1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận triết học :Tư Tưởng triết học Đạo gia và những giá trị , hạn chế của nó.

19 1,3K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 144,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận triết học : Tư Tưởng triết học Đạo gia và những giá trị , hạn chế của nó.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Tiểu luận triết học :

Tư Tưởng triết học Đạo gia

và những giá trị , hạn chế của nó.

Người hướng dẫn: TS Bùi Văn Mưa Người thực hiện : Đỗ Hữu Quốc Thắng

Mã số : CH1101042

STT: 42 – Nhóm 3

Trang 2

Mục lục

Lời mở đầu

A Nội dung

Chương I : Tư tưởng triết học Đạo gia

1 Nguồn gốc và sự ra đời

2 Người sáng lập và các đại diện tiêu biểu

3 Những quan điểm triết học cơ bản của Đạo gia

 Quan điểm về “Đạo” và “Đức”

 Quan điểm về thế giới – nhân sinh

 Quan điểm “Vô vi” về chính trị - xã hội

 Một số tư tưởng biện chứng

 Quan điểm trong phương châm xử thế

Chương II : Những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học Đạo gia

1 Giá trị tư tưởng

 Trong hoạt động nhận thức

 Trong hoạt động thực tiễn

2 Hạn chế

B Kết luận

*Tài liệu tham khảo

Trang 3

Lời mở đầu

Nếu phương Đông là chiếc nôi lớn của nền văn minh nhân loại thì Ấn Độ và Trung Quốc là những trung tâm văn hóa Triết học cổ xưa rực rỡ, phong phú nhất của nền văn minh ấy Một trong những tư tưởng triết học phương Đông thời đó mà ý nghĩa của nó vẫn còn giá trị cho đến ngày nay là tư tưởng triết học Đạo gia

Việc nghiên cứu nội dung tư tưởng và những giá trị, hạn chế của triết học Đạo gia giúp ta có thể : hiểu sâu thêm về nội dung của các tư tưởng trong triết học, tiếp thu những tư tưởng tiến bộ

và vận dụng chúng vào thực tế

Do kiến thức còn hạn hẹp, chắc chắn trong bài viết còn nhiều thiếu sót Mong nhận được sự góp ý của thầy

Em xin cám ơn !

Trang 4

A Nội dung

Chương I : Tư tưởng triết học Đạo gia

1.Nguồn gốc tư tưởng và sự ra đời:

Đạo gia là tên gọi với tư cách một trường phái triết học lớn, lấy tên của phạm trù “Đạo”, một phạm trù trung tâm và nền tảng của nó Nguồn gốc tư tưởng của Đạo gia xuất phát từ những quan điểm về vũ trụ luận, thiên địa, ngũ hành, âm dương, Kinh Dịch…

Đạo gia ra đời và phát triển rực rỡ từ cuối thời Xuân Thu đến cuối thời Chiến Quốc và sau đó

có tác động ảnh hưởng to lớn đến nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, triết học, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, y thuật, sinh học, hoá học, vũ thuật, địa lí… ở Trung Quốc và một số nước châu Á khác

2.Người sáng lập và các đại diện tiêu biểu:

Ngoài Lão Tử là người sáng lập, thì Đạo gia còn có hai người khác được thừa nhận và tôn vinh muôn đời, đó là Dương Chu và Trang Tử Trong đó vị trí của Trang Tử được sánh ngang với Lão Tử, nên còn gọi là Đạo Lão – Trang

Lão Tử (khoảng 580 – 500 TCN), sinh ra ở huyện Khổ, nước Sở, nay là Lộc Ấp, tỉnh Hà Nam Tiểu sử của ông còn gây nhiều tranh luận trong giới học thuật Tương truyền, trước khi Lão Tử cưỡi trâu qua nước Tần và biến mất, ông đã nghe lời Doãn Hy (người gác cửa ải phía tây Hàm Cốc) viết lại "Đạo Đức Kinh", gồm 81 chương Phần thứ nhất nói về Đạo, phần hai nói về Đức Các học giả hiện đại đánh giá, đó là một tập hợp những ngạn ngữ huyền bí, tối nghĩa, dường như muốn người đọc phải tự lí giải Chính vì vậy, về sau có hàng trăm bản dịch nghĩa cho bộ sách này

