1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng và phát triển mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn trên phạm vi toàn quốc

23 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng và phát triển mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn trên phạm vi toàn quốc
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý an toàn thực phẩm, Phát triển nông nghiệp bền vững
Thể loại Đề án
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 475,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều thị trường xuất khẩu lớn đã bị bỏ lỡ và rủi ro cao trong việc nắm giữthị trường nội địa trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.Trước sự phát triển không ngừng của đời sống sản

Trang 1

TRÊN PHẠM VI TOÀN QUỐC

Hà Nội, tháng năm 2012

1

Trang 2

Hà Nội, ngày tháng năm 2012

ĐỀ ÁN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH CHUỖI CUNG CẤP THỰC PHẨM AN TOÀN TRÊN PHẠM VI TOÀN QUỐC

–––––––––––––––––––––

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Cơ sở và sự cần thiết xây dựng đề án.

1.1 Tình hình chung về sản xuất kinh doanh thực phẩm nông lâm thủy sản trong thời gian qua.

Ở Việt Nam, sản xuất thực phẩm nông lâm thủy sản là một lĩnh vựchết sức quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam Hiện nay, dân số nôngthôn chiếm đến 60,7% dân số quốc gia, ngành nông lâm thủy sản giải quyếtcông ăn việc làm cho 56,8% người trong độ tuổi lao động và đóng góp đến20,9% GDP quốc gia, thu lại lợi nhuận thông qua kim ngạch xuất khẩu vàphát triển nền sản xuất hàng hóa bền vững Vì vậy, bất kỳ tác động nàocủa việc sản xuất nông nghiệp và nông thôn đều gây ra những ảnh hưởnglớn lao và lâu dài đến toàn bộ nền kinh tế

Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam đã pháttriển toàn diện và đạt được nhiều thành tựu quan trọng cả về năng suất và sảnlượng Nhiều loại nông sản, thủy sản cũng đã phát triển nhanh và trở thànhnhững mặt hàng xuất khẩu như: thủy sản, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, cao

su, rau quả Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn thứnhất thế giới và hiện giờ cà phê là mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu lớn thứhai của Việt Nam, thủy sản Việt Nam cũng đã có mặt ở trên 110 nước vàvùng lãnh thổ trên thế giới

Sản xuất nông nghiệp tăng mạnh cung cấp nguồn hàng nhiều và đềuđặn cho thị trường trong nước và giúp cho người tiêu dùng trong nước cóthể tiếp cận thực phẩm đa dạng, nhiều và rẻ Thành công vượt bậc trongngành nông nghiệp không chỉ giúp Việt Nam tăng GDP trên 8% mà còngiúp giảm đói nghèo

Việc gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã tạo cơ hội choViệt Nam phát triển thị trường sản phẩm mới như cà phê, hạt điều, rau, chè,trái cây nhiệt đới và sản phẩm thịt lợn Những mặt hàng này được sản xuất ở

Trang 3

thành vận chuyển tương đối cao và chi phí xử lý sau thu hoạch đã làm tănggiá thành sản phẩm, làm giảm tính cạnh tranh của nhiều mặt hàng nông sảncủa Việt Nam trong thị trường khu vực.

Số liệu thống kê về tình hình sản xuất và xuất khẩu nông lâm thủy sản

5 năm qua (2007 - 2011)

Sản xuất (ngàn tấn)

Kinh ngạch XK (triệu USD)

Sản xuất (ngàn tấn)

Kinh ngạch XK (triệu USD)

Sản xuất (ngàn tấn)

Kinh ngạch XK (triệu USD)

Sản xuất (ngàn tấn)

Kinh ngạch XK (triệu USD)

Sản xuất (ngàn tấn)

Kinh ngạch XK (triệu USD)

1.2.Hiện trạng an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản;

An toàn thực phẩm là một vấn đề hết sức quan trọng trong đồi sống xãhội và là một trong những vấn đề mà Đảng, Nhà nước Việt Nam từ lâu đã đặcbiệt quan tâm và coi đây là một vấn đề có ý nghĩa lớn về kinh tế-xã hội, antoàn xã hội, sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường đồng thời ảnh hưởng lớnđến tiến trình hội nhập của Việt Nam Do vậy, Đảng và Nhà nước ta thườngxuyên chỉ đạo và đưa ra các giải pháp nhằm không ngừng nâng cao hiệu lực,hiệu quả trong quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe nhândân Việc sản xuất sản phẩm nông lâm thủy sản không đảm bảo an toàn là đisong hành với việc sản xuất không bền vững và phát triển

