày càng nhiều, trong đó 83,3% hoạt động với tư cách tình nguyện viên cho các hoạt động xã hội, 22,2% đã từng hoặc đang là trợ lý dự án và 13,9% là thực tập sinh tại NGO Một số ít các bạn còn tham gia với tư cách là học sinh
Trang 33Trợ lý
dự án
Thực tập sinh
Công việc khác
2.2.2.2 Hiệu quả của việc tham gia NGOs tới kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên
Trước tiên phải nói rằng không phải tất cả các sinh viên đều tham gia NGOs với mục đích nâng cao kĩ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ Có không ít sinh viên mong muốn làm việc ở NGOs để làm các hoạt động từ thiện và tình nguyện đóng góp cho xã hội; hoặc để học hỏi những kinh nghiệm làm việc tốt,
có một môi trường làm việc mới, năng động và với mức lương cao…
Mặc dù vậy, ta không thể phủ nhận tác động của việc tham gia NGO tới kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên do họ phải thường xuyên hoạt động trong môi trường quốc tế Kết quả điều tra bằng phiếu cho thấy dấu hiệu khá tích cực
về tác động này: có 10 người trong tổng số 38 sinh viên tham gia NGOs cho rằng tham gia NGOs rất hiệu quả trong việc nâng cao kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của mình, con số này chiếm 26,3%; 22 người (chiếm 57,9%) đánh giá là
“tương đối hiệu quả” Trong khi đó, số lượng người trả lời “có hiệu quả nhưng
Trang 34http://svnckh.com.vn 26
không nhiều lắm”, hoặc tham gia NGOs vì mục đích khác chứ không phải nâng cao kĩ năng giao tiếp tiếng Anh chỉ chiếm tổng cộng có 15,8%
Biểu đồ 7: Hiệu quả tham gia NGOs trong việc nâng cao khả năng giao tiếp
tiếng Anh với người nước ngoài
Đơn vị: %
26.3%
57.9%
Sau khi tiến hành phỏng vấn hai sinh viên đã từng tham gia NGOs, chúng tôi cũng nhận được những phản hồi tích cực về việc họ đã cải thiện trình độ giao tiếp ngoại ngữ của mình như thế nào Bạn Nguyễn Lê Tường Vân, sinh viên khoa tiếng Anh trường Đại học Ngoại ngữ- Đại học quốc gia Hà Nội đã từng làm việc ở 8 NGOs, trong đó có các NGOs khá lớn như ChildFund Organization (CFO), World Vision- Viet Nam (WVV), United Nations Development Programme-Viet Nam (UNDP… Vân làm việc với tư cách là phiên dịch viên, biên dịch viên và tình nguyện viên cho các tổ chức Vân cho biết trước khi bắt đầu tham gia NGOs, kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của bạn rất kém và bạn thấy
thiếu tự tin khi giao tiếp hoặc đứng trước nhiều người, bạn còn cho biết: “Kể từ khi tham gia NGOs, tôi cảm thấy trình độ tiếng Anh và lòng tự tin của mình đã được cải thiện một cách đáng kể Ban đầu tôi hầu như không thể nói được một
từ tiếng Anh nào cả Mặc dù vậy, dần dần, thông qua các hoạt động của tổ chức
và thường xuyên nhận nhiệm vụ hỗ trợ cho các tình nguyện viên quốc tế, tôi có
Trang 35kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Anh Jody giải thích sở dĩ được như vậy là bởi vì các bạn thường xuyên phải sử dụng Anh ngữ, nghe và nhìn thấy những người khác nói tiếng Anh và bắt chước theo họ Cũng có những trường hợp các bạn sinh viên vốn rất khá tiếng Anh nhưng còn ngại ngùng khi nói, chưa quen giao tiếp với người nước ngoài thì môi trường NGOs buộc các bạn phải nói, phải diễn đạt cho mọi người hiểu để hoàn thành công việc, giúp các bạn phá bỏ rào cản tâm lý e ngại, tự tin hơn khi giao tiếp với người nước ngoài
Như vậy, nhìn chung kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên đã được cải thiện hơn từ khi sinh viên tham gia hoạt động ở các tổ chức phi chính phủ Môi trường quốc tế tạo điều kiện cho sinh viên có nhiều cơ hội giao tiếp thực tế với người nước ngoài, thường xuyên thực hành các kĩ năng ngoại ngữ được đào tạo trên lớp và học hỏi thêm kiến thức mới về từ vựng và văn hóa các nước Do
đó, tham gia NGOs được dự đoán là một phương pháp nâng cao kĩ năng giao tiếp tiếng Anh hiệu quả cho sinh viên trong thời đại mới hiện nay
1
Trích từ bài phỏng vấn số 3 của bảng số 1
Trang 36http://svnckh.com.vn 28
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG GIAO TIẾP TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI NGƯỜI
NƯỚC NGOÀI - ĐỀ XUẤT THAM GIA NGOs
Việc phân tích kết quả nghiên cứu cho biết thực trạng kĩ năng giao tiếp với người nước ngoài của sinh viên, đồng thời giúp chúng tôi thấy rõ hiệu quả của việc tham gia NGOs với mục đích nâng cao kĩ năng này Dựa trên các kết quả tìm được cùng với những kinh nghiệm của bản thân, chúng tôi xin được mạnh dạn đề xuất một số giải pháp để nâng cao kĩ năng giao tiếp tiếng Anh với người nước ngoài – đây cũng chính là nội dung chính của chương 3 Ngoài các kiến nghị chung đối với bản thân sinh viên và nhà trường, chúng tôi xin đi sâu phân tích đề xuất tham gia NGOs theo các ý như sau: phân tích tính vượt trội của phương pháp này trong việc nâng cao kĩ năng giao tiếp tiếng Anh với người nước ngoài; làm rõ những lợi ích
