1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng hệ tiêu chí đánh giá hệ thống tài chính của một quốc gia về phương diện vĩ mô áp dụng hệ tiêu chí đó để đánh giá hệ thống tài chính việt nam

34 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Hệ Tiêu Chí Đánh Giá Hệ Thống Tài Chính Của Một Quốc Gia Về Phương Diện Vĩ Mô Áp Dụng Hệ Tiêu Chí Đó Để Đánh Giá Hệ Thống Tài Chính Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Lài, Võ Thanh Hoàng, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nguyễn Thị Bích Liên, Phạm Thị Thùy Liên, Lê Xuân Thành, Trần Thị Hồng Yến
Người hướng dẫn PGS.TS. Lâm Chí Dũng
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Tài chính tiền tệ
Thể loại bài tập nhóm
Năm xuất bản 2012
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 229,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUHệ thống tài chính, với đặc trưng là sự hiện diện của các định chế tài chính vàthị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ, thị trường tín dụng -ngân hàng, thịtrường chứng

Trang 1

BÀI TẬP NHÓM 1

MÔN: TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

Đề tài: Xây dựng hệ tiêu chí đánh giá hệ thống tài chính của một quốc gia về phương

diện vĩ mô? Áp dụng hệ tiêu chí đó để đánh giá hệ thống tài chính Việt Nam (dưới haigóc nhìn: so sánh theo thời gian và so sánh theo chiều ngang)? Giải pháp cốt lõi chonhững vấn đề lớn?

GVHD :PGS.TS LÂM CHÍ DŨNG

LỚP : K24 TNH.ĐN_1 HỌC VIÊN THỰC HIỆN : 1 Nguyễn Thị Lài

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Hệ thống tài chính, với đặc trưng là sự hiện diện của các định chế tài chính vàthị trường tài chính (bao gồm thị trường tiền tệ, thị trường tín dụng -ngân hàng, thịtrường chứng khóan (thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu), có vai trò quan trọngtrong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế Sự phát triểnlành mạnh của Hệ thống tài chính là một nhân tố thiết yếu đảm bảo ổn định kinh tế vĩ

mô, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, và góp phần thúc đẩy tăng trưởngkinh tế bền vững

Hiện nay, toàn cầu đang phải đối mặt với việc khắc phục hậu quả của cuộckhủng khoảng kinh tế nặng nề nhất từ trước đến nay mà đỉnh điểm của sự bùng nổkhủng hoảng là vào cuối năm 2007 Trong đó, khủng hoảng tài chính chỉ là một phầncủa khủng hoảng kinh tế nhưng khủng khoảng tài chính lại gây thiệt hại lớn nhất vìnguồn vốn được di chuyển qua các nước khác nhau và có yếu tố trực tiếp lây lan Do

đó, một hệ thống tài chính toàn cầu vững mạnh sẽ góp phần ngăn chặn các cuộc khủnghoảng tương tự xảy ra với nền kinh tế toàn cầu

Đối với Việt Nam, Công cuộc đổi mới bắt đầu từ năm 1986 đã thay đổi đáng kểdiện mạo đất nước Nền kinh tế Việt Nam đã và đang chuyển đổi từ cơ chế kế hoạchhóa tập trung sang cơ chế thị trường và hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giớinói chung và Hệ thống tài chính toàn cầu nói riêng Các thể chế, định chế và cấu thànhthị trường tài chính cũng từng bước được hình thành, cải cách theo nguyên tắc thịtrường, hội nhập

Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế tại nhiều nước trênthế giới và suy giảm tăng trưởng kinh tế trong nước chưa chấm dứt, cùng với mức lạmphát cao, rủi ro tài chính – tiền tệ gia tăng, vấn đề tiếp tục cải cách, tái cấu trúc Hệthống tài chính ở Việt Nam càng trở nên bức thiết

Trang 4

Chính vì những lẽ đó mà việc xây dựng hệ tiêu chí để đánh giá một cách toàndiện hệ thống tài chính của một quốc gia là vô cùng quan trọng Trong bài viết nàychúng tôi đã nghiên cứu từng bộ phận cấu thành của hệ thống tài chính cùng với vaitrò của nó đối với nền kinh tế để xây dựng nên hệ tiêu chí này Đồng thời, trên cơ sởthực tiễn nền kinh tế Việt Nam hiện nay, bài viết cũng đã đề xuất những định hướnggiải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy Hệ thống tài chính Việt Nam phát triển lành mạnh,đóng góp hữu hiệu cho phát triển kinh tế đất nước trong bối cảnh mới.

