1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN QUAN HỆ SẢN XUẤT TƯ BẢN CHỦ NGHĨA TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỊA TÔ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

24 26 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 187 KB
File đính kèm Tieu luan QHSX TBCN va Dia to XHCN.rar (41 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chñ nghÜa t­¬ b¶n ®éc quyÒn 24 QUAN HỆ SẢN XUẤT TƯ BẢN CHỦ NGHĨA TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỊA TÔ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA MỞ ĐẦU Nói đến địa tô là nói tới sản phẩm gắn liền với quyền sở hữu ruộng đất Với ý nghĩa.

Trang 1

QUAN HỆ SẢN XUẤT TƯ BẢN CHỦ NGHĨA TRONG NÔNG NGHIỆP

VÀ ĐỊA TÔ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

MỞ ĐẦU

Nói đến địa tô là nói tới sản phẩm gắn liền với quyền sở hữu ruộng đất.Với ý nghĩa đó, trước C.Mác các nhà kinh tế tư sản cổ điển như FrancoisQuesnay, Adam Smith, David Ricardo đã quan tâm nghiên cứu địa tô Song cácđại biểu nói trên nghiên cứu địa tô tách rời mối quan hệ với tư bản kinh doanhtrong nông nghiệp Vì vậy họ không thấy được mối quan hệ giữa địa chủ (chủ sởhữu ruộng đất) với tư bản kinh doanh trong nông nghiệp và công nhân lao độnglàm thuê trong nông nghiệp, cũng như nguồn gốc, bản chất địa tô tư bản chủnghĩa và không hiểu biết gì đến địa tô tuyệt đối trong xã hội tư bản

C.Mác là người đầu tiên nghiên cứu địa tô tư bản chủ nghĩa trong mốiquan hệ chặt chẽ giữa địa chủ (chủ sở hữu ruộng đất) với tư bản kinh doanhtrong nông nghiệp và công nhân lao động làm thuê trong nông nghiệp, nên đãchỉ rõ điều kiện, nguyên nhân hình thành, nguồn gốc, bản chất địa tô tư bản chủnghĩa và đã đưa lý luận địa tô thành lý luận hoàn chỉnh khoa học

Ngày nay nước ta đang trong quá trình chuyển từ sản xuất nhỏ lên sảnxuất lớn xã hội chủ nghĩa, việc nghiên cứu và vận dụng những tri thức khoa họccủa C.Mác về lý luận địa tô có ý nghĩa quan trọng, nhằm khai thác và sử dụnghợp lý nguồn lực về đất đai cho phát triển nông nghiệp bền vững

Trang 2

NỘI DUNG

I TƯ BẢN KINH DOANH NÔNG NGHIỆP VÀ BẢN CHẤT ĐỊA

TÔ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

1 Tư bản kinh doanh nông nghiệp

a) Sự hình thành quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp

- Quan hệ sản xuất TBCN xuất hiện trong nông nghiệp muộn hơn trong

công nghiệp và thương nghiệp

Tư bản không chỉ hoạt động và thống trị trong lĩnh vực công nghiệp,thương nghiệp mà còn đẩy mạnh sự hoạt động của nó sang lĩnh vực nôngnghiệp, tiếp tục chi phối một trong những ngành sản xuất vật chất cơ bản của xãhội

Quá trình này đã từng bước xác lập quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩatrong nông nghiệp Do vậy, về mặt lôgíc quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa xuấthiện trong nông nghiệp muộn hơn trong công nghiệp và thương nghiệp

- Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp được quy định bởi cả tác nhân kinh tế và phi kinh tế

+ Một mặt, quy luật giá trị tác động làm phân hoá những người nông dânsản xuất nhỏ, hình thành tầng lớp giàu có (phú nông, tư bản nông nghiệp) vàtầng lớp nghèo khổ (những nông dân mất hết ruộng đất, phải đi làm thuê), từ đóhình thành quan hệ sản xuất TBCN trong nông nghiệp

+ Mặt khác, được nhà tư sản tạo điều kiện, tư bản đã đẩy nhanh quá trìnhxâm nhập vào nông nghiệp để kinh doanh, thúc đẩy sự ra đời của quan hệ sảnxuất tư bản chủ nghĩa

- Con đường hình thành quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp.

