Khảo sát tình hình dịch bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Thoại Sơn - An Giang
Trang 1TRƯ Ờ NG Đ Ạ I H Ọ C TÂY ĐÔ KHOA SINH H Ọ C Ứ NG D Ụ NG
LU
LU Ậ N VĂN T Ố T NGHI Ệ P
Cán b ộ hư ớ ng d ẫ n
Ths NGUY Ễ N MINH H Ậ U
Ks NGUY Ễ N THÀNH TÂM
Sinh viên thực hiện
ĐOÀN KIM NGÂN
2010
Trang 2điểm thuận lợi với nguồn tài nguyên phong phú rất thích hợp cho NTTS phát triển
Đặc biệt là nghề nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) ở tỉnh An Giang, Đồng
Tháp, Cần Thơ Trong đó An Giang là một trong những tỉnh đứng đầu về sản lượng, chiếm 90% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, tăng từ 25% đến 27%/năm và chiếm 70% sản lượng cá tra nuôi của khu vực ĐBSCL Tổng diện tích cá tra năm 2009 ở An Giang khoảng 1.200 ha, sản lượng đạt gần 260.000 tấn (Minh Tuấn, 2009) Do cá có nhiều ưu điểm như dễ nuôi, tăng trọng nhanh, kích thước lớn, sử dụng tốt thức ăn tự chế, dễ dàng thích nghi với điều kiện môi trường khắc nghiệt nên cá tra được nuôi rất phổ biến Trong thời gian qua, ngành NTTS ở huyện Thoại Sơn cũng không ngừng phát triển về diện tích và sản lượng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của huyện Thoại Sơn nói riêng và tỉnh An Giang nói chung
Tuy nhiên, phát triển nuôi cá tra với qui mô công nghiệp sẽ làm tăng lượng chất thải hữu cơ, gây ô nhiễm cho vùng nước xung quanh Việc mở rộng diện tích, nâng cao sản lượng nhanh chóng dẫn đến tình hình dịch bệnh phát triển ngày càng nhiều Việc
sử dụng thuốc, hóa chất trong phòng trị bệnh không hiệu quả góp phần gia tăng mầm bệnh và gia tăng chi phí sản xuất Tình hình dịch bệnh được xem là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất nuôi và làm cho người nuôi cá bị giảm lợi nhuận Gần đây nghề nuôi cá tự phát không được kiểm soát, thêm vào đó một số người nuôi lại chủ động nuôi ở mật độ cao, nhưng trình độ kỹ thuật nuôi còn hạn chế, chất thải ra môi trường không được xử lý ngày càng nhiều, tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển Trước tình hình đó để quản lý dịch bệnh trong ao nuôi và phòng trị các loại bệnh
nguy hiểm thường gặp một cách hiệu quả, thì việc thực hiện đề tài “Khảo sát tình
hình dịch bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Thoại Sơn -
An Giang” là rất cần thiết nhằm góp phần giúp người dân ở huyện Thoại Sơn nuôi cá
tra có hiệu quả hơn
1.2 Mục tiêu đề tài
Nhằm khảo sát một số bệnh thường gặp trên cá tra nuôi thương phẩm trong ao đất tại Thoại Sơn - An Giang từ đó cung cấp cho người nuôi những thông tin cần thiết về quản lý sức khỏe cá trong ao nuôi một cách hiệu quả
Trang 31.3 Nội dung nghiên cứu
Điều tra tình hình bệnh và sử dụng thuốc trị bệnh trên cá tra tại Thoại Sơn - An Giang
Tổng hợp dữ liệu, đánh giá tình hình bệnh và sử dụng thuốc trị bệnh trên cá tra tại Thoại Sơn - An Giang
Trang 4CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Một số đặc điểm sinh học của cá tra
