1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát tình hình dịch bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Thoại Sơn - An Giang

32 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Tình Hình Dịch Bệnh Trên Cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus) Nuôi Ở Thoại Sơn - An Giang
Tác giả Đoàn Kim Ngân
Người hướng dẫn Ths. Nguyễn Minh Hậu, Ks. Nguyễn Thành Tâm
Trường học Trường Đại Học Tây Đô
Chuyên ngành Sinh Học Thủy Sản
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 880,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát tình hình dịch bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Thoại Sơn - An Giang

Trang 1

TRƯ Ờ NG Đ Ạ I H Ọ C TÂY ĐÔ KHOA SINH H Ọ C Ứ NG D Ụ NG

LU

LU Ậ N VĂN T Ố T NGHI Ệ P

Cán b ộ hư ớ ng d ẫ n

Ths NGUY Ễ N MINH H Ậ U

Ks NGUY Ễ N THÀNH TÂM

Sinh viên thực hiện

ĐOÀN KIM NGÂN

2010

Trang 2

điểm thuận lợi với nguồn tài nguyên phong phú rất thích hợp cho NTTS phát triển

Đặc biệt là nghề nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) ở tỉnh An Giang, Đồng

Tháp, Cần Thơ Trong đó An Giang là một trong những tỉnh đứng đầu về sản lượng, chiếm 90% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, tăng từ 25% đến 27%/năm và chiếm 70% sản lượng cá tra nuôi của khu vực ĐBSCL Tổng diện tích cá tra năm 2009 ở An Giang khoảng 1.200 ha, sản lượng đạt gần 260.000 tấn (Minh Tuấn, 2009) Do cá có nhiều ưu điểm như dễ nuôi, tăng trọng nhanh, kích thước lớn, sử dụng tốt thức ăn tự chế, dễ dàng thích nghi với điều kiện môi trường khắc nghiệt nên cá tra được nuôi rất phổ biến Trong thời gian qua, ngành NTTS ở huyện Thoại Sơn cũng không ngừng phát triển về diện tích và sản lượng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của huyện Thoại Sơn nói riêng và tỉnh An Giang nói chung

Tuy nhiên, phát triển nuôi cá tra với qui mô công nghiệp sẽ làm tăng lượng chất thải hữu cơ, gây ô nhiễm cho vùng nước xung quanh Việc mở rộng diện tích, nâng cao sản lượng nhanh chóng dẫn đến tình hình dịch bệnh phát triển ngày càng nhiều Việc

sử dụng thuốc, hóa chất trong phòng trị bệnh không hiệu quả góp phần gia tăng mầm bệnh và gia tăng chi phí sản xuất Tình hình dịch bệnh được xem là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất nuôi và làm cho người nuôi cá bị giảm lợi nhuận Gần đây nghề nuôi cá tự phát không được kiểm soát, thêm vào đó một số người nuôi lại chủ động nuôi ở mật độ cao, nhưng trình độ kỹ thuật nuôi còn hạn chế, chất thải ra môi trường không được xử lý ngày càng nhiều, tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển Trước tình hình đó để quản lý dịch bệnh trong ao nuôi và phòng trị các loại bệnh

nguy hiểm thường gặp một cách hiệu quả, thì việc thực hiện đề tài “Khảo sát tình

hình dịch bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Thoại Sơn -

An Giang” là rất cần thiết nhằm góp phần giúp người dân ở huyện Thoại Sơn nuôi cá

tra có hiệu quả hơn

1.2 Mục tiêu đề tài

Nhằm khảo sát một số bệnh thường gặp trên cá tra nuôi thương phẩm trong ao đất tại Thoại Sơn - An Giang từ đó cung cấp cho người nuôi những thông tin cần thiết về quản lý sức khỏe cá trong ao nuôi một cách hiệu quả

Trang 3

1.3 Nội dung nghiên cứu

Điều tra tình hình bệnh và sử dụng thuốc trị bệnh trên cá tra tại Thoại Sơn - An Giang

Tổng hợp dữ liệu, đánh giá tình hình bệnh và sử dụng thuốc trị bệnh trên cá tra tại Thoại Sơn - An Giang

Trang 4

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Một số đặc điểm sinh học của cá tra