Thực tiễn lịch sử cho thấy quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nôngnghiệp được hình thành bằng hai con đường:

+ Một là, tiến hành cuộc cách mạng tư sản, xoá bỏ chế độ kinh tế địa chủ,thủ tiêu quyền sở hữu ruộng đất phong kiến cổ truyền, phát triển quan hệ sản

Trang 3

xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp Tiêu biểu là ở các nước: Mỹ, Pháp vàmột số nước Bắc Âu V.I.Lênin gọi đó là “con đường kiểu Mĩ”.

+ Hai là, thực hiện cải cách kinh tế, dần dần chuyển kinh tế địa chủ phongkiến sang kinh doanh theo phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sử dụng laođộng làm thuê Các nước phát triển theo con đường này gồm: Đức, Italia, Nhậtbản, Nga Sa hoàng V.I.Lênin gọi đó là ‘‘con đường kiểu Đức’’

Con đường này không xoá bỏ hoàn toàn quyền chiếm hữu ruộng đất cổtruyền của địa chủ phong kiến Vì vậy, trong nông nghiệp xuất hiện hai loại độcquyền: Độc quyền chiếm hữu ruộng đất và độc quyền kinh doanh ruộng đất

=> Song phát triển bằng con đường nào thì chủ nghĩa tư bản cũng chỉ xoá

bỏ lối kinh doanh phong kiến trong nông nghiệp chứ không thủ tiêu chế độ tưhữu về ruộng đất, mặc dù nó là yếu tố cản trở sự phát triển của nền nông nghiệp

C Mác khẳng định: “Độc quyền sở hữu ruộng đất là một tiền đề lịch sử

và vẫn là cái cơ sở thường xuyên của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa,cũng như của tất cả những phương thức sản xuất trước kia dựa trên sự bóc lộtquần chúng dưới một hình thức này hay một hình thức khác”.1

- Đặc điểm của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp:

Đặc điểm nổi bật của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nôngnghiệp là chế độ độc quyền sở hữu và độc quyền kinh doanh ruộng đất Cả hailoại độc quyền đã ngăn cản sự tự do cạnh tranh trong nông nghiệp

+ Có độc quyền tư hữu ruộng đất là do hình thái đặc thù, lịch sử chuyểnhóa quan hệ sở hữu tư nhân dưới ảnh hưởng của phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa

+ Có độc quyền kinh doanh ruộng đất là do diện tích đất đai thuận lợi chocanh tác nông nghiệp chỉ có hạn và đã bị các doanh nhiệp tư bản chủ nghĩachiếm giữ (trong khuôn khổ hợp đồng thuê ruộng đất)

=> Khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được hình thành, trong nôngnghiệp có ba giai cấp cơ bản gắn bó chặt chẽ với nhau gồm:

Giai cấp địa chủ (độc quyền sở hữu ruộng đất)

1 C Mác v Ph à Ph Ăngghen, to n t à Ph ập, NXBCTQG, H N à Ph ội, 1994 tập 25 phần II Tr.243

Trang 4

Giai cấp tư bản kinh doanh nông nghiệp (độc quyền kinh doanh ruộngđất)

Giai cấp công nhân nông nghiệp

=> Theo C.Mác, “Đó là ba giai cấp lớn của xã hội hiện đại dựa trênphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa”.2

b) Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp theo phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa

- Thứ nhất, không xoá bỏ độc quyền sở hữu ruộng đất của địa chủ mà chỉ bắt nó thích ứng với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Hỏi học viên: Vì sao?

