1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổng quan về báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo chế độ hiện hành tại việt nam

40 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng Quan Về Báo Cáo Lưu Chuyển Tiền Tệ Theo Chế Độ Hiện Hành Tại Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 216,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chơng I: Tổng quan về Báo cáo lu chuyển tiền tệ (2)
    • I. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiÔn (2)
      • 1. Cơ sở lý luËn (2)
      • 2. Cơ sở thực tiÔn (3)
    • II. Bản chất và ý nghĩa của báo cáo lu chuyển tiền tệ (0)
      • 1. Khái niệm (4)
      • 2. Môc đích (0)
      • 4. Vị trí của báo cáo lu chuyển tiền tệ trong hệ thống báo cáo kế toán (5)
    • III. Nội dung của báo cáo lu chuyển tiền tệ (6)
      • 1. Báo cáo lu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh (0)
      • 2. Báo cáo lu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu t- (0)
      • 3. Báo cáo lu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chÝnh (0)
      • 4. Các chỉ tiêu bổ sung (0)
    • IV. Cơ sở và phơng pháp lập báo cáo lu chuyển tiền tệ (7)
      • 1. Cơ sở lËp (7)
      • 2. Nguyên tắc lËp (8)
      • 3. Phơng pháp lËp (8)
      • 4. Ưu, nhợc điểm của từng phơng pháp (0)
    • I. Kế toán Việt Nam và những đòi hỏi mới (16)
    • II. Báo cáo lu chuyển tiền tệ trong các doanh nghiệp ở Việt (0)
      • 1. Tính bắt buéc (17)
      • 2. Thái độ nhận thức về Báo cáo lu chuyển tiền tệ (0)
    • III. Quan điểm của quốc tế về báo cáo lu chuyển tiền tệ đợc áp dụng ở Việt Nam (0)
      • 1. Chuẩn mực kế toán quốc tế số 7( IAS 7) (19)
      • 2. Một số vấn đề cần quan tâm khi xây dựng và h- ớng dẫn thực hiện Báo cáo lu chuyển tiền tệ ở Việt (20)
    • IV. So sánh hệ thống kế toán Việt Nam (VAS) và các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) trong trờng hợp báo cáo (23)
    • I. Đánh giá chung về báo cáo lu chuyển tiền tệ (25)
      • 1. Đánh giá về cấu trúc của báo cáo lu chuyển tiền tệ (0)
      • 2. Đánh giá về nội dung báo cáo lu chuyển tiền tệ (26)
      • 3. Đánh giá về phơng pháp lập báo cáo lu chuyển tiền tệ (26)
    • II. Điều kiện vận hành báo cáo lu chuyển tiền tệ (28)
      • 1. Ban hành chế độ bắt buộc chung cho tất cả các (28)
      • 2. Cần có chế độ hớng dẫn, khuyến khích cụ thÓ (0)
      • 3. Thay đổi thái độ của doanh nghiệp (0)
    • III. Phơng hớng và giải pháp hoàn thiện báo cáo lu chuyển tiền tệ (29)
      • 1. Những hạn chÕ (0)
      • 2. Quan điểm và phơng hớng hoàn thiện (30)
      • 3. Nh÷ng kiÕn nghị (0)

Nội dung

Tổng quan về Báo cáo lu chuyển tiền tệ

Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiÔn

Xu hướng tự do hóa thị trường tài chính và thị trường vốn vào những năm 80 đã dẫn đến sự thiếu ổn định ngày càng gia tăng trong các thị trường này Điều này tạo ra nhu cầu cấp thiết về thông tin để đánh giá tình hình tài chính và tình trạng của các doanh nghiệp, nhằm đảm bảo sự ổn định tài chính.

Vào những năm 90, xu hướng tự do hóa thị trường tài chính và thị trường vốn đã tạo ra áp lực lớn trong việc cung cấp thông tin hữu ích cho cả khu vực tài chính và khu vực tư nhân Các yêu cầu tối thiểu về công bố thông tin hiện nay không chỉ là một tiêu chuẩn mà còn là cơ sở để đánh giá chất lượng và dung lượng thông tin cần thiết cho các đối tượng tham gia thị trường và công chúng.

Việc công bố thông tin một cách rộng rãi chỉ khả thi khi có tiêu chuẩn kế toán cao và phương pháp công bố hợp lý Điều này liên quan đến việc cung cấp thông tin định tính và định lượng phù hợp trong các báo cáo tài chính hàng năm, thường đi kèm với báo cáo tài chính nội bộ và các thông tin liên quan khác.

Hiện nay hệ thống báo cáo tài chính của các doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm 4 báo cáo:

- Bảng cân đối kế toán.

- Báo cáo kết quả kinh doanh.

- Báo cáo lu chuyển tiền tệ.

- Thuyết minh báo cáo tài chính.

Báo cáo lu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính quan trọng của doanh nghiệp, đóng vai trò thiết yếu trong việc cung cấp thông tin cho những người quan tâm Trong bối cảnh thông tin ngày càng trở nên quan trọng, báo cáo này là nguồn thông tin không thể thiếu, giúp đáp ứng nhu cầu của người sử dụng.

Trước năm 1961, nhiều doanh nghiệp trên thế giới đã chủ động lập và công bố báo cáo về tình hình lu chuyển và vận động của các quỹ Những báo cáo này cung cấp thông tin về nguồn hình thành và tình hình sử dụng vốn lu động của doanh nghiệp, được trình bày theo ba loại hoạt động khác nhau.

- Hoạt động sản xuất kinh doanh

Vào năm 1961, các nhà nghiên cứu về kế toán đã chỉ ra rằng bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh không thể cung cấp thông tin đầy đủ và toàn diện về mọi sự thay đổi trong nguồn lực tài chính.

Bản chất và ý nghĩa của báo cáo lu chuyển tiền tệ

Qua quá trình nghiên cứu và phát triển đặc biệt từ giai đoạn 1980-

1986 báo cáo lu chuyển tiền tệ đã ra đời và nhanh chóng đợc nhiều doanh nghiệp đón nhận.

