Điều 52 quy định rõ các chủ đầu tư phải mua bảohiểm công trình xây dựng lắp đặt, các tổ chức tư vấn xây lắp, nhà thầu xây lắpphải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho các sản phẩm tư
Trang 1cư trong cả nước.
Cùng với sự phát triển của ngành xây dựng lắp đặt, bảo hiểm xây dựng lắpđặt ở nước ta đã ra đời và phát triển theo dù ra đời muộn hơn so với thế giớicũng như các nghiệp vụ bảo hiểm khác Với mục tiêu là san sẻ rủi ro và đảmbảo về mặt tài chính cho xã hội, bảo hiểm xây dựng - lắp đặt ngày càng thểhiện rõ vai trò của mình góp phần vào sự ổn định và phát triển của đất nước
Thấy rõ được tầm quan trọng và thiết thực cũng như những nét riêng biệtcủa nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng lắp đặt so với các nghiệp vụ bảo hiểm khác,
nên em đã chọn đề tài: “Tình hình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng
lắp đặt trên thị trường bảo hiểm Việt Nam” Kết cấu của đề án ngoài phần
mở đầu và kết luận, gồm có 3 chương:
Chương I: Tổng quan về nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng lắp đặt
Chương II: Thực trạng khai thác nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng lắp đặt trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng lắp đặt.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của côgiáo – Ths Tô Thiên Hương đã giúp em hoàn thành đề án này Do thời gian và
sự hiểu biết còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, emrất mong được sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn đề bài viết được hoànthiện hơn
Trang 2CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM
Làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội nói chung
Để đối phó với các rủi ro, con người đã có nhiều biện pháp khác nhaunhằm kiểm soát cũng như khắc phục hậu quả do rủi ro gây ra, nhưng bảohiểm vẫn là biện pháp được ưu tiên và được sử dụng nhiều nhất
Cùng với sự ra đời của ngành bảo hiểm nói chung thì bảo hiểm xây dựnglắp đặt cũng xuất hiện Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt là bộ phận của bảo hiểm
kỹ thuật Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm kỹ thuật luôn gắn liền với sựphát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật So với các loại hình bảohiểm khác thì bảo hiểm kỹ thuật ra đời muộn hơn rất nhiều Đơn bảo hiểm kỹthuật đầu tiên trên thế giới được cấp năm 1859, trong khi đó bảo hiểm hànghải xuất hiện năm 1547, bảo hiểm hoả hoạn năm 1667 Bảo hiểm kỹ thuật cómặt hầu hết trong các lĩnh vực của hoạt động kinh tế và xã hội trên toàn thếgiới Từ việc bảo hiểm cho các máy móc sản xuất, các thiết bị dụng cụ tinh vitrong y tế, phòng thí nghiệm cho tới việc bảo hiểm hiểm các công trình xây
Trang 3dựng lớn như các toà nhà chọc trời, sân bay bến cảng, tàu vũ trụ, nhà máyđiện nguyên tử…
Nhu cầu tái thiết nền kinh tế sau chiến tranh thế giới lần thứ hai và sự pháttriển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và kỹ thuật làm cho bảo hiểm kỹ thuậtphát triển hơn bao giờ hết và trở thành một trong những loại hình bảo hiểmquan trọng trong nền kinh tế quốc dân Bảo hiểm kỹ thuật đã có sự phát triểnrất nhanh và tương đối hoàn chỉnh bao gồm các loại hình chính sau:
- Bảo hiểm mọi rủi ro cho chủ thầu
- Bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt
- Bảo hiểm đổ vỡ máy móc
- Bảo hiểm thiết bị điện tử
- Bảo hiểm mất thu nhập cho máy móc ngừng hoạt động
- Bảo hiểm thăm dò và khai thác dầu khíCác loại hình bảo hiểm trong bảo hiểm kỹ thuật có liên quan chặt chẽ vớinhau Mỗi loại hình đảm bảo cho một giai đoạn hay một khâu quá trình sảnxuất