+ Vì dưới chủ nghĩa tư bản, tư hữu là quyền thiêng liêng bất khả xâmphạm, là nền tảng của xã hội tư bản

Bản chất của nhà nước tư sản, nó đại biểu và phục vụ cho lợi ích của giaicấp tư sản và địa chủ bóc lột

=> Độc quyền sở hữu ruộng đất là một tiền đề lịch sử và vẫn là cái cơ sởthường xuyên của PTSXTBCN Dưới chủ nghĩa tư bản, độc quyền sở hữu ruộngđất của địa chủ được pháp luật thừa nhận và bảo vệ

+ Khi tư bản chưa đẩy mạnh sự hoạt động của nó vào lĩnh vực nôngnghiệp thì địa chủ là người trực tiếp sản xuất kinh doanh và bóc lột lao động làmthuê

Khi tư bản đẩy mạnh sự hoạt động của nó vào lĩnh vực nông nghiệp đểsản xuất kinh doanh thì tư bản kinh doanh nông nghiệp là người trực tiếp sảnxuất kinh doanh và bóc lột lao động làm thuê, còn địa chủ vẫn là người chủ sởhữu ruộng đất, chỉ cho tư bản kinh doanh nông nghiệp thuê ruộng đất thuộc sởhữu của mình và thu địa tô Do vậy sản xuất nông nghiệp theo phương thức tưbản chủ nghĩa không xoá bỏ độc quyền sở hữu ruộng đất của địa chủ mà chỉ bắt

nó thích ứng với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nếu xóa bỏ độc quyền

sở hữu ruộng đất của địa chủ thì địa chủ sẽ không cho nhà tư bản thuê đất đểkinh doanh

2 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tập 25, phần II, tr 643

Trang 5

- Thứ hai, kinh doanh theo phương thức TBCN đã từng bước biến nền nông nghiệp phong kiến mang nặng tính tự cấp, tự túc thành một nền nông nghiệp hàng hoá sản xuất lớn, hiện đại, nhưng không diễn ra quá trình tích tụ

và tập trung như trong công nghiệp.

+ Một mặt, kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa làm cho vốn được tậptrung trong tay số ít nhà tư bản nên có điều kiện áp dụng khoa học và công nghệhiện đại một cách phổ biến Trên cơ sở đó nâng cao năng suất ruộng đất, năngsuất lao động nông nghiệp và chất lượng nông phẩm

+ Mặt khác, cạnh tranh kiểu tư bản chủ nghĩa đã thúc đẩy quá trình ứngdụng khoa học kĩ thuật, hợp lí hoá sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi để hiện đạihoá nông nghiệp

+ Tính chất xã hội hoá trong nông nghiệp được đẩy mạnh, biểu hiện ở sựtập trung hoá, chuyên môn hoá, hợp tác hoá trong sản xuất, chế biến và tiêu thụsản phẩm Từ đó hình thành các vùng chuyên canh, cung cấp cho thị trường mộtkhối lượng lớn sản phẩm có chất lượng cao, giá cả phù hợp

+ Tuy nhiên: hạn chế lớn nhất của phát triển nông nghiệp theo con đường

tư bản chủ nghĩa là đã làm phá sản hàng loạt người sản xuất nhỏ; tăng cườngbóc lột lao động làm thuê trong nông nghiệp, đồng thời tạo cơ hội cho tư bản ởcác lĩnh vực khác bóc lột người lao động

C.Mác đánh giá về vai trò của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đối với nền nông nghiệp hàng hoá trên hai mặt:

* Phát triển lực lượng sản xuất:

Khi phát triển lực lượng sản xuất nó đã biến nghề nông “thành một sự ứngdụng nông học một cách khoa học và tự giác”3 Và nhờ vào việc hợp lí hoá nôngnghiệp “lần đầu tiên đã tạo khả năng kinh doanh nông nghiệp theo phương thức

xã hội”4 Chính vì vậy mà lực lượng sản xuất trong nông nghiệp tư bản chủnghĩa đã tăng lên gấp bội so với các phương thức sản xuất trước đó

3C Mác và Ph Ăngghen, toàn tập, NXBCTQG, Hà Nội, 1994 tập 25 phần II Tr 244, 245.