Trang 5

CHƯƠNG 1: HỆ THỐNG TÀI CHÍNH

1.1 Khái niệm hệ thống tài chính:

Khái niệm hệ thống tài chính là một khái niệm đa dạng về ngữ nghĩa Nó phụthuộc chủ yếu vào cách định nghĩa của người sử dụng trong từng trường hợp cụ thể,

do đó không có một cách định nghĩa duy nhất

Tuy nhiên , ở đây có một vấn đề thuộc về bản chất: Tài chính là hệ thống cácquan hệ kinh tế trong phân phối, gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng các quỹtiền tệ Trong thực tế, các quan hệ tài chính diễn ra rất phức tạp và đa dạng, chúng đanxen nhau trong một tập hợp hàng loạt các hoạt động khác nhau của nền kinh tế Tuynhiên, đó không phải là một hoạt động hổn loạn mà ngược lại, chúng tuân thủ nhữngnguyên tắc, những quy luật nhất định, trong đó những quan hệ tài chính có tính chấtđặc thù giống nhau nhóm lại thành một bộ phận riêng Giữa các bộ phận này luôn cócác mối liên hệ, tác động lẫn nhau theo và tạo thành hệ thống tài chính

Do đó, có thể hiểu Hệ thống tài chính là tổng thể các thành tố cấu thành cáchoạt động tài chính trong nền kinh tế

- Hỗ trợ đối với các hoạt động kinh tế - xã hội nhất định

- Thực hiện các chương trình mục tiêu kinh tế - xã

Trang 6

- Quỹ dự trữ, dự phòng

Tài chính doanh nghiệp

doanh nghiệp

Đầu tư, tích tụ vốn,huy động trực tiếp

từ công chúng thông qua các hoạt động cổ phần hoặc hợp đồng nợ, vay vốn của các trung gian tài chính trong đó chủ yếu làvốn đầu tư của các chủ sở hữu

Sản xuất – kinh doanh

Các trung gian tài chính

Các

tổ chức tài chínhtrunggian

Các

tổ chức nhận tiền gửi

Tiền gửi của các tổchức và cá nhân dưới nhiều hình thức đa dạng bao gồm không kỳ hạn;

Khoản thu (phí) theo định kỳ

- Chi trả cho những người đóng phí khi có sự kiện thuộc phạm vi quy định trong hợp đồng

- Đầu tư dưới các dạng khácnhau

Các trung gian đầu tư

Vốn trung dài hạn thông qua phát hành các chứng từ

có giá

Đầu tư vào những lĩnh vực chuyên môn trên cơ sở lợi thế cạnh tranh nhằm né tránh áp lực cạnh tranh với ngân hàng

Trang 7

Tài chính dân cư

Khu vực dâncư

Thu nhập với tư cách người lao động (tiền lương, tiền công) hoặc với

tư cách nhà đầu tư

Đóng thuế, hình thành quỹ tiêu dùng, đầu tư tài chính dưới 2 dạng: Góp vốn và cho vay

Từ bảng phân tích ở trên với những mô hình hoá các dòng vận động tiền tệ có thể hìnhdung hệ thống tài chính qua sơ đồ sau:

Tài chính Dân cư

Tài chính doanh nghiệp

Thị trường Tài chính

Các trung gian tài chính

Trang 8

(1a&2a): Doanh nghiệp & dân cư nộp thuế và các khoản đóng góp tài chính khác cho nhà nước.