Theo Rainboth (1996) cá tra thuộc:
Loài: Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878
Hình 2.1: Hình dạng ngoài của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)
Cá tra sống ở mương, ao, hồ vùng nước ngọt và cả ở nước lợ với nồng độ muối thấp (10-14 ppt) Cá ít chịu đựng được nhiệt độ thấp dưới 15 oC nhưng chịu nóng tới 39 oC
Cá có thể chịu đựng được nước phèn với pH >4 (pH dưới 4 thì cá bỏ ăn bị sốc) (Phạm Văn Khánh, 2004 trích bởi Nguyễn Chí Dũng, 2009) Cá tra có số lượng hồng huyết cầu trong máu nhiều hơn các loài cá khác, cá có cơ quan hô hấp phụ, có thể thở bằng bong bong khí Cá có thể sống trong ao nước tù động và trong môi trường khắc nghiệt, nước bị nhiễm bẩn (Nguyễn Chung, 2008 trích dẫn bởi Nguyễn Chí Dũng, 2009) Cá tra có tập tính háu ăn và dễ thay đổi loại thức ăn, cá có thể ăn mùn bã hữu
cơ, xác động vật chết, phân gia súc, rau băm nhỏ, bèo tấm, cám, thức ăn tự chế Thức
ăn có hàm lượng đạm tối ưu nhất cho cá tra ở giai đoạn 2-3g là 38% (Trần Thị Thanh
Hiền, 2009)
2.2 Thực trạng nuôi trồng thủy sản của ĐBSCL
ĐBSCL là một trong những vùng địa lí kinh tế của Việt Nam, toàn vùng có 13 tỉnh và
Trang 5Đây là vùng có vị trí thuận lợi và quan trọng để phát triển nông nghiệp và thủy sản,
vùng hạ lưu châu thổ sông Mekong được xem là vùng trù phú nhất không chỉ của Việt Nam mà còn cả Đông Nam Á Đồng thời cũng là vùng có sản lượng NTTS lớn nhất cả nước (Dương Nhựt Long, 2003)
ĐBSCL có khoảng 400.000 ha mặt nước nuôi thủy sản với tổng sản lượng hằng năm
lên đến hơn 1,5 triệu tấn, chiếm hơn 70% sản lượng thủy sản nuôi của cả nước riêng
cá tra, basa diện tích nuôi toàn vùng gần 5.000 ha, tổng sản lượng năm 2007 khoảng 1 triệu tấn (Hùng Anh, 2007) Theo qui hoạch phát triển chung cho vùng ĐBSCL vừa
được Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn phê duyệt thì tốc độ tăng trưởng diện
tích của vùng trong các năm tới trung bình khoảng 4,2%/năm Cụ thể đến năm 2010 diện tích nuôi cá tra của vùng đạt 8.600 ha tập trung chủ yếu ở Đồng Tháp là 2.300
ha, An Giang với 2.100 ha Dự kiến đến năm 2015, diện tích nuôi cá tra của vùng đạt 11.000 ha và đến năm 2020 là 13.000 ha Theo báo cáo của Bộ, đến nay diện tích thả nuôi cá tra đạt 5.154 ha, tăng gần 600 ha so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn so với
dự kiến do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế thế giới, hoạt động xuất khẩu sụt giảm (Trí Quang, 2010)
2.3 Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản ở An Giang
An Giang là tỉnh nằm ở khu vực hạ lưu của lưu vực sông Mekong, đây là vùng đất giàu tiềm năng được thiên nhiên ưu đãi, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản Tỉnh An Giang có hai nhánh sông Tiền và sông Hậu chảy qua với chiều dài 170
km cùng với hai nhánh sông Châu Đốc (28 km), Vàm Nao (7 km) và hệ thống kênh gạch chằng chịt với tổng chiều dài 5.170 km (Trần Anh Dũng, 2005) Hệ thống sông