4C Mác và Ph Ăngghen, toàn tập, NXBCTQG, Hà Nội, 1994 tập 25 phần II Tr 244, 245.

Trang 6

* Mở rộng quan hệ sản xuất:

Quan hệ đất đai tư bản chủ nghĩa đã tiến tới tách quyền sở hữu ruộng đấtkhỏi quyền kinh doanh ruộng đất, biến sở hữu ruộng đất thành sở hữu “thuầntuý” kinh tế Và ngay dưới con mắt của nhà tư bản cũng phải thừa nhận việc tưhữu “những mảnh địa cầu” của một nhóm chủ đất là “một vật thừa vô dụng vàphi lí”

Hỏi học viên: Vậy vì sao kinh doanh nông nghiệp theo phương thức tư

bản chủ nghĩa không diễn ra quá trình tích tụ và tập trung như trong công nghiệp?

Vì trong lĩnh vực công nghiệp, do cạnh tranh giữa các nhà tư bản nênbuộc các nhà tư bản phải tiến hành tích tụ và tập trung tư bản để đầu tư mở rộngsản xuất và để thắng thế trong cạnh tranh Trong lĩnh vực nông nghiệp do chế độđộc quyền kinh doanh ruộng đất của tư bản nên đã ngăn cản sự tự do cạnh tranhtrong lĩnh vực nông nghiệp, do vậy kinh doanh nông nghiệp theo phương thức tưbản chủ nghĩa không diễn ra quá trình tích tụ và tập trung như trong côngnghiệp

- Thứ ba, kinh doanh theo phương thức TBCN đã làm phá sản hàng loạt những người sản xuất nhỏ, nhưng nó không xoá bỏ hoàn toàn kinh tế hộ và kinh

tế trang trại (nó vẫn là những tổ chức kinh tế cơ bản, quan trọng của nền sản xuất TBCN).

Phát triển nông nghiệp theo con đường tư bản chủ nghĩa là đã làm phá sảnhàng loạt người sản xuất nhỏ; làm thay đổi cung cầu hàng hóa sức lao động, tạođiều kiện cho tư bản tăng cường bóc lột công nhân lao động làm thuê trong nôngnghiệp

Sản xuất lớn có thể sử dụng được khoa học kỹ thuật hiện đại, làm chonăng suất lao động, năng suất cây trồng vật nuôi tăng lên, giá thành nông phẩmgiảm xuống Sản xuất lớn lợi dụng được những ưu thế của hiệp tác lao động vàphân công lao động, chuyên môn hoá sản xuất ngày càng cao thích ứng với yêucầu phát triển nông nghiệp hiện đại

Trang 7

Sản xuất lớn có ưu thế trong việc tổ chức dịch vụ trước sản xuất, trong sảnxuất và sau sản xuất đối với các nông trại.

+ Tuy nhiên, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp khônghoàn toàn giống như sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp Ởđây không xoá bỏ hoàn toàn kinh tế hộ và trang trại gia đình vì đó là những tổchức kinh tế cơ sở quan trọng của nền nông nghiệp tư bản chủ nghĩa

+ Các tổ chức kinh tế này sở dĩ tồn tại được vì nó có những ưu thế nhấtđịnh như: tận dụng được lao động nhàn rỗi trong gia đình, tiết kiệm được chi phísản xuất

+ Bên cạnh đó, việc tồn tại bộ phận kinh tế này cũng tạo điều kiện cho tưbản tập trung vào cung ứng vật tư, tiêu thụ và chế biến nông, sản phẩm

+ Nó làm cho tư bản hoạt động có hiệu quả cao hơn và chi phối đượcngười sản xuất Điều đó cho thấy kinh tế hộ và trang trại gia đình không phải là

sự cản trở mà là một hình thức phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nôngnghiệp

2 Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa

a) Sự xuất hiện của địa tô

Địa tô là phạm trù xuất hiện trước chủ nghĩa tư bản, cơ sở của nó là quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế, phản ánh mối quan hệ giữa người với người đối với việc chiếm hữu và khai thác ruộng đất.