(1b&2b): Nhà nước thực hiện các khoản cấp phát kinh phí và các tài trợ khác nhau từ các quỹ tài chính nhà nước cho doanh nghiệp và các thành phần dân cư.

(3a&4a): Các trung gian tài chính huy động vốn nhàn rỗi của doanh nghiệp và dân cư.

(3b&4b): Các trung gian tài chính cấp tín dụng cho doanh nghiệp và dân cư

Trong sơ đồ trên các luồng tài chính được biểu hiện bằng các mũi tên kép là kết quảcủa các giao dịch tài chính giữa các khâu tài chính

1.2.2 Căn cứ vào tính chất của các quan hệ tài chính 1.2.2.1 Phân hệ tài chính theo tài chính phi thị trường Đặc trưng chủ yếu:

- Dòng tiền được dịch chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác

- Có thể dựa trên quan hệ bắt buột hoặc tự nguyện

- Tính chất không đối giá, tức không phải là hành vi mua bán quyền sử dụng vốn màchỉ là dòng chuyển dịch đơn phương

Các quan hệ trong dòng dịch chuyển vốn :

- Quan hệ điều tiết thông qua công cụ thuế và công cụ phân bổ ngân sách giữa cácnước với các tổ chức và cá nhân trong xã hội

- Quan hệ tài chính vô vị lợi giữa các tổ chức và cá nhân trong xã hội với nhau, vídụ: Đóng góp cho các hoạt động từ thiện, tài trợ của các tổ chức từ thiện cho các tổchức và cá nhân trong xã hội

Trang 9

- Các quan hệ sử dụng những công cụ của thị trường nhưng lại có tính chất phi thịtrường, chẳng hạn một công cụ khá phổ biến là tín dụng ưu đãi.

1.2.2.2 Phân hệ tài chính theo phương thức thị trường Đặc trưng chủ yếu:

Dòng tiền được dịch chuyển theo phương thức mua bán dựa trên những nguyêntắc thị trường

Các quan hệ trong dòng dịch chuyển vốn :

- Nhóm các quan hệ tài chính gián tiếp Về thực chất đây chính là dòng dịch chuyển

tài chính từ những người thừa vốn đến những người thiếu vốn qua trung gian của các

trung gian tài chính.

- Nhóm các quan hệ tài chính trực tiếp giữa những người thừa vốn và thiếu vốnthông qua thị trường tài chính.Có thể hình dung phân hệ này qua sơ đồ sau:

Trang 10

:Tài chính gián tiếp

: Tài chính trực tiếpPhần lớn các cách tiếp cận trong lý thuyết kinh tế thị trường đều đồng nhất phân hệthứ hai này với khái niệm hệ thống tài chính

1.3 Vai trò của hệ thống tài chính:

Các bộ phận trong hệ thống tài chính hoạt động trên các lĩnh vực, tạo ra nguồnlực tài chính, thu hút các nguồn tài chính và chu chuyển các nguồn tài chính Với cáclĩnh vực hoạt động này, toàn bộ hệ thống tài chính thực hiện một vai trò đặc biệt quan

Trung gian tài chính

Những người thừa vốn

1 Dân cư

2 Doanh nghiệp

3 Nhà nước4.Các nhân tốnước ngoài

Những người thiếu vốn

1 Doanh nghiệp

2 Nhà nước

3 Dân cư 4.Các nhân tốnước ngoài

Thị trường tài chính

Trang 11

trọng trong nền kinh tế quốc dân là đảm bảo nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế xãhội.