Xuất phát từ nhu cầu thực tế, báo cáo lu chuyển tiền tệ ngày càng được cải thiện cả về nội dung lẫn hình thức, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách về thông tin trên thị trường.

II Bản chất, ý nghĩa và tầm quan trọng của báo cáo lu chuyển tiền tệ

Báo cáo lu chuyển tiền tệ là một tài liệu tài chính quan trọng, thể hiện quá trình hình thành và sử dụng dòng tiền của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo.

Lợng tiền phát sinh của doanh nghiệp bao gồm các dòng thu, chi bằng tiền và tơng đơng tiền của doanh nghiệp.

Mục đích chính của báo cáo lu chuyển tiền tệ là:

- Cung cấp thông tin về lợng tiền thu vào và lợng tiền chi ra trong kú.

- Cung cấp thông tin về các hoạt động đầu t và hoạt động tài chính của doanh nghiệp.

- Cung cấp chi tiết các thông tin về quá trình nguồn tiền hình thành và quá trình chi tiêu sử dụng chúng trong kỳ

Trong kỳ doanh nghiệp, việc kiếm tiền và chi tiêu diễn ra như thế nào? Hoạt động nào đóng vai trò chủ yếu trong việc tạo ra doanh thu? Doanh nghiệp sử dụng số tiền kiếm được vào mục đích gì và liệu có hợp lý không? Quy mô tăng trưởng của doanh nghiệp được tài trợ từ nguồn nào, từ nội bộ hay từ bên ngoài? Tại sao doanh nghiệp có lãi nhưng vẫn không đủ tiền để trả nợ vay, thanh toán cổ tức hoặc còn nợ lương công nhân?

Báo cáo lu chuyển tiền tệ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho người sử dụng, giúp đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp và dự đoán luồng tiền trong kỳ tiếp theo.

Ngoài ra các nhà quản lý còn sử dụng báo cáo lu chuyển tiền tệ để lập kế hoạch khác nh:

- Liên kết chính sách trả lãi với các mặt hoạt động của doanh nghiệp.

- Lập kế hoạch tài trợ cho việc lập kế hoạch sản xuất

- Tìm ra hớng giải quyết cho các nhu cầu tiền mặt.

4 Vị trí của báo cáo lu chuyển tiền tệ trong hệ thống báo cáo tài chính

Báo cáo lu chuyển tiền tệ cung cấp thông tin độc đáo về dòng tiền của doanh nghiệp, giúp hiểu rõ bản chất và ý nghĩa của hoạt động tài chính Những dữ liệu này chỉ có thể được tìm thấy trong báo cáo lu chuyển tiền tệ, đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Do vai trò quan trọng của báo cáo lu chuyển tiền tệ mà ở

Vào năm 1987, việc lập báo cáo lu chuyển tiền tệ đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp tại Mỹ và sau đó được phổ biến ra nhiều quốc gia khác Mỗi quốc gia có cách hiểu và thực hiện khác nhau, phù hợp với đặc điểm riêng của mình Tại Việt Nam, báo cáo lu chuyển tiền tệ được áp dụng từ năm 1995 theo quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT của Bộ Tài chính và hiện nay theo quyết định mới số 167/2000/QĐ-BTC Mặc dù báo cáo này vẫn chưa được quy định bắt buộc phải lập và gửi, Chính phủ vẫn khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện và sử dụng báo cáo này do tầm quan trọng của nó.

Nội dung của báo cáo lu chuyển tiền tệ

Bao gồm 3 nội dung chính và một số chỉ tiêu bổ sung:

1 Lu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh

Phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nh:

Doanh thu từ bán hàng và các khoản phải thu thương mại là nguồn thu chính Chi phí bằng tiền bao gồm: thanh toán cho nhà cung cấp, lương và bảo hiểm xã hội cho nhân viên, cùng các chi phí khác như văn phòng phẩm và công tác phí.

2 Lu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu t

Phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu t của doanh nghiệp Bao gồm:

- Đầu t cơ sở vật chất kỹ thuật cho bản thân doanh nghiệp (hoạt động xây dựng cơ bản, mua sắm TSCĐ).

- Đầu t vào các đơn vị khác dới hình thức góp vốn liên doanh, đầu t chứng khoán, cho vay, không phân biệt đầu t ngắn hạn hay dài hạn.

Dòng tiền lu chuyển phản ánh toàn bộ các khoản thu từ việc bán và thanh lý tài sản cố định, cũng như thu hồi các khoản đầu tư Bên cạnh đó, nó còn bao gồm các khoản chi cho việc mua sắm và xây dựng tài sản cố định, cũng như chi phí đầu tư vào các đơn vị khác.

3 Lu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính

Dòng tiền trong doanh nghiệp phản ánh tất cả các khoản thu và chi liên quan đến hoạt động tài chính, bao gồm các nghiệp vụ làm tăng hoặc giảm vốn kinh doanh Các hoạt động tài chính này có thể bao gồm việc chủ doanh nghiệp góp vốn, vay vốn (dài hạn hoặc ngắn hạn), nhận vốn liên doanh, phát hành cổ phiếu và trái phiếu, cũng như trả nợ vay.

Dòng tiền luân chuyển bao gồm tất cả các khoản thu chi như tiền vay nhận được, tiền thu từ vốn góp liên doanh, tiền thu từ phát hành cổ phiếu và trái phiếu, cùng với các khoản chi trả lãi cho bên góp vốn và lãi cổ phiếu, trái phiếu bằng tiền, cũng như thu lãi từ tiền gửi.

4 Một số chỉ tiêu bổ sung

Lu chuyển tiền thuần trong kỳ là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả từ các dòng tiền qua ba hoạt động: sản xuất kinh doanh, đầu tư và tài chính Khi nguồn thu lớn hơn nguồn chi, sẽ có sự tăng trưởng về tiền; ngược lại, nếu nguồn thu nhỏ hơn nguồn chi, sẽ dẫn đến sự giảm sút của tiền.

Tiền đầu kỳ và tiền cuối kỳ là hai chỉ tiêu quan trọng được lấy từ bảng cân đối kế toán của năm hiện tại Sự chênh lệch giữa tiền cuối kỳ và tiền đầu kỳ phải tương đương với kết quả tính toán trong phần lu chuyển tiền tệ của kỳ.