- Trong chế độ phong kiến: địa tô đã tồn tại dưới ba hình thức: Tô lao

dịch, tô hiện vật và tô tiền

+ Tô lao dịch: Là loại địa tô mà người nông dân phải đem sức lao động,đem súc vật và nông cụ của gia đình mình đến làm việc trên ruộng đất của địachủ, đổi lại địa chủ cho phép họ tự chủ canh tác và thu sản phẩm trên một phầnruộng đất nhỏ khác

+ Tô hiện vật: Là hình thức người nông dân phải nộp một số lượng nôngsản cho địa chủ để được quyền canh tác ruộng đất trong một thời gian nhất định

Trang 8

+ Tô tiền: Là hình thức mà người nông dân phải trả tiền cho địa chủ đểđược quyền canh tác ruộng đất trong một khoảng thời gian nhất định Đây làhình thức địa tô khi kinh tế hàng hoá đã phát triển ở trình độ cao, do đó nó làhình thức địa tô cuối cùng của xã hội phong kiến.

- Dưới chủ nghĩa tư bản: khi kinh doanh trong nông nghiệp, nhà tư bản phải đảm bảo thu được lợi nhuận (theo tỷ suất lợi nhuận bình quân) và một phần dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân (lợi nhuận siêu ngạch) để trả tiền thuê ruộng cho địa chủ, phần lợi nhuận siêu ngạch đó chính là địa tô.

+ Khi nền nông nghiệp bị phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thốngtrị, nhiều loại địa tô đã xuất hiện như: địa tô nông nghiệp, địa tô đất xây dựng,địa tô hầm mỏ, địa tô độc quyền

+ Song với phương pháp trừu tượng hoá khoa học, khi nghiên cứu địa tô,C.Mác chỉ giới hạn trong phạm vi ngành sản xuất lương thực Vì lĩnh vực này là

cơ bản, phổ biến nuôi sống con người

=> Như vậy các loại địa tô khác chỉ là hình thức đặc biệt của địa tô TBCNgắn với những điều kiện cụ thể

b) Nguồn gốc và bản chất địa tô tư bản chủ nghĩa

- Khái niệm: Địa tô tư bản chủ nghĩa là số tiền mà nhà tư bản kinh doanh trong nông nghiệp phải trả cho địa chủ để được sử dụng ruộng đất trong một thời gian nhất định.

Như vậy:

Trang 9

Khi kinh doanh nông nghiệp nhà tư bản phải thu được một số lợi nhuận

siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân để nộp cho chủ đất (nếu không thì nhà tưbản sẽ không đầu tư tư bản kinh doanh nông nghiệp)

Địa chủ cho thuê đất thì phải được hưởng địa tô (nếu không thì địa chủ

không cho thuê) Khoản lợi nhuận siêu ngạch mà nhà tư bản kinh doanh nôngnghiệp thu được để nộp trả cho địa chủ phải được bảo đảm thường xuyên vàtương đối ổn định Đó chính là địa tô tư bản chủ nghĩa

- Nguồn gốc địa tô tư bản chủ nghĩa:

Địa tô tư bản chủ nghĩa là bộ phận lợi nhuận siêu ngạch do công nhânlàm thuê trong nông nghiệp tạo ra mà nhà tư bản thuê đất bóc lột được đem trảcho người chủ sở hữu ruộng đất

- Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa: Địa tô phản ánh mối quan hệ bóc

lột của giai cấp tư sản và địa chủ đối với công nhân làm thuê

Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa là một phần giá trị thặng dư nó đượcqui định cả về mặt lượng và mặt chất

+ Về mặt lượng: địa tô là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bìnhquân

+ Về mặt chất: địa tô là phần giá trị thặng dư mà tư bản bóc lột của côngnhân nông nghiệp để trả cho chủ đất

