MỤC LỤC1 Hoạt động của Hội Thư Viện Việt Nam trong bối cảnh dịch COVID-19 Một số tác động của đại dịch COVID-19 đến hoạt động tại Thư viện Một số dự án công nghệ thông tin năm 2021 tại T
Trang 2NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN
THÔNG TIN VÀ
THƯ VIỆN PHÍA NAM
2021
Tuyển tập
Trang 3ThS NGUYỄN HỮU GIỚI - Hội Thư viện Việt Nam
ThS BÙI XUÂN ĐỨC - Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM
ThS VĨNH QUỐC BẢO - Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM
NCS - TRẦN VĂN HỒNG - Thư viện Trung tâm Văn hóa Quận 6, TP.HCMThS NGUYỄN DANH MINH TRÍ - Đại học Thủ Dầu Một, Bình Dương
ThS NGUYỄN THỊ NHƯ TRANG - Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCMThS NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG - Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCMThS TRẦN THỊ TRÀ VI - Trường Đại học Văn hóa TP.HCM
ThS TRƯƠNG THỊ CHIÊU UYÊN - Thư viện Nhạc viện TP.HCM
BÙI THỊ YẾN - Thư viện Quận Tân Bình, TP.HCM
NGUYỄN LÊ KHÔI - Hội Thư viện Việt Nam
LÊ HÀ VÂN NGHÊ - Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM
HỒNG THỊ TRÚC OANH - Thư viện Quận 9, TP.HCM
LÊ THỊ NHƯ LỘC - Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM
Chủ biên: BÙI XUÂN ĐỨC - Giám đốc Thư viện KHTH TP Hồ Chí Minh
Biên soạn: VĨNH QUỐC BẢO - Phó Giám đốc Thư viện KHTH TP Hồ Chí Minh Thư ký biên soạn: NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG
Kỹ thuật: BÙI THỊ HOÀNG THANH
VỚI SỰ THAM GIA CỦA
Trang 4MỤC LỤC
1
Hoạt động của Hội Thư Viện Việt Nam trong bối cảnh dịch COVID-19
Một số tác động của đại dịch COVID-19 đến hoạt động tại Thư viện
Một số dự án công nghệ thông tin năm 2021
tại Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Mô hình phục vụ đọc sách trong mùa dịch bệnh
Đưa nguồn sách hay, quý đến với bạn đọc
Tổng quan về các dịch vụ ứng dụng của công nghệ mạng lưới vạn vật kết nối
internet trong thư viện hiện đại
Về chính sách ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ
thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam
Nhận diện tác động của công nghệ thông tin và truyền thông đến văn hóa đọcGiúp trẻ đến gần với sách hơn thông qua loại hình kể chuyện Kamishibai
Podcast Library FM - Một dịch vụ mới trong hoạt động thư viện - Tìm hiểu nhu cầu
sử dụng kênh Podcast Library FM của sinh viên trường Đại học Văn hóa TP.HCMTăng cường ứng dụng CNTT cho hệ thống thư viện công cộng tại các quận huyện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Thư viện Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh
Bộ Tiêu đề chủ đề Sears List
Trang 6Ban biên soạn xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, ủng hộ và tích cực tham gia
cộng tác của các bạn đồng nghiệp và bạn đọc đối với Tập san Thông tin & Thư viện
phía Nam trong thời gian qua Từ năm 2021, tập san được xuất bản dưới dạng tuyển
tập có chỉ số ISBN bản giấy song song với bản điện tử trên website nhằm giúp cho bạn đọc có thể tiếp cận được dễ dàng hơn
Để tiện cho công tác biên soạn, Ban Biên soạn xin thông báo một số yêu cầu về bài viết như sau:
1 Bài gởi đăng là bài chưa được đăng trên bất kỳ tạp chí, tập san nào
2 Để việc biên soạn được thuận tiện, Ban Biên soạn hoan nghênh những bài viết với font chữ Times New Roman (Unicode) không dài quá 20 trang A4 (bao gồm hình ảnh) và được gửi qua đường e-mail
3 Đối với bài sưu tầm, trích dịch, vui lòng ghi rõ nguồn và gửi kèm nguyên bản
4 Cuối bài viết, vui lòng ghi rõ họ tên, học vị, chức vụ, tên cơ quan làm việc, địa chỉ, tên ngân hàng, chi nhánh và số tài khoản chính xác để thuận tiện trong việc liên hệ
và chi trả nhuận bút giữa BBS và tác giả
5 Ban Biên soạn không gửi trả lại bài viết nếu không có yêu cầu đặc biệt của tác giả
6 Thư từ, bài vở xin gởi về địa chỉ:
Bộ phận Nghiệp vụ
Cô Nguyễn Thị Hương Giang
ĐT: (028) 3822.5055 (222)
E-mail: giangtvtphcm@gmail.com
Ban Biên soạn chân thành cảm ơn và rất mong tiếp tục nhận được sự đóng góp
và ủng hộ của quý vị bạn đọc và cộng tác viên
THƯ NGỎ
Trang 8Hoạt động của Hội tHư Viện Việt nam
trong bối cảnH dịcH coVid-19
Ths Nguyễn Hữu Giới
Hội Thư viện Việt Nam
Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 bùng phát từ cuối năm 2019, đã và đang lây lan nhanh
chóng ra nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam (tính đến thời điểm này là đã sang năm thứ 3); đã ảnh hưởng không nhỏ và gây ra hậu quả rất nặng nề, thiệt hại rất nhiều về người và của, hiện đang tác động mạnh mẽ, tiêu cực cho nhiều hoạt động kinh tế-văn hóa, xã hội cho nhiều nước trên thế giới Rõ ràng là, đại dịch khủng khiếp này mang tính toàn cầu, làm cho gần 3 triệu người chết trên thế giới, nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh, du lịch, hàng không, giao thông v.v… những mũi nhọn kinh tế bị ngưng trệ, nhiều hoạt động của người dân bị đảo lộn, đã dẫn đến tăng trưởng âm ở nhiều nước trên thế giới Theo chỉ đạo của chính phủ Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, cũng như của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), chúng ta đã chủ động rất sớm, huy động toàn bộ lực lượng, tích cực ứng phó với đại dịch này, nên thiệt hại về người và của ở nước ta chỉ ở mức thấp so với nhiều nước trên thế giới Đó cũng là điểm sáng, là bài học và tấm gương tiêu biểu của Việt Nam trong việc phòng-chống đại dịch COVID-19 trên thế giới Đây cũng là thành công, là niềm tự hào của người Việt sau những ánh hào quang và tấm gương của đất nước ta trong các cuộc kháng chiến chống xâm lăng, chống các đế quốc xâm lược hùng mạnh trong thế kỷ XX
Hôm nay, trên diễn đàn của Tuyển tập Thông tin & Thư viện phía Nam, tôi xin chia sẻ đôi điều
về một số kết quả hoạt động, cũng như một vài kinh nghiệm về tổ chức & hoạt động của Hội Thư viện Việt Nam trong bối cảnh đại dịch COVID-19 diễn ra ở Việt Nam thời gian qua như thế nào
I Kết quả hoạt động của Hội Thư viện Việt Nam trong bối cảnh đại dịch COVID-19 thời gian qua
Mặc dầu trong bối cảnh đại dịch COVID-19 diễn biến rất phức tạp trên quy mô toàn cầu, trong đó có Việt Nam, theo chỉ đạo của Chính phủ Việt Nam, chúng ta đã hết sức chủ động, kiên quyết, linh hoạt để ứng phó với đại dịch này, sao cho kết hợp hai trong một (như một mục tiêu kép), đó là: vừa thực hiện tốt phòng, chống dịch COVID-19, đảm bảo sức khỏe cho toàn dân, lại cũng vừa đảm bảo mọi duy trì hoạt động để tăng trưởng kinh tế, phát triển đất nước; đây cũng là bài toán khó cho nhiều nước trên thế giới Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, từ cuối năm 2019 đến nay 2021, Hội Thư viện Việt Nam đã chấp hành nghiêm chỉnh sự chỉ đạo của Chính phủ, của
Bộ VHTTDL và của Lãnh đạo Liên hiệp Hội Việt Nam, để ứng phó tình hình dịch bệnh, trong khi
đó, vẫn tổ chức được một số hoạt động chuyên môn nghiệp vụ khá hiệu quả như sau:
Trang 91.1 Về hoạt động Hội nghị-hội thảo-tập huấn: từ đầu năm 2020 đến tháng 5 năm 2021; Hội
thư viện đã tổ chức được 02 Hội nghị tập huấn nghiệp vụ, và 01 Hội nghị-Hội thảo chuyên đề, đó là:
- Hội nghị tập huấn: “Xu hướng mới của ngành thư viện trong mối liên hệ với Công nghệ thông tin,
trí tuệ nhân tạo và Công nghiệp 4.0” (tổ chức ngày 6/3/2020 tại Hà Nội trong thời gian hết giãn cách
xã hội, cho gần 100 đại biểu là hội viên Hội Thư viện Việt Nam, do chuyên gia người Pháp trình bày)
- Hội nghị tập huấn: “Trao đổi về chủ trương và những quyết định mới về quyền công đoàn của
người lao động” (tổ chức ngày 12/6/2020 tại Hà Nội trong thời gian hết giãn cách xã hội, cho gần 80
đại biểu là hội viên Hội Thư viện Việt Nam)
- Hội nghị; Hội thảo khoa học “Hội thư viện Việt Nam hoạt động trong bối cảnh đại dịch Covid-19”
tại Bà Rịa-Vũng Tàu (tháng 4 năm 2021, trong thời gian hết giãn cáchxã hội), cho gần 60 đại biểu
là hội viên Hội Thư viện Việt Nam và một số giám đốc thư viện tỉnh/thành phố
1.2 Về hoạt động Tư vấn và phản biện xã hội: trong 2 năm qua, Hội Thư viện đã tổ chức góp
ý kiến (qua email), lấy ý kiến các thành viên Ban chấp hành, các hội thành viên, góp ý cho Dự thảo
Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết 1 số điều của Luật Thư viện (văn bản dày hơn 25 trang
đánh máy) và 03 Dự thảo thông tư của Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch quy định chi tiết Luật Thư
viện (văn bản dày hơn 35 trang đánh máy) Cả 2 bản góp ý này đã được Bộ VHTTDL đánh giá cao
về tinh thần trách nhiệm của Hội Thư viện Việt Nam với việc góp ý kiến cho các văn bản pháp quy của ngành Thư viện Việt Nam
1.3 Về hoạt động Thông tin và truyền thông: Đây cũng là thế mạnh của Hội Thư viện Việt Nam
nhiều năm qua (bởi Hội Thư viện Việt Nam chúng tôi có mạng lưới rất rộng, lan tỏa tới các địa phương: 63 thư viện tỉnh, thành phố ở các địa phương, gần 200 thư viện và Trung tâm thông tin
- Thư viện các trường đại học trong cả nước, các thư viện Bộ, Ban ngành, đoàn thể ở Trung ương v.v ), nên hàng năm, công tác triển lãm sách, báo, tư liệu phục vụ nhân dân và bạn đọc đã được các thư viện tổ chức từ đầu năm đến cuối năm rất nhiều và phong phú (ví dụ Triển lãm Báo Xuân, Triển lãm sách, báo chào mừng ngày thành lập Đảng 3/2; ngày sinh nhật Bác Hồ 19/5, ngày Quốc khánh 2/9 , đặc biệt Ngày sách Việt Nam 21.4 hằng năm) Song từ năm 2020 đến nay, do tình hình COVID-19, Hội Thư viện Việt Nam đã kịp thời có văn bản chỉ đạo từ đầu năm cho các đơn vị, bao gồm: các thư viện công cộng và các thư viện đại học và cao đẳng trong cả nước “chuyển hướng sang
tổ chức trực tuyến-online” rất nhiều hoạt động nêu trên Vì thế, nhiều hoạt động thông tin và tuyên truyền của ngành thư viện đã đạt hiệu quả khá tốt (qua hình thức trực tuyến-online) Đây có thể coi là nét sáng tạo của chúng tôi trong thời gian đại dịch vừa qua
1.4 Về hoạt động phục vụ người đọc của các thư viện: Có thể nói đây cũng là nét mới; là
sự sáng tạo của Hội Thư việt Nam thời gian qua Do đại dịch COVID-19 diễn ra lâu và phức tạp, nên nhiều thư viện phải đóng cửa - một thời gian- không thể tiếp đón bạn đọc tới đọc sách báo như trước, song “từ cái khó, lại ló cái khôn”; Hội Thư viện chúng tôi đã nghiên cứu tình hình và tận dụng lợi thế của mình, đó là: Hệ thống Thư viện cộng cộng và Thư viện đại học trong cả nước
đã có khá nhiều cơ sở dữ liệu sách báo-tài liệu (trong thư viện tỉnh/thành phố và thư viện/Trung tâm thông tin-Thư viện các trường đại học) đã được chuẩn bị từ nhiều năm trước đó, nay do tình hình không thể tập trung đông người - thực hiện giãn cách xã hội - nên chúng tôi tiến hành chỉ đạo các hội thành viên - các thư viện trong cả nước tổ chức phục vụ bạn đọc qua online khá hiệu quả, nhờ đó hàng vạn tài liệu của các thư viện vẫn được bạn đọc tra tìm và nghiên cứu, đọc hoặc tải về
sử dụng qua mạng internet Bên cạnh đó, Hội Thư viện Việt Nam thời gian qua cũng đã viết hàng chục bài báo để đăng trên các báo, tạp chí Trung ương, tuyên truyền về Luật Thư viện, phục vụ cho công tác truyền thông của Hội trong việc tuyên truyền, phổ biến Luật Thư viện đi vào cuộc sống
Trang 101.5 Về tham gia các hoạt động của Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam: tính từ 2020 đến
giữa năm 2021, do đại dịch COVID-19, nên Liên hiệp Hội Việt Nam cũng vẫn duy trì được một số hoạt động tiêu biểu, Hội Thư viện VN đã tích cực tham gia các hoạt động, đó là:
- Tham gia lấy đề xuất ý kiến về nhân sự Lãnh đạo Liên hiệp Hội Việt Nam khóa VIII, nhiệm kỳ 2020-2025, (đảm bảo đúng thời hạn và trách nhiệm, ví dụ chúng tôi đã họp Ban Thường trực Hội, lấy ý kiến qua tin nhắn, Email trong Ban chấp hành, gửi Hồ sơ về LHH Việt Nam đảm bảo khách quan, trung thực)
- Tham gia Hội nghị “Gặp mặt các văn nghệ sĩ, trí thức KHCN tiêu biểu nhân dịp Kỷ niệm 90 năm ngành Tuyên giáo của Đảng” (đây là Hội nghị rất trang trọng, có ý nghĩa của Đảng và Nhà nước ta đối với văn nghệ sĩ, trí thức KHCN của cả nước)
- Tham gia Hội nghị Hội đồng Trung ương thường niên, chuẩn bị cho Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam khóa VIII, nhiệm kỳ 2020-2025 (BCH Hội thư viện đã cử 04 đại biểu tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam khóa VIII, nhiệm kỳ 2020-2025, vào tháng 12/2020 tại Hà Nội
Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Hoàng Vĩnh Bảo phát biểu tại Lễ Khai mạc Hội sách trực tuyến Quốc gia năm 2021 (tại Hà Nội)
Chủ tịch Hội thư viện Việt Nam Nguyễn Hữu Giới dự Lễ ký kết Chương trình phối hợp
công tác giữa Cục Xuất bản, In và Phát hành với Thư viện Quốc gia Việt Nam (tháng 4/2021)
Trang 11II Một số bài học kinh nghiệm
Để đạt được các hoạt động tiêu biểu nêu trên của Hội thư viện Việt Nam, dù đang trong tình hình Đại dịch COVID-19 diễn ra phức tạp hơn 2 năm vừa qua; chúng tôi rút ra được một số bài học kinh nghiệm quý báu như sau:
Một là, Ban lãnh đạo Hội thư viện Việt Nam
phải xây dựng kế hoạch công tác từ trước (căn cứ kế
hoạch công tác đã được ban hành từ cuối năm 2019
đối với 02 hội nghị tập huấn nghiệp vụ và kế hoạch
công tác năm 2020 đối với Hội nghị-Hội thảo tại Bà
Rịa-Vũng Tàu), đặc biệt căn cứ tình hình dịch bệnh
đang diễn ra phức tạp, để có sự điều chỉnh về thời
gian các hoạt động của Hội cho hợp lý, khoa học
(tránh tình trạng “nước đến chân mới nhảy” thì sẽ
không kịp)
Hai là, dự báo tình hình dịch bệnh có thể còn
kéo dài, diễn biến phức tạp ở trong nước và thế giới
(thực tế đến hôm nay vẫn chưa hết dịch bệnh), để từ
đó lãnh đạo Hội thư viện có sự tính toán, điều chỉnh
các phương thức, biện pháp tổ chức các hoạt động cho thích ứng và phù hợp, mà vẫn đảm bảo hiệu quả tốt tuyệt đối (không làm hình thức, đại khái, chiếu lệ) Đó là bên cạnh các phương thức truyền
thống, chúng tôi đã sử dụng trực tuyến, online các hoạt động có thể (như Triển lãm sách báo online,
phục vụ bạn đọc trực tuyến, lấy ý kiến đại biểu đóng góp Văn bản pháp quy của ngành thư viện về Hội thư viện Việt Nam qua online; lấy ý kiến về công tác nhân sự chủ chốt của Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam khoá VIII, nhiệm kỳ 2020-2025 qua hình thức online v.v ).