Cơ sở và phơng pháp lập báo cáo lu chuyển tiền tệ

Lập báo cáo lu chuyển tiền tệ theo phơng pháp gián tiếp:

- Bảng cân đối kế toán (Mẫu B01- DN).

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu B02- DN).

Các tài liệu khác bao gồm sổ cái, sổ kế toán chi tiết, báo cáo vốn góp, khấu hao, chi tiết hoàn nhập dự phòng, và các tài liệu liên quan đến mua bán tài sản cố định, trả lãi vay.

Lập báo cáo lu chuyển tiền tệ theo phơng pháp trực tiếp:

- Bảng cân đối kế toán (Mẫu B01- DN).

- Sổ kế toán theo dõi thu, chi vốn bằng tiền (tiền mặt và tiền gửi).

- Sổ kế toán theo dõi các khoản phải thu, phải trả.

Phương pháp gián tiếp trong báo cáo lu chuyển tiền tệ được thực hiện bằng cách điều chỉnh lợi tức trước thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh, loại bỏ ảnh hưởng của các nghiệp vụ không liên quan đến tiền mặt Điều này bao gồm việc loại trừ các khoản lãi lỗ từ hoạt động đầu tư và tài chính đã được tính vào lợi nhuận trước thuế, cũng như điều chỉnh các khoản mục thuộc vốn lưu động.

Phương pháp trực tiếp trong báo cáo lu chuyển tiền tệ được thực hiện bằng cách xác định và phân tích trực tiếp các khoản thu, chi bằng tiền Các khoản này được ghi chép trên sổ kế toán vốn bằng tiền, phân loại theo từng loại hoạt động cũng như nội dung của thu, chi.

3 Phơng pháp lập 3.1 Phơng pháp gián tiếp Gồm 3 phần:

Phần I: lu chuyển tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh: Phản ánh những chỉ tiêu liên quan đến luồng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

- Lợi nhuận trớc thuế: Lấy từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

+ Lãi lỗ do bán TSCĐ.

+ Lãi, lỗ do đánh giá lại tài sản và chuyển đổi tiền tệ.

+ Lãi, lỗ do đầu t vào các đơn vị khác.

-Lợi nhuận kinh doanh trớc những thay đổi vốn lu động:

Phản ánh luồng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ báo cáo, loại trừ ảnh hưởng của các khoản thu nhập và chi phí không trực tiếp bằng tiền, nhưng chưa tính đến sự thay đổi của các yếu tố vốn lưu động Được lập dựa trên lợi nhuận trước thuế, cộng hoặc trừ các khoản điều chỉnh.

+ Tăng, giảm các khoản phải thu.

+ Tăng, giảm hàng tồn kho.

+ Tăng, giảm các khoản phải trả.

+ Tiền thu từ các khoản khác.

+ Tiền chi cho các khoản khác

Lu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất, kinh doanh là chỉ tiêu phản ánh chênh lệch giữa tổng số tiền thu vào và tổng số tiền chi ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ báo cáo, giúp doanh nghiệp đánh giá hiệu quả tài chính và quản lý dòng tiền một cách hiệu quả.

Phần II: lu chuyển tiền từ hoạt động đầu t: Phản ánh những chỉ tiêu liên quan đến luồng tiền tạo ra từ hoạt động đầu t của doanh nghiệp Bao gồm:

- Tiền thu hồi các khoản đầu t vào đơn vị khác

- Tiền thu từ lãi các khoản đầu t vào các đơn vị khác.

- Tiền thu do bán TSCĐ.

Lu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư thể hiện sự chênh lệch giữa tổng số tiền thu vào và tổng số chi ra từ các hoạt động đầu tư trong kỳ báo cáo.

Phần III: lu chuyển tiền từ hoạt động tài chính :

Phản ánh những chỉ tiêu liên quan đến luồng tiền từ hoạt động tài chính của doanh nghiệp Bao gồm:

- Tiền thu do các chủ sở hữu góp vốn.

- Tiền thu từ lãi tiền gửi.

- Tiền đã trả nợ vay.

- Tiền đã hoàn vốn cho các chủ sở hữu.

- Tiền lãi đã trả cho các nhà đầu t.

Lu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính là chỉ số thể hiện sự chênh lệch giữa tổng tiền thu vào và tổng tiền chi ra từ các hoạt động tài chính trong kỳ báo cáo Chỉ tiêu này được tính toán dựa trên tổng số liệu của các chỉ số liên quan.

Lu chuyển tiền thuần trong kỳ là chỉ tiêu thể hiện sự chênh lệch giữa tổng số tiền thu vào và tổng số tiền chi ra từ hoạt động tài chính trong kỳ báo cáo Chỉ tiêu này được tính bằng tổng cộng các phần: Phần I, Phần II và Phần III.

Tiền tồn đầu kỳ là chỉ tiêu được xác định dựa trên số dư vốn bằng tiền đầu kỳ báo cáo, đồng thời đối chiếu với chỉ tiêu "Tiền tồn cuối kỳ" trên báo cáo lu chuyển tiền tệ của kỳ trước và số dư đầu kỳ trên sổ kế toán thu, chi tiền trong kỳ báo cáo.

Tiền tồn cuối kỳ: Chỉ tiêu này là số tổng cộng của lu chuyển tiền thuần trong kỳ và tiền tồn cuối kỳ.

Lu chuyÓn tiÒn thuÇn trong kú

TiÒn tồn ®Çu kú Chỉ tiêu này phải bằng số d vốn bằng tiền cuối kỳ trên bảng cân đối kế toán kỳ báo cáo

Phần I: Lu chuyển tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh:

Tiền thu bán hàng: Thu do bán hàng hoá sản phẩm, dịch vô trong kú.

Tiền thu từ các khoản nợ phải thu bao gồm nợ phải thu từ khách hàng, các đơn vị nội bộ và các khoản phải thu khác, bao gồm cả tạm ứng Đây là phần thanh toán bằng tiền trong kỳ, phản ánh tình hình tài chính và khả năng thu hồi nợ của doanh nghiệp.