Cho đến nay bảo xây dựng, lắp đặt cũng như bảo hiểm kỹ thuật có sựphát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng Về mặt kỹ thuật nghiệp
vụ bảo hiểm xây dựng lắp đặt tương đối phức tạp so với các loại hình bảohiểm khác Với xu thế phát triển như hiện nay, bảo hiểm xây dựng và lắpđặt còn phát triển và tiến xa hơn nữa trong tương lai
1.1.1.2 Ở Việt Nam
Sau khi đất nước thống nhất năm 1975 và có sự xuất hiện của Công ty Bảohiểm Việt Nam (Bảo Việt) Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt mới bắt đầu có sựphát triển nhất định Ban đầu khi triển khai nghiệp vụ Bộ Tài Chính cho phép
sử dụng đơn bảo hiểm, quy tắc và biểu phí của công ty Munich Re Thịtrường bảo hiểm lúc này chưa phát triển cả về cung lẫn cầu
Sau khi đất nước mở cửa (1986) và hội nhập với nền kinh tế khu vực vàthế giới Bảo hiểm xây dựng lắp đặt ở nước ta có những bước phát triển rất
Trang 4đáng mừng từ hành lang pháp ký cho đến sự hoạt động của cung cầu bảohiểm trên thị trường Ngày 20/10/1994 Chính phủ ban hành Nghị định 177/CPquy định về quản lý đầu tư Điều 52 quy định rõ các chủ đầu tư phải mua bảohiểm công trình xây dựng lắp đặt, các tổ chức tư vấn xây lắp, nhà thầu xây lắpphải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho các sản phẩm tư vấn, thiết bịvật tư nhà xưởng phục vụ thi công, tai nạn lao động đối với người lao động,trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba trong quá trùnh thực hiện dự án.
Nghị định 42/CP thay thế NĐ 77/CP, thông tư số 663/TC/ĐT – TCNH ngày24/6/1996 về việc ban hành quy tắc và biểu phí, phụ phí và khấu trừ bảo hiểmmọi rủi ro xây dựng và lắp đặt Đơn bảo hiểm xây dựng và lắp đặt đầu tiên ởViệt Nam được cấp là đơn bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt cho trạm thi phát vệtinh mặt đất Láng Trung Đây là công trình liên doanh giữa tổng công ty Bưuchính viễn thông Việt Nam và hãng Teltra của Úc Và gần đây nhất ngày12/04/2004 Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 33/2004/QĐ-BTC về việc ban hành quy tắc, biểu phí bảo hiểm xây dựng lắp đặt
Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều công ty bảo hiểm hoạt động dưới nhiềuhình thức khác nhau như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty nhà nước,công ty cổ phần, công ty liên doanh cùng với các công ty nước ngoài đanghoạt động tại Việt Nam làm cho thị trường bảo hiểm trong nước trở nên rấtsôi động và cạnh tranh khốc liệt
1.1.2 Sự cần thiết của Bảo hiểm XD LĐ 1.1.2.1 Đối với xã hội
Ngày nay, nhu cầu xây dựng lắp đặt là một nhu cầu không thể thiếu đốivới sự phát triển của các nền kinh tế trên thế giới từ những quốc gia khó khănlạc hậu nhất đến những cường quốc lớn mạnh nhất thế giới Và cùng với sựphát triển vượt bậc của khoa học - kỹ thuật, giá trị và qui mô của các côngtrình không ngừng tăng lên đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của sự phát triển
Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro rất lớn bởi một số
lý do sau:
Trang 5Thứ nhất, cuộc cách mạng công nghiệp khiến các nền kinh tế phát triểnngày càng cao nhưng cũng kéo theo việc ô nhiễm môi trường nghiêm trọng,ảnh hưởng tiêu cực đến khí hậu trái đất Gần đây, chúng ta đã được chứngkiến rất nhiều thảm hoạ thiên nhiên mà con người với khoa học kỹ thuật hiệnđại cũng không thể kiểm soát được gây hậu quả rất nghiêm trọng Ngành xâydựng với đặc trưng là thực hiện ngoài trời và trong thời gian dài là một trongnhững ngành chịu ảnh hưởng nhiều nhất của những rủi ro đó.