Ba là, cần bám sát các nhiệm vụ trọng tâm của Hội thư viện Việt Nam trong năm 2020 và
2021, để triển khai các hoạt động sao cho hiệu quả, thiết thực Ví dụ năm 2020 chúng tôi tập trung vào việc tuyên truyền, phổ biến thông tin về Luật Thư viện (vừa được Quốc hội thông qua tháng 11.2019, có hiệu lực thi hành từ 1.7.2020) cho cán bộ, nhân dân và các hội viên thư viện cả nước,
Từ đó thông qua báo chí, truyền thông, qua trang Web của Hội thư viện Việt Nam và các trang web của các đơn vị thành viên trực thuộc Hội, để tuyên truyền các nội dung quan trọng này (cùng với việc viết các bài báo đăng trên báo tạp chí Trung ương và địa phương )
Tóm lại, đại dịch COVID-19 tưởng chừng làm cho nhiều hoạt động bị ngưng trệ, bị “đóng băng”, song trên thực tế, thời gian qua, với quyết tâm cao và tinh thần vươn lên, khắc phục khó khăn mà Hội thư viện Việt Nam vẫn tổ chức và triển khai được một số hoạt động khá hiệu quả, thiết thực, để hôm nay chúng tôi có dịp chia sẻ với các đồng nghiệp thư viện cả nước Và chúng tôi cũng hy vọng rằng: các đơn vị thư viện công cộng cũng như các thư viện đại học và cao đẳng ở Việt Nam cũng sẽ có nhiều đơn vị như chúng tôi, đã và đang khắc phục mọi khó khăn do đại dịch COVID-19, vẫn có nhiều hoạt động hiệu quả, thiết thực, góp phần thúc đẩy sự nghiệp thư viện Việt Nam phát triển trong mọi hoàn cảnh và điều kiện thực tiễn
Qua đây, chúng tôi thiết nghĩ, việc Hội Thư viện Việt Nam tổ chức các hoạt động trong điều kiện dịch bệnh COVID-19 trong nước vẫn diễn biến rất phức tạp như vừa qua, cũng là sự kiểm chứng
và ứng dụng chân lý mà Bác Hồ kính yêu đã nói cách đây 75 năm (vào năm 1946), khi Người chia
tay Cụ Huỳnh Thúc Kháng, để sang Pháp dự Hội nghị Phôngtennơblô: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”,
(cũng tức là chúng tôi lấy mục tiêu hoạt động của Hội là chính, để ứng biến và đối phó với mọi hoàn cảnh và điều kiện khách quan) Âu đó cũng là quy luật của cuộc sống và sự vận động của lịch sử,
của Thuyết tương đối của Einstein; nghĩa là: Trái đất không ngừng quay, chúng ta không ngừng thở
và vì thế, để tồn tại, chúng ta luôn phải đồng hành và tiếp tục tiến lên./.
Ths.Nguyễn Hữu Giới - Chủ tịch Hội Thư viện Việt Nam phát biểu khai mạc Hội nghị - Hội thảo (tại Bà Rịa-Vũng Tàu, tháng 4 năm 2021)
Trang 12ThS Bùi Xuân Đức ThS Nguyễn Thị Hương Giang
Thư viện Khoa học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh
I Dịch COVID-19 và các tác động đến hoạt động của Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố
Trong bối cảnh COVID-19 tác động to lớn đến hoạt động kinh tế, chính trị toàn cầu trong
đó có hoạt động thư viện IFLA đã nhận xét “hàng loạt các thư viện, không phân biệt loại hình, trên
khắp thế giới đã đóng cửa do bệnh dịch dẫn đến số lượng bạn đọc đến thư viện sụt giảm trầm trọng”
Tại thành phố Hồ Chí Minh, tác động của dịch cũng có những tác động, ảnh hưởng nhất định Năm 2020, do tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn ra rất phức tạp, các hoạt động của Thư viện Khoa học Tổng hợp bị ảnh hưởng không nhỏ Trong suốt thời gian từ khi xảy ra dịch bệnh cho đến
nay, thư viện luôn nghiêm túc thực hiện quy định “5K: Khẩu trang - Khử khuẩn - Khoảng cách -
Không tập trung - Khai báo y tế” để giữ an toàn cho Bạn đọc và của chính thủ thư Tuy nhiên Thư viện
vẫn duy trì việc phục vụ bạn đọc tại Thư viện khi tình hình dịch bệnh đã được kiểm soát an toàn
Do tình hình dịch bệnh Covid-19 kéo dài làm các hoạt động phục vụ bạn đọc tại chỗ, lưu động của đơn vị bị ảnh hưởng nên một số chỉ tiêu chưa đạt so với kế hoạch đề ra
Một số các tác động của dịch COVID-19 đến hoạt động của thư viện KHTH TP.HCM
1 Giảm phục vụ trực tiếp và chuyển đổi sang hình thức trực tuyến
Năm 2020, thư viện đã nhiều lần điều chỉnh, thậm chí hủy các hoạt động đọc tại chỗ, phục vụ lưu động, các hoạt động tuyên truyền, quảng bá hoạt động thư viện truyền thống, tập trung đông
một số tác động của đại dịcH coVid-19
đến Hoạt động tại tHư Viện KHoa HỌc tỔng HỢP
tHànH PHố Hồ cHí minH
Trang 13người như triển lãm, nói chuyện, hội thi, sự kiện, v.v theo quy định (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch, 2020) Các sự kiện lớn bị ảnh hưởng rõ nhất là các hoạt động tổ chức cho sự kiện Ngày hội
Văn hóa Đọc tại một số thư viện quận huyện trong thời gian giãn cách Một số các hoạt động cũng
phải chuyển sang hình thức trực tuyến như triển lãm, hoạt động dạy tiếng Anh cho các em học sinh của các tình nguyện viên Singapore trong Dự án Bánh xe tri thức của Quỹ SIF Các hoạt động phục vụ lưu động tại trường học trong dự án Bánh xe tri thức, thư viện lưu động thông minh trong
Dự án của Samsung, thư viện lưu động cho Người khiếm thị, phục vụ lưu động cho bệnh nhi cũng bị tạm ngưng hoạt động, thay đổi kế hoạch phục vụ hoặc chuyển sang hình thức trực tuyến trong giai đoạn bùng phát dịch
2 Giảm số lượt bạn đọc
Từ những ảnh hưởng trên cộng với việc thực hiện giãn cách xã hội nhằm kiểm soát tình hình lây lan qua các đợt bùng phát dịch có thể thấy rõ chỉ tiêu lượt bạn đọc phục vụ tại chỗ và lưu động của thư viện giảm rõ rệt Các biện pháp phòng, chống dịch bệnh cũng gây ảnh hưởng không
ít cho hoạt động đọc của người dân như việc phải đeo khẩu trang, rửa tay thường xuyên, khai báo
y tế, v.v Phía thư viện cũng bị tác động trong công tác vệ sinh, khử khuẩn định kỳ, khai báo y tế, kiểm tra thân nhiệt Ngay cả trong những đợt mở cửa lại, lượt bạn đọc được phục vụ tại thư viện
có những giai đoạn cũng bị khống chế theo số lượng cho phép và theo căn cứ khoảng cách giữa các bạn đọc
Năm 2020, thư viện phục vụ được 1.211.909 lượt bạn đọc, đạt 87% kế hoạch năm 2020 và
84,98% so với năm 2019 Cấp và gia hạn 34.337 thẻ đạt 104% kế hoạch năm 2020 và 101,58% so
với năm 2019 Lượt tài liệu điện tử đạt 81.610 lượt, tỷ lệ 104% kế hoạch năm 2020 và 101,58% so
với năm 2019
3 Giảm đầu tư, thu nhập
Dịch COVID-19 có tác động trực tiếp lên chuỗi cung ứng toàn cầu, do đó có tác động trực tiếp đến nền kinh tế của thành phố và thu nhập của từng cá nhân Người lao động trong thư viện cũng bị ảnh hưởng nhất định Đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp là những người lao động theo Nghị định 161, do ảnh hưởng của dịch nên nguồn thu của thư viện giảm do đó kinh phí và ngân sách chi trả cho người lao động bị ảnh hưởng nghiêm trọng và trực tiếp lên nguồn thu nhập của người lao động Thư viện hiện có 11 người lao động theo nghị định 161 là những đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp
Kinh phí đầu tư cho hoạt động của thư viện bị cắt giảm để đầu tư cho các hoạt động phòng chống dịch Lộ trình tăng lương cơ bản bị đình lại do tác động dây chuyền của dịch bệnh Trợ cấp cho viên chức ngành thư viện cũng bị cắt giảm do ảnh hưởng giảm tốc độ phát triển kinh tế của thành phố
II Một số các hoạt động của thư viện trong tình hình phức tạp của dịch
Để duy trì và thực hiện tốt hoạt động phục vụ tài liệu cho bạn đọc tại Thư viện trong thời gian này, Thư viện Khoa học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh không ngừng đổi mới, cải tiến và nâng cao chất lượng hoạt động tốt nhất có thể trong tình hình dịch bệnh nhằm đáp ứng được nhu cầu thông tin bằng cách:
- Ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại kết hợp với các nguồn lực và dịch vụ truyền thống nhằm hoàn thành các chỉ tiêu sự nghiệp được đề ra tư đầu năm;
Trang 14- Xây dựng và bảo quản vốn tài liệu dựa trên một chính sách phát triển vốn tài liệu hợp lý;
- Tổ chức vốn tài liệu Thư viện cho việc sử dụng thuận tiện;
- Đầu tư trang thiết bị, vật tư chuyên dụng;
- Phát triển các loại hình, dịch vụ Thư viện mới;
- Tăng cường việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hiện tại và bổ sung các nguồn lực mới nâng cao chất lượng phục vụ của Thư viện;
- Mở rộng sự liên thông và hợp tác trao đổi với các Thư viện trong và ngoài nước;
- Tạo môi trường làm việc có hiệu quả và chuyên nghiệp, cán bộ viên chức được đào tạo chuyên môn sâu, linh hoạt, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được phân công
- Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho công chức viên chức; công tác quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ được quan tâm, cũng như từng bước hoàn thiện đội ngũ cán bộ thư viện vừa hồng vừa chuyên
- Thực hiện theo chỉ đạo đẩy mạnh các hoạt động Thư viện công cộng và phát triển văn hóa đọc của UBND Thành phố và Sở Văn hóa và Thể thao, Thư viện KHTH đã nỗ lực trong việc tuyên truyền giới thiệu nguồn sách điện tử đến người dân tại các khu dân cư, nhà trọ, khu lưu trú công nhân
1 Tổ chức triển lãm và phục vụ đọc trực tuyến
Trong thời gian đóng cửa do tình hình dịch bệnh, thư viện KHTH phối hợp với các thư viện
quận huyện tổ chức các triển lãm trực tuyến như một hình thức phục vụ bạn đọc tại nhà như “Ngày
Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 21/4, Ngày Sách và Bản Quyền Thế Giới 23/4”, “Kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và 75 năm Quốc khánh 2/9”, “Ngày Nam bộ kháng chiến”
Bên cạnh đó, thư viện cũng đẩy mạnh quảng bá các nguồn tài liệu điện tử, tài liệu số của nhà xuất bản Tổng hợp và các nguồn nhận tặng như Let’s Read dành cho thiếu nhi các nước Đông Nam Á do Quỹ Châu Á (Asia Foundation) cung cấp phục vụ miễn phí cho bạn đọc trên website của thư viện
2 Tăng cường cấp thẻ trực tuyến
Công tác cấp thẻ bạn đọc ngoài đăng ký thẻ tại chỗ, thư viện tiếp tục cải tiến công tác đăng
ký thẻ trực tuyến, in thẻ ngay tại chỗ, kịp thời đáp ứng nhu cầu cấp thẻ cho bạn đọc
Ngoài ra, thư viện tuyên truyền quảng bá vận động các trường đại học, cao đẳng và THPT phát hành thẻ mượn liên kết, thông qua các chương trình hoạt động, các sự kiện phát hành các
phiếu đổi thẻ thư viện Năm 2020, thư viện đã cấp và gia hạn 34.337 thẻ (đạt 104% kế hoạch).
