1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA - NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ

17 1,1K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Triết Học Đạo Gia - Những Giá Trị Và Hạn Chế
Tác giả Trần Anh Khoa
Người hướng dẫn TS. Bùi Văn Mưa
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Công Nghệ Thông Tin
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 55,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA - NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN



-Bộ môn:

TRIẾT HỌC

Tiểu luận:

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA - NHỮNG

GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ

Thành phố Hồ Chí Minh - Tháng 01 Năm 2012

Trang 2

M c l c: ục lục: ục lục:

I Nội dung tư tưởng Đạo gia 1

A Lý luận về Đạo – Đức 1

B Thế giới quan – Nhân sinh quan của Đạo gia: 3

1 Thế giới quan 3

2 Nhân sinh quan 5

C Tư tưởng biện chứng của Đạo gia 6

1 Luật quân bình (Luật bù trừ) 6

2 Luật phản phục 7

D Quan niệm về chính trị – xã hội – con người: 8

E Quan điểm về phương châm xử thế 9

II Giá trị của Đạo gia 10

A Giá trị nhận thức 10

B Giá trị thực tiễn 11

III Hạn chế trong tư tưởng Đạo gia 14

A Trong hoạt động nhận thức 14

B Trong hoạt động thực tiễn 14

IV Kết luận 15

V Tài liệu tham khảo 15

Trang 3

Đạo gia được Lão Tử sáng lập ra và sau đó được Trang Tử phát triển thêm vào thời Chiến quốc Kinh điển của Đạo gia chủ yếu được tập trung lại trong

bộ Đạo đức kinh và Nam hoa kinh Đạo đức kinh có khoảng 5000 câu do Lão Tử soạn, bao gồm 2 thiên nói về Đạo và Đức Nam hoa kinh gồm các bài do Trang Tử và một số nhân vật theo Đạo gia viết Những tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia được thể hiện chủ yếu trong lý luận về đạo và đức Lý luận này thể hiện quan niệm biện chứng về thế giới và là cơ sở để Lão Tử xây dựng thuyết vô vi nhằm giải quyết những vấn đề do thời đại đặt ra

I Nội dung tư tưởng Đạo gia

A Lý luận về Đạo – Đức

Theo quan điểm của Đạo gia, khởi nguồn của vạn vật là từ đạo song khái niệm về đạo lại rất mơ hồ và huyền diệu vừa vô hình, phi cảm tính và khó có thể diễn giải được Đạo như là một phạm trù triết học, quy luật

chung của mọi sự sinh thành – biến hoá xảy ra trong thế giới “Có một vật hỗn độn, sinh thành trước trời đất; yên lặng, trống không; đứng một mình

mà chẳng thay; đi khắp nơi không dừng; có thể làm mẹ thiên hạ Ta không biết tên của nó, nên đặt tên nó là Đạo”

trong đạo: “Đạo sinh vạn vật, đức dưỡng chúng, vật chất cho chúng hình, hoàn cảnh tác thành chúng Cho nên vạn vật đều tôn đạo, quí đức Sự cao trọng của đạo đức chẳng nhờ ai ban, mà đạo đức tự nhiên vốn đã cao trọng Cho nên đạo sinh, đức dưỡng, làm cho vạn vật lớn lên; dưỡng nuôi vạn vật, tác thành che chở vạn vật Sinh ra vạn vật mà không nhận chúng là sở hữu của mình; làm mà không cậy công; làm cho chúng phát triển mà không đòi làm chủ tể Đó gọi là đức sâu dày.”

có gì vượt ra khỏi đạo: từ sự tồn vong (sống – chết) đến sự đạt thành (thành công – thất bại) “Đạo là khởi nguyên của vạn vật Vật nào mất đạo thì chết, được đạo thì sống, nghịch đạo thì thất bại, thuận đạo thì

Trang 4

thành công Cho nên, thánh nhân rất quý trọng sự hiện hữu của Đạo.”; đạo bao hàm và mang lại những giá trị đích thực cho vạn vật “Trời được Đạo, nên trong Đất được Đạo, nên yên Thần được Đạo, nên linh Hang được Đạo, nên đầy Vạn vật được Đạo, nên sống Hầu vương được Đạo, nên trị vì thiên hạ”