Dương Chu (khoảng 440 – 360 TCN) là một đạo sĩ ẩn danh và bí hiểm Theo luận giải, ông phải sinh trước Mạnh Tử (372 - 289 TCN) và sau Mặc Tử (478 - 392 TCN) Tư tưởng của ông được diễn đạt lại thông qua các tác phẩm của cả những người ủng hộ lẫn những người chống

Trang 5

đối ông Chủ thuyết của ông là quý sự sống, trọng bản thân Ông thường mượn chuyện Bá Thành Tử Cao không chịu mất một sợi lông để làm lợi cho thiên hạ, nhằm trình bày tư tưởng của mình

Trang Tử (365 – 290 TCN), tên thật là Trang Chu, tác giả bộ Nam Hoa kinh, là một trong hai

bộ kinh điển của Đạo gia Bộ sách gồm ba phần, chứa 33 thiên Trong đó, có nhiều điểm lấy từ Đạo Đức kinh làm chủ đề, nhưng không phải bao giờ cũng đồng thuận Một số nhà nghiên cứu sau này cho rằng phần lớn nội dung tác phẩm Nam Hoa kinh là do các đệ tử của ông biên tập

3.Những quan điểm triết học cơ bản của Đạo gia :

Từ thực tế cuộc sống, người Trung Quốc cổ đại cho rằng, bản thân vũ trụ, cũng như vạn vật

trong nó, được tạo thành nhờ vào sự tác động lẫn nhau của hai cái lực lượng đối lập nhau là âm

và dương Và mọi tai họa trong vũ trụ sở dĩ xảy ra cũng là do sự không điều hòa được hai lực

lượng ấy Mặt khác, tư tưởng triết học Trung Quốc thời kỳ này đều có mầm mống từ thần thoại

thời Tam Đại với các biểu tượng như đế, thượng đế, quỷ thần,…và các tư tưởng này đã hòa

quyện và chi phối mạnh đời sống tinh thần của người Trung Quốc, chúng không chỉ dùng để bói toán mà còn để lý giải vũ trụ, xã hội và con người

Quan điểm triết học của Đạo gia tuy hết sức phong phú, đa dạng, song tựu trung lại không đi sâu vào giải quyết vấn đề cơ bản của triết học theo cách lý giải của truyền thống triết học phương Tây, mà tập trung vào vấn đề con người trong mối tương quan và thống nhất với tự nhiên, trực giác tâm linh và phi lý tính Nó được thể hiện qua các tác phẩm “Đạo Đức kinh” của Lão Tử, “Nam Hoa kinh” của Trang Tử và một số tư tưởng của Dương Du được ghi chép tản mạn trong các sách “Mạnh Tử”, “Nam Hoa kinh”, “Hàn Phi Tử”, “Lã Thị Xuân Thu”, “Liệt tử”…

Mặc dù cả Lão Tử, Dương Chu và Trang Tử đều có những luận điểm khác nhau, đặc biệt là giữa Dương Chu và Trang Tử, song về cơ bản, những tư tưởng triết học chính yếu của phái Đạo gia đều thống nhất trên nền tảng các quan điểm lý luận về Đạo và Đức

Trang 6

Quan điểm về “ĐẠO” và “ĐỨC”

“Đạo” là một danh từ triết học đã được người Trung Hoa dùng từ thời thượng cổ, nhưng chỉ

đạt được tầm quan trọng đặc biệt và trở nên phổ biến nhờ bộ Đạo Đức kinh của Lão Tử Theo tiếng Hán cổ, Đạo có nghĩa là "con đường", "phương tiện", "nguyên lý"…

Lão Tử cho rằng Đạo vừa dùng để chỉ bản nguyên vô hình, phi cảm tính, phi ngôn từ, sâu kín

và huyền diệu của vạn vật, vừa để chỉ con đường, quy luật chung của mọi sự sinh thành, biến hóa xảy ra trong thế giới Đạo sinh ra vạn vật, vạn vật nhờ Đạo mà được sinh ra và khi mất đi

là lúc vạn vật quay trở về với Đạo

Còn “Đạo mà ta có thể nói đến được, không phải là Đạo thường còn Danh mà ta có thể gọi được, không phải là Danh thật sự Vô danh là gốc của thiên địa, hữu danh là mẹ của vạn vật” (Đạo khả đạo, phi thường Đạo Danh khả danh, phi thường Danh Vô danh thiên địa chi thuỷ, hữu danh vạn vật chi mẫu – Đạo Đức kinh)” Bởi vì: “Đạo chẳng có thể nghe được, nghe được không còn phải là nó Đạo cũng chẳng có thể thấy được, thấy được không còn phải là nó nữa.Có thể nào lấy trí mà hiểu được cái hình dung của cái không hình dung được chăng? Vậy thì không nên đặt tên cho đạo” (Nam Hoa kinh)