3 Đẩy mạnh hoạt động cho mượn về
Trong các giai đoạn đóng cửa, thư viện tiếp tục duy trì và phát triển hoạt động cho mượn về Trong thời gian qua, sau thời khảo sát và thăm dò ý kiến của bạn đọc, thư viện đã đưa vào các gói cho mượn về tạo điều kiện thuận lợi và phù hợp với nhu cầu của bạn đọc Để sử dụng dịch vụ, bạn đọc tùy theo nhu cầu và khả năng của mình đăng ký theo từng gói mượn linh hoạt Việc triển khai gói mượn sẽ giúp bạn đọc không phải tốn phí đặt cọc tiền mượn sách, tiết kiệm được phí mượn về Thủ thư cũng được hưởng lợi do không phải mất thời gian tính các loại phí phức tạp
Trang 15III Những thách thức và một số đề xuất
1 Thách thức
Bên cạnh những ảnh hưởng tiêu cực, dịch Covid-19 cũng đem lại những cơ hội cho công tác truyền bá, phổ biến kiến thức khoa học - công nghệ, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Dịch bệnh đã đặt thư viện trước bài toán phục vụ từ xa thay thế cho phục vụ theo phương thức truyền thống do đó có thể nói là động lực thúc đẩy các dự án ứng dụng CNTT, trí tuệ nhân tạo, v.v
để xây dựng thư viện điện tử
Phòng chống dịch được xem như hoạt động tổng dợt cho các phương thức phục vụ nhằm phòng chống các âm mưu khủng bố sinh học, nguy cơ các loại dịch bệnh khác trong tương lai.Các thay đổi về địa chính trị đã có ảnh hưởng to lớn tới nền kinh tế toàn cầu Ngành thư viện cũng cần tập trung phát triển các nguồn tài nguyên thông tin đáp ứng nhu cầu phát triển cho các ngành như công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo, công nghiệp sạch như các ngành kiến trúc, thiết kế, trình diễn, quảng cáo, nông lâm nghiệp bền vững v.v… để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, học tập của một lực lượng lao động mới
Việc hạn chế đi lại do giãn cách xã hội sẽ thúc đẩy nhu cầu đọc sách để nghiên cứu, học tập và giải trí của người dân do giảm lựa chọn các hoạt động ngoài trời
2 Giải pháp - Đề xuất
Hiện tại, ngoài các giải pháp phòng, chống bệnh dịch mang tính chất y tế dự phòng do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề nghị Sở Văn hóa và Thể thao chỉ đạo, hướng dẫn hệ thống thư viện công cộng tại địa phương các giải pháp ngắn hạn và dài hạn
Giải pháp ngắn hạn:
Nghiêm túc thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch: Bố trí đầy đủ phương tiện, vật tư để rửa tay, sát khuẩn tại các địa điểm phục vụ người đọc; người làm công tác thư viện và người đọc thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn, đeo khẩu trang, giữ khoảng cách
an toàn khi tiếp xúc; những người có ít nhất một trong các triệu chứng ho, sốt, khó thở không được
bố trí làm việc và đọc sách tại thư viện; thực hiện khử trùng, vệ sinh thường xuyên các kho tàng, phòng phục vụ người đọc; giảm, giãn cách số lượng bàn ghế phục vụ tại các phòng đọc tại chỗ, tại các lớp học, sân trường (khi phục vụ lưu động) đảm bảo khoảng cách giữa những người đọc và không tập trung đông người đúng theo yêu cầu tại Chỉ thị số 19/CT-TTg đã quy định đối với các tỉnh/thành phố, địa bàn tương ứng với các mức nguy cơ
Tiếp tục góp phần và thúc đẩy công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biển các tài liệu về phòng, chống dịch COVID-19 cho các đối tượng người đọc tại thư viện, ngoài thư viện và trên không gian mạng
Giải pháp dài hạn
Các thư viện cần đẩy mạnh việc cung cấp các dịch vụ trực tuyến, bao gồm:
+ Cung cấp thông tin, hồ sơ đọc sách, báo điện tử;
+ Giới thiệu sách, tài liệu mới, đặc biệt là các tài liệu số của thư viện có hoặc có thể sử dụng tại các thư viện khác cho người đọc;
Trang 16+ Tư vấn, hướng dẫn người đọc sử dụng các dịch vụ trực tuyến, triển khai dịch vụ hỏi - đáp,
hỗ trợ sử dụng thư viện trực tuyến;
+ Thiết lập chuyên mục cho thiếu nhi, dịch vụ kể chuyện, giới thiệu sách trực tuyến cho trẻ em; + Hướng dẫn phương pháp và kỹ năng tra tìm, sử dụng thông tin trực tuyến, nâng cao năng lực tìm kiếm và khai thác thông tin của người sử dụng
+ Tăng cường các dịch vụ cho mượn tài liệu về nhà, các hình thức phục vụ mượn trả trực tuyến cho người đọc (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2020)
Đề xuất
+ Sau một năm tổ chức hoạt động, thư viện nhận thấy nhu cầu đọc tài liệu điện tử bằng tiếng Việt của bạn đọc rất cao và có xu hướng ngày càng gia tăng Vì vậy, Hội xuất bản cần tiếp tục nghiên cứu và có chính sách khuyến khích các nhà xuất bản phát triển và hoàn thiện các gói tài liệu điện tử cung cấp cho các thư viện và người sử dụng trong nước
+ Một số trang thiết bị phòng chống dịch bệnh trước đây chưa được quan tâm và đưa vào danh mục trang thiết bị đặc thù giờ đã trở nên cấp thiết như máy khử khuẩn, tiệt trùng cho tài liệu sau quá trình lưu hành và trở về kho Đối với các nước phát triển, thư viện đã áp dụng chính sách khử khuẩn, tiệt trùng cho tài liệu trước khi trả lại kho và cho bạn đọc khác mượn nhằm tránh trở thành nguồn lây nhiễm bệnh trong cộng đồng
+ Hoạt động mượn, trả tài liệu về nhà, cấp thẻ theo phương thức truyền thống cần được ưu tiên thay đổi lên mức cải cách hành chính cấp độ 4./
-TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2020, 4 28) Công văn số 1604/BVHTTDL-TV về việc tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 đối với hoạt động thư viện trong tình hình mới Retrieved from Luật Việt Nam (LuatVietnam): https://luatvietnam.vn/y-te/cong-van-1604-bvhttdl-tv-bo-van-hoa-the-thao-va-du-lich-183028-d6.html
2 https://www.ifla.org/covid-19-and-libraries
Trang 17Nguyễn Lê Khôi
Hội Thư viện Việt Nam
* PV Có một nhận định cho rằng: Sách là nguồn tri thức của nhân loại Và như vậy, thư viện chính là kho tàng chứa đựng nguồn tri thức phong phú đó, thưa ông?
- Ths Nguyễn Hữu Giới Vâng, quả là như vậy! Trong xã hội loài người từ xưa đến nay, nền
văn hóa nào cũng có những công cụ và phương tiện vật chất đặc trưng cho thời đại của mình để xã hội, cộng đồng sinh tồn và phát triển Trong số các công cụ và phương tiện vật chất ấy, sách là một sản phẩm diệu kỳ Sách là phương tiện hữu hiệu để truyền đạt tư tưởng, tình cảm, cả ý nghĩ và kinh nghiệm từ thế hệ này cho thế hệ khác Nó không những có thể hợp nhất không gian mà còn hợp nhất được cả thời gian: có thể mở một cuốn sách ra để biết được điều người khác đã nói, đã làm cách ta hàng vạn dặm, hay biết được cuộc sống và sinh hoạt của những người đã sống cách ta nhiều thế kỷ trước đây Thậm chí, bằng sự diệu kỳ của chữ viết có quy định phát âm, chúng ta có thể bắt chước chính xác những âm tiết con người phát ra như họ nói ngày xưa Nói gọn lại, trong tiến trình văn minh của nhân loại, sách luôn luôn đóng vai trò là nguồn kiến thức, tri thức, là phương tiện và
là một công cụ để sáng tạo và nhận thức thế giới Ngược dòng thời gian của lịch sử, từ khi chữ viết
ra đời thì sách cũng dần dần xuất hiện Tuy nhiên ban đầu, những cuốn sách cổ xưa của loài người được làm từ đất nung, vỏ cây, da muông thú, thẻ ngà, thẻ tre v.v Mãi đến khi loài người phát minh
ra giấy, thì sách dần dần mới được viết rồi in trên giấy Và từ đó, nó đã trải qua hàng ngàn năm phát triển để có được những cuốn sách đẹp đẽ như ngày nay
Như vậy, để lưu giữ và chuyển tải thông tin, tri thức từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này cho thế hệ khác, để nhiều người được biết đến, được xem và được đọc chúng người ta đã dùng đến sách
Và rồi để có nơi lưu giữ, truyền bá những cuốn sách ấy cho muôn đời sau, loài người đã sử dụng các thư viện Như một nhu cầu tất yếu của lịch sử xã hội loài người, các thư viện ra đời ban đầu thường quy mô rất nhỏ và chứa ít sách vở, tài liệu Đó là những tủ sách-thư viện tư gia của các vua, chúa, tầng lớp quan lại, quý tộc, tăng lữ, học giả, trí thức v.v trong xã hội; rồi dần dần, cùng với nhu cầu của đông đảo nhân dân trong xã hội, cùng với thời gian, các thư viện lớn hơn, chứa nhiều sách vở
và tài liệu hơn được ra đời, phục vụ cho số đông độc giả Có lẽ sẽ là một câu chuyện dài khi đề cập đến sự hình thành và phát triển của thư viện trên thế giới cũng như ở Việt Nam, thậm chí đã có
Làm gì để tHư Viện Việt nam PHát triển
trong xã Hội Hiện đại?
(Phỏng vấn Thạc sĩ Nguyễn Hữu Giới, Chủ tịch Hội Thư viện Việt Nam)
Trang 18nhiều công trình nghiên cứu nghiêm túc và có cả hàng trăm, hàng ngàn luận án tiến sĩ nghiên cứu
về thư viện như một ngành khoa học độc lập Quả thật, chúng ta thật khó mà phủ nhận vai trò to lớn của sách báo, thư viện và tri thức trong xã hội loài người kể cả với mỗi quốc gia, dân tộc, cũng như trong đời sống của mỗi con người trên hành tinh Có thể nói một cách hình ảnh thế này: Sách
và thông tin-tri thức luôn đồng hành với chúng ta từ nhỏ đến lớn; từ trẻ tới già; từ khi ta biết đọc, biết viết đến khi ta từ giã cõi đời Bởi lẽ sách cung cấp cho ta nhiều tri thức, hiểu biết mà tri thức như biển rộng mênh mông, sự hiểu biết của con người chỉ là hữu hạn Thêm vào đó, nhu cầu hiểu biết, nắm bắt thông tin, tri thức để phục vụ đời sống luôn là nhu cầu tự thân của con người để kiếm tìm chân lý, giúp con người lao động, sản xuất làm ra của cải vật chất cho xã hội trong đó có nuôi sống bản thân con người Nói như vậy để thấy rằng: Làm việc gì cũng cần có hiểu biết và tri thức
Và sách vở, thư viện là những yếu tố quan trọng không thể thiếu trong hành trang của đời người.Lịch sử nhân loại, từ xưa đến nay, đã có nhiều tấm gương sáng, nhiều đại biểu ưu tú, nhiều học giả, nhà khoa học, danh nhân thành đạt, nổi tiếng trên thế giới ở nhiều lĩnh vực nhưchính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, quân sự, ngoại giao biết cách vươn lên để có nhiều đóng góp to lớn cho nhân quần, cho xã hội.Trong số đó có nhiều người bên cạnh trí thông minh, nghị lực phi thường, sự cần cù lao động sáng tạo; còn có phần không nhỏ những tri thức mà họ đã tích lũy, áp dụng thành công được vào công việc và sự nghiệp thông qua việc học, đọc trong sách vở, tìm kiếm thông tin, chân lý thông qua kho tàng sách báo, tri thức ở thư viện Công việc âm thầm ấy tưởng như không mang lại nhiều ý nghĩa, song lại hàm chứa sự tích lũy kiến thức, tri thức, thông tin một cách bền bỉ, quý giá; để đến một lúc nào đó kiến thức, tri thức ấy lóe sáng, giúp cho tài năng được hoàn thiện và phát triển
* PV Để phát huy vai trò đặc biệt quan trọng đó, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách gì đối với công tác thư viện?
- Ths Nguyễn Hữu Giới Vâng, ngay từ sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc (năm 1954), Đảng
và Nhà nước ta đã chú trọng và quan tâm đến phát triển văn hóa, trong đó có thư viện và văn hóa đọc cho nhân dân Vì thế chỉ sau 1 thập kỷ, hệ thống thư viện ở Miền Bắc XHCN đã được hình thành và ngày càng phát triển như một mạng lưới rộng khắp với hàng chục thư viện tỉnh, hàng trăm thư viện huyện, nhiều thư viện xã , đáp ứng khá hiệu quả cho nhân dân thời bấy giờ Và từ
đó đến nay, cùng với sự phát triển kinh tế-văn hóa, xã hội của đất nước, sự nghiệp Thư viện Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ Hệ thống thư viện cả nước từng bước lớn mạnh cả về
số lượng lẫn chất lượng, đã và đang hoạt động có nhiều khởi sắc; đạt được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Để tạo nên sự lớn mạnh ấy của ngành thư viện, mấy thập kỷ qua, Nhà nước
ta đã có cơ chế, chính sách như sau:
- Thứ nhất là hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy cho ngành thư viện Từ mấy thập kỷ nay,
việc ban hành văn bản pháp quy về thư viện (với Pháp lệnh thư viện, các Nghị định của chính phủ, các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, cùng nhiều Thông tư, quyết định của Bộ VHTTDL, các Bộ/ngành TW và gần đây là Luật Thư viện năm 2019) và nhiều văn bản pháp quy của chính quyền địa phương đã tạo cơ sở pháp lý thuận lợi trong quản lý nhà nước cho thư viện hoạt động
- Thứ hai là Nhà nước đầu tư nguồn lực cho thư viện hoạt động, đó là việc đầu tư xây dựng trụ
sở, trang thiết bị, kinh phí để từng bước hiện đại hóa thư viện Nhờ vậy mà ở Việt Nam, hiện đã xây dựng mới được 80% thư viện tỉnh, thành phố (bình quân mỗi thư viện từ 30-50 tỷ đồng, có thư viện được xây dựng trên 100 tỷ, như: Thanh Hóa, Hải Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quảng Ninh
Trang 19cá biệt Thư viện tỉnh Quảng Ninh xây hơn 400 tỷ) Nhiều thư viện & trung tâm thông tin-thư viện trường đại học được xây dựng với kinh phí hàng chục, hàng trăm tỷ như: Thư viện Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (200 tỷ đồng); Thư viện Đại học Tôn Đức Thắng (140 tỷ), Thư viện Trường Đại học Giao thông vận tải (25 tỷ); Bên cạnh đó có nhiều đề án lớn của TW, các địa phương đầu
tư cho thư viện hiện đại hóa, ứng dụng CNTT, số hóa tài liệu thư viện (với số tiền từ 5 tỷ đến 30
tỷ đồng/1 thư viện)
- Thứ ba là chính sách về đội ngũ cán bộ thư viện Mấy thập kỷ qua, được sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước, nguồn nhân lực cho thư viện cả nước đã dần được tăng cường và củng cố Hiện nay bình quân mỗi thư viện tỉnh, thành phố có từ 20-30 cán bộ; Mỗi thư viện huyện nước ta có
từ 01 đến 02 biên chế Nhằm đáp ứng yêu cầu về hoạt động thực tiễn phục vụ văn hóa đọc trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, nhiều thư viện đã quan tâm và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thư viện, trong đó có việc: không ngừng bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ (cử cán bộ đi học thạc sĩ, tiến sĩ thư viện, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ), trình độ ngoại ngữ - vi tính, đặc biệt sử dụng phần mềm, quản trị thư viện để không ngừng hiện đại hóa thư viện điện tử ở nước ta
- Thứ tư là chính sách về công tác xã hội hóa (XHH) thư viện Nhờ có cơ chế-chính sách hợp lý
của Nhà nước đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho XHH thư viện; nên đã huy động được nguồn lực to lớn, hỗ trợ, quyên góp cho sự phát triển thư viện VN Hàng năm, 63 thư viện tỉnh và các thư viện chuyên ngành nhận được hàng chục nghìn bản sách do Quỹ Châu Á tặng; thông qua Ngày Sách Việt Nam (21/4), nhiều sách, trang thiết bị của tổ chức quốc tế, đại sứ quán các nước hỗ trợ cho thư viện Việt Nam Hàng năm, Cục Xuất bản, Thư viện Quốc gia Việt Nam, các nhà xuất bản
ở TW (Chính trị Quốc gia, Quân đội Nhân dân, Phụ nữ, Kim Đồng, Nhà xuất bản Trẻ v.v ) đã hỗ trợ hàng vạn cuốn sách (trị giá hàng tỷ đồng) cho các thư viện cơ sở Từ năm 2011- 2017, Dự án
“Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy cập Internet công cộng tại Việt Nam”, do Quỹ Bill & Melinda Gates (Hoa Kỳ) tài trợ, trị giá 40 triệu USD Mỹ (cấp khoảng 11.500 máy tính cho 40 tỉnh ở Việt Nam Từ năm 2005 -2015, các tổ chức phi chính phủ của Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức, Pháp, Thuỵ Điển và Ngân hàng thế giới đã hỗ trợ, đầu tư cho TV các trường đại học ở Việt Nam xây dựng Trung tâm Học liệu các tỉnh, thành: Thái Nguyên, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ; hoặc các dự án TV điện tử/TV số, trị giá từ vài tỷ đến vài chục tỷ đồng 5 năm trở lại đây, đã có hơn
40 Thư viện tỉnh/thành phố được tài trợ xe ô-tô Thư viện lưu động (do các tổ chức, doanh nghiệp trong nước và nước ngoài tài trợ v.v )
Theo số liệu thống kê của Bộ VHTTDL, đến cuối năm 2020, hệ thống TVCC cả nước đã có gần
20 ngàn thư viện, tủ sách, phòng đọc (trong đó có 1 Thư viện Quốc gia, 63 thư viện tỉnh/thành phố; 663 thư viện cấp huyện; 3.257 thư viện cấp xã và hơn 16 ngàn phòng đọc sách, tủ sách làng, thôn, bản), với gần 40 triệu bản sách Ngoài ra, hệ thống thư viện chuyên ngành với gần 400 thư viện trường đại học & cao đẳng, khoảng 24.700 thư viện trường phổ thông, gần 80 thư viện các bộ,
ngành, các viện, trung tâm nghiên cứu Về chất lượng, nhiều thư viện Việt Nam đã và đang tích cực
đa dạng hóa phương thức hoạt động: tổ chức kho đóng, kho mở, phục vụ nghe nhìn, nhất là đang chuyển dần từ phục vụ truyền thống sang hiện đại Bên cạnh việc đa dạng hóa phương thức tổ chức
và hoạt động, nhiều thư viện ở nước ta cũng đang tích cực đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện, cả sản phẩm thư viện truyền thống và sản phẩm thư viện hiện đại, như: Phích mục lục, thư mục sách báo, tạp chí, trang thông tin điện tử (website), CSDL điện tử thư mục và CSDL toàn văn v.v nhằm phục vụ tối ưu cho bạn đọc
Trang 20* PV Hiện nay, hệ thống thư viện của nước ta có đáp ứng được yêu cầu của nhân dân hay không?