Tiền thu từ các khoản khác liên quan đến hoạt động sản xuất và kinh doanh trong kỳ báo cáo bao gồm các khoản bồi thường và tiền phạt không được ghi qua tài khoản theo dõi nợ phải thu.

Tiền đã trả cho ngời bán: Phần đã trả bằng tiền trong kỳ báo cáo.

Trong kỳ báo cáo, tổng số tiền đã chi trả cho công nhân viên được ghi nhận thông qua tài khoản 334 "Phải trả công nhân viên".

Trong kỳ báo cáo, tổng số tiền đã nộp thuế và các khoản khác cho Nhà nước, bao gồm cả khoản nộp khấu hao cơ bản TSCĐ đối với doanh nghiệp Nhà nước, sẽ được xem xét.

Kế toán Việt Nam và những đòi hỏi mới

Từ những năm đầu của thập kỷ 90 nền kế toán Việt Nam đã có những thành công đáng kể và nhiều thay đổi rõ nét.

Doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia tích cực vào nền kinh tế thị trường, với sự gia tăng đầu tư từ nước ngoài và sự phát triển của thị trường chứng khoán Để đáp ứng những yêu cầu mới từ nền kinh tế, hệ thống kế toán Việt Nam đang được cải tiến và hoàn thiện nhằm thích ứng với thực tiễn hiện tại và tương lai.

Báo cáo lu chuyển tiền tệ trong các doanh nghiệp ở Việt

Việc trình bày thông tin tài chính theo các chuẩn mực kế toán quốc tế là cần thiết để các nhà đầu tư trong và ngoài nước có thể hiểu và phân tích dữ liệu kinh tế, từ đó đưa ra quyết định đầu tư chính xác Chất lượng thông tin được xem là ưu tiên hàng đầu của các cơ quan quản lý, nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin cho công tác quản lý kinh tế tài chính Để thực hiện điều này, Bộ Tài chính đã ban hành quyết định số 167/2000 (QĐ-BTC) quy định chế độ báo cáo tài chính áp dụng cho tất cả doanh nghiệp, bất kể lĩnh vực hay thành phần kinh tế.

Quyết định này có hiệu lực trên toàn quốc từ ngày 01/01/2001, thay thế cho quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 Hệ thống báo cáo tài chính mới cho các doanh nghiệp bao gồm bốn biểu mẫu báo cáo chính.

- Bảng cân đối kế toán Mẫu số 01 - DN

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu số 02 - DN

- Báo cáo lu chuyển tiền tệ Mẫu số 03 - DN

Tất cả doanh nghiệp đều phải lập và nộp báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật, bao gồm việc gửi báo cáo vào cuối quý và cuối năm tài chính cho các cơ quan quản lý Nhà nước cũng như các doanh nghiệp cấp trên Mẫu báo cáo tài chính số 09 - DN là một trong những mẫu cần thiết trong quá trình này.

II BCLCTT trong các doanh nghiệp ở Việt Nam

Theo quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 và quyết định 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000, các doanh nghiệp phải lập và gửi báo cáo tài chính theo quy định, riêng báo cáo lưu chuyển tiền tệ chỉ được khuyến khích lập và sử dụng Tuy nhiên, trên thế giới, báo cáo lưu chuyển tiền tệ đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp từ năm 1987, đặc biệt là tại Mỹ.

Các chuyên gia EU cho biết rằng trong chuẩn mực kế toán quốc tế, báo cáo lu chuyển tiền tệ là bắt buộc, nhưng một số quốc gia chỉ yêu cầu các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán lập báo cáo này Đối với các doanh nghiệp không niêm yết, việc lập báo cáo lu chuyển tiền tệ chỉ mang tính tự nguyện.

Báo cáo lu chuyển tiền tệ không phải là yêu cầu bắt buộc trong hệ thống báo cáo tài chính, dẫn đến hiệu lực thực hiện và phạm vi sử dụng của báo cáo này khá hạn chế.

2 Nhận thức về báo cáo lu chuyển tiền tệ trong các doanh nghiệp

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp chưa chú trọng đến báo cáo lu chuyển tiền tệ, mặc dù đây là một công cụ quan trọng trong việc cung cấp thông tin và hỗ trợ quản lý doanh nghiệp hiệu quả Việc nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của báo cáo này sẽ giúp các doanh nghiệp cải thiện khả năng quản lý tài chính và đưa ra quyết định chiến lược tốt hơn.

Nhiều ý kiến cho rằng hệ thống kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh có thể cung cấp thông tin trung thực và hợp lý ngay cả khi thiếu báo cáo lu chuyển tiền tệ.

Quan điểm của quốc tế về báo cáo lu chuyển tiền tệ đợc áp dụng ở Việt Nam

Nhiều doanh nghiệp hiểu rằng báo cáo lu chuyển tiền tệ chỉ là báo cáo thu chi vốn bằng tiền, dẫn đến quan niệm sai lầm rằng việc lập báo cáo này chỉ dựa vào thu chi tiền mặt và tiền gửi ngân hàng.

Các doanh nghiệp cha đa báo cáo lu chuyển tiền tệ vào hệ thống báo cáo định kỳ.

III Quan điểm quốc tế về báo cáo lu chuyển tiền tệ đợc áp dụng ở Việt Nam

1 Chuẩn mực kế toán quốc tế số 7 (IAS 7)

Vấn đề đặt ra trong chuẩn mực này là các thông tin về những thay đổi từ trớc tới nay.

Tiền mặt và các tài sản tương đương tiền mặt của doanh nghiệp cần được thể hiện dưới hình thức báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo này phân loại lưu chuyển tiền tệ trong kỳ báo cáo thành các hoạt động chính, bao gồm hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài trợ, giúp doanh nghiệp theo dõi và quản lý dòng tiền một cách hiệu quả.

Ngời sử dụng đòi hỏi có những thông tin này để đa ra đánh giá về:

- Thay đổi trong tài sản ròng.

- Cơ cấu tài chính của doanh nghiệp.

- Khả năng thanh toán và thanh khoản của doanh nghiệp.

- Khả năng ảnh hởng của doanh nghiệp tới lợng tiền và thời gian lu chuyÓn.