Trong những năm gần đây, bên cạnh việc phát triển và thúc đẩy nềnsản xuất hàng hóa nông lâm thủy sản như đã nêu ở trên thì cũng đã phát hiệnnhững vụ việc về thực phẩm không đảm bảo an toàn, ảnh hưởng đến sứckhỏe người tiêu dùng; việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, hóachất trong sản xuất kinh doanh nông lâm thủy sản là một trong những nguyênnhân dẫn đến bệnh ung thư, suy thận … thậm chí dẫn đến tử vong Sản xuất

và sử dụng thực phẩm không an toàn ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, khảnăng lao động, chất lượng cuộc sống của con người hàng ngày và lâu dài

Không đảm bảo an toàn thực phẩm còn làm giảm khả năng tiếp cậnthị trường cho các mặt hàng nông sản có giá trị cao mà Việt Nam có tiềmnăng

Formatted: Font: 10 pt, Vietnamese

Trang 4

Nhiều thị trường xuất khẩu lớn đã bị bỏ lỡ và rủi ro cao trong việc nắm giữthị trường nội địa trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Trước sự phát triển không ngừng của đời sống sản xuất; tốc độ gia tăngdân số, đô thị hóa mạnh mẽ; và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng sảnphẩm của người tiêu dùng và thị trường quốc tế thì vấn đề quản lý, kiểm soát

và đảm bảo an toàn thực phẩm cũng như an toàn thực phẩm nông sản càngđược đặt ra hết sức cấp bách, đòi hỏi phải có chiến lược đồng bộ, mangtính định hướng chỉ đạo, tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm kiểm soáthữu hiệu hoạt động sản xuất nông sản thực phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh,phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế ngành nông nghiệp, ngư nghiệp vàdiêm nghiệp

Số liệu kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản sảnxuất kinh doanh trong nước được các cơ quan chức năng của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn thực hiện năm 2011 cho thấy:

* Kết quả kiểm tra, đánh giá phân loại điều kiện sản xuất an toàn thựcphẩm cơ sở sản xuất kinh doanh nông lâm thủy sản trong thời gian qua theoThông tư số 14/2011/TT-BNNPTNT cho thấy, tỷ lệ cơ sở xếp loại C (khôngđạt) cao, chiếm trung bình trên 50 % số cơ sở sản xuất, kinh doanh đượckiểm tra

* Kết quả phân tích một số chỉ tiêu về an toàn thực phẩm:

- Tỷ lệ mẫu rau quả chứa tồn dư thuốc bảo vệ thực vật vượt quá giới hạncho phép là 4,43% (năm 2010 là 8,6%);

- Tỷ lệ mẫu thủy sản nhiễm hooc môn vượt quá giới hạn cho phép là1,38 % (năm 2010 là 4,3%);

- Tỷ lệ mẫu thịt nhiễm hóa chất cấm, kháng sinh, hooc môn vượt quágiới hạn cho phép là 0,36% (năm 2010 là 1,19%)

Qua số liệu thống kê nêu trên cho thấy, tình hình an toàn thực phẩmnông lâm thủy sản từng bước đã được cải thiện, tuy nhiên, tỷ lệ mẫu vi phạmmột số mặt hàng còn tương đối cao, chưa đáp ứng yêu cầu của người tiêudung và thị trường Một trong những nguyên nhân tồn tại như nêu trên đó làviệc kiểm soát an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản chưa thật sự theochuỗi giá trị sản phẩm, chưa thiết lập được nhiều các mô hình liên kết sảnxuất từ trạng trại đến sản xuất sản phẩm cuỗi cùng và áp dụng các nguyêntắc kiểm soát nguy cơ về an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi giá trị sảnxuất sản phẩm

1.3.Hiện trạng về chuỗi sản xuất nông lâm thủy sản ở Việt Nam

Khái niệm về quản lý và kiểm soát an toàn thực phẩm theo chuỗi đãđược Việt Nam tiếp cận và triển khai thí điểm ở một số địa phương với 1 sốnhóm ngành hàng chủ lực và trọng điểm Tuy nhiên, quản lý an toàn thực

Trang 5

động nhiều đến cộng đồng Từ đó, không có được những kết quả mang tínhđột phá, nhận thức của người sản xuất, người tiêu dùng và doanh nghiệp đốivới chuỗi thực phẩm an toàn còn nhiều hạn chế.