Thứ hai, các công trình xây dựng ngày nay sử dụng nhiều công nghệhiện đại, tự động hoá nên tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro hơn, các vụ nổ vật lý,hoá học sẽ rất dễ xảy ra nếu không có sự xem xét, kiểm tra, thử nghiệm kỹlưỡng trước khi đưa vào sử dụng
Thứ ba, nguy cơ về con người Nguy cơ phá hoại hay lỗi điều hành haybất kỳ một sự bất cẩn nào cũng có thể là nguyên nhân gây ra rủi ro thiệt hạicho các công trình xây dựng
Mỗi rủi ro xảy ra đối với các công trìng xây dựng thường gây ra thiệt hạirất lớn về tiền của, tính mạng và sức khoẻ của rất nhiều còn người và thường
có sức ảnh hưởng đến cả nền kinh tế - xã hội
Trong các biện pháp đề phòng và khắc phục tổn thất đối với ngành xâydựng - lắp đặt thì bảo hiểm có thể xem là biện pháp hiệu quả nhất Thông quabảo hiểm xây dựng – lắp đặt, công tác đề phòng hạn chế tổn thất của các côngtrình có hiệu quả hơn nhờ sự tham gia của các nhà bảo hiểm Đặc biệt, mọi rủi
ro tổn thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm đều được công ty bảo hiểm bồithường kịp thời góp phần khắc phục tổn thất và nhanh chóng ổn định sản xuấtkinh doanh và từ đó góp phần đảm bảo ổn định kinh tế - xã hội
1.1.2.2 Đối với người được bảo hiểm
Mỗi công trình xây lắp là một qui hoạch tổng thể có liên quan đến rấtnhiều khía cạnh của các vấn đề pháp luật, kỹ thuật… nên đòi hỏi sự hợp tácchặt chẽ của nhiều bên Tất cả các bên liên quan đến công việc xây lắp và có
Trang 6quyền lợi trong công trình, được nêu tên hay chỉ định trong bản phụ lục bảohiểm đều có thể là người được bảo hiểm
Tác dụng chung và quan trọng nhất của bảo hiểm là đảm bảo về tài chínhcho người đuợc bảo hiểm Bảo hiểm xây dựng - lắp đặt có tác dụng đối vớingười được bảo hiểm cụ thể như sau:
- Từ việc hình thành quỹ, công ty bảo hiểm sẽ nhanh chóng bồi thườngcho người được bảo hiểm khi rủi ro tổn thất xảy ra trong phạm vi bảo hiểm,góp phần ổn định sản xuất kinh doanh cho người được bảo hiểm một cáchnhanh chóng nhất
- Nhà bảo hiểm sẽ phối hợp cùng người được bảo hiểm trong công tác đềphòng hạn chế tổn thất nhằm hạn chế tối đa nguy cơ xảy ra rủi ro tổn thất
- Nhờ tham gia bảo hiểm, chủ đầu tư có thể tự chủ về tài chính, hạch toán
dự trù một cách chính xác hơn, đảm bảo kế hoạch sản xuất kinh doanh màkhông cần lãng phí một khoản tiền đầu tư lớn dự trữ cho việc đối phó với rủi
ro tổn thất nếu không tham gia bảo hiểm
Ở nước ta hiện nay, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn ramạnh mẽ, các công trình xây dựng và lắp đặt phục vụ đất nước ngày càngnhiều và quy mô lớn Điều đó cũng làm tăng rủi ro trong các quá trình xâydựng và lắp đặt làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của nền kinh tế Vìvậy, bảo hiểm xây dựng lắp đặt ngày càng trở nên cần thiết và thiết thực vớicác chủ đầu tư, các nhà thầu và đất nước
1.2 Nội dung cơ bản của nghiệp vụ Bảo hiểm XD LĐ
Theo quyết định số 33/2004/QĐ-BTC thì bên mua bảo hiểm và người đượcbảo hiểm được hiểu như sau:
- Bên mua bảo hiểm là chủ đầu tư (hoặc ban quản lý dự án) Trường hợpphí bảo hiểm đã được tính vào giá trúng thầu thì nhà thầu thực hiện việcmua bảo hiểm Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảohiểm
Trang 7- Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sựđược bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm
1.2.1 Nội dung cơ bản của bảo hiểm xây dựng 1.2.1.1 Người được bảo hiểm
Mỗi công trình xây dựng là một qui hoạch tổng thể liên quan đến rấtnhiều khía cạnh của các vấn đề pháp luật, hợp đồng và kỹ thuật cho nên việchợp tác chặt chẽ giữa các bên là vấn đề cần thiết không thể thiếu được Chính
vì vậy việc xác định rõ người được bảo hiểm trong một công trình xây dựng
là rất cần thiết Trong bảo hiểm xây dựng, tất cả các bên liên quan tới côngviệc xây dựng và có quyền lợi trong công trình xây dựng và được nên tên haychỉ định trong bản phụ lục bảo hiểm đều có thể là người được bảo hiểm:
- Chủ đầu tư hoặc chủ công trình (bên A trong hợp đồng xây dựng)
- Nhà thầu chính (bên B trong hợp đồng xây dựng)
- Các nhà thầu phụ
- Các kiến trúc sư, kỹ sư tư vấn, cố vấn chuyên môn Tuy nhiên, các hợpđồng bảo hiểm xây dựng không bảo hiểm cho trách nhiệm nghề nghiệpcủa các kiến trúc sư, cố vấn chuyên môn, các kỹ sư tư vấn mặc dù họ cóliên quan đến công trình xây dựng
Do đó có rất nhiều bên được bảo hiểm nên sẽ nảy sinh vấn đề đơn bảohiểm sẽ ghi tên ai hay ai sẽ là người được ghi tên đầu tiên Thông thườngngười đứng ra kí kết hợp đồng bảo hiểm và đóng phí sẽ là người đại diện chocác bên trong hợp đồng bảo hiểm Vì vậy trên hợp đồng sẽ ghi tên người đứng
ra đại diện kèm theo danh sách những người có quyền lợi liên quan đến côngtrình
1.2.1.2 Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng của bảo hiểm xây dựng bao gồm tất cả các công trình xâydựng dân dụng, công trình công nghiệp… hay nói cách khác là các công trình
có sử dụng xi măng và bê tông cốt thép Cụ thể là các nhóm công trình sau:
Trang 8- Nhà ở, trường học, bệnh viện, trụ sở làm việc, rạp hát, rạp chiếu phim,các công trình văn hóa khác…
- Nhà máy, xí nghiệp, các công trình phục vụ sản xuất
- Đường sá ( bao gồm cả đường bộ và đường sắt ), đường băng sân bay
- Cầu cống, đê đập, công trình thoát nước, kênh đào, cảng…
Mỗi công trình bao gồm nhiều hạng mục riêng biệt được xác định và dựtính thông qua sơ đồ tổng thể, bản vẽ thiết kế cùng các máy móc trang thiết bịcần thiết phục vụ cho công tác xây dựng cũng như các công việc có liên quantrong quá trình xây dựng Để thuận tiện cho việc tính phí bảo hiểm cũng nhưgiải quyết khiếu nại trong trường hợp tổn thất xảy ra, một công trình xây dựngđược chia làm nhiều hạng mục khác nhau, bao gồm:
Cấu trúc chủ yếu của công trình xây dựng: Hạng mục này chiếm phần lớp
giá trị công trình Nó bao gồm tất cả các công việc thực hiện bởi chủ thầuchính (bên B) và tất cả các nhà thầu phụ của chủ thầu chính theo qui định củahợp đồng xây dựng ký kết giữa bên A và bên B: từ công tác chuẩn bị, dọn dẹpmặt bằng, xây dựng các công trình tạm thời phục vụ cho công tác thi công chođến việc đóng cọc, làm móng, và xây dựng cấu trúc chính của công trình
Trang thiết bị xây dựng: Gồm các thiết bị cố định phục vụ thi công như các
công trình phụ trợ (lán trại, trụ sở tạm thời, kho bãi, nhà xưởng), giàn giáo, hệthống băng tải, thiết bị cung cấp điện, nước, rào chắn, v.v… Khi yêu cầu bảohiểm cho các trang thiết bị này, cần phải có danh sách kèm theo đơn bảohiểm