và kênh rạch nhiều đã tạo cho tỉnh An Giang lợi thế lớn trong phát triển ngành NTTS NTTS ở An Giang đang tập trung vào các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao Trong
đó cá tra đang được ưa chuộng hơn với qui mô sản xuất hàng hóa lớn hơn, đáp ứng
nhu cầu gia tăng nhanh chóng cho chế biến, tiêu thụ nội địa và xuất khẩu Nếu trước
1995 người dân thích thả cá basa vì cá ít bệnh, thịt ngon, giá cao, thì hiện nay ngược lại người dân thích nuôi cá tra tuy giá thấp hơn nhưng dễ nuôi, mau lớn, thích nghi tốt với môi trường khắc nghiệt, con giống dễ tìm, đạt hiệu quả kinh tế cao hơn (Nguyễn Chính, 2005) Tổng diện tích cá tra năm 2009 ở An Giang khoảng 1.200 ha, sản lượng
đạt gần 260.000 tấn, xấp xỉ năm 2008 Thế nhưng, do giá thức ăn chăn nuôi tăng liên
tục tăng (từ đầu năm đến nay tăng từ 500-600 đồng/kg), nâng giá thành sản xuất bình quân khoảng 15.000-15.300 đồng/kg) trong khi giá bán bình quân là 14.400-14.800
đồng/kg Điều này làm cho người nuôi cá tra tiếp tục thua lỗ nên một số hộ đã bỏ
trống ao (Minh Tuấn, 2009)
Nhìn chung ngành thủy sản của tỉnh An Giang trong những năm qua có một số điều kiện thuận lợi cơ bản để phát triển như: điều kiện tự nhiên thích hợp, có tiềm năng
Trang 6lớn, về diện tích mặt nước và nguồn lợi thủy sản đa dạng cho NTTS, nguồn phụ phế phẩm từ chế biến nông nghiệp và được sự đầu tư của tỉnh như nghiên cứu, sản xuất, khuyến ngư, chính sách ưu đãi nhằm tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy ngành thủy sản phát triển Bên cạnh đó, cũng có một số khó khăn như: giá cả giảm, dịch bệnh thường xuyên xảy ra và vấn đề dư lượng thuốc kháng sinh trong các sản phẩm thủy sản, thị trường tiêu thụ không ổn định làm tình hình phát triển NTTS luôn biến động và hạn chế trong việc đầu tư
2.4 Tình hình nuôi thủy sản ở huyện Thoại Sơn
Hình 2.2 Bản đồ huyện Thoại Sơn, An Giang (Nguồn Sở Nông Ngiệp và PTNT An Giang) Trong những năm qua nhằm đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp tăng thu nhập, huyện Thoại Sơn đã thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp từ năm 2000 Sau những kết quả đáng khích lệ từ mô hình nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa với năng suất bình quân 700 kg/ha và lãi bình quân thu được là 45 triệu
đồng/ha Năm 2002, huyện Thoại Sơn tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa huyện nhà bằng
cách phát động và thúc đẩy phong trào chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, từ trồng lúa 3 vụ chuyển sang 1 vụ lúa 1 vụ tôm (cá), hay nuôi tôm trong ruộng, có nơi chuyển hẳn sang nuôi cá tra và tôm càng xanh (bán thâm canh) Nhờ kết hợp chính sách chuyển dịch cơ cấu cây trồng với chính sách qui hoạch vùng nuôi, lập các dự án
đầu tư xây dựng 17 công trình thủy lợi (đê bao, kênh mương, cầu cống) một cách