1.4 Cơ sở xây dựng hệ tiêu chí đánh giá hệ thống tài chính:

Dựa trên các thành tố cấu thành hệ thống tài chính và vai trò của hệ thống tàichính, Chúng tôi đã xây dựng hệ tiêu chí đánh giá hệ thống tài chính của của một quốcgia trên phương diện vĩ mô bao gồm:

- Hiệu quả phân chia tổng giá trị của cải xã hội cho các chủ thể khác nhau: Hệ

thống tài chính tiến hành phân phối tổng giá trị của cải của xã hội (bao gồm giá trị tíchlũy trong quá khứ và giá trị hàng hóa sản xuất hiện tại) dưới hình thái tiền tệ, khônggắn với lưu thông hàng hóa, bao gồm việc phân chia quyền sở hữu lẫn việc phân bổquyền sử dụng khối lượng tiền tệ đại diện giá trị của cải xã hội Việc phân chia nàyđược thực hiện thông qua phân bổ và tái phân bổ thường xuyên các nguồn lực tàichính

- Hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính xã hội: Một hệ thống tài chính “khỏe

mạnh” thì phải làm tốt nhiệm vụ dịch chuyển vốn từ những người không có cơ hội đầu

tư sinh lợi tới những người có cơ hội đó và qua đó nâng cao hiệu quả chung của nềnkinh tế, chuyển vốn từ những người tiết kiệm tới những người muốn tiêu dùng tronghiện tại, qua đó giúp cải thiện mức sống của người tiêu dùng bằng cách giúp họ chọnthời điểm cho việc mua sắm phù hợp với họ

- Khả năng điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội: Ngoài chức năng là phân bổ

nguồn lực tài chính thì một hệ thống tài chính của một quốc gia còn phải thực hiệnđược vai trò điều tiết có định hướng các hoạt động kinh tế xã hội thông qua quản lýcủa nhà nước như :

+ Công cụ pháp luật: Phải hoàn thiện khung pháp luật Yêu cầu của khung pháp luậtphải: Đầy đủ, đồng bộ, tiến bộ, khả thi; thực thi nghiêm chỉnh; thưởng phạt có ýnghĩa;

Trang 12

+ Công cụ kế hoạch: Là công cụ giúp nhà nước định hướng các chương trình, xácđịnh các mục tiêu cụ thể trong từng thời kỳ Kế hoạch phải đạt yêu cầu: Mềm dẻo; cótính hướng dẫn; tính hiện thực, khả thi.

+ Công cụ hành chính: Gồm những quy định, những thủ tục hành chính bắt buộc + Các công cụ tài chính: Đây là loại công cụ đóng vai trò trọng yếu như ngân sách nhànước, thuế, lãi suất tín dụng, quỹ dự trữ tài chính quốc gia, quỹ bảo hiểm Các công

cụ này nhằm giúp cho nhà nước can thiệp, tác động gián tiếp vào các chủ thể kinh tế,góp phần tạo ra môi trường kinh tế – xã hội ổn định có lợi cho sự phát triển và tăngtrưởng kinh tế

Các công cụ tài chính này muốn phát huy tác dụng cần phải có một hệ thống các điềukiện đảm bảo như: Cơ chế quản lý tài chính hợp lý; hệ thống tài chính nhà nước hoạtđộng hữu hiệu; thực hiện quản lý tài chính bằng luật pháp; đội ngũ quản lý tài chính

có năng lực

Trang 13

CHƯƠNG II: XÂY DỰNG HỆ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG

2.1.Hệ tiêu chí đánh giá hệ thống tài chính của một quốc gia về phương diện vĩ mô: dựa trên 3 tiêu chí

2.1.1 Việc phân chia tổng giá trị của cải xã hội cho các chủ thể khác nhau

Chức năng phân phối là chức năng quan trọng nhất làm nên đặc trưng và tínhtất yếu khách quan của sự tồn tại của hệ thống tài chính Đây là tiền đề để hệ thống tảichính phát huy các vai trò tích cực: tập trung, tích tụ, điều hòa nguồn lực tài chính vàqua đó tối đa hóa hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính trong xã hội

Đối tượng phân phối của tài chính không chỉ bao gồm giá trị hàng hóa và dịch

vụ được tạo ra trong một thời kỳ mà còn cả những giá trị tích lũy được trong quá khứ