đạo: “Đạo mà ta có thể gọi được không phải là đạo; Danh mà ta có thể gọi được không phải là danh Không tên là gốc của trời đất, có tên là mẹ của vạn vật”

là đạo trời – vô vi và tôn quí Lụy thân là đạo người – hữu vi: “Có đạo trời cũng có đạo người Vô vi mà tôn quý, đó là đạo trời Hữu vi mà lụy thân, đó là đạo người Cái chính yếu là đạo trời, cái phụ trợ là đạo

người Đạo trời và đạo người xa nhau.”

Nếu như đạo được Đạo gia xem xét ở góc độ vô vi, siêu hình thì quan niệm về đức được Đạo gia xem xét là sự thể hiện sức mạnh tiềm ẩn của đạo, là sự vận hành của đạo trong vạn vật, nhờ đức mà vạn vật được định hình và phân biệt được với nhau, là cái lý sâu sắc để nhận biết vạn vật

hoàn cảnh tác thành chúng Cho nên vạn vật đều tôn đạo, quí đức Sự cao trọng của đạo đức chẳng nhờ ai ban, mà đạo đức tự nhiên vốn đã cao trọng Cho nên đạo sinh, đức dưỡng, làm cho vạn vật lớn lên;

dưỡng nuôi vạn vật, tác thành che chở vạn vật Sinh ra vạn vật mà không nhận chúng là sở hữu của mình; làm mà không cậy công; làm cho chúng phát triển mà không đòi làm chủ tể Đó gọi là đức sâu dày.”

cũng được Đạo gia khái quát thành cái vừa hữu hình lại vừa vô hình, dễ đạt được nhưng cũng xa vời: “Đạo rốt cuộc là không thể đắc Cái có thể đắc thì gọi là đức chứ không gọi là đạo Đạo rốt cuộc là không thể vận dụng Cái có thể vận dụng được thì gọi là hành chứ không gọi là đạo

Trang 5

Thánh nhân có thể vận dụng cái khả đắc (tức là đức) và cái khả hành (tức là hành) nên giỏi về sự sống Thánh nhân có thể vận dụng cái bất khả đắc bất khả hành (tức là đạo) nên giỏi về sự chết.”; “Bậc thượng đức không tỏ ra là có đức, nên có đức Người hạ đức câu nệ vào đức, nên vô đức Bậc thượng đức thì vô vi và không lụy sự việc Người hạ đức có lao tác và lụy sự việc”

Quan niệm đạo và đức của Đạo gia hết sức phổ quát và vô vi, vừa bao hàm cả trời đất con người và vạn vật, vừa là thành phần nội tại của vạn vật, vừa mang tính khách quan vừa mang tính phổ biến Qua đó cũng làm bộc lộ được thế giới quan biện chứng siêu hình trong tư tưởng Đạo gia

B Thế giới quan – Nhân sinh quan của Đạo gia:

Đạo gia nhìn nhận thế giới và con người theo khuynh hướng tự nhiên: vạn vật luôn tồn tại và chuyển hoá trên 2 mặt đối lập, tuân thủ và hoà hợp với tự nhiên Chính vì thế mà Đạo gia đưa ra cách sống thoát tục nhằm đưa con người về với tự nhiên, tránh những ham muốn vụ lợi, xem trọng tu thân, chủ trương xây dựng một thế giới đại đồng, hướng con người về với cách sống thuần phát tự nhiên, không o ép bản thân và cuộc sống xung quanh

vạn vật cũng như bao hàm trời đất Bao hàm vạn vật nên không có chỗ cùng tận Bao hàm trời đất nên không có chỗ giới hạn.”