- Ths Nguyễn Hữu Giới Qua quá trình phát triển, Thư viện Việt Nam tuy đạt được một số
thành tựu trong phục vụ bạn đọc, song có thể nói, thư viện Việt Nam vẫn chưa đáp ứng tốt nhu cầu đọc của đa số người dân, đó là vì:
+ Sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền, các khu vực trong cả nước: Thư viện vùng đồng bằng, đô thị có điều kiện phát triển nhanh, mạnh hơn, cả về CSVC, nguồn nhân lực, kinh phí, vốn sách báo tài liệu; còn các thư viện ở miền núi và Tây Nguyên, Tây Nam bộ vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn: Trụ sở thư viện còn tạm bợ, chưa được xây mới, cán bộ vừa thiếu, vừa yếu, nhất là ở tuyến huyện Nhiều thư viện, tủ sách cơ sở miền núi không có thư viện xã cho nên nhiều bà con ở vùng sâu, vùng xa, biên giới thiếu đói sách báo để đọc
+ Đầu tư chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ (CSVC, kinh phí, đội ngũ cán bộ ) Nhiều địa phương do điều kiện kinh tế khó khăn chưa quan tâm, đầu tư cho thư viện phát triển Ví dụ: Bình Phước, Bắc Kạn, Hà Nam, Hòa Bình tách tỉnh từ 10-15 năm nay, mà hiện trụ sở Thư viện tỉnh vẫn còn tạm bợ hoặc nhà cấp bốn
+ Cơ chế chính sách, nhất là ở tầm vĩ mô, còn thiếu và chưa đồng bộ, nên chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ và tình hình thực tế phát triển thư viện ở Việt Nam Hệ thống thư viện trường phổ thông có quá ít sách báo cho các em học sinh và thầy, cô giáo tham khảo, học tập
+ Trình độ cán bộ thư viện chưa đáp ứng yêu cầu, nhiều nơi còn thiếu và yếu, nhất là ở cấp huyện và cấp cơ sở; nhiều cán bộ thư viện thiếu năng động, sáng tạo trong công việc Đây cũng là nguyên nhân khách quan và chủ quan: suốt thời kỳ bao cấp, nhiều cán bộ thư viện thiếu năng động, còn ỷ lại, trông chờ vào cấp trên, dựa vào cơ chế xin-cho là chính
+ Văn hóa đọc hiện nay đang có nhiều biến động Bên cạnh đọc truyền thống trong thư viện, qua sách, báo in; đã xuất hiện đối tượng đông đảo độc giả đọc qua mạng Internet, ảnh hưởng không nhỏ tới văn hóa đọc truyền thống trong các thư viện Trong khi đó ngành thư viện chưa kịp chuyển mình để phục vụ người đọc qua mạng, vì thiếu đầu tư
* PV Trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay, công tác thư viện phải đối mặt với những khó khăn, thách thức như thế nào?
- Ths Nguyễn Hữu Giới Một số thách thức đối với Thư viện Việt Nam hiện nay là:
1) Xu hướng khoa học và công nghệ ngày càng phát triển nhanh, mạnh (nhất là CNTT) đã tạo
ra sự biến động lớn; ảnh hưởng sâu rộng tới mọi ngành nghề xã hội, trong đó có thư viện
2) Xu hướng toàn cầu hóa đã ảnh hưởng đến các nước trong khu vực và thế giới như hội nhập
và phát triển toàn diện, mọi lĩnh vực Xu thế này đã liên kết các nước, các thư viện khu vực và thế giới vào một mạng thư viện toàn cầu, nhằm chia sẻ, khai thác thông tin phục vụ cho mọi người dân
ở mọi quốc gia, dân tộc
3) Thế giới đã và đang bước vào nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin Vì thế vai trò thư viện, thông tin đang trở nên cần thiết, có giá trị cao, đã và đang trở thành lực lượng sản xuất quan trọng, thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển mạnh mẽ
4) Tăng cường hợp tác kinh tế, giao lưu văn hóa các nước khu vực và thế giới
Nhìn nhận ở nước ta, có những yếu tố tác động đến thư viện ở Việt Nam như sau:
Trang 21Một là, quá trình CNH, HĐH đất nước; đô thị hóa nông thôn ngày càng nhanh, nên gia tăng
nhu cầu đọc, phát triển văn hóa đọc (đọc truyền thống, đọc hiện đại, đọc qua mạng Internet…)
Hai là, phát triển sản phẩm sách, báo, tạp chí điện tử, CSDL điện tử, website Hiện ở nước ta,
ấn phẩm điện tử đã chiếm khoảng 30-40% so với 60-70% sách báo in truyền thống
Ba là, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế có tác động mạnh đến hoạt động thư viện; ngành
thư viện Việt Nam sẽ phải từng bước hội nhập & phát triển với các nước
* PV Vậy, thư viện phải làm gì để giải quyết những khó khăn thách thức đó? Theo ông, đâu là giải pháp quan trọng nhất?
- Ths Nguyễn Hữu Giới Để giải quyết những khó khăn, bất cập nêu trên, theo tôi ngành thư viện
phải lưu ý những vấn đề sau:
1) Đổi mới và nâng cao nhận thức, tư duy quản lý; phương thức điều hành hoạt động thư viện
(điều khiển từ xa, đi chợ sách trên mạng, thanh toán qua mạng) CMCN 4.0 sẽ mở ra cơ hội mới và
cả thách thức to lớn đối với ngành thông tin-thư viện Vì thế, cán bộ lãnh đạo, quản lý và nhân viên thư viện cả nước cần nâng cao nhận thức; đặc biệt cần tư duy mạnh mẽ về vấn đề này; để có thể
xây dựng/tổ chức điều hành hoạt động thư viện với cách mạng 4.0 (gắn với điều khiển từ xa; chỉ đạo
điều hành từ xa, thông qua công cụ cảm biến, di động, kỹ thuật số).
2) Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, hạ tầng công nghệ thông tin Yếu tố CNTT, CSVC,
trang thiết bị thư viện đã và đang là yếu tố quan trọng cho sự phát triển thư viện hiện tại và tương lai Nên khi tiến hành CMCN 4.0, xây dựng thư viện với kết nối vạn vật, định vị, cảm biến-điều khiển
từ xa, thậm chí có sự trợ giúp của người máy-rôbốt, thì thư viện sẽ đòi hỏi đầu tư cao, chất lượng tốt về hạ tầng CNTT, về CSVC với trang thiết bị hiện đại, siêu hiện đại; giúp cho người cán bộ thư viện “làm chủ” và điều hành tốt các thiết bị thông tin-thư viện
3) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Đây là nhu cầu tất yếu khi CMCN 4.0 chi phối tất cả
các lĩnh vực Điều này bắt buộc ngành thư viện: từ người quản lý, đến công tác chuyên môn đều phải học tập không ngừng để nâng cao các kỹ năng, tham gia điều khiển và vận hành thư viện, đảm bảo trơn tru, mạch lạc, hiệu quả tốt nhất Bởi lẽ khi thư viện chúng ta chịu tác động cách mạng công nghiệp 4.0, thì lao động thủ công và lao động chân tay gần như bị triệt tiêu, thay vào đó là những công việc đòi hỏi kỹ năng, kỹ xảo, với sự liên kết hệ thống, có sự trợ giúp của CNTT, của điều khiển tự động và mạng Internet với cường độ cao
4) Đẩy mạnh ứng dụng CNTT, xây dựng Thư viện điện tử, thư viện số Đây là một trong những
nội dung trọng tâm, bởi lẽ thư viện truyền thống sẽ không đáp ứng được yêu cầu này, thay vào đó, thư viện phải chủ động số hóa tài liệu, tăng cường xây dựng Thư viện điện tử có chất lượng cao để phục vụ bạn đọc Đây cũng là thước đo trình độ, hiệu quả của thư viện khi tham gia cách mạng công nghiệp 4.0 với nhiều tiện ích như tra cứu tài liệu từ xa, đọc trên mạng; cung cấp tài liệu theo yêu cầu qua mạng và nhiều tiện ích quan trọng khác
5) Đổi mới phương thức phục vụ bạn đọc, người dùng tin Trong tương lai, các thư viện nước ta
phải đổi mới phương thức phục vụ bạn đọc do những yêu cầu xã hội đặt ra, trong đó sẽ có nhiều hình thức mới, như: Truy cập tài liệu mở, đọc tài liệu từ xa; ứng dụng công nghệ RFID; đặt chỗ đọc
tự động, mượn trả sách tự động; đọc đa phương tiện (multimedia), để độc giả tiếp cận với thông tin, tri thức tiện lợi hơn, thoải mái hơn;
Trang 226) Đẩy mạnh liên kết vùng miền, liên kết chia sẻ nguồn lực thông tin trong thư viện Đây là lĩnh
vực thời gian qua các thư viện ở Việt Nam thực hiện còn yếu, do nhiều vướng mắc trong các quy định, thủ tục hành chính, hạ tầng công nghệ thông tin, bản quyền tác giả Vì vậy, sắp tới, công tác này cần tiến hành mạnh mẽ, đồng bộ & quyết liệt hơn, tránh lãng phí tài nguyên và nguồn lực thông tin trong các thư viện, đáp ứng nhu cầu của đông đảo bạn đọc
Trong các giải pháp quan trọng nêu trên, theo tôi có 2 nội dung là quan trọng nhất khi thư viện chúng ta hướng tới việc phục vụ hiệu quả CMCN 4.0, đó là giải pháp công nghệ và con người;
đó cũng chính là mấu chốt, là “chìa khóa” Theo phép biện chứng duy vật Mác-Lênin, thì đó cũng chính là lực lượng sản xuất (gồm tư liệu sản xuất và con người tham gia quá trình sản xuất ấy), sẽ thúc đẩy quan hệ sản xuất phát triển, để ngành thư viện Việt Nam vươn lên đáp ứng có hiệu quả nhu cầu của người đọc, của sự nghiệp CNH-HĐH trong thế kỷ 21, nếu không muốn tụt hậu so với các nước trong khu vực và thế giới./
Trang 23ThS Nguyễn Danh Minh Trí
Trường Đại học Thủ Dầu Một, Bình Dương
Tóm tắt: Internet vạn vật – IoT (Internet of Things – Mạng lưới vạn vật kết nối Internet) là một
cụm từ được nhắc đến rất nhiều trong thời gian gần đây Công nghệ IoT sẽ trở thành nền tảng của nhiều hệ thống thông minh thế hệ mới, là công nghệ trung tâm tích hợp nhiều công nghệ hiện đại khác như mạng di động thế hệ mới, RFID, điện toán đám mây IoT cũng là một trong những công nghệ cốt lõi hứa hẹn sẽ tạo nên những bước đột phá mạnh mẽ trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang lan rộng trên phạm vi toàn cầu Bài báo trình bày khái quát về công nghệ IoT
và một số dịch vụ ứng dụng quan trọng của IoT trong các thư viện hiện đại
Từ khóa: Internet of Things, IoT, Library, Mạng lưới Vạn vật Kết nối Internet, Dịch vụ, Thư viện.
•
-1 Khái quát về Công nghệ IoT
1.1 Khái niệm IoT
Vào những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành và khái niệm về mạng thế hệ mới giúp kết nối nhiều thiết bị đã được đề xuất bởi một số nhà khoa học Tuy nhiên, mãi đến năm 1999, khi Kevin Ashton, người sáng lập Trung tâm Auto-ID ở đại học MIT (MIT’s Auto-ID Center), nêu lên khái niệm IoT (Internet of Things) thì cộng đồng khoa học mới chính thức được biết đến sự xuất hiện của công nghệ này
Trung tâm Auto-ID ở đại học MIT được biết đến là nơi thiết lập các quy chuẩn toàn cầu cho công nghệ giao tiếp không dây dùng sóng radio – RFID và một số loại cảm biến có liên quan khác
Do vậy, có thể thấy IoT là công nghệ được phát triển dựa trên nền tảng cơ bản là công nghệ RFID RFID là công nghệ nhận dạng đối tượng dựa trên sóng vô tuyến (radio), cho phép nhận biết các đối tượng thông qua hệ thống thu phát sóng radio, từ đó có thể giám sát, quản lý hoặc lưu vết từng đối tượng phục vụ cho các mục đích khác nhau Một số ứng dụng phổ biến của công nghệ RFID như: quản lý tồn kho, thanh toán tự động trong siêu thị, truy tìm hàng hóa thất lạc, theo dõi vật nuôi
tỔng QUan VỀ các dịcH VỤ Ứng dỤng của cÔng ngHệ mạng LưỚi Vạn VẬt Kết nối intErnEt trong tHư Viện Hiện đại
Trang 24Hình 1 Mô tả tương tác của hệ thống IoT [2]
IoT không còn là một thuật ngữ mới, nhưng vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về công nghệ này Ý tưởng chính của công nghệ IoT là hỗ trợ kết nối nhiều loại thiết bị trong một hệ thống nhằm nâng cao khả năng tự động hóa và tính chất thông minh trong xử lý các tác vụ của hệ thống một cách hiệu quả hơn Theo Wikipedia: “Mạng lưới vạn vật kết nối Internet, còn gọi là Mạng lưới
thiết bị kết nối Internet (Internet of Things - viết tắt là IoT) là một liên mạng, trong đó các thiết bị,
phương tiện vận tải (được gọi là “thiết bị kết nối” và “thiết bị thông minh”), phòng ốc và các trang thiết
bị khác được nhúng với các bộ phận điện tử, phần mềm, cảm biến, cơ cấu chấp hành cùng với khả năng kết nối mạng máy tính giúp cho các thiết bị này có thể thu thập và truyền tải dữ liệu.”.