Một trong những mô hình thí điểm triển khai có thể nêu đó là:

* Mô hình quản lý, kiểm soát ATTP theo chuỗi cung cấp thực phẩmvới 4 ngành hàng (rau, trái cây, thịt lợn, thịt gà) của Dự án Xây dựng và kiểmsoát chất lượng nông sản thực phẩm (FAPQDC) do Chính phủ Canada tài trợ

Dự án triển khai trong thời gian 5 năm, từ 2008 - 2013 Triển khai các môhình thí điểm tại 3 miền Bắc (3 tỉnh), miền Trung (1 tỉnh) và miền Nam(4 tỉnh)

Một số kết quả đạt được thông qua triển khai mô hình thí điểm kiểmsoát an toàn thực phẩm theo chuỗi:

- Cơ bản hoàn thiện bộ tài liệu hướng dẫn kỹ thuật áp dụng quy phạmthực hành sản xuất tốt trong sản xuất kinh doanh 04 nhóm ngànhhàng;

- Đã có 3 mô hình thí điểm ngành hàng rau tại HCM và Lâm Đồng,

1 mô hình trái cây tại Tiền Giang đã được chứng nhận VietGAP Trongnăm 2012, 100% mô hình thí điểm rau, trái cây sẽ được chứng nhậnVietGAP, ít

nhất 80% của tổng số 11 trại chăn nuôi lợn và 15 trại chăn nuôi gà sẽđược

chứng nhận VietGAHP/ SOPs, 3 cơ sở giết mổ heo và 3 cơ sở giết mổ gà sẽđược chứng nhận GMPs hoặc đảm bảo điều kiện vệ sinh, an toàn thực phẩmtheo quy định của Bộ Nông nghiệp và PTNT;

- Bước đầu đã tạo được mối liên kết giữa người sản xuất, kinh doanh

và tiêu thụ sản phẩm (mô hình thí điểm đối với sản phẩm rau tại LâmĐồng và TP Hồ Chí Minh);

- Các cơ sở, hợp tác xã, các bên tham gia mô hình thí điểm đã xâydựng hệ thống quản lý chất lượng cơ sở với sự phân công trách nhiệm rõ ràngtao điều kiện thuận lợi trong triển khai các hoạt động tập huấn, hướng dẫn ápdụng GPPs, kiểm tra giám sát, lấy mẫu kiểm nghiệm;

- Hình thành cơ cấu tổ chức (Tổ công tác) có sự tham gia của các bên

từ tỉnh (Sở NN và PTNT), huyện (Trạm Thú y, Phòng NN ) đến cơ sở thamgia mô hình đảm bảo tính chất bền vững để triển khai thực hiện các hoạtđộng của mô hình thí điểm

- Kết quả phân tích mẫu một số chỉ tiêu về an toàn thực phẩm đối vớisản phẩm tại mô hình thí điểm đạt yêu cầu theo quy định

Mặc dù đã đạt được một số kết quả như đã nêu ở trên, tuy nhiên việctriển khai kiểm soát theo chuỗi mới đang ở giai đoạn tiếp cận, cần phải tiếnhành thử nghiệm nhiều hơn về quy mô và phạm vi thì việc triển khai nhânrộng mới có những kết quả tốt Trong quá trình thí điểm triển khai môhình cũng gặp một số khó khăn, cụ thể:

- Việc áp dụng các tài liệu kỹ thuật GPPs trong sản xuất vẫn gặp một

số khó khăn, đặc biệt là vấn đề ghi chép, cần có thêm thời gian áp dụng đểthay đổi thói quen và hành vi

Trang 6

- Liên kết chuỗi giữa các cơ sở áp dụng GPPs trong toàn bộ chuỗi giátrị ngành hàng cần được cũng cố, xây dựng nhằm đảm bảo các bên tham gia

mô hình đều có lợi, sản xuất có lãi, duy trì và mở rộng sản suất, kinh doanh

- Các hoạt động kiểm soát an toàn thực phẩm chuỗi sản xuất sản phẩmcần được phổ biến và triển khai kiểm soát dựa trên nguyên tắc phân tích nguy

và chế biến, quản lý thương mại sản phẩm

- Mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ cá tra, cá basa tại Đồng bằngSông Cửu Long (mô hình của Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn - Đồng Tháp,

mô hình của Công ty Cổ phẩn thủy sản An Giang …) Việc triển khai các

mô hình chủ yếu thông qua việc thực hiện các cam kết về sản xuất và tiêu thụsản phẩm, cam kết tuân thủ các quy định về đảm bảo chất lượng, an toànthực phẩm