Máy móc xây dựng: Bao gồm các máy móc có động cơ tự hành hoặc không
tự hành phục vụ công tác thi công (ví dụ như máy xúc, máy ủi, cần cẩu, xechuyên dùng…) thuộc quyền sở hữu của người được bảo hiểm hoặc do họ đithuê Các loại máy móc này chỉ được bảo hiểm trong thời gian sử dụng trênkhu vực công trường Khi yêu cầu bảo hiểm cho các máy móc này cần códanh sách kèm theo đơn bảo hiểm
Trang 9Các tài sản có sẵn trên và xung quanh khu vực công trường thuộc quyền sở
hữu, quản lý, trông nom hay coi sóc của người được bảo hiểm Trường hợp
này thường có ở các công trình mở rộng hoặc cải tạo lại, các tài sản trên cóthể bị thiệt hại trong quá trình xây dựng mới Giá trị của các tài sản này khôngnằm trong giá trị của công trình mới nên chúng thường không thuộc phạm vibảo hiểm của đơn bảo hiểm xây dựng Nhưng nếu người được bảo hiểm cónhu cầu thì người bảo hiểm có thể xem xét và mở rộng phạm vi bảo hiểm theođiều khoản bổ sung
Chi phí dọn dẹp hiện trường: Bao gồm các chi phí phát sinh do việc thu
dọn và di chuyển mảnh vụn, đất đá do các rủi ro được bảo hiểm xảy ra trênphạm vi công trường
Trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối với bên thứ ba: Bao gồm
các trách nhiệm pháp lý do thiệt hại về tài sản, thương tật thân thể của bên thứ
ba phát sinh trong quá trình thi công công trình trong hoặc xung quanh khuvực công trường Tuy nhiên cần lưu ý rằng thiệt hại của người làm công,người thân hoặc đại diện không thuộc phạm vi của phần này (không phảingười thứ ba)
Cụ thể, trách nhiệm của công ty bảo hiểm đối với người được bảo hiểm phátsinh khi tổn thất xảy ra cho các đối tượng được bảo hiểm phát sinh khi tổnthất xảy ra do các rủi ro chính sau:
Trang 10+ Cháy, sét đánh, nước chữa cháy hay phương tiện chữa cháy;
+ Lũ lụt, mưa, tuyết rơi, tuyết lở, sóng thần;
+ Các loại bão;
+ Động đất, sụt lở đất đá;
+ Trộm cắp;
+ Thiếu kinh nghiệm, bất cẩn, hành động ác ý hay lỗi của con người;
Ngoài ra, còn tuỳ vào từng công trình, mỗi đơn cấp còn có các điều khoản bổsung thêm đối với các rủi ro phụ để phù hợp với nội dung công việc
Các rủi ro loại trừ Những rủi ro loại trừ chung cho cả phần bảo hiểm vật chất và tráchnhiệm:
- Chiến tranh hay những hoạt động tương tự, đình công, nổi loạn, ngừngtrên công việc, yêu cầu của bất cứ cơ quan có thẩm quyển nào
- Hành động cố ý hay sự cẩu thả cố ý của người được bảo hiểm hoặc đạidiện của họ
- Phản ứng hạt nhân, phóng xa hay ô nhiễm phóng xạCác rủi ro loại trừ áp dụng đối với phần bảo hiểm thiệt hại vật chất baogồm:
- Bất kỳ loại tổn thất nào có tính chất hậu quả
- Hỏng hóc cơ khí/điện hay sự trục trặc của máy móc, trang thiết bị xâydựng
- Lỗi thiết kế
- Chi phí thay thế, sữa chữa hay khắc phục các khuyết tật của nguyên vậtliệu và/hoặc do tay nghề (các tổn thất hư hại do hậu quả thì được bảohiểm)
Các loại trừ đối với phần bảo hiểm trách nhiệm:
- Khiếu nại tổn thất liên quan đến tai nạn được bảo hiểm hay có thể đượcbảo hiểm trong phạm vi của phần bảo hiểm vật chất của đơn bảo hiểmxây dựng
Trang 11- Khiếu nại phát sinh do dịch chuyển, rung động hay suy yếu của cộtchống.