Hệ thống IoT bao gồm mạng lưới kết nối nhiều đối tượng, thiết bị vật lý trong một không gian Không gian này có thể được mở rộng vô tận, thậm chí là toàn cầu Mạng lưới kết nối này thường
là mạng Internet, hỗ trợ truyền tải dữ liệu thông qua Internet đến các đám mây (cloud) nơi chứa những dịch vụ xử lý tập trung các yêu cầu của người dùng và các yêu cầu đến từ những đối tượng khác trong hệ thống
Thông qua việc hỗ trợ kết nối, liên kết rất nhiều ứng dụng và cảm biến đa dạng, công nghệ IoT đang góp phần làm cho các hệ thống trở nên “thông minh hơn”, có khả năng hiểu được suy nghĩ của con người và các thiết bị khác nằm trong cùng hệ thống Nổi bật nhất và cũng là đặc biệt nhất trong hệ thống IoT chính là khả năng thao tác chính xác Tính chính xác là một trong những yêu cầu quan trọng nhất trong một hệ thống IoT Nó giúp cho các thiết bị có thể liên lạc với nhau một cách hiệu quả nhất, từ đó chúng có thể “hiểu” nhau để phối hợp và thực hiện nhiều loại tác vụ thông minh trong cùng một bối cảnh kết nối
Hệ thống IoT có khả năng tự động hóa thông minh rất cao Mọi thiết bị, đối tượng, đồ vật, con người trong hệ thống đều được cấp phát một định danh riêng của mình Tất cả đều sẽ có một phiên bản số của chính nó trên môi trường ảo, nhằm đảm bảo tất cả thực thể số này có thể liên lạc, truyền tải, trao đổi dữ liệu thông qua hạ tầng mạng Internet Sự kết nối này không cần sự can thiệp trực tiếp giữa người với người hay người với máy Có thể xem IoT là sự kết hợp của các dạng công nghệ sau: công nghệ mạng Internet, công nghệ mạng không dây (wifi) thế hệ mới (5G, 6G), công nghệ vi cơ điện tử và điều khiển học thông minh, công nghệ xử lý dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo
Hệ thống IoT có thể theo dõi sự thay đổi của rất nhiều thực thể theo thời gian thực với một tốc độ vô cùng nhanh chóng Các phiên bản số tương ứng với những thực thể vật lý sẽ cùng tồn tại song song trên môi trường IoT Do mạng IoT chứa đến hàng tỉ đối tượng được kết nối với nhau nên đòi hỏi hạ tầng mạng phải thật sự mạnh mẽ để có thể đảm bảo việc trao đổi và xử lý một lượng lớn dữ liệu đạt được hiệu quả cao Công nghệ mạng di động thế hệ thứ 5 (5G), và thứ 6 (6G) trong tương lai sẽ là những lựa chọn hoàn toàn phù hợp trong bối cảnh của công nghệ IoT
Các thiết bị IoT
Thế giới ảo Thế giới thực
Trang 25Theo dự đoán của các chuyên gia, hệ thống IoT sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong những thập niên tới và trở thành trái tim của rất nhiều hệ thống thông minh thế hệ mới
Sẽ có hàng nghìn tỉ thiết bị, đồ vật, đối tượng tham gia kết nối vào mạng Internet, đưa IoT thành một kiến trúc mạng khổng lồ kết nối tất cả mọi thứ trên thế giới Đến lúc đó, không chỉ có kết nối giữa thiết bị và con người mà còn bao gồm cả những dạng kết nối khác như giữa con người và con người, thiết bị và thiết bị, thậm chí những kết nối này không chỉ đến từ các phiên bản số trên không gian ảo mà còn có sự tương tác một cách hiệu quả giữa thế giới thực và thế giới ảo
Trong bối cảnh công nghệ thông tin và truyền thông đang ngày càng phát triển mạnh mẽ như hiện nay, cùng với sự ra đời của các hệ thống thư viện hiện đại như: thư viện điện tử, thư viện số
và đặc biệt là thư viện thông minh, đã tạo ra những nền tảng quan trọng giúp cho việc ứng dụng công nghệ IoT vào các hệ thống thư viện hiện đại được thuận lợi hơn rất nhiều Có thể nhận thấy một số hướng ứng dụng nổi bật của công nghệ IoT trong các thư viện hiện đại như: giúp quản lý
hệ thống thư viện và người dùng hiệu quả hơn, giúp cho việc tìm kiếm và định vị các tài liệu trong thư viện nhanh và chính xác hơn, giúp cho người làm công tác thông tin thư viện thực hiện tốt hơn công việc của mình, giúp thư viện tiết kiệm năng lượng, nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như công tác quản lý
1.2 Các tính chất của công nghệ IoT
Hạt nhân của công nghệ IoT là khả năng kết nối chính xác, hiệu quả cao của nhiều dạng thiết
bị và đối tượng khác nhau, dựa trên nền tảng trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn để đưa ra những quyết định thông minh hơn Việc xử lý một khối lượng lớn dữ liệu được thu thập và truyền tải trong hệ thống đòi hỏi hạ tầng mạng phải rất hiện đại và có khả năng xử lý hiệu quả một khối lượng lớn dữ liệu trong khoảng thời gian giới hạn
Dữ liệu trong hệ thống thường đến từ các cảm biến theo dõi hoạt động của tất cả phiên bản
số của các thực thể Việc phát sinh và luân chuyển dữ liệu trong hệ thống được thực hiện với tốc
độ rất nhanh và đạt hiệu suất cực kỳ cao, gần như ngay tức thì Một hệ thống IoT thường sẽ có các tính chất đặc trưng sau:
a) Thông minh
Khi nói đến IoT, không thể không nhắc đến tính thông minh, một tính chất đặc biệt quan trọng của công nghệ này Trong hệ thống IoT, các thiết bị và đối tượng được cấp phát một phương thức định danh duy nhất và tất cả đều có khả năng kết nối liên thông (interconnectivity) với nhau
Khả năng kết nối liên thông là khả năng liên lạc và hiểu được nhau của các đối tượng nằm trong hệ thống IoT Khả năng này cho phép các thiết bị và đối tượng có thể phối hợp hoạt động nhằm thu thập và phân tích các dữ liệu về hành vi của tất cả thực thể nhằm rút ra được các tri thức mới Trên cơ sở đó giúp cho hệ thống phát triển linh hoạt, ra các quyết định chính xác và đạt hiệu quả tương tác ngày càng cao và phù hợp hơn trên không gian số
b) Quy mô và kích thước lớn
Hệ thống IoT thường bao gồm một số lượng rất lớn các thiết bị được kết nối và tương tác với nhau Do vậy, dung lượng các dữ liệu được truyền tải và lưu trữ bởi thiết bị sẽ rất lớn, hầu hết
sẽ là dữ liệu lớn Một hệ thống IoT có thể chứa đến hàng trăm nghìn tỉ thiết bị và đối tượng được liên kết với nhau trong đó mỗi thiết bị, đối tượng sẽ được cấp phát một con số định danh duy nhất
Ngoài ra, hệ thống IoT còn có khả năng theo dõi sự thay đổi trạng thái của từng thiết bị hay đối tượng Hệ thống sẽ ngày càng được mở rộng hơn, hoạt động hiệu quả hơn theo thời gian thực,
Trang 26đáp ứng một khối lượng lớn tương tác đến từ tất cả các thiết bị và thực thể tham gia vào môi trường IoT Điều này tất yếu dẫn đến quy mô và kích thước của hệ thống IoT là rất lớn và luôn phát triển không ngừng.
c) Tính phức tạp và không đồng nhất
Một mạng IoT bao gồm rất nhiều loại thiết bị tham gia kết nối trên các phần khác nhau của
hệ thống Do vậy, hệ thống IoT mang tính chất phức tạp vì nó bao gồm nhiều thiết bị cùng kết nối vào một chỉnh thể thống nhất
Bản thân các thiết bị này cũng đa dạng, với cấu trúc vật lý và các cảm biến, phần mềm tương ứng khác nhau Công nghệ mạng được sử dụng cũng gồm nhiều phương thức cấu hình phức tạp
và không đồng nhất, có tùy chỉnh tính riêng tư, khả năng chia sẻ khác nhau nhằm đảm bảo một sự hoạt động kết hợp hiệu quả trên toàn hệ thống
d) Kiến trúc dựa trên sự kiện
Các thiết bị trong hệ thống IoT có khả năng kết nối và phản hồi nhanh dựa trên các sự kiện đang diễn ra trong thời gian thực Điều này dựa trên cơ sở là hệ thống IoT bao gồm mạng lưới rất nhiều cảm biến có khả năng thay đổi linh hoạt, và trạng thái của các thiết bị sẽ tự động thay đổi cho phù hợp với ngữ cảnh hoạt động của mình Tất cả những thay đổi trong hệ thống đều sẽ được giám sát kỹ lưỡng và lưu lại phục vụ cho việc phân tích và xử lý
e) Tính không gian và thời gian
Một hệ thống IoT cần thu thập rất nhiều dạng dữ liệu khác nhau, và các dữ liệu này cần được xử lý trong thời gian ngắn đủ để đáp ứng cho yêu cầu hoạt động của các đối tượng Do vậy, yếu tố thời gian và không gian có ảnh hưởng quan trọng trong quá trình vận hành và phát triển của một hệ thống IoT Ngoài ra, không gian hệ thống IoT cũng có đủ loại, từ những văn phòng, tòa nhà thư viện thông minh cho đến các đại học thông minh, hệ thống thành phố và đô thị thông minh
2 Các dịch vụ ứng dụng của công nghệ IoT trong thư viện hiện đại
Công nghệ IoT có nhiều tiềm năng ứng dụng trong các hoạt động của thư viện hiện đại như: quản lý các tài nguyên và bộ sưu tập số, dịch vụ truy cập, dịch vụ đề xuất và khuyến nghị, dịch vụ định vị và các dịch vụ quản lý thiết bị
Hình 2 Các dịch vụ ứng dụng của công nghệ IoT trong thư viện hiện đại
DỊCH VỤ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN
DỊCH VỤ KHUYẾN NGHỊ
DỊCH VỤ TRUY CẬP
DỊCH VỤ ĐỊNH VỊ
DỊCH VỤ QUẢN LÝ THIẾT BỊ
IOT TRONG DỊCH VỤ THƯ VIỆN
Trang 272.1 Cung cấp các đề xuất phù hợp và dịch vụ khuyến nghị
Hệ thống IoT luôn thu thập thông tin của người dùng và lịch sử tương tác của họ Điều này giúp cho hệ thống có thể phân tích được các thói quen và hành vi của người dùng để từ đó đưa
ra các gợi ý, dự đoán về nhu cầu sử dụng dịch vụ của người dùng một cách phù hợp và chính xác hơn Việc đề xuất các nguồn tài nguyên mà người dùng có thể đang quan tâm càng có ý nghĩa hơn trong bối cảnh một khối lượng lớn tài nguyên thông tin của thư viện vẫn đang được gia tăng nhanh chóng hàng ngày hàng giờ khiến người dùng dễ bị lạc hướng trong quá trình sử dụng các dịch vụ của hệ thống
Khi một nhà khoa học hoặc nhà nghiên cứu muốn tìm kiếm một tài nguyên học thuật, công nghệ IoT sẽ đưa ra các đề xuất về các nguồn tài nguyên có liên quan mà có thể nhà nghiên cứu đó
sẽ quan tâm nhằm giúp họ tiết kiệm thời gian và chi phí tìm kiếm Ngoài ra, khi người dùng đang
sử dụng một dịch vụ, công nghệ IoT sẽ giúp xác định và thông báo cho người dùng về những người dùng mới đến hoặc người dùng khác trong cùng một phạm vi, khu vực nhằm tăng cường sự tương tác trong môi trường dịch vụ đó
Công nghệ IoT còn giúp xác định trạng thái của nguồn tài nguyên (cập nhật theo thời gian thực) để đề xuất thao tác hợp lý do người dùng, ví dụ tránh phải mượn cùng một nguồn tài nguyên chưa sẵn sàng hoặc đã có ai đó đang sử dụng chẳng hạn Bên cạnh đó, dựa trên lịch sử tìm kiếm và
sử dụng các nguồn tài nguyên, công nghệ IoT còn có thể dự đoán để đề xuất cho người dùng những tài nguyên có thể họ đang muốn sử dụng
2.2 Dịch vụ quản lý các tài nguyên, bộ sưu tập số
Hệ thống IoT hỗ trợ người dùng trong việc định danh và truy cập nhanh chóng đến thông tin của các nguồn tài nguyên trong thư viện Điều này sẽ giúp người quản lý nhanh chóng có được thông tin đầy đủ về tất cả những dạng tài nguyên và bộ sưu tập số hiện có Hơn nữa, trạng thái của những nguồn tài nguyên này cũng sẽ được cung cấp một cách đầy đủ, giúp cho việc quản lý được
dễ dàng và hiệu quả hơn
Trước khi đưa vào các kho lưu trữ, tất cả tài liệu đã được số hóa sẽ được cấp phát một định danh tương ứng với phiên bản số của nó trong môi trường IoT Vì vậy, những ứng dụng có sử dụng nguồn tài nguyên này sẽ có kết nối với phiên bản số đó Khi người dùng sử dụng các dịch vụ của thư viện thì hệ thống IoT sẽ tự động hỗ trợ việc định danh các tài liệu này và thể hiện các tiện ích một cách nhanh chóng
Các bộ sưu tập số được cấp các mã định danh duy nhất (mã RFID) trên mỗi mục giúp cho việc xác định tài liệu được chính xác hơn Các mã RFID sau đó sẽ được tích hợp vào các thẻ thành viên, giúp cho quá trình lưu hành các tài nguyên được hợp lý và tiện dụng Khi người dùng sử dụng các dịch vụ của thư viện, hệ thống IoT sẽ thông báo nếu họ có mượn tài liệu quá hạn hoặc họ còn nợ một số khoản phí nào đó Nếu người dùng thực hiện trả lại các tài liệu quá hạn, công nghệ IoT sẽ giúp họ xác định vị trí để thao tác một cách chính xác và nhanh chóng
Người dùng sẽ không bao giờ phải xếp hàng chờ đợi để đăng ký, trả sách hoặc sử dụng các dịch vụ có liên quan khác Bên cạnh đó, các kệ sách thông minh có trang bị các cảm biến có thể giúp quảng bá các nội dung dựa trên dữ liệu mượn trả của người dùng và xu hướng tìm kiếm trên
hệ thống mạng Internet Ngoài ra, công nghệ IoT còn giúp cho việc quản lý tồn kho được hiệu quả hơn nhờ vào khả năng xác định vị trí các tài nguyên bị thất lạc hoặc nhanh chóng tìm được vấn đề đang xảy ra trong quy trình lưu trữ và nhập xuất kho
Trang 282.3 Hỗ trợ việc truy cập vào thư viện và các nguồn tài nguyên
Công nghệ IoT sẽ hỗ trợ việc truy cập vào thư viện hiện đại thông qua các phương thức tiện dụng hơn như dùng thiết bị di động kết nối với thẻ thư viện ảo (virtual library card) để sử dụng các dịch vụ Người dùng hoàn toàn có thể tìm kiếm nhanh một cuốn sách hay một tài liệu mà họ đang cần Hệ thống IoT sẽ giúp cho họ xác định nhanh chóng nguồn tài nguyên đó hiện đang ở đâu và đang ở trạng thái như thế nào Ngoài ra, hệ thống IoT còn giúp lập bản đồ hướng dẫn người dùng
sử dụng các dịch vụ đang được cung cấp nhằm giúp họ tiết kiệm thời gian tìm hiểu hoặc thao tác tìm kiếm
Hệ thống IoT còn giúp người dùng có được những thông tin bổ sung cần thiết về các tài liệu
và nguồn tài nguyên có liên quan Bằng việc kết nối với các kho dữ liệu trên Internet, hệ thống IoT
có thể cung cấp các thông tin chi tiết, giới thiệu cụ thể về loại tài nguyên mà người dùng sẽ sử dụng.Việc truy cập vào các nguồn tài nguyên dựa vào quyền hạn tương ứng của người dùng cũng
sẽ được hệ thống IoT hỗ trợ một cách hiệu quả và hợp lý hơn Tất cả những dữ liệu và tài nguyên
có liên quan sẽ được lưu trữ và xử lý hiệu quả, kể cả dữ liệu phân quyền trong hệ thống Khi người dùng có nhu cầu truy cập, họ có thể sử dụng các thiết bị thông minh (như điện thoại hay máy tính bảng ) để tạo kết nối nhanh chóng đến các ứng dụng có cung cấp các nguồn tài nguyên, tài liệu tương ứng mà họ đang có nhu cầu sử dụng
2.4 Hỗ trợ các dịch vụ định vị
Dịch vụ định vị trong thư viện hiện đại là một trong những dịch vụ quan trọng và nó sẽ được
hỗ trợ tốt hơn bởi công nghệ IoT Ví dụ, IoT sẽ hỗ trợ xác định vị trí của những tài nguyên mà người dùng đang sử dụng dang dở trong lần trước để giúp họ tiếp tục sử dụng Hoặc công nghệ IoT có thể cung cấp vị trí của những cuốn sách hay những tài liệu mới dựa trên thói quen sử dụng của người dùng đó
Dịch vụ định vị của IoT còn giúp người dùng không bị lạc hướng trong thời gian đầu làm quen với các dịch vụ của thư viện Ngoài ra, việc xác định vị trí còn giúp các nhân viên thư viện có thể biết được hiện trạng của các cảm biến được đặt dưới sàn, từ đó hỗ trợ họ thực hiện tốt hơn các công tác nghiệp vụ và quản lý của mình