Vì vậy ở góc độ vĩ mô, vai trò của tài chính là phân chia tổng giá trị của cải xã hội chocác chủ thể sở hữu (hoặc sử dụng/ chiếm giữ) khác nhau

Các hoạt động tài chính trong xã hội: tín dụng; bảo hiểm; thị trường chứngkhoán; thuế, chi tiêu ngân sách; đều thực hiện vai trò phân chia giá trị tổng của cải

xã hội xét ở góc độ vĩ mô

Việc phân chia giá trị tổng sản phẩm xã hội phụ thuộc rất lớn vào cơ chế quản

lý nền kinh tế của Nhà nước Ở góc độ vĩ mô, Nhà nước có thể phân chia giá trị tổngsản phẩm xã hội qua việc đánh thuế( nguồn tài chính được huy động từ thuế,phí, lệphí ) hoặc trợ cấp cho các chủ thể khác trong xã hội

Trang 14

2.1.2 Việc phân bổ nguồn lực tài chính của xã hội

Trong hệ thống tài chính có sự tham gia của Nhà nước vừa với tư cách chủ thểtài chính, vừa với tư cách tác nhân điều tiết sẽ đem lại cả hiệu quả kinh tế lẫn hiệu quảkinh tế xã hội Sự can thiệp chủ động của Nhà nước và các nhân tố quản lý khác lànhân tố thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tài chính; tạo các điều kiện tiền đề để hệthống phát huy vai trò “tập trung” và “thiết lập” của hệ thống tài chính (tập trung cácnguồn tài chính phân tán có quy mô nhỏ thành những nguồn tài chính đủ lớn để tài trợcho các nhu cầu đầu tư đa dạng; thiết lập các kênh dẫn vốn đến nơi có hiệu quả nhất)

Tuy nhiên, sự can thiệp của Nhà nước cũng có thể có khả năng làm lệch lạc các dòngvận động vốn, làm cho hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính đạt thấp

2.1.3 Việc điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội

Ở bình diện vĩ mô, tài chính Nhà nước với mục tiêu quản lý vĩ mô nền kinh tế,với nguồn lực to lớn, với khả năng sử dụng các công cụ thuế, chi tiêu ngân sách sẽ cótác động rất mạnh lên các hoạt động kinh tế- xã hội Bằng cách vận dụng một chínhsách tài khóa thích hợp, Nhà nước có thể đạt được các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tếtrong từng thời kỳ Việc sử dụng các công cụ tài chính Nhà nước để điều tiết các hoạtđộng kinh tế- xã hội rõ ràng phụ thuộc rất lớn vào năng lực quản lý của Nhà nước, baogồm cả năng lực hoạch định và thực thi chính sách, năng lực thích ứng chính sách vớinhững diễn biến của thực tiễn Mặt khác, dù cơ chế điều tiết của thị trường tài chính là

tự phát nhưng vai trò quản lý của Nhà nước ở đây cũng rất quan trọng

2.2 Áp dụng hệ tiêu chí để đánh giá hệ thống tài chính Việt Nam 2.2.1 So sánh theo thời gian

2.2.1.1 Giai đoạntrước năm 1986:(Trong giai đoạn này, tiêu biểu nhất là hai kế hoạch năm năm 1976-1980 và 1981-1985)

2.2.1.1.1 phân bổ tổng giá trị của cải trong xã hội cho các chủ thể khác:

Trang 15

Giai đoạn này thì cơ chế chủ yếu của nền kinh tế Việt Nam là tập trung quanliêu bao cấp Tổng giá trị của cải xã hội đều tập trung vào Nhà nước Nhà nước thựchiện việc phân chia Chẳng hạn như ruộng đất thì được tập hợp lại để tổ chức canh táctập thể, sản phẩm được phân chia theo mức đóng góp Máy móc nông nghiệp củanông dân bị trưng mua để thành lập các tập đoàn phục vụ sản xuất nông nghiệp Cáctập đoàn sản xuất có nghĩa vụ bán sản phẩm của mình cho Nhà nước theo giá kếhoạch thấp hơn rất nhiều giá trị trường Bù lại, Nhà nước cung cấp vật tư và hàng hóatiêu dùng cho các tập đoàn.