- Khả năng tạo nguồn tiền mặt.

Giá trị hiện tại của dòng tiền và tiền tệ tương lai là tiêu chuẩn quan trọng áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp.

Tất cả doanh nghiệp đều cần lập báo cáo lu chuyển tiền tệ để phản ánh dòng tiền trong kỳ báo cáo, phân loại theo các nhóm cụ thể.

+ Hoạt động sản xuất kinh doanh.

2 Một số vấn đề cần quan tâm khi xây dựng và hoạt động tổng hợp báo cáo lu chuyển tiền tệ ở Việt Nam 2.1 Về nguyên tắc phân loại luồng tiền

Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh là các dòng tiền chủ yếu liên quan đến việc tạo ra doanh thu cốt lõi của doanh nghiệp, bao gồm tiền thu từ bán hàng, cung cấp dịch vụ, chi trả cho người lao động, lãi vay và cổ tức đã trả Ngoài ra, nó cũng bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp hoặc được hoàn trả, cùng với các khoản thu, chi từ các hoạt động bất thường, ngoại trừ thanh lý và nhượng bán tài sản cố định.

Luồng tiền từ hoạt động đầu tư bao gồm các giao dịch liên quan đến mua sắm, xây dựng, thanh lý và nhượng bán tài sản cố định (TSCĐ) cùng các tài sản khác không tương đương tiền Các khoản thu chi này bao gồm tiền từ việc mua, xây dựng, thanh lý và nhượng bán TSCĐ; giao dịch mua bán cổ phiếu, công nợ, góp vốn liên doanh và các hình thức đầu tư khác; cũng như thu lãi từ tiền cho vay, lãi tiền gửi và cổ tức.

Luồng tiền từ hoạt động tài chính bao gồm các giao dịch liên quan đến sự thay đổi trong vốn chủ sở hữu và vốn vay của đơn vị Các khoản tiền này bao gồm việc nhận và trả vốn góp từ các chủ sở hữu, tiền gốc vay ngắn hạn, cũng như việc thanh toán nợ thuê tài chính.

2.2 Về các khoản tơng đơng tiền

Các khoản tương đương tiền là những khoản đầu tư ngắn hạn có khả năng chuyển đổi nhanh thành tiền mặt với rủi ro thấp trong quá trình chuyển đổi Tuy nhiên, không phải tất cả các khoản đầu tư ngắn hạn đều được coi là tương đương tiền; chỉ những khoản có thời hạn từ 3 tháng trở xuống (tính từ thời điểm đầu tư) mới đủ tiêu chuẩn Đồng thời, cần lưu ý rằng số liệu không nên được lấy từ các tài khoản tổng hợp về đầu tư ngắn hạn để lập báo cáo.

2.3 Về phơng pháp lập báo cáo lu chuyển tiền tệ Đối với các luồng tiền từ hoạt động tài chính và hoạt động đầu t thì có một phơng pháp lập: Phơng pháp trực tiếp Còn luồng tiền từ hoạt động kinh doanh có 2 phơng pháp lập: Ph- ơng pháp trực tiếp và phơng pháp gián tiếp.

Theo phơng pháp trực tiếp có 2 cách lập:

Lập theo cách dựa vào các ghi chép chi tiết kế toán thu, chi tiền mặt và tiền gửi ngân hàng Cách này thực tế rất khó thực hiện.

Để lập báo cáo lu chuyển tiền tệ, cần điều chỉnh doanh thu, biến động các khoản phải thu, giá vốn hàng bán, biến động các khoản phải trả, hàng tồn kho và các khoản không phải trả là tiền nhằm xác định luồng tiền vào và ra Việc này không chỉ dựa vào báo cáo tài chính và sổ kế toán tổng hợp mà còn cần xem xét các sổ chi tiết của các tài khoản liên quan đến nhiều luồng tiền, trong đó các tài khoản đầu tư cần được mở chi tiết theo thời hạn đầu tư.

Phương pháp gián tiếp bắt đầu từ lợi nhuận trước thuế và điều chỉnh các khoản như dự phòng, khấu hao tài sản cố định, cũng như các khoản lãi (lỗ) từ đầu tư, thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, chuyển đổi ngoại tệ và lãi tiền vay phải trả Tiếp theo, cần điều chỉnh các thay đổi trong vốn lưu động, bao gồm tăng hoặc giảm hàng tồn kho và các khoản phải thu, phải trả từ hoạt động kinh doanh, ngoại trừ thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp Cuối cùng, trừ đi các khoản tiền đã chi cho lãi vay, cổ tức và thuế thu nhập doanh nghiệp, sau đó cộng hoặc trừ các khoản thu hoặc chi từ các giao dịch bất thường, vì chúng được tính vào luồng tiền từ hoạt động kinh doanh.

2.4.Các giao dịch nội bộ tiền và các khoản giao dịch không bằng tiền

Các giao dịch nội bộ liên quan đến tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển và tiền tạm ứng không tạo ra luồng tiền trong báo cáo lu chuyển tiền tệ Những nghiệp vụ đầu tư và tài chính như mua tài sản qua nhận nợ, thuê tài chính, mua doanh nghiệp bằng phát hành cổ phiếu hoặc chuyển nợ thành vốn cũng không phát sinh luồng tiền, vì vậy cần được loại bỏ khỏi báo cáo lu chuyển tiền tệ.

2.5.Các luồng tiền liên quan đến ngoại tệ

Các luồng tiền liên quan đến ngoại tệ cần được quy đổi theo tỷ giá tại thời điểm phát sinh giao dịch Lãi hoặc lỗ từ việc quy đổi ngoại tệ không được xem là luồng tiền, nhưng chúng ảnh hưởng đến tiền và tương đương tiền trong báo cáo lu chuyển tiền tệ Do đó, lãi (lỗ) này được trình bày riêng biệt, không thuộc vào luồng tiền nào, nhằm mục đích đối chiếu tiền và tương đương tiền ở đầu kỳ và cuối kỳ.