Công nghệ IoT còn giúp hỗ trợ các đối tượng người dùng đặc biệt như người dùng khuyết tật
dễ dàng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ mà họ mong muốn trải nghiệm Ngoài ra, các dịch vụ dựa trên vị trí của IoT có thể cung cấp thông tin trạng thái (sẵn sàng hay chưa sẵn sàng) của phòng thảo luận, phòng đọc, phòng xem tư liệu, các thiết bị (như máy chiếu, máy in, máy quét ảnh, máy tính ) nhằm hỗ trợ người dùng tốt hơn
Người dùng có thể kiểm tra các trạng thái này trên thiết bị di dộng hoặc máy tính bảng của
họ, ứng dụng IoT sẽ cho biết khoảng thời gian nào là cao điểm, thời gian nào có thể thuận tiện cho việc sử dụng dịch vụ, chẳng hạn Từ đó, người dùng có thể tham gia vào quá trình điều tiết các hoạt động này, cũng là phục vụ cho chính họ và cộng đồng người dùng khác của hệ thống IoT hiện tại
2.5 Dịch vụ quản lý thiết bị trong thư viện
Công nghệ IoT liên kết rất nhiều thiết bị vật lý trong một không gian, cụ thể là trong môi trường các thư viện thì bao gồm các thiết bị có liên quan như đèn, quạt, máy lạnh, máy in, máy chiếu, kệ sách, tủ media, bàn, ghế Không chỉ liên kết, hệ thống IoT còn thu thập và lưu trữ thông tin trạng thái hoạt động của tất cả các thiết bị trên Các engine trí tuệ nhân tạo sẽ giúp cho hệ thống điều tiết hoạt động của tất cả thiết bị có kết nối trong môi trường hiện tại, từ đó sẽ tiết kiệm đáng
kể các chi phí năng lượng
Trang 29Công nghệ IoT có thể giúp cho đội ngũ nhân viên thư viện quản lý các thiết bị tốt hơn thông qua việc nắm bắt thông tin trạng thái của chúng Tuy là thông tin trạng thái thiết bị được gửi về cho người điều hành, nhưng việc điều khiển và ra các quyết định tinh chỉnh hoạt động của thiết bị có thể được hệ thống IoT vận hành một cách tự động Khả năng tự động hóa này sẽ ngày một được nâng cao khi hệ thống được triển khai một thời gian dài với một khối lượng lớn dữ liệu được thu thập và phân tích để ra các quyết định phù hợp hơn Công nghệ IoT còn hỗ trợ bảo trì các thiết bị một cách hiệu quả hơn thông qua việc thông báo thông tin trạng thái cho người quản lý Ví dụ: hệ thống có thể cho biết máy in nào sắp hết mực, bóng đèn nào đang có vấn đề.
Hệ thống IoT có thể hỗ trợ phân quyền mở rộng hơn cho người dùng cuối trong việc tham gia vào quá trình kiểm soát thiết bị Ví dụ một người dùng cuối có thể sử dụng tiện ích được hệ thống IoT hỗ trợ để tìm kiếm không gian trải nghiệm dịch vụ phù hợp với mình, chẳng hạn như tìm bàn đọc sách hoặc điều chỉnh độ sáng của đèn, điều hòa không khí, wifi
3 Kết luận
IoT là một trong những công nghệ cốt lõi hứa hẹn sẽ tạo nên những bước đột phá mạnh mẽ trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang lan rộng trên khắp thế giới Công nghệ IoT đã trở thành nền tảng, và sẽ là trung tâm tích hợp nhiều công nghệ hiện đại như mạng di động thế hệ mới (5G, 6G), RFID, điện toán đám mây nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng nên các hệ thống thông minh thế hệ mới
Trong bối cảnh phát triển của các thư viện hiện đại, đặc biệt là các thư viện thông minh, công nghệ IoT sẽ phát huy tối đa những thế mạnh của nó trong việc hỗ trợ các dịch vụ thông minh trong thư viện như hỗ trợ quản lý các tài nguyên và bộ sưu tập số, dịch vụ truy cập, dịch vụ đề xuất và khuyến nghị, dịch vụ định vị và các dịch vụ quản lý thiết bị Tuy nhiên, để có thể ứng dụng hiệu quả công nghệ IoT nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như tầm vóc của thư viện hiện đại, các nhà quản lý và các cơ quan thông tin thư viện cần có chiến lược dài hạn cộng thêm nhiều sự đầu
tư hợp lý không chỉ về khía cạnh tài chính, công nghệ, đào tạo nhân lực mà còn bao gồm cả những
sự hỗ trợ khác từ cộng đồng người dùng rộng lớn Một khi công nghệ IoT được phát triển và ứng dụng rộng rãi, điều này sẽ mang lại hiệu quả và lợi ích không nhỏ cho người dùng, góp phần phát triển xã hội thông tin, nâng cao tri thức và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vạn vật kết nối và thông minh hơn./
-TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Kỷ yếu hội thảo “Thư viện Thông minh 4.0 Công nghệ - dữ liệu - con người”, Trung tâm Thông tin - Thư viện, ĐHQG Hà Nội
2 Nguyễn Danh Minh Trí (2019), Công nghệ mạng lưới vạn vật kết nối Internet và ứng dụng trong thư viện thông minh, Tạp chí Thư viện Việt Nam, số 3-2019
3 Hứa Văn Thành (2018), Ứng dụng Internet of Things vào các dịch vụ thư viện hiện đại: Cơ hội
và thách thức, Tạp chí Thư viện Việt Nam, số 1-2018
4 Nguyễn Danh Minh Trí (2018), Tổng quan về Khoa học Dữ liệu, Tạp chí Thông tin và Tư liệu,
số 6-2018
Trang 305 Ngô Thanh Thảo (2019), Ứng dụng dữ liệu lớn trong cơ quan Thông tin - Thư viện, Tạp chí Thông tin và Tư liệu, số 3-2019
6 Nguyễn Thị Minh Phượng (2018), Nghiên cứu ứng dụng Internet of Things trong tạo lập, quản lý tài nguyên số, Tạp chí Thư viện Việt Nam, số 5-2018
7 Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nguyễn Thị Lan Hương (2018), Ứng dụng kết nối vạn vật - Internet
of Things trong dịch vụ thư viện hiện đại, Kỷ yếu hội thảo Thư viện Thông minh 4.0 Công nghệ - dữ liệu - con người, Trung tâm Thông tin - Thư viện, ĐHQG Hà Nội
8 Nguyễn Thị Ngọc Mai (2018), Internet vạn vật và ứng dụng trong thư viện, Kỷ yếu hội thảo Thư viện Thông minh 4.0 Công nghệ - dữ liệu - con người, Trung tâm Thông tin - Thư viện, ĐHQG
Hà Nội
9 Nguyễn Thị Minh Phượng (2018), Thư viện số thông minh với Internet vạn vật, Kỷ yếu hội thảo Thư viện Thông minh 4.0 Công nghệ - dữ liệu - con người, Trung tâm Thông tin - Thư viện, ĐHQG
Hà Nội
Trang 31NCS Trần Văn Hồng
Trung tâm Văn hóa Quận 6, TP Hồ Chí Minh
Tóm tắt: Sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ (KH&CN) là một trong những
yếu tố quan trọng tạo ra tiềm lực thông tin KH&CN của mỗi quốc gia Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, chính sách ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN cần được hoàn thiện nhằm thúc đẩy hoạt động cung ứng sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN phục vụ tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp Trên cơ sở hệ thống hóa và đánh giá thực trạng quy định hiện hành về chính sách ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN, nghiên cứu đề xuất một số định hướng cơ bản nhằm hoàn thiện chính sách
Từ khóa: Thông tin khoa học và công nghệ, chính sách, sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học
và công nghệ, ứng dụng công nghệ thông tin
•
-Dẫn nhập
Xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức là một trong những xu thế chủ đạo trong sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia hiện nay Trong xã hội này, vai trò của thông tin KH&CN ngày một quan trọng, và là động lực cho sự phát triển.Từ đó đặt ra nhiệm vụ cho các tổ chức cung ứng thông tin KH&CN, sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN phải không ngừng đổi mới, cải tiến về quy trình xây dựng, chất lượng đầu ra của sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người sử dụng.Trong đó ứng dụng thành tựu của KH&CN, đặc biệt là CNTT là một trong những giải pháp hữu hiệu góp phần đổi mới khả năng cung ứng và khả năng tiếp cận đến sản phẩm và dịch vụ thông tin cho người sử dụng Xuất phát từ yêu cầu này đã dẫn đến sự cấp thiết trong việc xây dựng một chính sách ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN Chính sách này được xây dựng dựa trên sự kết hợp của 02 chính sách cơ bản: đó là chính sách thông tin KH&CN, với nội dung chủ đạo liên quan đến phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN và chính sách ứng dụng CNTT, với nội dung chủ đạo liên quan đến cung cấp cơ sở hạ tầng, CNTT, hệ thống
VỀ cHínH sácH Ứng dỤng cntt trong PHát triển sản PHẩm Và dịcH VỤ tHÔng tin KHoa HỌc
Và cÔng ngHệ ở Việt nam
Trang 32phần mềm, trang thiết bị cho hoạt động ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ Với sự giao thoa này, chủ thể ban hành chính sách, các nội dung về chính sách là hết sức đa dạng,
và có tác động đến nhiều khía cạnh khác nhau trong hoạt động thông tin KH&CN trong đó có hoạt động phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN
Trong nghiên cứu này, trên cơ sở phân tích chính sách ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN, tác giả nhận diện những nội dung cơ bản của chính sách, điểm mạnh, điểm bất cập của chính sách, từ đó đề xuất những giải pháp cơ bản để hoàn thiện chính sách, tạo động lực trong việc kiện toàn hoạt động thông tin KH&CN ở Việt Nam
1 Cơ sở lý luận về chính sách ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN
Để nhận diện khái niệm chính sách ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN trước tiên cần làm rõ nội hàm của 02 khái niệm “sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN” và “phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN”
1.1 Sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN
Trước tiên, ta cần làm rõ nội hàm khái niệm “sản phẩm và dịch vụ”, có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến khái niệm này Trong kinh tế học, người ta thường quan niệm rằng sản phẩm bao gồm hàng hóa và dịch vụ, tuy vậy trong phạm vi của nghiên cứu này, có sự tách bạch rõ rệt giữa
02 khái niệm sản phẩm và dịch vụ, và xem xét chúng như những thực thể độc lập
Theo C.Mác “sản phẩm là kết quả của quá trình lao động để phục vụ cho việc thỏa mãn nhu cầu của con người” Sản phẩm trong nền kinh thế thị trường được xác định đó là bất kỳ cái gì đó có thể đáp ứng nhu cầu và tạo ra lợi nhuận
Về nội hàm khái niệm dịch vụ, trong nền kinh tế quốc dân, dịch vụ là một đối tượng rất đa dạng và phong phú, có thể là các dịch vụ phục vụ cho cuộc sống hàng ngày như: ăn, mặc, ở, đi lại,
có thể là các dịch vụ công, có thể là dịch vụ hỗ trợ sản xuất, kinh doanh Có nhiều định nghĩa khác nhau liên quan đến khái niệm này Theo từ điển Tiếng Việt “dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công”[1] Dịch vụ mang 05 đặc điểm cơ bản đó là (1) tính vô hình: được thể hiện ở chỗ người được hưởng thụ dịch vụ không thể dùng giác quan để cảm nhận lý tính hay hóa tính của dịch vụ (2) tính không thể tách rời với biểu hiện dịch vụ thường tiêu dùng một cách đồng thời và không thể lưu trữ, cất giữ; (3) tính không đồng nhất: không có một tiêu chuẩn chung nào để có thể đánh giá dịch vụ, thậm chí, cùng một loại dịch vụ cũng không có tiêu chí để đánh giá chất lượng; (4) tính không thể chuyển quyền sở hữu: theo đó, dịch vụ chỉ có thể hưởng lợi ích, chứ không thể chuyển quyền sở hữu
Xuất phát từ phân tích nội hàm khái niệm sản phẩm và dịch vụ nói chung, trong tiếp cận của nghiên cứu có thể đưa ra những nhận diện về sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN như sau:
- Sản phẩm thông tin KH&CN là kết quả của quá trình phân tích, xử lý thông tin KH&CN
do tổ chức, cá nhân thực hiện nhằm thỏa mãn các nhu cầu thông tin chuyên sâu của người sử dụng
Từ khái niệm này có thể nhận diện nội hàm của sản phẩm thông tin KH&CN đó là kết quả của quá trình lao động, ở đây là quá trình phân tích, xử lý thông tin KH&CN Theo đó, xử lý thông tin được xác định bao gồm: xử lý hình thức và xử lý nội dung thông tin Từ đây có thể xác định các loại sản phẩm thông tin KH&CN bao gồm các loại hình cơ bản như: Cơ sở dữ liệu (cơ sở dữ liệu thư mục, cơ sở dữ liệu dữ kiện, cơ sở dữ liệu toàn văn); tóm tắt khoa học, chỉ dẫn trích dẫn khoa học,
Trang 33tổng quan, tổng luận khoa học, các bản phân tích thông tin theo nhu cầu; Mục lục tra cứu (bao gồm mục lục truyền thống và mục lục điện tử) [2]
- Dịch vụ thông tin KH&CN là một loại hình dịch vụ KH&CN do tổ chức, cá nhân hoạt động
thông tin KH&CN thực hiện Dịch vụ thông tin KH&CN được xác định là công việc, hoạt động, quy trình hay phương thức cung cấp thông tin KH&CN nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của người sử dụng
Tùy thuộc vào nhu cầu và mức độ chuyên sâu trong sử dụng thông tin KH&CN của người
sử dụng có thể nhận diện, dịch vụ thông tin KH&CN bao gồm các loại hình như: dịch vụ cung cấp
và phổ biến thông tin chọn lọc, dịch vụ mượn liên thư viện, dịch vụ cung cấp thông tin qua không gian mạng, dịch vụ hướng dẫn sử dụng tra cứu thông tin, tư vấn thông tin, tổ chức hội nghị, hội thảo triển lãm KH&CN, chợ công nghệ, phổ biến thông tin KH&CN
1.2 Phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN
Trong tiếp cận của nghiên cứu, phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN phát triển
sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN là việc chủ thể cung ứng sản phẩm và dịch vụ thông tin
KH&CN thực hiện các biện pháp nhằm phát triển về mặt số lượng, chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN nhằm phục vụ các nhu cầu khác nhau của người sử dụng
Trong định nghĩa trên, có thể xác định, chủ thể thực hiện việc cung ứng sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN là các tổ chức thông tin KH&CN Trong Nghị định 11/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 02 năm 2014 của Chính phủ quy định về hoạt động thông tin KH&CN (sau đây gọi là Nghị định 11) gọi đối tượng này là tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN và được định nghĩa là: tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động thông tin KH&CN; xây dựng và phát triển, vận hành, khai thác hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về thông tin KH&CN Theo quy định tại Điều
22 Nghị định 11, tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN bao gồm (1) tổ chức thực hiện chức năng đầu mối thông tin KH&CN quốc gia; (2) tổ chức thực hiện chức năng đầu mối thông tin KH&CN cấp bộ; (3) tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN cấp tỉnh; (4) các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN công lập khác; (5) tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN do các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước và các tổ chức khác thành lập