thích hợp nên đã đưa diện tích NTTS của huyện tăng nhanh Sự tăng nhanh về diện tích và sản lượng thủy sản ở huyện là nhờ điều kiện thiên nhiên thuận lợi cho việc phát triển thủy sản, nguồn nhân lực dồi dào với kinh nghiệm NTTS lâu năm, thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng Tuy nhiên, ngoài những thuận lợi nói trên, còn
Trang 7có những khó khăn tồn tại như sản xuất chưa gắn chặt với thị trường, còn mang tính tự phát, con giống chưa đạt chất lượng, và chất lượng cá, tôm thương phẩm cũng chưa
đạt chất lượng và kích cỡ theo yêu cầu thị trường xuất khẩu, giá cả bấp bênh, bệnh tật
trên cá tra ngày càng nhiều (Anh Thi, 2010)
2.5 Tình hình dịch bệnh trên cá tra nuôi thương phẩm
Cá tra là loài cá nước ngọt được nuôi phổ biến ở các tỉnh ĐBSCL, tuy nhiên trong những năm gần đây người nuôi cá tra bị thiệt hại khá lớn do dịch bệnh thường xuyên
xảy ra (Từ Thanh Dung và csv, 2004) do một số trở ngại chính trong NTTS: kỹ thuật
(17%), kinh tế xã hội (26%), dinh dưỡng (7%), bệnh tật (36%) và trở ngại khác (14%) Từ đó cho thấy vấn đề dịch bệnh là một trở ngại lớn nhất trong NTTS
Bệnh trên cá tra nuôi xảy ra khi môi trường xấu, mầm bệnh phát triển và cơ thể vật chủ bị suy yếu Các tác nhân gây bệnh chủ yếu trên động vật thủy sản là vi khuẩn (tần suất xuất hiện 50,9%), siêu vi trùng (24,6%), ký sinh trùng (21,1%), nấm (3,4%) (Từ
Thanh Dung và csv, 2004) Theo Lý Thị Thanh Loan, 2007 (trích dẫn bởi Nguyễn Chí
Dũng, 2009) Từ đó cho thấy các bệnh thường xảy ra và gây thiệt hại cho người nuôi
là bệnh mủ gan với tần số xuất hiện cao (52,8%), bệnh xuất huyết (42,5%), bệnh phù
đầu, phù mắt (20,7%), bệnh vàng da và thân (21,6%) Riêng bệnh gan thận có mủ ở
An Giang chiếm tỉ lệ cao nhất đạt 66,7%, kế đến là Cần Thơ 54,89%, Vĩnh Long 53,8%, Đồng Tháp 36% Bệnh thường xảy ra từ tháng 5 đến tháng 9 vào mùa nước xoay ở ĐBSCL, đỉnh điểm rơi vào tháng 9-10 (Đoàn Nhật Phương, 2008)
2.6 Diễn biến về tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh An Giang
Theo nghi nhận của Chi cục Thủy Sản An Giang (trích dẫn bởi Trần Anh Dũng, 2005) các bệnh thường gặp tại hầu hết các vùng nuôi cá tra trọng điểm của tỉnh An Giang gồm:
Bệnh do vi khuẩn gây ra gồm các bệnh đốm trắng, bệnh nhiễm trùng huyết, bệnh lỡ loét, bệnh đốm đỏ, bệnh mù mắt hay nổ mắt, bệnh nhiễm vi khuẩn và bệnh vàng da Bệnh do ký sinh trùng gây ra gồm các bệnh trùng bánh xe, bệnh trùng quả dưa, bệnh sán lá gan, bệnh sán lá đơn chủ, bệnh giun tròn, bệnh trùng mỏ neo, bệnh rận cá và bệnh bào tử trùng
Tuy nhiên, trong thời gian qua chưa có nghiên cứu nào đánh giá hết tình hình dịch bệnh trong nuôi cá tra thâm canh ở tỉnh An Giang và việc theo dõi cập nhật tình hình dịch bệnh xảy ra tại các vùng nuôi trọng điểm cũng chưa được quan tâm đúng mức Ngay cả cơ quan quản lý chuyên ngành về thú y thủy sản của tỉnh cũng không thống
kê được hết tình hình dịch bệnh và thất thoát do dịch bệnh gây ra cho nghề nuôi cá tra tỉnh An Giang (Trần Anh Dũng, 2005)