1 Thế giới quan

Đạo gia xem “chết và sống là do số mệnh; sự thường hằng của đêm và ngày là do trời”, vì thế khi nhìn nhận thế giới Đạo gia mang tư tưởng vô vi vừa thoát tục lại vừa gần gũi hoà nhập với đời

Trang 6

a Xuất thế – thoát tục:

Xuất phát từ việc xem vạn vật đều có sự hài hoà trong mọi mặt, luôn tuân theo các quy luật tự nhiên, Đạo gia chủ trương hướng con người về với đạo, thoát ra khỏi những ham muốn cá nhân, đi ngược với quy luật tự nhiên Người đạt đạo sẽ thoát khỏi những chi phối của bản ngã thấp kém, giá trị nhân văn của xã hội đại đồng được nâng cao, bình đẳng thanh cao Con người sẽ thanh thoát, vượt ra khỏi khổ đau

cần nói mà ứng nghiệm, không cần mời mà các vật vẫn theo về, lờ mờ

mà hay mưu tính”

thì thản nhiên mà chấp nhận nó; đã thế thì không lo buồn hay vui

sướng… cho nên cứ lặng lẽ xem những gì mình gặp phải đều là định mệnh, và không động tâm giữa hai cực đoan; cứ một lòng hợp nhất với đạo, không vui sướng hay lo buồn.”

Tư tưởng xuất thế của Đạo gia không phải đưa con người tránh xa cuộc đời sống ẩn dật theo trường phái siêu nhiên mà chủ đạo hướng con người đến với điều chân chính, thuần phát, hài hoà theo đúng bản chất của con người, vượt lên trên những bon chen, ham muốn tầm thường, không phù hợp với tự nhiên Không những thế khi đạt đạo cũng là lúc vạn vật và đạo hoà làm một Đạo điều hướng vạn vật, trong vạn vật có đạo, đó là tư tưởng nhập thế của Đạo gia

Đạo nhập thế là sự thể hiện sức mạnh của đạo trong cải biến xã hội, cải biến con người, đưa vạn vật về đúng bản chất tự nhiên vốn có Tác dụng của đạo được phát huy trong vạn vật, lúc đó vạn vật đạt được đức của đạo Đây cũng là tư tưởng cứu nhân độ thế của nhiều giáo lý của Phật giáo – Nho giáo cùng thời với Đạo gia Song phương cách nhập thế của Đạo gia cũng có sự khác biệt, đó là dùng đạo chỉ để hướng con người - vạn vật về

Trang 7

với vô vi theo đúng bản chất tự nhiên thuần khiết vốn có, không mang tính siêu hình, huyền hoặc như các đạo giáo khác

2 Nhân sinh quan

Đạo gia chú trọng đạo tức là các quy luật của vũ trụ vạn vật và dùng đạo

để cải biến vạn vật – con người về với đúng bản chất tự nhiên vốn có Con người theo đạo, đạt đạo là phải rèn luyện, thực hành các nguyên tắc trị thân

để có được đức và từ đó có thể trị thế (cải biến đời) Vì thế vấn đề nhân sinh trong Đạo gia rất được đề cao và chú trọng

 Con người muốn theo đạo, đạt được đạo thì đòi hỏi con người thực hành vô vi: “Tâm là chủ của thân, thống lãnh thần Tĩnh thì sinh trí huệ, động thì sinh hôn ám Người bắt đầu học đạo, cần buông xả tâm, lìa ngoại cảnh, thì mới nhập vào hư vô, tức là hợp với đạo”

 Không bon chen vị kỷ, tránh xa ham muốn: “Không ham muốn dễ được yên tĩnh, do đó thiên hạ sẽ ổn định”

 Sống đúng bản chất, tuân theo tự nhiên: “Hiểu rõ đức tính của trời đất chính là nắm được cái tông chỉ căn bản nhất và sẽ hoà hợp với cõi tự

nhiên Cho nên quân bình và điều hòa được thiên hạ cũng như con người Hòa với người thì gọi là niềm vui với người, hòa với cõi tự nhiên thì gọi là niềm vui với cõi tự nhiên.”