Khái niệm Đạo được xem là siêu việt, vượt lên trên mọi khái niệm, vì nó là cơ sở của tồn tại và phi tồn tại, ta không thể luận đàm, định nghĩa được Đạo sinh ra âm dương và nhờ sự chuyển động của âm dương mà phát sinh thế giới thiên hình vạn trạng “Vạn vật trong trời đất sanh từ hữu, hữu sanh từ vô Hữu vô đều từ thiên đạo” (Đạo Đức kinh)

Xét về mặt bản thể luận, “đạo” được trình bày dưới ba dạng thức: Thể, Tướng, Dụng Nhưng

nó không đồng nhất với phạm trù “bản thể” của triết học phương Tây

Thể của Đạo:

Chỉ nguồn gốc, nguyên lý tối sơ, tối hậu, cái tuyệt đối của vũ trụ vạn vật, cả tồn tại lẫn không tồn tại, cả hữu hình lẫn vô hình, cả cái tĩnh lặng và cái biến đổi, cả cái đậm đặc và cái trống rỗng Nó là “đạo huyền”, “đại đạo”, “đạo thường”, “một”, “cốc thần”, “thái cực” và đồng nhất

Trang 7

với “đạo” nói chung, có sức sáng tạo vô lượng vô biên: “Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh

ba, ba sinh vạn vật”…

Thể của Đạo là vô thủy vô chung: “Ta không biết Đạo con ai mà hình hiện ra ngoài trước cả tiên đế” (Lão Tử, Đạo Đức kinh) “Đạo tự bản tự căn, vốn tồn tại như xưa, khi chưa có trời đất, làm thiêng liêng quỷ thần, Thượng đế, sinh ra trời đất, ở trước thái cực mà chẳng là cao, ở dưới lục cực mà chẳng là sâu Sinh trước trời đất mà chẳng là lâu, dài hơn thượng cổ mà chẳng là già” (Nam Hoa kinh, Đại tông sư) Đạo sinh ra vạn vật, là “mẹ” của muôn loài, làm chủ trời đất một cách tự nhiên, không ý chí, không mục đích, nên cũng không tự cho vạn vật là của mình Nhờ đó mà trời đất vạn vật phó mặc tự nhiên, cứ sinh sinh hóa hóa không ngừng…

Tướng của Đạo:

Nhằm ngụ ý đến hình dáng, trạng thái của Đạo Nó không có một thuộc tính quy định nào ngoài vẻ tự nhiên chất phác, sâu thẳm, mập mờ, thấp thoáng, trống rỗng, huyền diệu, nhìn không thấy, nghe không được, không nắm được, không nếm được, không ngửi được, không sáng, không tối… “Thoắt lặng không hình, biến hóa không thường ” (Trang Tử, Nam Hoa kinh, Thiên hạ) Nói chung, Đạo không thể cảm giác, không thể diễn tả dưới bất cứ hình thức nào

Dụng của Đạo:

Nhằm nói đến công dụng và năng lực của Đạo Đó là trạng thái vận động, biến đổi, sản sinh, nuôi dưỡng và “huyền đồng”, làm cho vạn vật hiện ra muôn hình vạn trạn, vô cùng, vô tận… theo trật tự của Đạo Đạo làm cái không làm, không làm mà như đã làm, đã làm mà như không làm…

“Đức” là phạm trù triết học dùng để thể hiện sức mạnh tiềm ẩn của Đạo, là cái hình thức mà

nhờ đó vạn vật được định hình và phân biệt với nhau, là cái lý sâu sắc để nhận biết vạn vật Theo Lão Tử, đạo sinh ra vạn vật, đức nuôi nấng, bảo tồn vạn vật Vạn vật nhờ Đạo được sinh

ra, nhờ Đức để thể hiện và khi mất đi là lúc vạn vật quay trở về với đạo Đạo sinh ra Một (khí