Theo Rainboth (1996) cá tra thuộc:

Loài: Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878

Hình 2.1: Hình dạng ngoài của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)

Cá tra sống ở mương, ao, hồ vùng nước ngọt và cả ở nước lợ với nồng độ muối thấp (10-14 ppt) Cá ít chịu đựng được nhiệt độ thấp dưới 15 oC nhưng chịu nóng tới 39 oC

Cá có thể chịu đựng được nước phèn với pH >4 (pH dưới 4 thì cá bỏ ăn bị sốc) (Phạm Văn Khánh, 2004 trích bởi Nguyễn Chí Dũng, 2009) Cá tra có số lượng hồng huyết cầu trong máu nhiều hơn các loài cá khác, cá có cơ quan hô hấp phụ, có thể thở bằng bong bong khí Cá có thể sống trong ao nước tù động và trong môi trường khắc nghiệt, nước bị nhiễm bẩn (Nguyễn Chung, 2008 trích dẫn bởi Nguyễn Chí Dũng, 2009) Cá tra có tập tính háu ăn và dễ thay đổi loại thức ăn, cá có thể ăn mùn bã hữu

cơ, xác động vật chết, phân gia súc, rau băm nhỏ, bèo tấm, cám, thức ăn tự chế Thức

ăn có hàm lượng đạm tối ưu nhất cho cá tra ở giai đoạn 2-3g là 38% (Trần Thị Thanh

Hiền, 2009)

2.2 Thực trạng nuôi trồng thủy sản của ĐBSCL

ĐBSCL là một trong những vùng địa lí kinh tế của Việt Nam, toàn vùng có 13 tỉnh và

Trang 5

Đây là vùng có vị trí thuận lợi và quan trọng để phát triển nông nghiệp và thủy sản,

vùng hạ lưu châu thổ sông Mekong được xem là vùng trù phú nhất không chỉ của Việt Nam mà còn cả Đông Nam Á Đồng thời cũng là vùng có sản lượng NTTS lớn nhất cả nước (Dương Nhựt Long, 2003)

ĐBSCL có khoảng 400.000 ha mặt nước nuôi thủy sản với tổng sản lượng hằng năm

lên đến hơn 1,5 triệu tấn, chiếm hơn 70% sản lượng thủy sản nuôi của cả nước riêng

cá tra, basa diện tích nuôi toàn vùng gần 5.000 ha, tổng sản lượng năm 2007 khoảng 1 triệu tấn (Hùng Anh, 2007) Theo qui hoạch phát triển chung cho vùng ĐBSCL vừa

được Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn phê duyệt thì tốc độ tăng trưởng diện

tích của vùng trong các năm tới trung bình khoảng 4,2%/năm Cụ thể đến năm 2010 diện tích nuôi cá tra của vùng đạt 8.600 ha tập trung chủ yếu ở Đồng Tháp là 2.300

ha, An Giang với 2.100 ha Dự kiến đến năm 2015, diện tích nuôi cá tra của vùng đạt 11.000 ha và đến năm 2020 là 13.000 ha Theo báo cáo của Bộ, đến nay diện tích thả nuôi cá tra đạt 5.154 ha, tăng gần 600 ha so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn so với

dự kiến do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế thế giới, hoạt động xuất khẩu sụt giảm (Trí Quang, 2010)

2.3 Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản ở An Giang

An Giang là tỉnh nằm ở khu vực hạ lưu của lưu vực sông Mekong, đây là vùng đất giàu tiềm năng được thiên nhiên ưu đãi, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản Tỉnh An Giang có hai nhánh sông Tiền và sông Hậu chảy qua với chiều dài 170

km cùng với hai nhánh sông Châu Đốc (28 km), Vàm Nao (7 km) và hệ thống kênh gạch chằng chịt với tổng chiều dài 5.170 km (Trần Anh Dũng, 2005) Hệ thống sông

và kênh rạch nhiều đã tạo cho tỉnh An Giang lợi thế lớn trong phát triển ngành NTTS NTTS ở An Giang đang tập trung vào các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao Trong

đó cá tra đang được ưa chuộng hơn với qui mô sản xuất hàng hóa lớn hơn, đáp ứng

nhu cầu gia tăng nhanh chóng cho chế biến, tiêu thụ nội địa và xuất khẩu Nếu trước