 Biết sống an nhàn, chấp nhận cái đang có: “Không có họa nào lớn bằng không biết đủ Không có rủi nào lớn bằng tham cầu Cho nên hễ biết đủ thì người ta sẽ luôn đầy đủ vậy”

Lấy con người làm gốc, giữa con người và trời đất vạn vật luôn có mối liên quan, giao hoà với nhau thông qua cái đạo tự nhiên Tuân theo tự nhiên, hành xử theo tự nhiên là cốt lõi tư tưởng nhân sinh quan của Đạo gia

C Tư tưởng biện chứng của Đạo gia

Thế giới là một chỉnh thể thống nhất – vận hành của đạo; thông qua đức

mà đạo nằm trong vạn vật luôn biến hoá Vạn vật đều có các mặt đối lập

Trang 8

luôn tác động và chuyển hoá lẫn nhau: “Đạo có trong có đục, có động có tĩnh Trời trong đất đục, trời động đất tĩnh Nam trong nữ đục, nam động nữ tĩnh Đạo giáng xuống, và âm dương giao nhau sinh thành vạn vật Trong là nguồn của đục, đục là cơ sở của trong Ta thường thanh tĩnh thì vạn vật đều trở về trong ta”

“Vạn vật có phân ly, ắt có thành tựu Có thành tựu, ắt có hủy diệt Vạn vật không có thành tựu và không có hủy diệt, bởi vì tất cả đều trở về với Một.” Chính việc luôn xem xét vạn vật trên các mặt đối lập cùng tồn tại trong sự vận động của vạn vật đã làm nên nét biện chứng trong tư tưởng triết học Đạo gia và được khái quát trong 2 quy luật căn bản chi phối toàn

bộ vũ trụ, đó là quy luật quân bình và luật phản phục

1 Luật quân bình (Luật bù trừ)

Luật quân bình là luôn xem xét vạn vật ở trạng thái cân bằng theo một trật tự điều hoà của tự nhiên, không có cái nào thái quá, bất cập; từ đó làm cho vạn vật tồn tại và phát triển trong sự hài hoà và tự nhiên

 “Thiên hạ đều biết đẹp là đẹp, là vì đã có cái xấu; đều biết tốt là tốt,

là vì đã có cái không tốt Cho nên có và không sinh ra nhau, khó và dễ thành tựu cho nhau, dài và ngắn tạo hình thể cho nhau, cao và thấp làm nghiêng nhau, âm và thanh hoà nhau, trước và sau theo nhau”

 “Muốn nó co lại, tất phải giương nó thẳng Muốn nó yếu, tất phải làm nó mạnh lên Muốn phế bỏ nó đi, tất phải làm cho hưng vượng Muốn đoạt nó cái gì, tất phải cho nó cái khác Thế gọi là «làm cho cái sáng trở nên tế vi»”

 “Trên đời chẳng có gì mềm yếu bằng nước Để công phá cái cứng mạnh thì chẳng gì hơn nước Đó là vì không có cái gì thay thế nó được Ai cũng biết yếu thắng mạnh, mềm thắng cứng; nhưng chẳng ai biết thi hành điều đó”

Có rất nhiều triết lý thể hiện luật quân bình trong tư tưởng triết học Đạo gia, từ sự vận động của vũ trụ, vạn vật (vạn vật có sống và chết, trời đất có

Trang 9

ngày và đêm) đến bản tính con người (vui – buồn, tốt – xấu, mạnh – yếu,

…); từ việc luôn tồn tại các mặt đối kháng nhau trong sự vận động của xã hội (nước loạn sẽ có tôi trung, gia đạo bất an – cha nhân từ con hiếu

thảo, ) đến hành vi ứng xử, cứu nhân độ thế () và cả trong sự tiếp cận đạt đạo của Đạo gia (đạo mịt mờ)

2 Luật phản phục

Luật phản phục là quy luật mà ở đó sự phát triển khi đến một mức độ nào đó sẽ quay trở về với cái ban đầu, trở về cái gốc của nó

 “Sự sống tiếp nối cái chết và cái chết khởi đầu sự sống, nhưng nào ai biết qui luật của chúng? Đời người chỉ là sự tích tụ của khí Khí tụ lại thì ta sống, khí phân tán thì ta chết Đã biết sống và chết tiếp nối nhau, ta còn lo lắng chi? Do đó vạn vật cùng một thể”