1.2.1.4 Thời hạn bảo hiểm
Thời hạn bảo hiểm được ghi rõ trong đơn bảo hiểm Thời hạn bảo hiểmthường là thời gian thi công công trình được tính từ khi bắt đầu khởi côngcông trình đến khi hoàn thiện hay chuyển giao hoặc đưa vào hoạt động Trênthực tế, thời gian thi công không nhất thiết phải trùng với thời hạn ghi tronghợp đồng Nếu công trình hoàn thành trước thời hạn thì hiệu lực của hợp đồngcũng chấm dứt ngay sau khi công trình được bàn giao đưa vào sử dụng Trongtrường hợp thời gian thi công kéo dài vượt quá thời hạn qui định thì ngườiđược bảo hiểm phải có yêu cầu gia hạn thêm đối với hợp đồng bảo hiểm vàphải thanh toán thêm phí bảo hiểm cho thời gian vượt quá này
Thông thường thời hạn bảo hiểm bao gồm thời gian:
- Lưu kho (vật liệu) trước khi xây dựng (tối đa là ba tháng)
- Giai đoạn xây dựng
- Kiểm nghiệm, chạy thử (nếu có máy móc)
- Bảo hành
1.2.1.5 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm Việc xác định chính xác giá trị bảo hiểm rất phức tạp Các giá trị phải xácđịnh trong bảo hiểm xây dựng bao gồm:
- Giá trị bảo hiểm của phần công tác xây dựng: thường là giá trị ước tính
và có thể là một trong số các giá trị sau:
+ Tổng giá trị khôi phục lại công trình trong trường hợp có tổn thất toàn
bộ và phải tiến hành xây dựng lại+ Giá trị dự toán công trình theo hợp đồng xây dựng + Giá trị nhỏ hơn hoặc bằng tổn thất lớn nhất có thể xảy ra Tuy nhiên việc xác định giá trị của phần công tác xây dựng theo giá trị dựtoán công trình theo hợp đồng xây dựng thường là hợp lý nhất Khi công trình
Trang 12hoàn thành, giá trị này được điều chỉnh lại theo giá trị thực tế và phí bảo hiểmcũng được điều chỉnh lại cho phù hợp.
Giá trị dự toán công trình theo hợp đồng xây dựng thường bao gồm chi phílập công trình, giá trị các nguyên vật liệu do nhà thầu cung cấp, chi phí nhâncông của chủ thầu, những chi phí trả cho khối lượng công việc thầu phụ haydịch vụ, chi phí liên quan đến việc sử dụng máy móc thi công xây dựng, nhàxưởng thiết bị và các công trình tạm thời, kỹ thuật và giám sát, chi phí hànhchính, lợi nhuận
- Giá trị bảo hiểm của máy móc và trang thiết bị xây dựng: Được xác
định theo giá trị thay thế tương đương của các máy móc trang thiết bị đó muatại thời điểm thi công công trình và có thể bao gồm cả các chi phí vận chuyểnlắp ráp
- Giá trị bảo hiểm cho phần chi phí dọn dẹp: Thường được ước tính
theo phần trăm giá trị của hợp đồng xây dựng
- Giá trị bảo hiểm cho các công trình hoặc tài sản có sẵn trong hoặc
xung quanh khu vực thi công thuộc quyển sở hữu, trông nom hoặc coi sóc của người được bảo hiểm: Được xác định theo giá trị thực tế của
các tài sản đó tại thời điểm yêu cầu bảo hiểm
- Mức trách nhiệm bảo hiểm cho trách nhiệm dân sự của người được bảo
hiểm đối với bên thứ ba do việc thi công công trình: Thường được