Phạm trù địa tô tư bản chủ nghĩa phản ánh mối quan hệ thống nhất và đốilập giữa “Ba giai cấp cấu thành cái bộ xương sống của xã hội cận đại - ngườicông nhân làm thuê, nhà tư bản công nghiệp và địa chủ”.5 Địa tô tư bản chủnghĩa biểu hiện quan hệ giữa địa chủ với tư bản kinh doanh nông nghiệp trongviệc chia nhau giá trị thặng dư

Mặt khác nó phản ảnh quan hệ bóc lột giữa địa chủ và nhà tư bản vớicông nhân làm thuê trong nông nghiệp, ở đó tư bản kinh doanh nông nghiệp trựctiếp bóc lột công nhân còn địa chủ gián tiếp bóc lột họ

5C Mác và Ph Ăngghen, toàn tập, NXBCTQG, Hà Nội, 1994 tập 25 phần II Tr 246

Trang 10

Liên quan đến phạm trù địa tô, một số học giả tư sản với thuyết ‘‘Tam vị nhất thể ’’ cho rằng: Lao động làm thuê được trả lương, tư bản kinh doanh nông nghiệp thu được lợi nhuận, địa chủ cho thuê đất phải được hưởng địa tô,

đó là điều hiển nhiên Những luận điểm đó chỉ là điều ngụy biện, bênh vực cho quyền lợi của giai cấp bóc lột.

Hỏi học viên: Phân biệt địa tô phong kiến và địa tô tư bản chủ nghĩa?

+ Giống nhau:

Địa tô tư bản chủ nghĩa và địa tô phong kiến đều dựa trên cơ sở quyền sởhữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế (tức là đem lại thu nhập), đều là kếtquả của sự bóc lột người lao động Tuy nhiên, giữa chúng có những điểm khácnhau căn bản:

+ Khác nhau:

* Về bản chất:

Địa tô tư bản chủ nghĩa phản ánh quan hệ giữa ba giai cấp: địa chủ, tư

bản nông nghiệp và công nhân làm thuê Trong đó, địa chủ gián tiếp bóc lộtcông nhân nông nghiệp thông qua tư bản thuê ruộng đất

Còn địa tô phong kiến chỉ phản ánh mối quan hệ trực tiếp giữa hai giai

cấp địa chủ và nông dân lĩnh canh (người cấy rẽ ruộng đất)

* Về số lượng:

Địa tô tư bản chủ nghĩa là một phần giá trị thặng dư

Còn địa tô phong kiến gồm toàn bộ sản phẩm thặng dư, đôi khi còn là

một phần sản phẩm tất yếu (khi mất mùa địa chủ không giảm mức tô)

* Về hình thức:

Địa tô tư bản chủ nghĩa là địa tô tiền,còn địa tô phong kiến chủ yếu là

địa tô hiện vật và địa tô lao dịch

Địa tô phong kiến dựa trên cơ sở cưỡng bức siêu kinh tế, người nông nô

và gia đình họ bị lệ thuộc chặt chẽ vào địa chủ Địa tô tư bản chủ nghĩa dựa trên

cơ sở các quan hệ kinh tế Nhà tư bản thuê ruộng đất của địa chủ và mua hànghoá sức lao động trên thị trường đều theo nguyên tắc “thuận mua vừa bán”

Trang 11

Tóm lại, Địa tô tư bản chủ nghĩa tạo ra cái vẻ giả tạo, dường như những

người sở hữu ruộng đất không tham gia bóc lột lao động làm thuê, bởi vì côngnhân nông nghiệp chỉ có quan hệ trực tiếp với những nhà tư bản thuê ruộng đất.Việc tư bản bóc lột người lao động cũng được ngụy trang bằng sự bình đẳng bềngoài theo các quan hệ kinh tế nhất định

II CÁC HÌNH THỨC ĐỊA TÔ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

1 Địa tô chênh lệch

a) Khái niệm và nguyên nhân hình thành địa tô chênh lệch

- Khái niệm:

Địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân, do các cơ sở kinh doanh có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn thu được so với các cơ sở kinh doanh có điều kiện sản xuất kém nhất

(Nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung của nông phẩm đượcquyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả sản xuất cábiệt trên ruộng đất có điều kiện canh tác thuận lợi hơn)

+ Phân tích địa tô tư bản chủ nghĩa, trước hết phải giả định: nông sảnđược bán theo giá cả sản xuất như các hàng hóa khác Điều này đảm bảo cho cácnhà tư bản bù được chi phí sản xuất và có lợi nhuận bình quân tương ứng với số

tư bản đầu tư trong nông nghiệp

+ Lợi nhuận siêu ngạch có cả trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp vànông nghiệp Tuy nhiên,

* Trong công nghiệp nó chỉ là hiện tượng tạm thời khi những nhà tư bản

cá biệt có được điều kiện sản xuất tốt hơn mức trung bình của xã hội Nhưng docạnh tranh, các nhà tư bản khác tìm mọi cách nâng cao trình độ kĩ thuật trong xínghiệp của họ nên xoá bỏ sự chênh lệch này giữa các nhà tư bản làm cho lợinhuận siêu ngạch bị san bằng đi

* Trong nông nghiệp lợi nhuận siêu ngạch tồn tại thường xuyên và tươngđối ổn định

Trang 12

Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu nhưng diện tích

lại có hạn, vị trí và chất lượng khác nhau Thực tế, người ta không thể tự tạothêm được ruộng đất, nhất là ruộng đất tốt, có điều kiện canh tác thuận lợi.Trong khi đó hầu hết ruộng đất đã bị độc chiếm Do vậy, những người kinhdoanh ruộng đất tốt, có điều kiện thuận lợi sẽ sử dụng được sức tự nhiên mộtcách độc quyền nên luôn thu được lợi nhuận siêu ngạch tương đối ổn định, lâudài

Khác với lĩnh vực công nghiệp, trong nông nghiệp giá cả sản xuất chung

của nông phẩm do điều kiện sản xuất xấu nhất quyết định Bởi vì, nông phẩm làsản phẩm thiết yếu của đời sống con người, nếu chỉ canh tác trên ruộng đất tốt

và trung bình thì sẽ không đủ nông phẩm cho nhu cầu xã hội

Cho nên người ta phải canh tác trên cả những ruộng đất xấu và ruộng đất

không có vị trí thuận lợi Khi đó giá cả sản xuất chung của nông phẩm phải đảmbảo cho những tư bản đầu tư ở những loại ruộng đất trên cũng thu được lợinhuận bình quân

Còn những tư bản đầu tư vào ruộng đất tốt, trung bình, có vị trí thuận lợi

sẽ đạt năng suất cao hơn Khi bán theo giá cả sản xuất chung, ngoài lợi nhuậnbình quân còn thu được lợi nhuận siêu ngạch để chuyển hoá thành địa tô Số lợinhuận siêu ngạch này sẽ thuộc về chủ đất dưới hình thức địa tô chênh lệch vì nó

là kết quả của việc sử dụng sức tự nhiên đã bị độc chiếm

- Bản chất của địa tô chênh lệch: là một phần của giá trị thặng dư biểu

hiện dưới hình thái lợi nhuận siêu ngạch, phạm trù địa tô chênh lệch biểu hiệnmối quan hệ bóc lột của nhà tư bản và địa chủ đối với công nhân lao động làmthuê

- Nguồn gốc của địa tô chênh lệch: là do công nhân làm thuê trong nông

nghiệp tạo ra

- Nguyên nhân hình thành địa tô chênh lệch:

+ Thứ nhất, do chế độ độc quyền kinh doanh ruộng đất

Ngày đăng: 20/10/2022, 12:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Ví dụ: Sự hình thành địa tơ tuyệt đối - TIỂU LUẬN QUAN HỆ SẢN XUẤT TƯ BẢN CHỦ NGHĨA TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỊA TÔ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA
d ụ: Sự hình thành địa tơ tuyệt đối (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w