Trang 8

thống nhất), Một sinh ra Hai (âm, dương đối lập), Hai sinh ra Ba ( trời, đất, người ), Ba sinh ra vạn vật

Nói tóm lại, Đạo không chỉ là nguốn gốc, bản chất mà còn là quy luật của mọi cái đã, đang và

sẽ tồn tại trong thế giới Điều này cho phép hiểu Đạo như nguyên lý thống nhất - vận hành của vạn vật – nguyên lý Đạo pháp tự nhiên (Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên) Đạo vừa mang tính khách quan (vô vi) vừa mang tính phổ biến Vì vậy trong thế giới, không đâu không có đạo, không ai không có đạo Đạo gia đã đề cập đến Đạo một cách phi thường, siêu việt, không đứng trên lập trường duy vật hay duy tâm thuần túy, mà ta chỉ nhận biết được điều đó khi xem xét trong quá trình đề cập đến sự vận hành, tác động của nó

Quan điểm về thế giới và nhân sinh:

Đạo gia coi bản tính nhân loại đều có một tính gốc, tính gốc là khuynh hướng “vô vi”

“Vô vi” là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không giả tạo, không gò ép trái với bản tính của mình và ngược với bản tính của tự thiên Do đó, “vô vi” là khuynh hướng trở về nguồn gốc để sống với tự nhiên, tức hợp thể với Đạo

Đạo là bản nguyên của vũ trụ, sáng tạo ra vạn vật, là phép tắc và quy luật biến hóa tự thân của vạn vật Đức được dùng để thể hiện sức mạnh tiềm ẩn của Đạo, là cái hình thức nhờ đó vạn vật được định hình và phân biệt với nhau, là cái lý sâu sắc để nhận biết vạn vật

Đạo gia coi con người là chủ thể của đối tượng nghiên cứu Nội dung là tập trung chủ yếu vào nghiên cứu xã hội và con người, coi trọng hành vi cá nhân, hướng tới sự thống nhất, hài hòa giữa con người và xã hội Đây không chỉ là đặc điểm riêng của Đạo giáo mà còn là đặc điểm chung của tất cả các trường phái triết học, đặc biệt là triết học phương Đông Triết học của Đạo giáo là triết học “hướng nội”- hướng vào nội tâm - luôn cố gắng tìm tòi về bản thân con người

và mối quan hệ giữa con người và xã hội xung quanh, ít quan tâm đến khoa học tự nhiên Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự kém phát triển về nhận thức luận, là nguyên nhân sâu xa của sự kém phát triển về kinh tế, khoa học của phương Đông so với văn minh Phương Tây- nơi

có nền triết học “hướng ngoại”

Trang 9

Một đặc điểm nữa của Đạo gia là hòa hợp và trọng truyền thống Ý tưởng về sự hòa hợp tự nhiên cùng tính tương liên của mọi sự vật và sự minh triết của con người đến từ sự thừa nhận trạng thái đó, đồng thời sống hòa hợp dưới ánh sáng khôn ngoan của nó

Nhìn từ viễn cảnh hiện đại, ta thấy Đạo gia đều có vẻ là tôn giáo, tuy nhiên chỉ được đề cập tới một cách đơn giản là “giáo” với ý nghĩa giáo hóa, dạy bảo cách sống sao phải đạo làm người, phù hợp với truyền thống đạo đức làm người Tuy có triển khai các thành tố tôn giáo và siêu hình nhưng rõ ràng chúng bắt nguồn và hấp thu từ các hệ thống triết học trước, được các tôn sư

và các cá nhân đi theo làm thành các học phái

Về tư tưởng thực chứng luận, ít quan tâm đến vấn đề lý giải thế giới, nguồn gốc của vũ trụ Tuy nhiên để tìm chỗ dựa vững chắc cho lý luận đạo đức của mình, trong Đạo gia với quan niệm của Lão Tử về Đạo: Đạo vừa mang tính khách quan (vô vi), vừa mang tính phổ biến Một đặc

điểm nữa là đều theo chủ nghĩa duy tâm đề cao tư duy trừu tượng, coi khinh nghiên cứu sự vật

cụ thể Lão tử cho rằng “Không cần ra cửa mà biết thiên hạ, không cần nhòm qua khe cửa mà biết đạo trời”

Quan điểm “Vô vi” về chính trị - xã hội:

“Vô vi”, theo Đạo gia, không có nghĩa là không làm gì, không có hoạt động gì, mà là phải tiến hành các hoạt động một cách tự nhiên, thuần phác; không làm trái với Đạo, không cố gắng hoạt động mang tính giả tạo, gượng ép, thái quá, bất cập… Bởi vì “Đạo đức là cái luật tự nhiên, không cần tranh mà thắng, không cần nói mà ứng nghiệm, không cần mời mà các vật vẫn theo

về, lờ mờ mà hay mưu tính” Dương Chu giải thích thêm: “Các sinh vật khác không phải là của

ta, nhưng đã có chúng rồi thì không được diệt trừ chúng đi”

Như vậy, “vô vi” nghĩa là không làm mất cái đức tự nhiên, thuần phác vốn có của sự vật Nếu

để mất nó, tức là ham muốn, dục vọng… thì sẽ chuốc lấy tai họa Cũng như: “Ngũ sắc làm cho mắt mờ, ngũ âm làm cho tai điếc, ngũ vị làm cho miệng chán, cưỡi ngựa săn bắn làm cho lòng phát cuồng, vật khó khiến cho lòng tà vậy” (Đạo đức kinh, chương 12) Những ai không biết thuận theo bản tính tự nhiên thuần phác, theo Dương Chu, đó là những kẻ “ham sống lâu, ham

Trang 10

danh vọng, ham địa vị, tiền tài Vì ham bốn cái đó nên sợ quỷ, sợ người, sợ kẻ có quyền uy, họ sống hay chết thì số mệnh của họ cũng tùy thuộc vào ngoại vật” (Liệt Tử, chương VII)

Về mặt chính trị - xã hội, Đạo gia chủ trương đường lối trị quốc theo đạo “vô vi”, chống lại chủ trương “hữu vi” cùng mọi chuẩn mực đạo đức và thể chế pháp luật, vì coi đó là sự áp đặt, cưỡng chế, can thiệp vào bản tính tự nhiên của con người Nó là nguyên nhân gây ra điều ác và bất ổn: “Nước nào chính sự lờ mờ thì dân thuần thục, nước nào chính sự rành rọt thì dân lao đao”; “Thiên hạ nhiều kỵ húy thì dân càng nghèo, dân nhiều khí giới nhà nước càng loạn, người nhiều tài khéo vật xảo càng thêm, pháp luật càng tăng trộm cướp càng nhiều”

Lão Tử lên án mạnh mẽ giai cấp thống trị đương thời và ông gọi giới quý tộc thống trị là bọn

ăn bám và đàn áp, gây ra mọi ham muốn và dục vọng nơi dân chúng Bọn họ chẳng “vô vi”

Ngược lại: “Ta vô vi mà dân tự hóa Ta vô tình mà dân tự chính Ta vô dự mà dân tự giàu Ta

vô dục mà dân chất phác” Do đó, cần phải xóa bỏ mọi lễ giáo, pháp luật, văn hóa, kỹ thuật, nghệ thuật… Nói chung, bỏ tất cả những gì do con người sáng tạo ra trái với bản tính tự nhiên thuần phác

Tư tưởng “vô vi” chủ trương thực hiện triệt để chính sách ngu dân, “không làm cho dân sáng

mà làm cho dân ngu”; “Trí tuệ sinh thì có đại ngụy” Bởi hiểu biết càng nhiều thì trí xảo càng nhiều, trí xảo càng nhiều thì ham muốn càng nhiều, càng muốn tranh đoạt và xâm phạm lẫn nhau, làm trái với đạo tự nhiên Con người càng “theo học thì càng phiền phức, mà theo đạo thì ngày càng bớt, bớt rồi thì lại bớt, bớt đến mức vô vi Cũng như: “Không chuộng hiền khiến dân không tranh, không trọng vật nên dân không trộm cướp, không thấy vật đáng ham khiến lòng dân khỏi loạn Cho nên lối trị dân của bậc thánh nhân là làm cho dân lòng trống, bụng no, ý chí yếu, xương cốt mạnh, thường khiến dân không biết, không muốn”

Bản thân Dương Chu, mặc dù có lúc trọng trí khôn, nhưng ông vẫn bảo: “Trời kia còn không biết, huống chi là con người” Hễ “cái gì không biết tại sao, thì gọi đó là mệnh trời”, “thuận mệnh” tự nhiên

Ngày đăng: 14/03/2014, 10:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w