Đánh giá chung về một số bất cập, tồn tại về tổ chức sản xuất kinhdoanh gắn với quản lý ATTP trong toàn bộ quá trình (theo chuỗi) triểnkhai trong thời gian qua đó là:

- Sản xuất các sản phẩm nông sản (rau quả, thịt lợn, thịt gà) còn manhmún nhỏ lẻ, trình độ hạn chế nên rất khó áp dụng các quy định của thực hànhnông nghiệp tốt, khoa học công nghệ tiên tiến, hệ thống quản lý chất lượngtiên tiến dẫn đến năng suất và chất lượng không được như mong muốn, đó lànhững khó khăn mà người nông dân không dễ vượt qua

Trang 7

- Chưa hình thành nhiều các liên kết ổn định giữa người sản xuất vàngười tiêu thụ, liên kết tổ hợp tác xã;

- Chưa có sự tham gia giám sát của cộng đồng trong toàn bộ chuỗi sảnxuất;

- Chưa tuyên truyền và vận động mạnh mẽ về lợi ích của việc kiểmsoát an toàn thực phẩm theo chuỗi và trách nhiệm của các bên có liên quan(chất lượng cuộc sống, giải quyết công ăn việc làm, lợi nhuận đem lại);

- Thiếu cơ chế chính sách tạo động lực cho phát triển sản xuất kinhdoanh nông lâm thủy sản an toàn, chất lượng cao (tạo phân khúc thị trường,phá triển hệ thống phân phối nông lâm thủy sản…)

- Các doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực sản xuất cácsản phẩm nông nghiệp an toàn dẫn đến đầu ra cho sản phẩm an toàn còn ít, từ

đó tác động đến tâm lý và các quyết định của người sản xuất dẫn đến việcthực hiện nghiêm chỉnh các quy định về sản xuất sản phẩm an toàn còn nhiềuhạn chế Hiện tại, việc quản lý trồng, chăm sóc và chất lượng của các sảnphẩm nông thủy sản an toàn còn bị buông lỏng, không kiểm soát; chưa cómột quy trình thống nhất và cơ chế khuyến khích sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm an toàn, nên đã không thu hút được các doanh nghiệp và người nôngdân cùng nhiệt tình tham gia hưởng ứng sản xuất sản phẩm nông thủy sản antoàn

- Đầu tư hỗ trợ cho sản xuất, kinh doanh các sản phẩm nông thủy sản

an toàn còn hạn chế; một số tỉnh, thành phố có đề án, dự án nhưng đếnnay chưa được UBND phê duyệt Một số tỉnh, thành phố chỉ đạo triển khaichưa quyết liệt; mối quan hệ giữa các ngành nông nghiệp- thương mại – y tếchưa chặt chẽ, thường xuyên để hỗ trợ người làm tốt, phát hiện xử lý tổchức, cá nhân làm chưa tốt Đối với việc kiểm tra giám sát: chưa phân định

rõ trách nhiệm kiểm tra giám sát, thiếu cả nhân lực, vật lực và chưa đượcthực hiện thường xuyên trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanhsản phẩm nông thủy sản an toàn

- Phân công kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm của cơ quan nhànước được phân công cho nhiều đơn vị tham gia (cắt khúc)

Bên cạnh đó, những hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý an toànthực phẩm thời gian qua làm giảm sút lòng tin người tiêu dùng Các văn bảnquy phạm pháp luật, cơ chế chính sách để khuyến khích phát triển chuỗi thựcphẩm an toàn còn thiếu và chưa đồng bộ; nhất là chưa có cơ quan thống nhấttrong cả nước về quản lý, kiểm soát an toàn thực phẩm

Trước tình hình thực tế nêu trên, thực trạng đáng báo động này đặt rayêu cầu cấp thiết cần xây dựng chuỗi thực phẩm an toàn nhằm giám sát, quản

lý chất lượng, có thể dễ dàng truy xuất tận gốc sản phẩm, tạo niềm tin vớingười tiêu dùng, góp phần xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam Tuy

7

Trang 8

nhiên, việc triển khai cần được thử nghiệm, sau đó tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm và nhân rộng mô hình trên diện rộng.