Trang 8Thuốc phòng và trị bệnh cá hiện tại có nhiều loại trên thị trên trường phục vụ cho nhu cầu nuôi, với chất lượng và giá cả khác nhau Quản lý thuốc thú y thủy sản được thực hiện chặt chẽ (Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn An Giang kết hợp với Chi cục Quản Lý Thị Trường An Giang thường xuyên thanh tra, kiểm tra) nhằm ngăn chặn sử dụng thuốc thú y thủy sản trong danh mục cấm sử dụng (Sở Nông Nghiệp và PTNT An Giang, 2005 trích dẫn bởi Trần Anh Dũng, 2005)
2.7 Đặc điểm một số bệnh thường gặp trên cá tra nuôi
Bệnh là vấn đề được được người nuôi rất quan tâm trong quá trình ương cá giống cũng như cá thịt (trích dẫn bởi Nguyễn Quốc Thịnh, 2006), bệnh trên cá tra có một số
đặc điểm như sau:
2.7.1 Bệnh do vi khuẩn
Bệnh mủ gan
Bệnh mủ gan còn có một số tên gọi khác là bệnh trắng gan; gan, thận mủ; đốm trắng
trên gan.Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Edwardsiella ictaluri Môi trường phát triển
đặc trưng của vi khuẩn E ictaluri là E ictaluri agar
Dấu hiệu bệnh lý: bên ngoài không rõ ràng: cá gầy, mắt hơi lồi, giảm ăn Khi cá bệnh
nặng chúng bỏ ăn, bơi lờ đờ trên mặt nước và tỉ lệ chết cao Bên trong xoang nội quan xuất hiện nhiều đốm trắng đục kích cỡ 1-3 mm trên gan, thận và tuỳ tạng Đặc biệt, ở giai đoạn đầu của bệnh, những đốm trắng này chỉ xuất hiện ở thận và kế tiếp là tỳ tạng
Điều trị: Kháng sinh là phương pháp được sử dụng thường xuyên và hiệu quả nhất
trong việc điều trị bệnh mủ gan Trong đó chủ yếu là: Flofenicol, Doxycillin, Enrofloxacin, Ciprofloxacin, Cefalexin, Ampicilin Ngoài ra có thể kết hợp nhiều loại kháng sinh để điều trị: Flofenicol + Doxycilin, Amoxcillin + ciprofloxacin, sulbactam + ampicilin
Hình 2.3: Bệnh mủ gan trên cá tra
Trang 9Bệnh phù đầu xuất huyết
Tác nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Aeromonas hydrophila gây ra Ngoài ra, một số
trường hợp còn phân lập được vi khuẩn A sobria, A caviae, hoặc Pseudomonas sp
Vi khuẩn A hydrophila thường lây lan qua đường miệng, có thể qua da hoặc mang
khi cá bị xây xát
Điều trị: Một số kháng sinh được sử dụng hiện nay: Doxyciclin, Enrofloxacin,
Sulfamethoxazol-trimethoprim, flofenicol Ngoài ra trong thực tế sử dụng có sự kết hợp giữa các nhóm kháng sinh như: Sulfamethoxazol-trimethoprim, Enrofloxacin-Amoxcillincillin, Enrofloxacin-Colistin để điều trị bệnh nói trên
Hình 2.4: Bệnh phù đầu xuất huyết
Bệnh vàng da
Chưa biết được tác nhân gây bệnh cụ thể, một số kết quả phân tích cho thấy trên mẫu bệnh phẩm có hiện tượng giun tròn ký sinh làm tắt nghẽn cuống mật Một số ao trước khi bệnh sử dụng một khối lượng lớn kháng sinh và thời gian sử dụng kéo dài Một số
ao sử dụng thức ăn tự chế với nguồn cá tạp không đảm bảo chất lượng cũng xảy ra
Phòng bệnh: Sử dụng nguồn thức ăn đảm bảo chất lượng, chế độ dinh dưỡng hợp lý
cho cá, quản lý tốt môi trường ao nuôi, định kỳ kiểm tra và xử lý nội ký sinh cho cá
Điều trị: Cần phải phân tích mẫu để có thể đánh giá nguyên nhân gây bệnh, từ đó đưa
ra phương pháp điều trị hợp lý
Hình 2.5: Bệnh vàng da