2.6 Lập BCLCTT trong trờng hợp đầu t vào công ty con, công ty liên kết liên doanh, mua và thanh lý công ty con và các đơn vị khác Đây là một vấn đề rất mới cha phổ biến ở Việt Nam, nhất là việc hợp nhất báo cáo tài chính Theo sự gợi ý của các chuyên gia Châu Âu, ở Việt Nam tạm thời cha đa vấn đề này vào chuẩn mực BCLCTT Quy định trong chuẩn mực kế toán quốc tế trờng hợp đầu t vào công ty liên doanh liên kết hạch toán theo phơng pháp vốn chủ hay phơng pháp chi phí Còn các tr- ờng hợp khác tạm thời cha đa vào chuẩn mực này Do đây là vấn đề mới nên chúng ta không thể cầu toàn đòi hỏi triệt để đồng bộ ngay đợc mà phải qua nhiều lần hoàn thiện mới có thể đáp ứng đợc những yêu cầu đó.

So sánh hệ thống kế toán Việt Nam (VAS) và các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) trong trờng hợp báo cáo

Hệ thống chuẩn mực kế toán toàn diện là yếu tố quan trọng để cải cách hệ thống kế toán tại Việt Nam Các chuẩn mực này cần phải đồng bộ với chuẩn mực kế toán quốc tế và đồng thời đáp ứng các yêu cầu cụ thể của Việt Nam.

Trong một số trường hợp, VAS có thể bao gồm các điều khoản tương tự hoặc ít nhất là liên quan chặt chẽ đến các yêu cầu của IAS Một ví dụ cụ thể là báo cáo lưu chuyển tiền tệ.

Theo IAS số 7, báo cáo lu chuyển tiền tệ là phần thiết yếu trong báo cáo tài chính Dưới VAS, các mẫu báo cáo tài chính được quy định trong quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 và quyết định số 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 của Bộ Tài chính cũng khuyến khích việc lập báo cáo lu chuyển tiền tệ, tuy nhiên, điều này không phải là yêu cầu bắt buộc.

Báo cáo lu chuyển tiền tệ giúp người dùng đánh giá khả năng tạo ra dòng tiền của doanh nghiệp và phân tích cách doanh nghiệp sử dụng các luồng tiền này.

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh khả năng kinh doanh và các kết quả trên phương diện thu nhập và chi phí, tuy nhiên, việc xác định các khoản thu và chi có thể chịu ảnh hưởng của yếu tố chủ quan, bao gồm cả việc dự phòng các khoản dồn tích.

Báo cáo lu chuyển tiền tệ loại trừ các đánh giá chủ quan bằng cách thay thế các khoản thu chi bằng luồng tiền tệ Trong khi thu chi có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều cách hiểu khác nhau, tiền và luồng tiền tệ là những yếu tố khách quan và có thể định lượng được.

Doanh nghiệp tại Việt Nam đang gặp nhiều thách thức trong việc lập báo cáo lu chuyển tiền tệ Việc không thể thực hiện báo cáo này theo quy định của VAS giải thích lý do Bộ Tài chính không coi lập báo cáo lu chuyển tiền tệ là yêu cầu bắt buộc trong VAS.

Nghiên cứu cho thấy rằng có thể lập báo cáo lu chuyển tiền tệ theo chuẩn VAS nếu có sự điều chỉnh nhỏ trong các quyết định.

- Vấn đề quản lý đóng thuế thu nhập doanh nghiệp

Trong phương pháp gián tiếp, thu nhập thuần trước thuế được chuyển đổi thành luồng tiền thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh Mặc dù quy trình cân đối bắt đầu từ thu nhập thuần trước thuế, nhưng việc hạch toán thuế vẫn cần được thể hiện trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ Tuy nhiên, mẫu báo cáo hiện tại không quy định rõ ràng việc hạch toán nộp thuế, do đó cần có sự điều chỉnh nhất định trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ.

Thuế đã trả cần được hạch toán như một yếu tố riêng trong báo cáo lu chuyển tiền tệ, ngay sau mục những thay đổi trong vốn lưu động trong sản xuất kinh doanh, theo quy định của IAS 7.

- Phần lãi (lỗ) do đánh giá lại tài sản và chuyển đổi ngoại tệ

VAS và IAS 7 được đánh giá bằng cách ghi tăng giá trị của chúng trong bảng cân đối kế toán và ghi có khoản dự phòng đánh giá lại trong phần tài sản của bảng cân đối kế toán Việc đánh giá lại này không được hạch toán trong kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó không làm ảnh hưởng đến lợi tức trước thuế Điều này có nghĩa là việc đánh giá lại không thể được sử dụng như một điều chỉnh để cân đối lợi tức trước thuế trong luồng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Những thay đổi nhỏ có thể giúp điều chỉnh quy định của Việt Nam để phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế, từ đó làm cho VAS và IAS trở nên tương thích hơn.

Hiện nay, việc quy định bắt buộc lập báo cáo lu chuyển tiền tệ trong các doanh nghiệp trở thành yêu cầu cấp bách Điều này sẽ nâng cao tính xác đáng và hữu ích của báo cáo tài chính, đáp ứng mong đợi của người sử dụng báo cáo.

Chơng III: Điều kiện vận hành báo cáo lu chuyển tiền tệ

Đánh giá chung về báo cáo lu chuyển tiền tệ

1 Đánh giá cấu trúc của BCLCTT

Cấu trúc BCLCTT theo hệ thống kế toán Việt Nam tương tự như quy định của chuẩn mực quốc tế, với việc phân chia quá trình lu chuyển tiền theo các hoạt động và xác định tổng lu chuyển tiền thuần trong kỳ Tuy nhiên, các phần trong các hoạt động chưa được hiểu rõ ràng, dẫn đến việc một số nghiệp vụ có thể bị nhầm lẫn hoặc không được phân loại đúng vào các dòng tiền tương ứng.

2 Đánh giá về nội dung báo cáo

Nội dung chính của báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT) theo chế độ kế toán Việt Nam, phù hợp với chuẩn mực IAS, là việc phản ánh dòng tiền thu vào và chi ra theo từng hoạt động phát sinh trong doanh nghiệp.

Có 3 hoạt động cơ bản: hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu t, hoạt động tài chính. Đảm bảo tính cân đối về thu, chi tiền của một báo cáo tài chÝnh.