1.4.Kinh nghiệm của quốc tế về tổ chức sản xuất kinh doanh gắn

với quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi.

Kiểm soát an toàn thực phẩm theo chuỗi giá trị nhiều nước đã đượctriển khai ở nhiều nước có nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến như Nhật Bản,

Úc, New Zealand, , Canada, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan …

Nghiên cứu mô hình kiểm soát an toàn thực phẩm theo chuỗi của NhậtBản cho thấy:

Quản lý an toàn thực phẩm được chia thành 04 giai đoạn đánh dấu về

sự tiến bộ triển khai an toàn thực phẩm (trước chiến tranh thế giới thứ 2; giaiđoạn 1945 - 1984; giai đoạn 1984 - 2002 và giai đoạn từ 2003 đến nay) Giaiđoạn 1984 - 2002 là giai đoạn đánh dấu cột mốc cho sự tiếp cận mạnh mẽtrong việc triển khai an toàn thực phẩm theo chuỗi và đến giai đoạn từ

2003 đến nay được xác định là đã cơ bản thực hiện kiểm soát an toàn thựcphẩm theo chuỗi đối với hầu hết các loại sản phẩm thực phẩm sản xuất vàđưa ra tiêu thụ ở Nhật Bản và xuất khẩu

Việc kiểm soát an toàn thực phẩm theo chuỗi ở Nhật Bản được hìnhxuất phát từ đề xuất thiết lập chuỗi các nhà sản xuất kinh doanh theo nhómngành hàng của các hội nghề nghiệp Tất cả các nhà sản xuất kinh doanhtham gia chuỗi sản xuất thực phẩm an toàn phải đăng ký là hội viên của hộinghề nghiệp và họ phải tuân thủ đầy đủ các quy định của hiệp hội,chính sách, pháp luật của nhà nước

Các nhà sản xuất kinh doanh tham gia chuỗi sản xuất sản phẩm an toànphải hội tụ đủ các yêu cầu về điều kiện cần thiết như: quy mô sản xuất, sảnlượng tiêu thụ, các yếu tố cơ bản về đảm bảo an toàn thực phẩm được đánhgiá công nhận, cam kết tự nguyện tham gia Bên cạnh sự kiểm soát của hiệphội, các hội viên tự giám sát lẫn nhau trong việc chấp hành các quy định

đã cam kết, đặc biệt là các nội dung về an toàn thực phẩm để giữ uy tín củahiệp hội và toàn bộ chuỗi sản xuất sản phẩm Hiệp hội cũng giữ vai trò làđầu mối kết nối chuỗi liên kêt dọc thông qua các hiệp hội với nhau như tổchức các cuộc gặp, hội nghị giữa các nhà sản xuất chế biến với các đơn vịcung ứng, thu mua tiêu thụ sản phẩm

Để quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi hiệu quả cần có cơ chếchính sách về quy hoạch sản xuất tập trung Để tham gia sản xuất hàng hóađưa ra tiêu thụ trên thị trường, nhà sản xuất/ hợp tác xã sản xuất cần cóđăng ký và hội tụ đủ các yêu cầu tối thiếu về quy mô sản xuất Việc sảnxuất tập trung/ quy mô sản xuất tối thiếu mới đưa vào chương trình giámsát, đảm bảo hiệu quả chi phí trong việc tổ chức quản lý và kiểm soát Yêucầu này cũng giúp cho các nhà sản xuất cần phải liên kết với nhau để sảnxuất hoặc tham gia các tổ hợp sản xuất

Trang 9

Để quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi, vai trò quản lý và kiểm soátcủa cơ quan nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng đặc biệt là thống nhấttrong quản lý và kiểm soát và trú trọng vào một số vấn đề đó là:

- Quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi trên cơ sở phân tích, đánh giárủi ro và truy nguyên nguồn gốc như là một điều kiện tiên quyết để kiểmsoát thành công về vấn đề an toàn thực phẩm Nhật Bản tổ chức thực hiệnkiểm soát an toàn thực phẩm trên cơ sở đánh giá rủi ro đối với từngchuỗi sản phẩm, tức là đối với mỗi chuỗi sản xuất nhóm ngành hàng cụthể đều nhận diện ra hết tất cả các nguy cơ/ mối nguy về an toàn thựcphẩm có thể hiện diện và đưa ra những biện pháp/ giải pháp kiểm soátphù hợp, đủ để kiểm soát