 “Cái gì khiếm khuyết sẽ được làm cho toàn vẹn Cái gì cong sẽ được làm cho ngay Cái gì trũng sẽ được làm cho đầy Cái gì cũ sẽ được làm cho mới Có ít sẽ được thêm Có nhiều sẽ mê muội”

 “Mắt sắp mờ thì trước tiên hãy nhìn vật cực bé, tai sắp điếc thì trước tiên hãy nghe tiếng muỗi bay vo ve Cho nên sự vật chưa phát triển đến chỗ cùng cực thì chưa quay trở lại”

 “Vạn vật trong thiên hạ sinh ra từ Có, và Có sinh ra từ Không Có và Không sinh ra lẫn nhau”

 “Kết hợp các điểm khác biệt thì thành sự đồng nhất, phân tán sự đồng nhất thì thành các điểm khác biệt”

Vạn vật đều nằm trong và chịu sự chi phối của đạo, càng tách xa đạo thì vạn vật càng chứa nhiều mâu thuẫn Mâu thuẫn sẽ được xoá bỏ bằng cách đẩy mạnh một trong 2 mặt đối lập để mặt đối lập kia sẽ tự mất đi để đạt được trạng thái cân bằng Đó chính là sự vận động, biến đổi bất tận của vạn vật: đều đặn, nhịp nhàng, tuần hoàn và tự nhiên như hết ngày đến đêm, hết đêm sang ngày, trăng tròn lại khuyết, trăng khuyết lại tròn Phản

Trang 10

phục còn là sự vận động trở về với đạo của vạn vật - sự trở về với trạng thái tự nhiên, nguyên sơ

D Quan niệm về chính trị – xã hội – con người:

Về chính trị Đạo gia chủ trương dùng vô vi để trị vì thiên hạ Bậc minh vương theo Đạo gia không phải là người chính nhân quân tử tài trí dũng mãnh, quyền lực bao trùm thiên hạ như Nho gia mà là người “đặt nền tảng nơi Đức và được hoàn thiện nơi Trời” là người cai trị thiên hạ mà thiên hạ không hay không biết:

 “Lấy ngay thẳng để trị nước; lấy mưu trí để dùng binh; lấy vô sự để được thiên hạ.”

 “Minh vương cai trị thiên hạ, công trạng bao trùm thiên hạ mà tựa như không nhận là công lao của mình; giáo hoá vạn vật nhưng dân chúng không cảm nhận sự nương tựa đó; tuy công trạng nhiều nhưng minh vương không kể công, khiến vạn vật ai cũng có niềm vui”

 “Trời đất tuy lớn nhưng trời đất chuyển hoá vạn vật một cách quân bình; vạn vật tuy nhiều nhưng chúng đều bị thống trị một cách thống nhất; dân chúng tuy đông nhưng chủ của họ là vua Ông vua này đặt nền tảng nơi Đức và được hoàn thiện nơi Trời”

 “Cái khó trong việc cai trị nước là ở chỗ nhận ra ai là người hiền trong dân chúng, chứ không phải ở chỗ người cai trị tự xem mình là người hiền”

 “Không [cố ý] làm [vì tư dục] nhưng không gì mà không làm; muốn trị thiên hạ phải dùng vô vi; dùng hữu vi không đủ để trị thiên hạ.”

Xã hội lý tưởng đối với Đạo gia là những nước nhỏ, dân ít, có thuyền xe nhưng không đi, có gươm giáo nhưng không dùng, bỏ văn tự, từ tư lợi, không học hành… dân 2 nước ở cạnh nhau, dù cách nhau bởi một bờ dậu nhỏ hay 1 con mương cạn, cùng nghe tiếng chó sủa tối, tiếng gà gáy

sáng…nhưng đến già, đến chết họ không bao giờ qua lại thăm nhau

 “Không khai mở cái trí xảo của người, nhưng khai mở cái thiên tính tự nhiên Bởi vì khai mở cái thiên tính tự nhiên thì đức sinh ra, còn khai mở

Ngày đăng: 14/03/2014, 10:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w