1995 người dân thích thả cá basa vì cá ít bệnh, thịt ngon, giá cao, thì hiện nay ngược lại người dân thích nuôi cá tra tuy giá thấp hơn nhưng dễ nuôi, mau lớn, thích nghi tốt với môi trường khắc nghiệt, con giống dễ tìm, đạt hiệu quả kinh tế cao hơn (Nguyễn Chính, 2005) Tổng diện tích cá tra năm 2009 ở An Giang khoảng 1.200 ha, sản lượng

đạt gần 260.000 tấn, xấp xỉ năm 2008 Thế nhưng, do giá thức ăn chăn nuôi tăng liên

tục tăng (từ đầu năm đến nay tăng từ 500-600 đồng/kg), nâng giá thành sản xuất bình quân khoảng 15.000-15.300 đồng/kg) trong khi giá bán bình quân là 14.400-14.800

đồng/kg Điều này làm cho người nuôi cá tra tiếp tục thua lỗ nên một số hộ đã bỏ

trống ao (Minh Tuấn, 2009)

Nhìn chung ngành thủy sản của tỉnh An Giang trong những năm qua có một số điều kiện thuận lợi cơ bản để phát triển như: điều kiện tự nhiên thích hợp, có tiềm năng

Trang 6

lớn, về diện tích mặt nước và nguồn lợi thủy sản đa dạng cho NTTS, nguồn phụ phế phẩm từ chế biến nông nghiệp và được sự đầu tư của tỉnh như nghiên cứu, sản xuất, khuyến ngư, chính sách ưu đãi nhằm tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy ngành thủy sản phát triển Bên cạnh đó, cũng có một số khó khăn như: giá cả giảm, dịch bệnh thường xuyên xảy ra và vấn đề dư lượng thuốc kháng sinh trong các sản phẩm thủy sản, thị trường tiêu thụ không ổn định làm tình hình phát triển NTTS luôn biến động và hạn chế trong việc đầu tư

2.4 Tình hình nuôi thủy sản ở huyện Thoại Sơn

Hình 2.2 Bản đồ huyện Thoại Sơn, An Giang (Nguồn Sở Nông Ngiệp và PTNT An Giang) Trong những năm qua nhằm đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp tăng thu nhập, huyện Thoại Sơn đã thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp từ năm 2000 Sau những kết quả đáng khích lệ từ mô hình nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa với năng suất bình quân 700 kg/ha và lãi bình quân thu được là 45 triệu

đồng/ha Năm 2002, huyện Thoại Sơn tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa huyện nhà bằng

cách phát động và thúc đẩy phong trào chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, từ trồng lúa 3 vụ chuyển sang 1 vụ lúa 1 vụ tôm (cá), hay nuôi tôm trong ruộng, có nơi chuyển hẳn sang nuôi cá tra và tôm càng xanh (bán thâm canh) Nhờ kết hợp chính sách chuyển dịch cơ cấu cây trồng với chính sách qui hoạch vùng nuôi, lập các dự án

đầu tư xây dựng 17 công trình thủy lợi (đê bao, kênh mương, cầu cống) một cách

thích hợp nên đã đưa diện tích NTTS của huyện tăng nhanh Sự tăng nhanh về diện tích và sản lượng thủy sản ở huyện là nhờ điều kiện thiên nhiên thuận lợi cho việc phát triển thủy sản, nguồn nhân lực dồi dào với kinh nghiệm NTTS lâu năm, thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng Tuy nhiên, ngoài những thuận lợi nói trên, còn

Trang 7

có những khó khăn tồn tại như sản xuất chưa gắn chặt với thị trường, còn mang tính tự phát, con giống chưa đạt chất lượng, và chất lượng cá, tôm thương phẩm cũng chưa

đạt chất lượng và kích cỡ theo yêu cầu thị trường xuất khẩu, giá cả bấp bênh, bệnh tật

trên cá tra ngày càng nhiều (Anh Thi, 2010)