- Việc phân công cơ quan quản lý về an toàn thực phẩm cũng quy vềđầu mối và phân công rõ ràng giữa các cơ quan Hiện tại, việc phân côngquản lý ở cấp trung ương được giao cho Bộ Y tế, Lao động và phúc lợi và BộNông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản với những phạm vi quản lý phâncông rõ ràng và có những cơ chế phối hợp để triển khai

- Năm 2003, Nhật Bản đã thành lập Ủy ban an toàn thực phẩm, trong

đó thực hiện chức năng chính đó là tổ chức đánh giá rủi ro theo yêu cầu củacác Bộ quản lý chuyên ngành về an toàn thực phẩm Các đánh giá rủi ro làcăn cứ để cơ quan quản lý quyết định ban hành các quy định áp dụng

- Kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm cũng được thiết lập theo chuỗi

Cơ quan quản lý theo phân công sẽ dựa trên nguy cơ về an toàn thực phẩm đãđược xác định trong chuỗi và dòng chảy của sản phẩm từ công đoạn sản xuấtđến tiêu thụ trên thị trường để xác định các điểm kiểm soát phù hợp nhằmphát hiện các vấn đề về an toàn thực phẩm, đồng thời có biện pháp ngăn chặnsản phẩm không đảm bảo yêu cầu được lưu thông trên thị trường, đến tayngười tiêu dùng

Các tổ chức, hiệp hội tham gia tích cực vào kiểm soát an toàn thựcphẩm theo chuỗi ở Nhật Bản đó là: Hiệp hội an toàn thực phẩm, Ủy ban antoàn thực phẩm, Ủy ban người tiêu dùng, Hiệp hội sản xuất các ngành hàngthực phẩm Các tổ chức, hiệp hội này phối hợp rất mật thiết với các cơ quanchức năng quản lý nhà nước để thực thi tốt việc kiểm soát an toàn thực phẩmtheo chuỗi thông qua các liên kết dọc và liên kết ngang

Việc triển khai quản lý an toàn thực phẩm theo mô hình chuỗi đượctriển khai theo từng bước: đánh giá lựa chọn vùng, ngành hàng và làmthí điểm; quá trình triển khai được thủ nghiệm và điều chỉnh nhiều lần; sau

đó có tổng kết đánh giá, đặc biệt là đưa ra những kết quả đạt được như:

thẩm tra, phân tích các yếu tố về an toàn thực phẩm theo yêu cầu, đem lại lợiích chung cho cộng đồng, lợi ích của các nhà sản xuất, kinh doanh; nhữngnhà sản xuất kinh doanh tham gia chuỗi cũng nhận được những chính sáchcủa chính phủ nhà nước ở trung ương và địa phương (chính sách về thuế,chính sách về quảng bá sản phẩm ….) Sau đó tổng kết đánh giá và phổbiến nhân rộng mô

Trang 10

hình Nhiều mô hình triển khai hiệu quả chỉ cần thông tin các địa phương khác đến nghiên cứu, học tập kinh nghiệm.

Việc triển khai mô hình quản lý theo chuỗi của Indonesia, Malaysiacũng có nhiều nét tương tự như Nhật Bản, đặc biệt là về phương pháp và cáchthức tổ chức triển khai

Qua nghiên cứu kinh nghiệm quản lý an toàn thực phẩm của Nhật Bản

và một số nước như đã nêu trên, việc áp dụng những kinh nghiệm vào thực tếViệt Nam là khả thi trong giai đoạn tới nhằm có những cải thiện rõ rệt về antoàn thực phẩm, hướng tới nền sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam bền vững vàphát triển

1.5.Tính cấp thiết xây dựng và phát triển các mô hình chuỗi cung

cấp thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn.