xác định trên cơ sở giá trị tổn thất tối đa có thể Đây là giới hạn thoả thuậncho mỗi tai nạn nhưng không giới hạn trong suốt thời hạn bảo hiểm
Thông thường, công ty bảo hiểm thường thuyết phục người được bảo hiểmtham gia bảo hiểm ngang giá trị Trong trường hợp người được bảo hiểmtham gia bảo hiểm dưới giá trị sẽ áp dụng phương pháp bảo hiểm theo tỉ lệvới các thiệt hại xảy ra
Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm được xác định theo giá trị bảo hiểm, bao gồm:
Trang 13- Cấu trúc chủ yếu của công trình: là giá trị đầy đủ của công trình theohợp đồng tại thời điểm hoàn thành việc xây dựng, bao gồm:
+ Chi phí cho công tác chuẩn bị mặt bằng như đào đắp, san nền, đườngsá… (không tính chi phí giải phóng mặt bằng)
+ Chi phí các hạng mục công trình xây dựng: móng, nền, tường, trần,mái, tường ngăn…
+ Giá trị các công trình tạm phục vụ thi công như kênh dẫn nước, đêbảo vệ, hệ thống chiếu sáng…
+ Chi phí chạy thử máy móc, thiết bị mới 100% (nếu được bảo hiểm)Trong trường hợp chi phí phát sinh làm tăng giá trị bảo hiểm, ngườiđươợ bảo hiểm phải khai báo kịp thời và nộp thêm phí bảo hiểm, ngườiđược bảo hiểm phải khai báo kịp thời và nộp thêm phí bảo hiểm Nếukhông người bảo hiểm sẽ áp dụng quy tắc tỷ lệ như đối với trường hợpbảo hiểm dưới giá trị
- Giá trị trang thiết bị máy móc phục vụ xây dựng
- Tài sản sẵn có hoặc xung quanh công trường
Phí bảo hiểm tiêu chuẩn gồm phí cơ bản và phụ phí tiêu chuẩn
Trang 14+ Phí cơ bản tối thiểu: là mức phí tối thiểu tính cho từng loại công trìnhxây dựng theo thời gian xây dựng tiêu chuẩn, được tính bằng tỷ lệ phần nghìntrên giá trị bảo hiểm của công trình.
+ Phụ phí cho rủi ro động đất: được tính căn cứ vào độ nhạy cảm củacông trình và khu vực xây dựng công trình
+ Phụ phí cho rủi ro bão và lũ lụt: tỷ lệ phí (% giá trị công trình theonăm) được tính căn cứ vào tính chất từng loại công trình Trong trường hợp
cụ thể mức phí còn lại được điều chỉnh theo thời gian thi công (mùa mưa haymùa khô) và mực nước biển, sông hồ kề cận
Phụ phí mở rộng, gồm có:
+ Phụ phí bảo hiểm cho chi phí dọn dẹp sau tổn thất+ Phụ phí cho tài sản trên và xung quanh khu vực công trình được xácđịnh bằng tỷ lệ phí tiêu chuẩn của công trình nhân giá trị bảo hiểm cho tàisản
+ Phụ phí cho trang thiết bị máy móc phục vụ cho công trình được tínhbằng tỷ lệ phí tiêu chuẩn nhân với giá trị bảo hiểm của máy móc
1.2.2 Nội dung cơ bản của bảo hiểm lắp đặt
Đơn bảo hiểm lắp đặt cung cấp sự bảo vệ về mặt tài chính cho các chủthầu và những người được bảo hiểm khác trong quá trình thực hiện các hợpđồng hay công trình trên công trường đối với các tổn thất hay thiệt hại củanhững tài sản được bảo hiểm gây ra bởi những sự cố bất ngờ và không lườngtrước được
1.2.2.1 Người được bảo hiểm
Trong bảo hiểm lắp đặt, tất cả các bên liên quan và có quyền lợi trongcông trình lắp đặt và được nêu tên hay chỉ định trong bản phụ phục bảo hiểmđều có thể là người được bảo hiểm:
- Chủ đầu tư
- Nhà thầu chính
- Nhà thầu phụ
Trang 15- Nhà cung cấp (nếu liên quan đến lắp đặt)
- Các kiến trúc sư, nhà thiết kế hoạt động liên quan đến công trường
- Các kỹ sư tư vấn hoạt động liên quan đến công trườngNgoài ra, các tổ chức cho vay (ví dụ như các ngân hàng) cũng là những ngườiđược bảo vệ một cách gián tiếp bởi hợp đồng này
1.2.2.2 Đối tượng bảo hiểm
Bảo hiểm lắp đặt là bảo hiểm cho những tổn thất, thiệt hại do một sự cốbất ngờ gây ra hoặc phát sinh từ trách nhiệm của người chủ công trình trongquá trình lắp đặt máy móc, thiết bị cho một công trình
Đối tượng bảo hiểm lắp đặt được hiểu là các máy móc được lắp đặt,trang thiết bị phục vụ cho công tác lắp đặt và một số công việc, hạng mục liênquan tới công việc lắp đặt Đối tượng bảo hiểm được phân loại như sau:
- Các máy móc, dây chuyền đồng bộ trong một xí nghiệp hay trong khitiến hành lắp đặt các máy móc thiết bị đó
- Các máy móc, trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho lắp đặt
- Các phần việc xây dựng phục vụ cho công tác lắp đặt
- Trách nhiệm dân sự đối với bên thứ ba
- Các hiểm hoạ tổn thất gây ra bởi hoạt động của con người trên côngtrường như: thiếu kinh nghiệm hay kỹ năng lỗi của con người, bất cẩn, trộmcắp, hành động ác ý, phá hoại, vận chuyển, khuân vác nguyên vật liệu, lỗithiết kế, tập trung cao độ hay cường độ công việc cao do thời gian xây dựng
Trang 16lắp đặt quá ngắn, phối hợp công việc thiếu hợp lý, trông nom, bảo vệ côngtrường không tốt, thiếu những biện pháp ngăn ngừa tổn thất, lỗi vận hành, lỗingười vận hành máy.
- Các rủi ro kỹ thuật, vận hành bao gồm áp suất ép quá lớn (nổ vật lý),chân không (nổ bên trong), nhiệt độ quá lớn (đoản mạch), lực li tâm, lỗinguyên, vật liệu, mất kiểm soát phản ứng hoá học (nổ hoá học), lỗi của hệthống hay thiết bị điều hành hay điều khiển
Các rủi ro loại trên Trong đơn bảo hiểm lắp đặt các rủi ro loại trừ được chia làm ba loạichính:
- Loại trừ chung: áp dụng cho cả phần bảo hiểm thiệt hại vật chất và phầnbảo hiểm trách nhiệm Các rủi ro bị loại trừ chính bị loại trong phần này là:
+ Chiến tranh;
+ Những rủi ro hạt nhân;
+ Các hành vi có tính vi phạm của người được bảo hiểm;
+ Gián đoạn công việc
- Các loại trừ đặt biệt áp dụng cho phần thiệt hại vật chất:
+ Các khoản miễn thường;
+ Mọi tổn thất hậu quả;
+ Lỗi thiết kế, khuyết tật nguyên vật liệu;
+ Hao mòn và xé rách,v v…
+ Các tổn thất về hồ sơ, bản vẽ, tài liệu, v.v…
+ Các tổn thất phát hiện vào thời điểm kiểm kê (mất cắp, mất tích)
- Các loại trừ áp dụng đối với phần thiệt hại về trách nhiệm:
+ Các khoản miễn thường;
+ Những chi tiêu hay chi phí sửa chữa có liên quan đến sửa chữa nhữngthiệt hại được bảo hiểm trong phần bảo hiểm vật chất;
+ Trách nhiệm đối với thương tật của con người/công nhân tham giavào quá trình thi công công việc;