Trang 102.7.2 Bệnh do ký sinh trùng
Theo Bùi Quang Tề (2001) có 23 loài ký sinh trùng ký sinh trên cá tra nuôi ở các giai
đoạn từ nhỏ đến lớn, tuy nhiên ở giai đoạn cá nuôi thịt chỉ gặp 10 loài ký sinh trùng và
giai đọan cá nhỏ gặp 16 loài Một số loài ký sinh trùng gây bệnh nguy hiểm cho cá tra
nuôi ở ĐBSCL là trùng bánh xe (Trichodina Trichodinella, Triparbiella), Trùng quả dưa (Ichthyophthyrius), trùng loa kèn (Apiosoma), sán lá đơn chủ (Silurodiscoides), giun tròn (Spectatus) Trong số đó thì có thể nói trùng quả dưa là loài ký sinh gây
bệnh nghiêm trọng nhất so với các loại ký sinh trùng khác
Bệnh trùng quả dưa (đốm trắng)
Tác nhân gây bệnh: Do Ichthyiophthyrius multifiliis, trùng có dạng quả dưa, toàn
thân có nhiều lông tơ, giữa thân có một nhân lớn hình móng ngựa Trùng mềm mại có thể bị biến dạng khi vận động Dấu hiệu bệnh lý: da, mang, vây của cá bị nhiễm bệnh
có nhiều trùng bám thành các hạt lấm tấm rất nhỏ, màu hơi trắng đục, có thể nhìn rõ bằng mắt thường Da mang có nhiều nhớt, màu sắc nhợt nhạt Cá bệnh nổi từng đàn trên mặt nước, bơi lờ đờ yếu ớt, hay tập trung gần bờ nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh Trùng bám nhiều ở mang, phá hoại biểu mô làm cá ngạt thở
Hình 2.6 Bệnh trùng quả dưa
Bệnh trùng bánh xe (Trùng Mặt Trời)
Tác nhân gây bệnh: do nhiều giống loài thuộc giống Trichodina, Tripartiella,
Trichodinellla ký sinh chủ yếu ở da và mang cá Sau khi rời khỏi cơ thể cá, trùng có
thể sống tự do trong nước được 1-1,5 ngày Triệu trứng khi mới mắc bệnh: trên thân
cá có nhiều nhớt màu trắng hơi đục, da cá chuyển màu xám Khi bệnh nặng trùng ký
Trang 11Hình 2.7 Bệnh trùng bánh xe (trùng mặt trời)
2.8 Thuốc và hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản
Theo qui chế khảo nghiệm giống, thức ăn, thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học dùng trong NTTS (Ban hành kèm theo quiết định số 18/2002/QĐ – BTS ngày 3/6/2002 của
Bộ trưởng Bộ Thủy Sản) Trong chương I, điều 3, các từ ngữ thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học được hiểu như sau:
Thuốc: là chế phẩm có nguồn gốc từ động vật, thực vật, khoáng chất, hóa chất,
vacxin, và các chế phẩm sinh học khác dùng để phòng và trị bệnh, điều chỉnh sinh trưởng, phát triển và sinh sản, xử lý và cải tạo môi trường nuôi
Hóa chất: là sản phẩm hóa học được dùng để xử lý, cải tạo môi trường, phòng và trị
bệnh cho NTTS
Chế phẩm sinh học: là sản phẩm có nguồn gốc từ sinh vật, kể cả vi sinh vật, các thực
liệu từ nấm, vi trùng, virut và các nguyên sinh; độc tố, nộc độc từ nguồn động vật hoặc thực vật gây hại cho động vật để chuẩn đoán, phòng bệnh, chữa bệnh cho thủy sản nuôi trồng và xử lý môi trường nước nuôi thủy sản
Theo Nguyễn Phú Son và csv (2003) (trích dẫn bởi Đặng Thụy Mai Thy, 2007) thì chi
phí hóa chất và thuốc thú y thủy sản chỉ dao động quanh mức 5% (2-10%) tổng chi phí cho nuôi cá thịt trong ao, bè/vụ