mà nó mang lại và cả những khó khăn có thể nảy sinh; từ đó đưa ra kiến nghị về một số giải pháp để khắc phục các khó khăn đó
a Chăm chú nghe giảng và ghi chép
Rõ ràng nhiều người có thể tự học tiếng Anh nhưng cũng không phải ngẫu nhiên mà trường đại học Ngoại Thương lại dành 15 tiết học/ tuần để giảng dạy tiếng Anh cho khối tiếng Anh Thương Mại, trường Đại học Ngoại Thương Điều này đã nói nên tầm quan trọng của việc lên lớp nghe giảng môn Tiếng Anh Việc lên lớp sẽ giúp các bạn tiếp thu được những kiến thức mà các thầy cô đã tích lũy được trong nhiều năm Ví dụ, thay vì tốn thời gian cho việc phải đi tìm rất nhiều
Trang 37Việc học luôn luôn phải đi cùng vơi ghi chép cẩn thận thì mới mong đạt được hiệu quả cao nhất, theo ý kiến của cô Thái Thị Thu Nga, khoa Tiếng Anh Thương Mại, trường Đại học Ngoại Thương Bộ óc của con người chỉ có sức chứa nhất định Vì vậy, việc ghi chép là cần thiết để sinh viên có thể nhớ lâu và
có thể xem lại mỗi khi quên
b Thảo luận nhóm
Nhưng nếu chỉ đi học đầy đủ mà không thực sự tham gia vào buổi học thì sinh viên sẽ nhanh chóng quên kiến thức Học ngoại ngữ nói chung và học tiếng Anh nói riêng luôn đòi hỏi phải thực hành bốn kỹ năng nghe – nói - đọc - viết thường xuyên Do đó, sinh viên nên tận dụng các cơ hội để thực hành Tiếng Anh trong các buổi thảo luận nhóm
Trước hết, thảo luận nhóm sẽ giúp sinh viên có cơ hội hợp tác với những bạn nói khá hơn hoặc kém hơn mình Từ đó, sinh viên so sánh với bản thân để học hỏi bạn khá hơn và tránh mắc lỗi giống như bạn kém hơn Hơn nữa, có một
sự thật là thường thì chính bản thân sinh viên cũng khó có thể tự nhận thức được lỗi của mình nếu không được người khác chỉ ra Vì vậy, sinh viên có thể tiến bộ nhanh nhờ thảo luận nhóm vì khi đó nhóm thảo luận có thể phát hiện ra lỗi sai của các thành viên và giúp đỡ nhau cùng khắc phục Cuối cùng, thảo luận nhóm tạo điều kiện cho luyện tập sinh viên nói tiếng Anh thường xuyên Điều này tốt cho phản xạ ngôn ngữ, giúp sinh viên diễn đạt trôi chảy hơn về sau khi phát biểu và phát triển quan điểm của mình bằng tiếng Anh
Trang 38http://svnckh.com.vn 30
Như vậy, các buổi tham luận Tiếng Anh sẽ giúp sinh viên biết được điểm mạnh, yếu và vị trí của mình so với các sinh viên khác, từ đó có những điều chỉnh phù hợp để tiến bộ
c Thuyết trình
Có một thực tế là còn nhiều sinh viên Việt Nam chưa được tự tin khi phát biểu ý kiến của mình, nhất là trước đám đông Điều này gây cản trở sinh viên trong việc giao tiếp nói chung, đồng thời hạn chế khả năng phát triển của sinh viên cũng như sự thăng tiến trong các công việc sau này Vì vậy, một trong các cách khắc phục vấn đề này là ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, sinh viên, đặc biệt là sinh viên học tiếng Anh, nên luyện tập cho mình kĩ năng thuyết trình bằng tiếng Anh- kĩ năng mà nhiều nhà tuyển dụng nước ngoài hiện nay rất chú ý đến Sinh viên nên tận dụng các cơ hội để được thuyết trình trên lớp, hoặc trên khoa, thậm chí là ở trường Lúc đầu, sinh viên có thể lo lắng và căng thẳng nhưng khi sau khi thực hành nhiều lần, cảm giác ấy sẽ dần mất đi Từ đó sinh viên có thể chủ động, tự tin trong giao tiếp với người nước ngoài
3.1.1.2 Tự học
Có thể nói tự học là yếu tố quan trọng để một sinh viên có thể bứt phá
Một nhà bác học đã nói: “Thiên tài 99% là do chăm chỉ mà có được, chỉ có 1%
là do thông minh mà thành” Câu nói này đã thể hiện tầm quan trọng của việc tự
học, tự nghiên cứu và tìm tòi Đặc biệt trong môi trường Đại học, nơi mà nhiều sinh viên vẫn cho rằng chỉ cần nghe cô giáo giảng trên lớp như thời phổ thông là
có thể đạt điểm cao, luôn ỷ lại vào các thầy cô Sinh viên không ý thức được rằng, giáo viên chỉ là người hướng dẫn và quan sát chứ không phải là người đưa
họ đến đích Điều quan trọng là sinh viên cần phải cố gắng tự đi bằng đôi chân của mình Ý thức được tầm quan trọng của việc tự học là điều vô cùng cần thiết đối với sinh viên học ngoại ngữ, cụ thể ở đây là học tiếng Anh- một ngôn ngữ khác rất nhiều so với tiếng Việt về mặt phát âm, cấu tạo từ và cấu tạo câu Chính
vì vậy, việc chủ động tìm cho mình một môi trường để thực hành là điều vô cùng quan trọng Điều này không chỉ giúp các sinh viên ngoại ngữ có thể thực