2.5 Tình hình dịch bệnh trên cá tra nuôi thương phẩm

Cá tra là loài cá nước ngọt được nuôi phổ biến ở các tỉnh ĐBSCL, tuy nhiên trong những năm gần đây người nuôi cá tra bị thiệt hại khá lớn do dịch bệnh thường xuyên

xảy ra (Từ Thanh Dung và csv, 2004) do một số trở ngại chính trong NTTS: kỹ thuật

(17%), kinh tế xã hội (26%), dinh dưỡng (7%), bệnh tật (36%) và trở ngại khác (14%) Từ đó cho thấy vấn đề dịch bệnh là một trở ngại lớn nhất trong NTTS

Bệnh trên cá tra nuôi xảy ra khi môi trường xấu, mầm bệnh phát triển và cơ thể vật chủ bị suy yếu Các tác nhân gây bệnh chủ yếu trên động vật thủy sản là vi khuẩn (tần suất xuất hiện 50,9%), siêu vi trùng (24,6%), ký sinh trùng (21,1%), nấm (3,4%) (Từ

Thanh Dung và csv, 2004) Theo Lý Thị Thanh Loan, 2007 (trích dẫn bởi Nguyễn Chí

Dũng, 2009) Từ đó cho thấy các bệnh thường xảy ra và gây thiệt hại cho người nuôi

là bệnh mủ gan với tần số xuất hiện cao (52,8%), bệnh xuất huyết (42,5%), bệnh phù

đầu, phù mắt (20,7%), bệnh vàng da và thân (21,6%) Riêng bệnh gan thận có mủ ở

An Giang chiếm tỉ lệ cao nhất đạt 66,7%, kế đến là Cần Thơ 54,89%, Vĩnh Long 53,8%, Đồng Tháp 36% Bệnh thường xảy ra từ tháng 5 đến tháng 9 vào mùa nước xoay ở ĐBSCL, đỉnh điểm rơi vào tháng 9-10 (Đoàn Nhật Phương, 2008)

2.6 Diễn biến về tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh An Giang

Theo nghi nhận của Chi cục Thủy Sản An Giang (trích dẫn bởi Trần Anh Dũng, 2005) các bệnh thường gặp tại hầu hết các vùng nuôi cá tra trọng điểm của tỉnh An Giang gồm:

Bệnh do vi khuẩn gây ra gồm các bệnh đốm trắng, bệnh nhiễm trùng huyết, bệnh lỡ loét, bệnh đốm đỏ, bệnh mù mắt hay nổ mắt, bệnh nhiễm vi khuẩn và bệnh vàng da Bệnh do ký sinh trùng gây ra gồm các bệnh trùng bánh xe, bệnh trùng quả dưa, bệnh sán lá gan, bệnh sán lá đơn chủ, bệnh giun tròn, bệnh trùng mỏ neo, bệnh rận cá và bệnh bào tử trùng

Tuy nhiên, trong thời gian qua chưa có nghiên cứu nào đánh giá hết tình hình dịch bệnh trong nuôi cá tra thâm canh ở tỉnh An Giang và việc theo dõi cập nhật tình hình dịch bệnh xảy ra tại các vùng nuôi trọng điểm cũng chưa được quan tâm đúng mức Ngay cả cơ quan quản lý chuyên ngành về thú y thủy sản của tỉnh cũng không thống

kê được hết tình hình dịch bệnh và thất thoát do dịch bệnh gây ra cho nghề nuôi cá tra tỉnh An Giang (Trần Anh Dũng, 2005)

Trang 8

Thuốc phòng và trị bệnh cá hiện tại có nhiều loại trên thị trên trường phục vụ cho nhu cầu nuôi, với chất lượng và giá cả khác nhau Quản lý thuốc thú y thủy sản được thực hiện chặt chẽ (Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn An Giang kết hợp với Chi cục Quản Lý Thị Trường An Giang thường xuyên thanh tra, kiểm tra) nhằm ngăn chặn sử dụng thuốc thú y thủy sản trong danh mục cấm sử dụng (Sở Nông Nghiệp và PTNT An Giang, 2005 trích dẫn bởi Trần Anh Dũng, 2005)

2.7 Đặc điểm một số bệnh thường gặp trên cá tra nuôi

Bệnh là vấn đề được được người nuôi rất quan tâm trong quá trình ương cá giống cũng như cá thịt (trích dẫn bởi Nguyễn Quốc Thịnh, 2006), bệnh trên cá tra có một số