Trang 12CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
Giấy, viết, sổ ghi chép và mẫu phiếu phỏng vấn các hộ nuôi cá tra
Máy tính phục vụ cho việc nhập, xử lý số liệu và viết báo cáo
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện: Từ tháng 02/2010 đến tháng 07/2010
Địa điểm thực hiện:
Điều tra, thu số liệu tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Phân tích, xử lý số liệu và viết báo cáo tại Thành phố Cần Thơ
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Thông tin thứ cấp: liên kết với các cơ quan ban ngành tại địa bàn nghiên cứu để lấy
thông tin, kết hợp tham khảo các tài liệu như: sách, tạp chí, website và các nghiên cứu trước để tìm thông tin liên quan tới đề tài
Thông tin sơ cấp: phỏng vấn trực tiếp các hộ nuôi cá tra để thu thập những thông tin
về bệnh trên cá tra Thuốc, hóa chất và cách phòng trị bệnh Tổng số hộ phỏng vấn là
3.3 Các biến chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu
Thông tin chung về hộ nuôi cá (tên, tuổi, trình độ kỹ thuật)
Thông tin về qui trình kỹ thuật nuôi
Thông tin về các loại bệnh
Thông tin về thuốc và hóa chất phòng trị bệnh
Trang 13
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thông tin chung
4.1.1 Trình độ văn hóa của người nuôi
Trình độ học vấn còn thấp là một trong những hạn chế để áp dụng khoa học kỹ thuật nhằm giảm giá thành và tăng lợi nhuận Qua khảo sát 30 hộ nuôi cá tra ở Thoại Sơn -
An Giang cho kết quả về trình độ văn hóa của người nuôi như sau:
sử dụng thuốc và hóa chất ở Đồng Tháp chỉ có 1,8% trình độ trên cấp 3, cấp 3 chiếm 15,8%, cấp 2 chiếm 61,4% còn lại là trình độ cấp 1 Qua khảo sát cho thấy thời gian nuôi trung bình của người dân từ 4-5 năm (thấp nhất là 1 năm và cao nhất là 10 năm)
Có một số hộ nuôi lâu năm, cũng có một số hộ hiện nay mới đầu tư vào việc nuôi cá nên kinh nghiệm của họ còn thấp, trình độ học vấn chưa cao, nuôi cá còn theo cảm
Trang 14tính, học hỏi kỹ thuật qua hình thức truyền miệng Đó là một trong những hạn chế để
áp dụng khoa học kỹ thuật nhằm khống chế dịch bệnh, sử dụng thuốc thú y thủy sản
đúng mục đích
4.1.2 Qui mô nông trại
Phần đông số nông hộ được khảo sát có qui mô nuôi vừa và nhỏ, với diện tích trung bình hơn 1,5 ha, nhỏ nhất là 0,2 ha và lớn nhất 5 ha Tỉ lệ diện tích được thể hiện qua Bảng sau:
Bảng 4.2: Qui mô nông trại
hộ nuôi với qui mô nhỏ 33,3%
10%
57%
33%
L ớn Vừa Nhỏ
Hình 4.2: Tỉ lệ phần trăm qui mô của nông trại nuôi cá tra
So với kết quả điều tra của Trần Văn Nhì (2005), đánh giá việc sử dụng nguồn nguyên
liệu địa phương làm thức ăn nuôi cá tra (Pangasius hypophthalmus) ở An Giang, qui
mô nông trại của các hộ nuôi hiện nay lớn hơn trước đây rất nhiều Khi đó qui mô có
còn lại là những ao nuôi với qui mô nhỏ (3,1%) Điều đó cho thấy nuôi cá tra công nghiệp ngày càng phát triển, diện tích nuôi ngày càng được mở rộng nguồn nước dễ bị
ô nhiễm thì tình hình quản lý dịch bệnh cũng được quan tâm nhiều hơn
Trang 154.2 Đặc điểm về kỹ thuật