Như vậy, quá trình phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN gắn với quá trình phân tích, xử lý thông tin, cũng như triển khai cung ứng thông tin KH&CN và các sản phẩm tạo ra từ quá trình này đến với người sử dụng Phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN được xem là công việc thường ngày, quan trọng, chủ chốt của hoạt động thông tin KH&CN của mỗi tổ chức Các biện pháp phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN được các tổ chức thông tin KH&CN hướng tới bao gồm: chuẩn hóa quy trình xử lý thông tin bao gồm: (1) quy trình xử lý, tiêu chuẩn xử lý, công cụ xử lý và chất lượng sản phẩm đầu ra; (2) chuẩn hóa phương thức cung ứng dịch vụ thông tin KH&CN; (3) tăng cường cơ sở vật chất, hạ tầng CNTT; tạo nền tảng cho phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin; (4) thực hiện liên thông, liên kết giữa các tổ chức trong việc phát triển và cung ứng dịch vụ thông tin KH&CN
1.3 Ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN
Ứng dụng CNTT (Information Technology Applications) là một trong những thuật ngữ phổ biến trong thời đại CNTT hiện nay, ứng dụng CNTT được hiểu là việc sử dụng các thành tựu của CNTT hiện đại phục vụ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý và các hoạt động trong đời sống của con người
Trang 34Ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN được xác định là việc chủ thể thực hiện các biện pháp khác nhau tác động lên hoạt động phát triển sản phẩm và dịch
vụ thông tin KH&CN thông qua việc ứng dụng dụng CNTT Các biện pháp về ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN bao gồm 03 nhóm cơ bản đó là: nghiên cứu, lựa chọn phần mềm, các sản phẩm CNTT; vận hành hạ tầng CNTT trong phát triển sản phẩm
và dịch vụ thông tin KH&CN và bảo đảm các nguồn lực cho hoạt động ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN
Việc ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN cần được triển khai trên cơ sở bảo đảm các nguyên tắc cơ bản như sau:
- Tính hệ thống: nguyên tắc này đòi hỏi việc ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và
dịch vụ thông tin KH&CN cần được triển khai trên nền tảng của một hệ thống tổ chức thông tin KH&CN thống nhất, đồng bộ, chuẩn hóa và có tính liên kết cao Tính hệ thống đòi hỏi trong quá trình ứng dụng CNTT cần phải có một tổ chức đầu mối, thúc đẩy và điều phối toàn hệ thống, cập nhật, chia sẻ, hỗ trợ đào tạo, hướng dẫn nghiệp vụ nhằm bảo đảm tính thống nhất trong quá trình phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN
- Tính kế thừa: sở dĩ phải bảo đảm nguyên tắc này bởi lẽ, việc ứng dụng CNTT trong phát
triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN được triển khai trên toàn mạng lưới tổ chức thông tin KH&CN nói chung và đối với từng tổ chức thông tin KH&CN trong một thời gian dài áp dụng đối với toàn bộ quy trình vận hành của hoạt động thông tin KH&CN, điều này đòi hỏi kinh phí đầu tư rất lớn Nếu như không bảo đảm nguyên tắc này sẽ dẫn đến tình trạng xáo trộn trong quy trình phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN khi thường xuyên phải thay đổi quy trình
để bảo đảm việc ứng dụng CNTT, cũng như xáo trộn trong việc bảo đảm các nguồn lực cho việc vận hành hoạt động ứng dụng CNTT, hạ tầng công nghệ và các trang thiết bị cho việc phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN
- Tính chuẩn hóa: nguyên tắc này bắt đầu được thiết lập từ quy trình phát triển sản phẩm và
dịch vụ thông tin KH&CN thông qua việc thống nhất áp dụng các tiêu chuẩn trong phân tích, xử lý thông tin Từ chuẩn hóa trong quy trình phát triển sản phẩm và dịch vụ sẽ kéo theo chuẩn hóa trong ứng dụng CNTT Sự chuẩn hóa này thể hiện ở các điểm đó là: chuẩn hóa trong tiến hành xây dựng
hạ tầng CNTT, chuẩn hóa về nguồn nhân lực, và chuẩn hóa trong quy trình tiến hành ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN
- Tính bền vững: CNTT thường gắn với sự phát triển của KH&CN, do đó, nó có sự lỗi thời
rất nhanh Sự phát triển như vũ bão của CNTT kéo theo vòng đời của các sản phẩm công nghệ ngày càng ngắn lại; từ đó đặt ra yêu cầu trong việc bảo đảm tính bền vững, đặc biệt trong hạ tầng CNTT cũng như các phần mềm được sử dụng để vận hành quy trình phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN
Tính bền vững ở đây không có nghĩa là duy trì một công nghệ lạc hậu cho hoạt động thông tin KH&CN, mà được hiểu là cần duy trì một mô hình, một quy trình vốn có trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN, yêu cầu này đặt ra cho các nhà quản lý, tổ chức thông tin KH&CN phải đầu tư kinh phí trong việc mua sắm, thay thế, nâng cấp các trang thiết bị, phần mềm trong trường hợp nó đã lỗi thời, lạc hậu, không còn tương thích, phù hợp với công nghệ hiện tại
- Tính tương thích về công nghệ: Nguyên tắc này được hình thành dựa trên nền tảng của 02
nguyên tắc đã được nêu trên đó là tính hệ thống và tính kế thừa Việc bảo đảm nguyên tắc này phải xuất phát từ chính sách của Nhà nước, định hướng của các tổ chức thông tin KH&CN trong việc
Trang 35lựa chọn phần mềm, trang thiết bị, hạ tầng CNTT phục vụ phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN Tính tương thích này cần được xây dựng dựa trên sự đồng bộ của toàn hệ thống,
tổ chức thông tin KH&CN
1.4 Chính sách ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN
Có nhiều cách tiếp cận khi nhận diện chính sách ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm
và dịch vụ thông tin KH&CN, có thể là chính sách của một tổ chức thông tin KH&CN, cũng có thể
là chính sách quốc gia, do cơ quan quản lý nhà nước ban hành Trong tiếp cận của nghiên cứu, tác giả nhận diện chính sách này ở góc độ chính sách quốc gia với chủ thể ban hành chính sách là cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Thực tế hiện nay, chính sách ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN không được công bố ở một văn bản riêng biệt mà nó được chuyển tải nội dung ở nhiều văn bản khác nhau, có sự liên kết, bổ sung cho nhau Trong đó có 02 hệ thống văn bản tạo nên chính sách này đó là: hệ thống văn bản chung liên quan đến hoạt động ứng dụng CNTT, và hệ thống văn bản chuyên ngành liên quan đến hoạt động thông tin KH&CN Hai hệ thống văn bản này chứa đựng những nội dung khác nhau liên quan đến ứng dụng CNTT trong tạo lập, xử lý, hoàn thiện và phân phối sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN đến người sử dụng Như vậy, trong tiếp cận của nghiên cứu, có thể định nghĩa chính sách ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN như sau:
Chính sách ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN là tập hợp
các biện pháp được thể chế hóa mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, tạo ra sự ưu đãi trong hoạt động ứng dụng CNTT trong các tổ chức thông tin KH&CN nhằm phục vụ cho hoạt động phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN phục vụ nhu cầu sử dụng thông tin của tổ chức,
cá nhân và doanh nghiệp [3-6]
Từ định nghĩa này có thể nhận diện nội hàm của chính sách ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN theo những điểm sau:
- Về chủ thể, đối tượng ban hành chính sách: đó là cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý nhà nước
- Về mục tiêu của chính sách đó là: phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN phục vụ nhu cầu sử dụng thông tin KH&CN của tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp
- Phương tiện để thực hiện chính sách đó là các biện pháp nhằm tạo ra những ưu đãi nhất định cho hoạt động ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN của các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp trong đó hướng đến các biện pháp như: vấn đề kiện toàn, củng cố mạng lưới tổ chức thông tin KH&CN, tạo sự liên kết trong ứng dụng CNTT; vấn đề về đầu
tư cơ sở hạ tầng CNTT, thiết lập các mạng nghiên cứu và đào tạo; vấn đề về bảo đảm các nguồn lực cho hoạt động ứng dụng CNTT bao gồm: nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, hạ tầng CNTT và tài chính cho hoạt động ứng dụng CNTT
2 Hiện trạng chính sách ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN tại Việt Nam
Như đã phân tích, chính sách ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN được công bố tại 02 hệ thống văn bản mang chính sách đó là liên quan đến văn bản về ứng dụng CNTT và hệ thống văn bản về hoạt động thông tin KH&CN Trong đó, hệ thống văn bản
về ứng dụng CNTT giữ vai trò trong việc tạo ra nền tảng, và cơ sở chung cho việc ứng dụng CNTT
Trang 36trong mọi ngành, lĩnh vực; hệ thống văn bản về hoạt động thông tin KH&CN giữ vai trò điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình áp dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN; quá trình ứng dụng này được xem xét ở cả 03 giai đoạn: hình thành quy trình; tạo lập sản phẩm và dịch vụ và thực hiện cung ứng đến người sử dụng
2.1 Hệ thống quy định chung về ứng dụng CNTT
Sự phát triển của KH&CN đặc biệt là CNTT trong nhiều thập niên trở lại đây, đã tác động đến việc hoàn thiện các chính sách của Nhà nước về ứng dụng CNTT nhằm nâng cao năng lực sản xuất cho toàn xã hội Chính sách ứng dụng CNTT nói chung đã được cụ thể hóa rõ nét tại văn bản
có giá trị pháp lý cao nhất đó là Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm
2006 (sau đây gọi tắt là Luật CNTT) Luật CNTT đã điều chỉnh các hoạt động ứng dụng CNTT, các biện pháp bảo đảm ứng dụng và phát triển CNTT, quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ứng dụng CNTT Tại Luật này, Nhà nước đã quy định các chính sách về ứng dụng và phát triển CNTT, theo đó: Nhà nước ứng dụng và phát triển CNTT trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tạo điều kiện để tổ chức,
cá nhân hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước; tạo điện kiện để tổ chức, cá nhân hoạt động ứng dụng CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, đối ngoại quốc phòng, an ninh; thúc đẩy công nghiệp CNTT phát triển thành ngành kinh tế trọng điểm, đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa
và xuất khẩu; Khuyến khích đầu tư cho lĩnh vực CNTT; Ưu tiên dành một khoản ngân sách nhà nước để ứng dụng CNTT trong một số lĩnh vực thiết yếu, tạo lập nền công nghiệp CNTT và phát triển nguồn nhân lực CNTT; tạo điều kiện thuận lợi để phát triển cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia;
có chính sách ưu đãi để tổ chức, cá nhân hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT đối với nông nghiệp, nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo; người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người có điều kiện kinh tế khó khăn; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân ứng dụng và phát triển CNTT; tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế; khuyến khích hợp tác với
tổ chức cá nhân, Việt Nam và nước ngoài trong ứng dụng CNTT
Tại Điều 24 của Luật CNTT đã quy định về nguyên tắc ứng dụng CNTT trong hoạt động của
cơ quan nhà nước, theo đó: (1) việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước phải được ưu tiên, bảo đảm tính công khai, minh bạch nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của cơ quan nhà nước; tạo điều kiện để người dân thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của công dân; (2) việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước phải thúc đẩy chương trình đổi mới hoạt động của cơ quan nhà nước và chương trình cải cách hành chính; (3) việc cung cấp trao đổi thông tin phải đảm bảo chính xác và phù hợp với mục đích sử dụng; (4) Quy trình thủ tục hoạt động phải công khai, minh bạch; (5) Sử dụng thống nhất tiêu chuẩn, bảo đảm tính tương thích về công nghệ trong toàn bộ hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước; (6) Bảo đảm an ninh, an toàn, tiết kiệm
và có hiệu quả; (7) người đứng đầu cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm về ứng dụng CNTT thuộc thẩm quyền quản lý của mình
Ngoài ra, Luật CNTT đã quy định các nội dung về phát triển CNTT, phát triển các sản phẩm CNTT, trang thiết bị, cơ sở vật chất cho ứng dụng CNTT, phát triển nguồn nhân lực CNTT, phát triển công nghiệp CNTT (với các loại hình công nghiệp CNTT, thị trường công nghiệp CNTT, xác định các sản phẩm CNTT trọng điểm) Đồng thời quy định các biện pháp bảo đảm ứng dụng CNTT như: cơ sở hạ tầng CNTT, đầu tư cho hoạt động ứng dụng CNTT trong đó chú trọng đến các vấn đề như: phổ cập ứng dụng CNTT, hỗ trợ các dự án CNTT có hiệu quả, phát triển thông tin
số, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của bộ, ngành, địa phương, cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ công ích và cơ quan nhà nước hợp tác quốc tế về ứng dụng CNTT
Trang 37Trong bối cảnh CNTT đã và đang trở thành một xu thế chủ đạo, có vai trò quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế xã hội, ngoài Luật CNTT và các văn bản hướng dẫn thi hành, một loạt các văn bản khác có liên quan cũng được ban hành định hướng chỉ đạo hoạt động phát triển ứng dụng CNTT, trong đó phải kể đến Chỉ thị 07/CT-BBCVT ngày 07 tháng 7 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính viễn thông về định hướng phát triển CNTT và truyền thông Việt Nam giai đoạn 2011-
2020 (còn được gọi là “chiến lược cất cánh”) trong đó xác định từ năm 2011 đến 2020 bám sát 02 phương châm đó là: lấy phát triển nguồn nhân lực CNTT và truyền thông có trình độ và chất lượng cao làm khâu đột phá; lấy việc nhanh chóng làm chủ thị trường trong nước để từng bước vững chắc, mở rộng thị trường sang khu vực toàn cầu là khâu quyết định; tại thời điểm đó, văn kiện này
đã xác định, đến năm 2020: CNTT và truyền thông Việt Nam trở thành một ngành quan trọng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP
Ngoài các văn kiện kể trên, trong một số năm trở lại đây, dưới tác động của CMCN 4.0, Đảng
và Nhà nước đã có nhiều định hướng quan trọng về ứng dụng CNTT nhằm nắm bắt các xu thế và tận dụng những thành tựu của cuộc cách mạng này có liên quan đến CNTT Có thể kể đến một
số văn kiện chứa đựng chính sách ứng dụng CNTT như: Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04 tháng 5 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc CMCN 4.0 trong đó, một trong những nhóm giải pháp ưu tiên số 1 được đặt ra đó là “tập trung thúc đẩy phát triển, tạo