Có một số khái niệm, quan điểm khác với IAS7, nhiều nội dung phản ánh cha phù hợp:

- Quan niệm về tiền trong BCLCTT cha đầy đủ tổng quát.

- Cách dùng từ cha phù hợp với nội dung phản ánh.

Các chỉ tiêu phản ánh trong từng nội dung hiện còn thiếu sót và có sự chồng chéo giữa các hoạt động, các khoản thu chi hộ, cùng với các khoản chênh lệch ngoại tệ.

3 Đánh giá về phơng pháp lập

Để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT) theo phương pháp trực tiếp, cần dựa vào Sổ chi tiết tài khoản 111 "Tiền mặt", tài khoản 112 "Tiền gửi ngân hàng", và tài khoản 113 "Tiền đang chuyển" Đồng thời, kết hợp với các Sổ chi tiết khác như nợ phải thu, nợ phải trả để phản ánh chính xác số tiền thực thu và thực chi theo từng hoạt động.

Theo phương pháp này, tính chính xác của các chỉ tiêu và việc lập báo cáo kịp thời phụ thuộc vào cách tổ chức khoa học và hợp lý kế toán chi tiết các khoản vốn bằng tiền trong doanh nghiệp.

Phương pháp lập chỉ tiêu báo cáo đơn giản giúp hiểu rõ nội dung và định hướng công việc cần thiết trong quá trình báo cáo Sự ứng dụng của phần mềm tin học trong kế toán cho phép tập hợp, phân loại và tổng hợp số liệu nhanh chóng, dễ dàng Tuy nhiên, phương pháp này không làm rõ lý do tại sao tiền thuần từ hoạt động doanh nghiệp lại khác với lãi ròng Trong kế toán thủ công, doanh nghiệp lớn với nhiều nghiệp vụ sẽ gặp khó khăn trong việc xử lý, dẫn đến thiếu chính xác và không kịp thời trong việc cung cấp thông tin.

Lập BCLCTT theo phương pháp gián tiếp dựa vào lợi tức trước thuế của doanh nghiệp trong kỳ, điều chỉnh các khoản không trực tiếp thu chi tiền nhưng ảnh hưởng đến lợi tức Phương pháp này cũng xem xét các khoản lãi lỗ ngoài hoạt động kinh doanh đã được tính vào lợi tức trước thuế, giúp phản ánh chính xác hơn tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Phương pháp này giúp làm rõ mối quan hệ giữa lợi nhuận trong kỳ và lượng tiền thuần trong cùng kỳ, nhưng không cung cấp chi tiết về từng khoản và loại tiền từ hoạt động kinh doanh.

Chế độ kế toán Việt Nam cho phép các doanh nghiệp lựa chọn phương pháp kế toán phù hợp với tính chất hoạt động và năng lực của cán bộ kế toán.

Điều kiện vận hành báo cáo lu chuyển tiền tệ

1 Ban hành chế độ bắt buộc chung cho tất cả các doanh nghiệp

Báo cáo tài chính BCLCTT được quy định là báo cáo bắt buộc cho các doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế và sự cần thiết trong quản lý tài chính Mặc dù chưa áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, nhưng các doanh nghiệp sử dụng vốn vay sẽ phải lập báo cáo này để đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn vốn.

2.Cần có chính sách hớng dẫn, khuyến khích cụ thể

Bộ Tài chính cần cung cấp hướng dẫn chi tiết về nội dung và phương pháp lập từng chỉ tiêu trong chế độ mới, cùng với giải thích rõ ràng về cơ sở tính toán các chỉ tiêu đó Ví dụ, cần làm rõ lý do tại sao lại cộng chỉ tiêu khấu hao TSCĐ theo phương pháp gián tiếp, trong khi các khoản dự phòng lại được trừ đi, hoặc nguyên tắc điều chỉnh lợi tức kinh doanh trước những thay đổi vốn lưu động được quy định như thế nào Điều này sẽ giúp người lập và người sử dụng báo cáo dễ hiểu và áp dụng hiệu quả hơn.

3 Thay đổi thái độ, nhận thức của doanh nghiệp

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT) đóng vai trò quan trọng trong hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp Tuy nhiên, hiện nay, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa chú trọng đến BCLCTT, chủ yếu do chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của báo cáo này trong việc cung cấp thông tin và hỗ trợ quản lý doanh nghiệp hiệu quả.

Cần thiết phải nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ kế toán và ban hành hướng dẫn chi tiết về Báo cáo tài chính (BCLCTT) Điều này sẽ giúp các doanh nghiệp nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của việc lập BCLCTT trong cơ chế thị trường hiện nay tại Việt Nam.

Phơng hớng và giải pháp hoàn thiện báo cáo lu chuyển tiền tệ

Báo cáo lu chuyển tiền tệ là một trong những báo cáo quan trọng và không thể thiếu đối với doanh nghiệp Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chế độ báo cáo lu chuyển tiền tệ tại Việt Nam, chúng ta đã gặp phải nhiều khó khăn.

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ vẫn còn là một khái niệm mới mẻ đối với nhiều đội ngũ kế toán, đòi hỏi thời gian để làm quen và tập dượt Vì vậy, Bộ Tài chính hiện chưa quy định bắt buộc việc lập và nộp báo cáo này, mà chỉ khuyến khích các doanh nghiệp tự lập và sử dụng trong nội bộ Điều này có sự khác biệt so với chuẩn mực kế toán quốc tế, nơi báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một phần không thể thiếu của báo cáo tài chính mà doanh nghiệp phải lập và cung cấp cho các bên liên quan.

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa chú trọng đến báo cáo lu chuyển tiền tệ, chủ yếu vì họ chưa nhận thức được tầm quan trọng của loại báo cáo này Báo cáo lu chuyển tiền tệ cung cấp thông tin quý giá, giúp quản lý ra quyết định hiệu quả hơn Việc sử dụng thông tin từ báo cáo này là cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính của doanh nghiệp.