4.2.1 Diện tích, độ sâu, mật độ và kích cỡ cá nuôi
Kết quả điều tra 30 hộ nuôi cá tra ở huyện Thoại Sơn - An Giang thông tin về diện tích, độ sâu mực nước và mật độ nuôi như sau:
Bảng 4.3.: Diện tích, độ sâu, mật độ thả và kích cỡ cá giống
định của người nuôi tại địa bàn khảo sát ao càng rộng và thoáng, thì càng tạo không
gian cho cá dễ hoạt động, mặc khác ao lớn còn làm giảm được chi phí đào ao Nhưng
ao quá lớn cũng gây nhiều khó khăn trong quản lí như cải tạo ao, cho ăn, chăm sóc, thu hoạch và nhất là vấn đề dịch bệnh Nó có thể gây giảm hiệu quả điều trị, hoặc gây chết cá hàng loạt do tính sai liều lượng thuốc cần xử lý, nên các ao nuôi có diện tích
Hình 4.3: Ao nuôi cá tra ở Thoại Sơn Bên cạnh đó thì độ sâu mực nước trong ao cũng ảnh hưởng không kém đến quá trình phát triển cũng như chăm sóc cá Mực nước trung bình trong ao nuôi tại địa bàn nghiên cứu là (3,84±0,52m) (Bảng 4.3) Theo người nuôi, độ sâu thích hợp là từ 3-3,5m, với độ sâu đó thì một số yếu tố như nhiệt độ, pH của ao ít biến động Nhờ đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng của cá Độ sâu quá cao thì ảnh hưởng đến
Trang 16phòng trị bệnh và chất lượng nước của cá nuôi, do lớp nước dưới đáy ao ít được trao
đổi, nhiệt độ và lượng oxy hòa tan thấp, chất lắng đọng nhiều
Kích cỡ cá giống cũng được người nuôi quan tâm, nhìn chung các hộ nuôi thả giống
có kích cỡ trung bình (1,84±0,44 cm) giới hạn từ 1-3 cm Đa số các hộ thả cá từ 1,5-2
cm chiếm 90%, một số hộ còn lại thả cá từ 2-3 cm chiếm 10% Theo người nuôi kích
cỡ cá giống thả nuôi càng nhỏ nguy cơ hao hụt càng cao do cá chưa đủ sức đề kháng
để chống chọi với môi trường nên rất dễ nhiễm bệnh
Qua Bảng 4.3 cho thấy mật độ cá thả của các hộ nuôi trung bình là (56,6±20,59 con/m2), theo Nguyễn Thanh Phương và csv (2004) (trích dẫn bởi Trần Anh Dũng,
độ thả trung bình ở các ao nuôi cá tra tại Thoại Sơn tương đối cao do người nuôi tận
dụng tối đa diện tích mặt nước Nuôi mật độ cao sẽ gây bất lợi cho cá, cạnh tranh nhiều về không gian sống dẫn đến cá phân đàn cao, cá yếu và nhỏ luôn bị cá khỏe chen lấn, cạnh tranh thức ăn nên phải dạt vào bờ và nhóm cá này ngày càng yếu và dễ bệnh hơn do chất lượng nước gần bờ xấu, nhiều rong tảo và thiếu thức ăn Hơn nữa nuôi ở mật độ cao còn làm tăng lượng mùn bã hữu cơ do thức ăn dư thừa và chất thải của cá, từ đó làm cho nguồn nước nuôi giàu dinh dưỡng gây khó khăn trong quản lý chất lượng nước và khống chế dịch bệnh trên cá nuôi
4.2.2 Cải tạo ao
Chuẩn bị và cải tạo ao trước khi thả nuôi là khâu quan trọng đối với việc nuôi thủy sản trong ao đất Vì các yếu tố gây hại cho đối tượng nuôi có thể tồn tại dưới đáy ao Qua
điều tra nhận thấy các ao nuôi đều là ao cũ đã qua quá trình sử dụng nên hầu như đều
phơi ao lấy nước vào Có 8 loại thuốc hóa chất được sử dụng để cải tạo ao, thông tin về các loại thuốc hóa chất này thể hiện ở Bảng 4.4
Bảng 4.4: Thuốc và hóa chất cải tạo ao