đặc điểm như sau:

2.7.1 Bệnh do vi khuẩn

Bệnh mủ gan

Bệnh mủ gan còn có một số tên gọi khác là bệnh trắng gan; gan, thận mủ; đốm trắng

trên gan.Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Edwardsiella ictaluri Môi trường phát triển

đặc trưng của vi khuẩn E ictaluri là E ictaluri agar

Dấu hiệu bệnh lý: bên ngoài không rõ ràng: cá gầy, mắt hơi lồi, giảm ăn Khi cá bệnh

nặng chúng bỏ ăn, bơi lờ đờ trên mặt nước và tỉ lệ chết cao Bên trong xoang nội quan xuất hiện nhiều đốm trắng đục kích cỡ 1-3 mm trên gan, thận và tuỳ tạng Đặc biệt, ở giai đoạn đầu của bệnh, những đốm trắng này chỉ xuất hiện ở thận và kế tiếp là tỳ tạng

Điều trị: Kháng sinh là phương pháp được sử dụng thường xuyên và hiệu quả nhất

trong việc điều trị bệnh mủ gan Trong đó chủ yếu là: Flofenicol, Doxycillin, Enrofloxacin, Ciprofloxacin, Cefalexin, Ampicilin Ngoài ra có thể kết hợp nhiều loại kháng sinh để điều trị: Flofenicol + Doxycilin, Amoxcillin + ciprofloxacin, sulbactam + ampicilin

Hình 2.3: Bệnh mủ gan trên cá tra

Trang 9

Bệnh phù đầu xuất huyết

Tác nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Aeromonas hydrophila gây ra Ngoài ra, một số

trường hợp còn phân lập được vi khuẩn A sobria, A caviae, hoặc Pseudomonas sp

Vi khuẩn A hydrophila thường lây lan qua đường miệng, có thể qua da hoặc mang

khi cá bị xây xát

Điều trị: Một số kháng sinh được sử dụng hiện nay: Doxyciclin, Enrofloxacin,

Sulfamethoxazol-trimethoprim, flofenicol Ngoài ra trong thực tế sử dụng có sự kết hợp giữa các nhóm kháng sinh như: Sulfamethoxazol-trimethoprim, Enrofloxacin-Amoxcillincillin, Enrofloxacin-Colistin để điều trị bệnh nói trên

Hình 2.4: Bệnh phù đầu xuất huyết

Bệnh vàng da

Chưa biết được tác nhân gây bệnh cụ thể, một số kết quả phân tích cho thấy trên mẫu bệnh phẩm có hiện tượng giun tròn ký sinh làm tắt nghẽn cuống mật Một số ao trước khi bệnh sử dụng một khối lượng lớn kháng sinh và thời gian sử dụng kéo dài Một số

ao sử dụng thức ăn tự chế với nguồn cá tạp không đảm bảo chất lượng cũng xảy ra

Phòng bệnh: Sử dụng nguồn thức ăn đảm bảo chất lượng, chế độ dinh dưỡng hợp lý

cho cá, quản lý tốt môi trường ao nuôi, định kỳ kiểm tra và xử lý nội ký sinh cho cá

Điều trị: Cần phải phân tích mẫu để có thể đánh giá nguyên nhân gây bệnh, từ đó đưa

ra phương pháp điều trị hợp lý

Hình 2.5: Bệnh vàng da

Trang 10

2.7.2 Bệnh do ký sinh trùng

Theo Bùi Quang Tề (2001) có 23 loài ký sinh trùng ký sinh trên cá tra nuôi ở các giai

đoạn từ nhỏ đến lớn, tuy nhiên ở giai đoạn cá nuôi thịt chỉ gặp 10 loài ký sinh trùng và

giai đọan cá nhỏ gặp 16 loài Một số loài ký sinh trùng gây bệnh nguy hiểm cho cá tra

nuôi ở ĐBSCL là trùng bánh xe (Trichodina Trichodinella, Triparbiella), Trùng quả dưa (Ichthyophthyrius), trùng loa kèn (Apiosoma), sán lá đơn chủ (Silurodiscoides), giun tròn (Spectatus) Trong số đó thì có thể nói trùng quả dưa là loài ký sinh gây

bệnh nghiêm trọng nhất so với các loại ký sinh trùng khác

Bệnh trùng quả dưa (đốm trắng)