Bộ Tài chính đã ban hành hướng dẫn về các chỉ tiêu trong báo cáo lu chuyển tiền tệ, tuy nhiên, hướng dẫn này còn đơn giản và thiếu sót, không giải thích rõ lý do cần thiết của từng chỉ tiêu Điều này đã làm cho nội dung và bản chất của báo cáo trở nên khó hiểu, gây khó khăn trong việc áp dụng và trao đổi thông tin Hơn nữa, việc kiểm tra thông tin trên báo cáo cũng gặp nhiều trở ngại, dẫn đến tốn thời gian và công sức cho người sử dụng.

Vị trí vai trò của báo cáo lu chuyển tiền tệ cha tơng xứng với các báo cáo tài chính khác

Doanh nghiệp cha nhận thấy tầm quan trọng của việc lập và sử dụng báo cáo như một nguồn thông tin thiết yếu cho công tác quản lý Báo cáo luân chuyển tiền tệ đã trở thành công cụ hữu ích trong việc cung cấp thông tin cần thiết.

Cha hình thành một chế độ hớng dẫn hoàn chỉnh để có thể đảm bảo thực hiện, dễ sử dụng.

Bản thân nội dung cấu thành báo cáo có nhiều điểm thiếu sót, sai lệch, cha phù hợp với hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam

Chỉ tiêu "Tăng giảm các khoản phải thu" không phù hợp trong trường hợp phát sinh các khoản phải thu liên quan đến thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, bất động sản, hoặc tiền cho thuê tài sản cố định.

Việc tăng hoặc giảm hàng tồn kho sẽ không hợp lý trong trường hợp phát sinh các nghiệp vụ kinh tế như nhận quà biếu, nhận viện trợ, vì đây là hoạt động tài chính không sử dụng tiền mặt Bên cạnh đó, việc nhận lại khoản vốn liên doanh thông qua hàng tồn kho cũng không được coi là hoạt động đầu tư bằng tiền.

2 Quan điểm và phơng hớng hoàn thiện

Báo cáo tài chính có vai trò cung cấp thông tin tài chính cho nhiều đối tượng sử dụng với mục đích khác nhau, từ đó hình thành các quan điểm về cách soạn thảo và trình bày báo cáo Qua việc nghiên cứu kỹ lưỡng nội dung và phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ, tôi đề xuất một số quan điểm và phương hướng nhằm hoàn thiện báo cáo này.

Nhà nước luôn chú trọng đến các hoạt động kinh tế và kế toán thông qua việc ban hành các quy định tài chính - kế toán phù hợp với từng giai đoạn phát triển Việc xây dựng hệ thống báo cáo tài chính cần tuân thủ pháp luật, đồng thời đảm bảo tính trung thực và hợp lý của thông tin.

Việc xây dựng hệ thống báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực và thông lệ kế toán quốc tế là cần thiết cho sự hội nhập của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa Sự thay đổi lớn lao trong xu hướng tự do thương mại yêu cầu kế toán phải đổi mới và hòa nhập, tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế Bằng cách tiếp thu kinh nghiệm từ các nước phát triển, các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính sẽ được cải thiện, giúp loại trừ tính bất hợp lý và nâng cao tính minh bạch của báo cáo.

*Phù hợp với tính đa dạng của các loại hình doanh nghiệp:

Chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần và đa dạng hóa hình thức sở hữu yêu cầu hệ thống kinh tế cần linh hoạt và phù hợp, nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.

3.Những kiến nghị3.1 Tầm vĩ mô

Trong bối cảnh Việt Nam đang mở cửa hội nhập kinh tế toàn cầu, việc cải cách hệ thống báo cáo tài chính để phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế là rất cần thiết Nhà nước cần sớm thiết lập môi trường pháp lý cho hoạt động kế toán và kiểm toán, bao gồm việc ban hành chuẩn mực quốc gia tương thích với tiêu chuẩn quốc tế và đặc điểm quản lý của Việt Nam Đồng thời, cần nâng cao năng lực và vai trò quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán.

Thiết kế và ban hành các quy định nghiệp vụ kế toán mới, bao gồm chứng từ, tài khoản kế toán, sổ kế toán và báo cáo tài chính, nhằm đảm bảo hệ thống báo cáo tài chính vững mạnh, hỗ trợ hiệu quả cho các quyết định kinh tế.

Xây dựng đội ngũ chuyên gia kế toán và kiểm toán có trình độ cao là cần thiết để đáp ứng yêu cầu của cơ chế kinh tế mới Điều này được thực hiện thông qua việc đào tạo, huấn luyện và kiểm tra chất lượng theo chương trình và quy chế chuẩn quốc tế dành cho các chuyên gia kế toán được cấp chứng chỉ hành nghề (CPA).

Ban hành văn bản hướng dẫn lập báo cáo LCTT nhằm giúp doanh nghiệp hiểu rõ cách phân tích và sử dụng thông tin từ báo cáo này Hướng dẫn cụ thể và chi tiết sẽ giúp doanh nghiệp nhận thấy lợi ích rõ ràng khi thực hiện và áp dụng báo cáo LCTT trong quản lý và ra quyết định.

Nhà nớc cần ban hành chính sách bắt buộc lập và gửi báo cáo lu chuyển tiền tệ đối với tất cả các doanh nghiệp.

Ngày đăng: 19/10/2022, 21:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Các chuẩn mực kiểm toán quốc tế Khác
2.Giáo trình kế toán tài chính trong các doanh nghiệp Khác
3. Quyết định số 167/2000/QĐ-BTC về chế độ báo cáo tài chính doanh nghiệp (ngày 25/10/2000) Khác
4. Quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT về chế độ báo cáo tài chính doanh nghiệp (ngày 1/11/1995) Khác
5. Đọc và phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp Khác
6. Kế toán, kiểm toán và phân tích tài chính doanh nghiệp Khác
7. Tạp chí kế toán số 18 (Tháng 6/1999) Khác
8. Tạp chí kế toán số 19 (Tháng 8/1999) Khác
9. Tạp chí kế toán số 20 (Tháng 10/1999) Khác
10. Tạp chí kế toán số 24 (Tháng 6/2000) Khác
11. Tạp chí kế toán số 29 (Tháng 4/2001) Khác
12. Tạp chí kế toán số 30 (Tháng 6/2001) Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w