2.2.1.1.2 Phân bổ nguồn lực tài chính trong xã hội:

Tập trung chủ yếu ở khâu Tài chính Nhà nước Dựa trên cơ sở kế hoạch, Nhànước phân bổ nguồn lực tài chính cho các chủ thể khác trong xã hội Cơ chế quản lývốn nặng về tập trung quan liêu bao cấp

2.2.1.1.3 Điều tiết kinh tế vĩ mô:

Với đại thắng mùa xuân 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhândân đã kết thúc thắng lợi Tuy nhiên công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa là mộtnhiệm vụ hết sức khó khăn.Kinh tế hai miền Nam, Bắc vẫn có nhiều sự khác biệt

Kinh tế miền Bắc chủ yếu là sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, theo cơ chế tập trungquan liêu bao cấp, cơ chế quản lý kinh tế bộc lộ rõ những bất cập của nó Đối vớimiền Nam, do chính sách thực dân kiểu mới, yếu tố tư bản chủ nghĩa đã xâm nhập vàomạnh vào công nghiệp, thương nghiệp, tài chính ngân hàng và bước đầu trong nôngnghiệp Tuy vậy, kinh tế miền Nam chủ yếu là sản xuất nhỏ, cơ cấu mất cân đối và lệthuộc vào viện trợ bên ngoài nên khi Mỹ rút quân, nền kinh tế miền Nam rơi vàokhủng hoảng

Chính sự bất ổn về kinh tế, trên cơ sở xác định đường lối chung, đường lối xâydựng kinh tế, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã quyết định phương

Trang 16

hướng xây dựng lại nền kinh tế thông qua hai kế hoạch năm năm( 1976- 1980) và(1981-1985).

Với kế hoạch 1976-1980, cơ sở vật chất kỹ thuật tăng cường nhưng tốc độ tăngtrưởng kinh tế không tương xứng với mức đầu tư xây dựng cơ bản Vì vậy trongnhững năm đầu, nền kinh tế còn dạt được tốc độ tăng trưởng nhưng từ năm 1979, tổngsản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân đều giảm Tình hình sản xuất như vậy cộng vớinhững sai lầm trong lưu thông phân phối, thị trường tài chính, tiền tệ không ổn địnhnên lạm phát diễn ra nghiêm trọng Vì vậy Đảng và Nhà nước đã cố gắng tìm tòihướng đi mới là kế hoạch năm năm (1981-1985) đã tiến hành một bước điều chỉnh cơcấu đầu tư và nhịp độ phát triển đi đôi với một số thay đổi cục bộ trong quản lý kinh

tế Nền kinh tế có bước tăng trưởng khá hơn Tổng sản phẩm xã hội bình quân tăng7,3%/năm, thu nhập quốc dân tăng 6,4% Mặc dù vậy, cơ chế kinh tế vẫn vận hànhtheo cơ chế cũ Do đó chưa tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển

Sau hai kế hoạch năm năm xây dựng và phát triển kinh tế theo mô hình cũ, nềnkinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng Lạm phát diễn ra ở mức nghiêm trọng Chínhphủ đã có nhiều biện pháp kiềm chế tốc độ lạm phát nhưng không có hiệu quả

2.2.1.2 Giai đoạn 1986-1999 2.2.1.2.1 phân bổ tổng giá trị của cải trong xã hội cho các chủ thể khác:

Đại hội VI của Đảng tháng 12/1986 đã quyết định thực hiện đường lối đối mớitoàn diện đất nước, nhất là đổi mới về mặt tư duy kinh tế đã tác động tích cự đến sựphát triển của các ngành sản xuất và dịch vụ Trong công nghiệp, quyết định 217HĐBT tháng 11/1987 trao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệpNhà nước, thực hiện hạch toán kinh tế, lấy thu bù chi, xóa dần bao cấp, giảm bớt cácchỉ tiêu pháp lệnh, khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh mở rộngsản xuất để thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp

Trang 17

Thành tựu quan trọng trong giai đoạn này là bước đầu hình thành nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhànước

2.2.1.2.2 Phân bổ nguồn lực tài chính trong xã hội:

Kể từ khi thống nhất đất nước, Việt Nam bắt đầu tiến trình tự do hóa tài chính kể

từ khi công cuộc đổi mới được khởi xướng từ năm 1986 Ban đầu hệ thống tài chínhtrong nước dường như được tự do hóa hoàn toàn, kể từ khi hội nghị lần thứ hai BanChấp hành Trung ương Đảng khóa VI năm 1987 cho phép “ thực hiện mạnh mẽ chínhsách huy động vốn trong dân, trong các tổ chức kinh tế bằng nhiều hình thức, nhiềukênh bảo đảm lợi ích của người gửi.”

Ở thời điểm này, các tổ chức kinh tế được huy động vốn hoàn toàn tự do màkhông có bất kỳ một quy định nào về đảm bảo an toàn Hậu quả tất yếu là cả hệ thốngsụp đổ do nó hoạt động theo kiểu tiền của người gửi sau được sử dụng để trả lãi chongười gửi tiền trước( mô hình tháp ponzi)

Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sụp đổ của hệ thống hợp tác xã tíndụng là do thông tin bất cân xứng mà nó gây ra tâm lý ỷ lại và lựa chọn bất lợi Hiểumột cách đơn giản là vốn huy động được tập trung vào những hoạt động rủi ro rất cao

Những quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động của các ngân hàng đầutiên được thể hiện trong các Pháp lệnh về ngân hàng năm 1990 Một số quy định cơbản đã có nhưng còn khá thô sơ như “ Tổ chức tín dụng không được huy động vốnquá 20 lần tổng số vốn tự có và quỹ dự trữ” thay vì sử dụng hệ số đủ vốn theo quyđịnh Basel I được ban hành năm 1988

Do những quy định về đảm bảo an toàn theo các Pháp lệnh ngân hàng phần vìcòn thô sơ, phần không được chế tài một cách nghiêm minh cộng với những yếu tốkhác làm cho Việt Nam gặp rắc rối với hệ thống ngân hàng lần thứ hai cùng thời điểmvới cuộc khủng hoàng kinh tế tài chính năm 1997-1998 trong khu vực

Ngày đăng: 19/10/2022, 21:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Chủ yếu dưới hình thức cho vay  Các  tổ  chức  tiết  kiệm  theo  hợp  đồng - Xây dựng hệ tiêu chí đánh giá hệ thống tài chính của một quốc gia về phương diện vĩ mô áp dụng hệ tiêu chí đó để đánh giá hệ thống tài chính việt nam
h ủ yếu dưới hình thức cho vay Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng (Trang 6)
Từ bảng phân tíc hở trên với những mơ hình hố các dịng vận động tiền tệ có thể hình dung hệ thống tài chính qua sơ đồ sau: - Xây dựng hệ tiêu chí đánh giá hệ thống tài chính của một quốc gia về phương diện vĩ mô áp dụng hệ tiêu chí đó để đánh giá hệ thống tài chính việt nam
b ảng phân tíc hở trên với những mơ hình hố các dịng vận động tiền tệ có thể hình dung hệ thống tài chính qua sơ đồ sau: (Trang 7)
Đóng thuế, hình thành quỹ tiêu dùng, đầu tư tài chính  dưới 2 dạng: Góp vốn và  cho vay - Xây dựng hệ tiêu chí đánh giá hệ thống tài chính của một quốc gia về phương diện vĩ mô áp dụng hệ tiêu chí đó để đánh giá hệ thống tài chính việt nam
ng thuế, hình thành quỹ tiêu dùng, đầu tư tài chính dưới 2 dạng: Góp vốn và cho vay (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w