Kinh nghiệm của các nước cho thấy, việc xây dựng và phát triển các

mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn là giảipháp yêu cầu tất cả các nhà sản xuất kinh doanh thực phẩm tuân thủ đầy

đủ các yêu cầu đảm bảo an toàn thực phẩm, đảm bảo sức khỏe cho ngườitiêu dùng, tuân thủ quy định về hội nhập quốc tế, gia tăng xuất khẩu, ansinh xã hội, cơ sở để thực hiện hiệu lực, hiệu quả, luật pháp về ATTP,đồng thời nâng cao vai trò trách nhiệm của người sản xuất kinh doanh thựcphẩm đối với cộng đồng Việc triển khai mô hình kiểm soát theo chuỗi làchia sẻ rủi ro và trách nhiệm cho người dân, doanh nghiệp trong sản xuấtthực phẩm, cùng nhau thúc đẩy sản xuất, nâng cao giá trị sản phẩm và tiêuthụ sản phẩm;

Một trong những nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm được quy định

Luật an toàn thực phẩm (Điều 3) đó là "quản lý an toàn thực phẩm phải

được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên

cơ sở phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm" Để tuân thủ nguyên

tắc này cần phải kiểm soát an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi sản xuất

Do đó, việc xây dựng và phát triển các mô hình sản xuất theo chuỗi sẽ giúpcho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm soát an toàn thực phẩm theo quyđịnh trong Luật An toàn thực phẩm

Xây dựng và phát triển các chuỗi thực phẩm an toàn "từ trang trại đếnbàn ăn" là một giải pháp có tính đột phá và bền vững để quản lý tốt chấtlượng, an toàn thực phẩm, đồng thời đáp ứng nhu cầu của người tiêudùng Tuy nhiên, để triển khai rộng rãi các mô hình quản lý an toàn thựcphẩm theo chuỗi, trước hết cần triển khai xây dựng thí điểm/ thử nghiệm,sau đó đánh giá hiệu quả, tác động đến vấn đề kinh tê và xã hội rồi mới pháttriển đồng bộ trên phạm vi cả nước Việc xây dựng và phát triển chuỗi antoàn thực phẩm với lộ trình phù hợp trên một hệ thống quản lý đủ mạnh, cóhiệu lực, sẽ tạo sự tác động rõ rệt và toàn diện tới việc cải thiện an toànthực phẩm, góp phần bảo vệ sức khỏe của chính mình và cho cả cộng đồng

Trang 11

- Nghị quyết số 34/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội khóa XII

về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý chất lượng, ATTP;

- Chỉ thị số 08-CT/TW của Ban Bí thư ngày 21 tháng 10 năm 2011

về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề an toàn thực phẩmtrong tình hình mới"

- Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12; Luật Chất lượng sảnphẩm hàng hóa; Luật Tiêu chuẩn và Qui chuẩn kỹ thuật và các Nghị địnhhướng dẫn thi hành;

- Nghị định 01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008 và Nghị định số75/2009/NĐ-CP ngày 10/9/2009 của Chính phủ sửa đổi Điều 3 Nghị định

số 01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008 của Chính phủ quy định chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn;

- Quyết định số 20/QĐ- TTg ngày 4/1/2012 của Chính phủ phê duyệtChiến lược quốc gia An toàn thực phẩm giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn2030;

- Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 của Chính phủquy định chi tiết một số điều Luật An toàn thực phẩm;

- Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 9/1/2012 của Thủ tướng Chínhphủ về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng Quy trình thực hành sảnxuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

- Quyết định số 809/QĐ-TTg ngày 30/5/2011 phê duyệt đề án “Tăngcường năng lực quản lý chất lượng nông lâm thủy sản và muối giaiđoạn 2011-2015”

- Các cam k□t h□i nh□p qu□c t□ v□ TBT/SPS trong l□nh v□c nôngnghi□p, phát tri□n nông thôn v□ ATTP

Ngày đăng: 19/10/2022, 21:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

hình chuỗi cung cấp thực phẩm sản phẩm  có nguồn gốc động vật trên cạn (gà, lợn); - Xây dựng và phát triển mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn trên phạm vi toàn quốc
hình chu ỗi cung cấp thực phẩm sản phẩm có nguồn gốc động vật trên cạn (gà, lợn); (Trang 22)
BẢNG KHÁI TỐN KINH PHÍ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN - Xây dựng và phát triển mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn trên phạm vi toàn quốc
BẢNG KHÁI TỐN KINH PHÍ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN (Trang 22)
phát triển mơ hình. - Xây dựng và phát triển mô hình chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn trên phạm vi toàn quốc
ph át triển mơ hình (Trang 23)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w