sự bứt phá thực sự về hạ tầng, ứng dụng và CNTT-truyền thông Phát triển hạ tầng kết nối số và bảo đảm an toàn, an ninh mạng, tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp dễ dàng, bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội phát triển nội dung số
Ngoài ra để thiết lập nền tảng cho hoạt động ứng dụng CNTT trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước đã ban hành các văn bản quy định quan trọng về an ninh, an toàn thông tin như: Luật An toàn thông tin mạng, Luật an ninh thông tin Các văn bản này tạo nền tảng cơ bản quan trọng cho hoạt động ứng dụng CNTT trong tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội của đất nước nói chung và trong hoạt động thông tin KH&CN nói riêng
2.2 Hệ thống quy định chuyên ngành về hoạt động thông tin KH&CN
Ứng dụng CNTT trong hoạt động thông tin KH&CN nói chung được triển khai từ rất sớm thông qua quá trình tin học hóa trong hoạt động của các tổ chức thông tin KH&CN Tuy vậy, phải đến khi Nghị định 159/2004/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2004 của Chính phủ về hoạt động thông tin KH&CN (Sau đây gọi tắt là Nghị định 159) thì vấn đề ứng dụng CNTT trong hoạt động thông tin KH&CN nói chung và trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN mới thực sự được thể chế hóa Và cho đến nay, vấn đề ứng dụng CNTT trong hoạt động thông tin KH&CN nói chung được quy định cụ thể tại Nghị định 11/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 02 năm 2014 (sau đây gọi tắt là Nghị định 11) thay thế cho Nghị định 159, với những nội dung quy định cụ thể, rõ ràng và thiết lập hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm
và dịch vụ thông tin KH&CN; được thể hiện ở các điểm:
2.2.1 Thiết lập nguyên tắc của hoạt động thông tin KH&CN
Sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN được hình thành trong quá trình hoạt động thông tin KH&CN, vì vậy, việc thiết lập nguyên tắc trong hoạt động thông tin KH&CN giữ vai trò căn bản trong quá trình xây dựng sản phẩm và dịch vụ Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 11, hoạt động thông tin KH&CN đã quy định những nguyên tắc trong hoạt động thông tin KH&CN bao gồm: (1) chính xác, khách quan, đầy đủ, kịp thời và đáp ứng yêu cầu của tổ chức, cá nhân về chất lượng, khối lượng sản phẩm dịch vụ thông tin KH&CN; (2) hiệu quả trong việc khai thác, sử dụng và quản lý
Trang 38thông tin KH&CN phục vụ quản lý nhà nước, phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng
và hội nhập quốc tế của đất nước; (3) bảo đảm quyền của tổ chức, cá nhân được tiếp cận thông tin KH&CN phù hợp với quy định của pháp luật; (4) tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo mật thông tin KH&CN; (5) kết hợp chặt chẽ hoạt động thông tin KH&CN với hoạt động nghiệp vụ thư viện, lưu trữ, thống kê, truyền thông KH&CN Việc thiết lập mang lại nền tảng cơ bản, quan trọng đối với hoạt động phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN; thông qua quy định này, hoạt động ứng dụng CNTT với việc xây dựng quy trình, tạo lập và cung ứng được triển khai theo một nguyên tắc nhất định, bảo đảm sự thống nhất trong các tổ chức thông tin KH&CN
2.2.2 Thiết lập quy trình tạo lập và cung ứng sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN
Đây là một trong những nội dung cơ bản nhất trong chính sách ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN; việc thiết lập quy trình tạo lập và cung ứng dịch vụ thông tin KH&CN được quy định tại Điều 5 của Nghị định 11, theo đó, văn bản này đã xác định các loại hình hoạt động thông tin KH&CN bao gồm: (1) Thu thập, cập nhật và xử lý các dữ liệu, số liệu,
dữ kiện, thông tin nhằm tạo lập và phát triển nguồn tin KH&CN; (2) nghiên cứu, phân tích, tổng hợp thông tin KH&CN phục vụ cho dự báo, hoạch định chính sách, lãnh đạo quản lý, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế xã hội khác; (3) phát triển hạ tầng thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu, các trang thông tin, cổng thông tin điện tử KH&CN; thiết lập triển khai các mạng thông tin KH&CN; ứng dụng CNTT và truyền thông, phương tiện kỹ thuật tiên tiến trong hoạt động thông tin KH&CN; xây dựng thư viện điện tử, thư viện số; tìm kiếm, tra cứu, chỉ dẫn, khai thác, sử dụng thông tin KH&CN; (4) cung cấp, trao đổi chia sẻ các nguồn tin KH&CN; (5) phổ biến thông tin, tri thức KH&CN; (5) các hoạt động khác có liên quan
Thông qua các quy định này, có thể nhận diện cơ bản quy trình tạo lập và cung ứng sản phẩm
và dịch vụ thông tin KH&CN của một tổ chức thông tin KH&CN; với quy định này sẽ góp phần quan trọng trong việc chuẩn hóa quy trình phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN và chuẩn hóa các sản phẩm đầu ra của hoạt động thông tin KH&CN Đặc biệt, trong quy định này đã gắn hoạt động phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN với ứng dụng CNTT thông qua việc xác định phát triển hạ tầng CNTT, xây dựng cơ sở dữ liệu, trang thông tin, cổng thông tin điện
tử KH&CN, đây được xem là những nội dung cơ bản trong ứng dụng CNTT nhằm phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN
Ngoài ra Nghị định 11 đã có các điều, khoản chi tiết quy định về quá trình phát triển sản phẩm thông tin KH&CN thông qua các hoạt động như: thu thập thông tin về nhiệm vụ KH&CN đang tiến hành (Điều 6), Đăng ký và lưu giữ kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước (Điều 7), Đăng ký và lưu giữ kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN không sử dụng ngân sách nhà nước (Điều 8) và Thu thập, xử lý, công bố thông tin về sử dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN (Điều 9) và thu thập các công bố KH&CN (Điều 10)
2.2.3 Xác định các sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN
Điều 12 Nghị định 11 đã xác định các loại hình dịch vụ thông tin KH&CN được các tổ chức,
cá nhân hoạt động thông tin KH&CN, với các nhóm dịch vụ cơ bản như: cung cấp thông tin, tài liệu, các thông tin thư mục, các thông tin về tổ chức, doanh nghiệp, cung cấp mạng viễn thông dùng riêng, trao đổi, chia sẻ thông tin KH&CN; tra cứu, cung cấp trao đổi, chia sẻ thông tin KH&CN, tư vấn xây dựng cơ sở dữ liệu, phát triển thư viện điện tử, thư viện số; đào tạo, hướng dẫn nghiệp vụ liên quan đến thông tin KH&CN Cũng tại Điều này đã phân nhóm các loại hình thông tin KH&CN theo 02 hình thức đó là cung cấp miễn phí và theo hình thức có thu theo hợp
Trang 39đồng dịch vụ Như vậy, với việc xác định các loại hình dịch vụ, Nghị định 11 đã cụ thể hóa chính sách ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN với việc xác định và phân nhóm các loại dịch vụ, để từ đó các tổ chức thông tin KH&CN có thể nắm bắt thiết lập quy trình để triển khai thực hiện
Tuy vậy vấn đề đặt ra đó là sự đồng bộ về cơ cấu tổ chức và các nguồn lực của các tổ chức thông tin KH&CN nhằm phục vụ cho việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ này, bởi lẽ, không phải tổ chức thông tin KH&CN nào cũng có thể triển khai thực hiện được đầy đủ và bài bản các dịch vụ thông tin KH&CN theo quy định của pháp luật
2.2.4 Thiết lập và chuẩn hóa và tạo ra tính liên kết cho mạng lưới tổ chức thông tin KH&CN
Để hoạt động ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN được thực hiện, một trong những yêu cầu quan trọng đó là phải có một mạng lưới tổ chức thông tin KH&CN đa dạng, nhiều thành phần, có tính chuẩn hóa và liên kết cao Để cụ thể hóa biện pháp này, Điều 22 của Nghị định 11 đã quy định cụ thể các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN bao gồm: tổ chức thực hiện chức năng đầu mối thông tin KH&CN quốc gia; tổ chức thực hiện chức năng đầu mối thông tin KH&CN cấp bộ; tổ chức thực hiện chức năng đầu mối thông tin KH&CN cấp tỉnh; các tổ chức thông tin KH&CN công lập khác; các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN do các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước và các tổ chức khác thành lập Với quy định này, Nhà nước đã thiết lập mạng lưới tổ chức thông tin KH&CN với đầy đủ các thành phần khác nhau, có sự phân cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh, và các tổ chức thông tin KH&CN gắn với hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ của các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN trên tinh thần xác định chức năng, nhiệm
vụ, vị trí của từng loại hình trong mạng lưới tổ chức thông tin KH&CN quốc gia, những nội dung này được quy định tại các Điều 23, 24, 25, 26, 27 và 28 của Nghị định 11
Như vậy, có thể thấy, chính sách ứng dụng CNTT hiện hành đã thiết lập một mạng lưới tổ chức thông tin KH&CN khá đa dạng, với nhiều loại hình khác nhau, tương ứng với từng cấp quản lý và gắn với hoạt động nghiên cứu và triển khai trong các cơ quan, tổ chức nhà nước, các viện nghiên cứu, các trường đại học và các tổ chức kinh tế Việc thiết lập này, có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra nền tảng trong việc ứng dụng CNTT trong các tổ chức thông tin KH&CN
Tuy vậy, các nội dung quy định tại Nghị định mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê các loại hình nhưng chưa có những quy định tạo ra sự liên kết, kết nối giữa các tổ chức thông tin KH&CN đặc biệt là trong khâu liên kết, chia sẻ các sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN thông qua hoạt động ứng dụng CNTT; từ đó chưa tạo ra sự thống nhất, chuẩn hóa trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN giữa các tổ chức Mặt khác, Nghị định 11 và các văn bản có liên quan chưa xác định cụ thể mô hình hoạt động cụ thể của các tổ chức thông tin KH&CN, dẫn đến sự chưa thống nhất trong các tổ chức Thực tế hiện nay cho thấy, trong số các tổ chức đầu mối thông tin KH&CN,
có nơi hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập (đó là các trung tâm thông tin-thống kê KH&CN) nhưng có nơi lại là một bộ phận hoặc một phòng ban trực thuộc Sở KH&CN hoặc một
bộ phận của một cấp vụ, cục trực thuộc Bộ1 [7] từ sự không thống nhất này sẽ dẫn đến việc khó khăn trong tiến trình ứng dụng CNTT đặc biệt là trong khâu huy động các nguồn lực và triển khai các hoạt động phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN trên nền tảng ứng dụng CNTT
1 Xin tham khảo tại: nang-dau-moi-thong-tin-khoa-hoc-va-cong-nghe-2.html truy cập ngày 29/10/2020.
Trang 40https://www.vista.gov.vn/thong-bao/muc/danh-sach-to-chuc-thuc-hien-chuc-2.2.5 Bảo đảm các nguồn lực cho hoạt động ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm
và dịch vụ thông tin KH&CN
Đây là một trong những biện pháp quan trọng nhằm bảo đảm cho hoạt động ứng dụng CNTT trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN được vận hành; các nguồn lực bảo đảm được chính sách đề cập bao gồm: bảo đảm về cơ sở hạ tầng CNTT, bảo đảm về nguồn nhân lực và bảo đảm về tài chính
a) Bảo đảm về hạ tầng CNTT
Điều 13, 14 và 15 Nghị định 11 đã đề cập nội dung về bảo đảm hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN Theo đó, Nghị định xác định hạ tầng thông tin KH&CN quốc gia bao gồm: cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN; các cơ sở dữ liệu về thông tin, thống kê KH&CN; các trung tâm dữ liệu, trang thông tin, cổng thông tin điện tử; các nguồn tin KH&CN trong nước và quốc tế dưới dạng điện tử Ngoài ra, hạ tầng thông tin còn được xác định bao gồm: hệ thống trang thiết bị kỹ thuật để xử lý, truyền tải và lưu giữ thông tin KH&CN; các mạng thông tin KH&CN kết nối khu vực và quốc tế, bao gồm: mạng thông tin nghiên cứu và đào tạo quốc gia và các mạng thông tin KH&CN về địa phương Các cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN như: thông tin về các
tổ chức KH&CN, thông tin về cán bộ nghiên cứu KH&CN, thông tin về các nhiệm vụ KH&CN (đang tiến hành, kết quả ứng dụng), thông tin về tài liệu sở hữu trí tuệ, các công bố KH&CN và chỉ số các tạp chí, kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học trong nước và quốc tế; thông tin về công nghệ, công nghệ cao, chuyển giao công nghệ; thông tin về thống kê KH&CN trong khu vực và trên thế giới
Liên quan đến quy định về cơ sở hạ tầng CNTT, các nội dung có liên quan đến việc khai thác
và sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN, vấn đề duy trì và phát triển mạng thông tin nghiên cứu và đào tạo quốc gia cũng được chính sách đề cập, từ đó tạo hành lang pháp lý quan trọng trong việc củng cố và bảo đảm hạ tầng CNTT phục vụ phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN
b) Bảo đảm về nguồn lực tài chính
Tài chính cho hoạt động thông tin KH&CN nói chung và trong phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN nói riêng được quy định cụ thể tại Điều 20 và 21 Nghị định 11 Theo
đó ngân sách nhà nước cho hoạt động thông tin KH&CN được xác định từ 03 nguồn cơ bản đó là: ngân sách nhà nước (ngân sách trung ương và địa phương); nguồn thu từ hoạt động dịch vụ thông tin KH&CN và các nguồn tài trợ của tổ chức, cá nhân Đặc biệt, một điểm nổi bật trong chính sách tài chính và được xem là biện pháp bảo đảm nguồn tài chính cho hoạt động thông tin KH&CN đó là theo tinh thần của khoản 2 Điều 20 Nghị định 11, ngân sách cho hoạt động thông tin KH&CN được ghi thành một mục chi riêng trong mục lục ngân sách nhà nước hàng năm cho hoạt động KH&CN của bộ ngành và địa phương Việc phân bổ ngân sách KH&CN chi cho hoạt động thông tin KH&CN căn cứ vào khả năng ngân sách, nhu cầu thực tiễn và tăng dần theo nhu cầu phát triển của hoạt động thông tin KH&CN Với quy định này, vấn đề kinh phí chi cho hoạt động thông tin KH&CN nói chung và đối với hoạt động phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN nói riêng được bảo đảm Ngoài ra, Điều 4 của Nghị định 95/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng
10 năm 2014 của Chính phủ quy định về đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động KH&CN
đã xác định các hoạt động tuyên truyền, phổ biến tri thức truyền thông, hoạt động thông tin và thống kê KH&CN, các cuộc khảo sát tìm kiếm thông tin KH&CN được hưởng đầu tư từ ngân sách nhà nước