Tác nhân gây bệnh: Do Ichthyiophthyrius multifiliis, trùng có dạng quả dưa, toàn

thân có nhiều lông tơ, giữa thân có một nhân lớn hình móng ngựa Trùng mềm mại có thể bị biến dạng khi vận động Dấu hiệu bệnh lý: da, mang, vây của cá bị nhiễm bệnh

có nhiều trùng bám thành các hạt lấm tấm rất nhỏ, màu hơi trắng đục, có thể nhìn rõ bằng mắt thường Da mang có nhiều nhớt, màu sắc nhợt nhạt Cá bệnh nổi từng đàn trên mặt nước, bơi lờ đờ yếu ớt, hay tập trung gần bờ nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh Trùng bám nhiều ở mang, phá hoại biểu mô làm cá ngạt thở

Hình 2.6 Bệnh trùng quả dưa

Bệnh trùng bánh xe (Trùng Mặt Trời)

Tác nhân gây bệnh: do nhiều giống loài thuộc giống Trichodina, Tripartiella,

Trichodinellla ký sinh chủ yếu ở da và mang cá Sau khi rời khỏi cơ thể cá, trùng có

thể sống tự do trong nước được 1-1,5 ngày Triệu trứng khi mới mắc bệnh: trên thân

cá có nhiều nhớt màu trắng hơi đục, da cá chuyển màu xám Khi bệnh nặng trùng ký

Trang 11

Hình 2.7 Bệnh trùng bánh xe (trùng mặt trời)

2.8 Thuốc và hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản

Theo qui chế khảo nghiệm giống, thức ăn, thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học dùng trong NTTS (Ban hành kèm theo quiết định số 18/2002/QĐ – BTS ngày 3/6/2002 của

Bộ trưởng Bộ Thủy Sản) Trong chương I, điều 3, các từ ngữ thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học được hiểu như sau:

Thuốc: là chế phẩm có nguồn gốc từ động vật, thực vật, khoáng chất, hóa chất,

vacxin, và các chế phẩm sinh học khác dùng để phòng và trị bệnh, điều chỉnh sinh trưởng, phát triển và sinh sản, xử lý và cải tạo môi trường nuôi

Hóa chất: là sản phẩm hóa học được dùng để xử lý, cải tạo môi trường, phòng và trị

bệnh cho NTTS

Chế phẩm sinh học: là sản phẩm có nguồn gốc từ sinh vật, kể cả vi sinh vật, các thực

liệu từ nấm, vi trùng, virut và các nguyên sinh; độc tố, nộc độc từ nguồn động vật hoặc thực vật gây hại cho động vật để chuẩn đoán, phòng bệnh, chữa bệnh cho thủy sản nuôi trồng và xử lý môi trường nước nuôi thủy sản

Theo Nguyễn Phú Son và csv (2003) (trích dẫn bởi Đặng Thụy Mai Thy, 2007) thì chi

phí hóa chất và thuốc thú y thủy sản chỉ dao động quanh mức 5% (2-10%) tổng chi phí cho nuôi cá thịt trong ao, bè/vụ

Trang 12

CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật liệu nghiên cứu

Giấy, viết, sổ ghi chép và mẫu phiếu phỏng vấn các hộ nuôi cá tra

Máy tính phục vụ cho việc nhập, xử lý số liệu và viết báo cáo

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Đề tài được thực hiện: Từ tháng 02/2010 đến tháng 07/2010

Địa điểm thực hiện:

Điều tra, thu số liệu tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

Phân tích, xử lý số liệu và viết báo cáo tại Thành phố Cần Thơ

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

Thông tin thứ cấp: liên kết với các cơ quan ban ngành tại địa bàn nghiên cứu để lấy

thông tin, kết hợp tham khảo các tài liệu như: sách, tạp chí, website và các nghiên cứu trước để tìm thông tin liên quan tới đề tài

Thông tin sơ cấp: phỏng vấn trực tiếp các hộ nuôi cá tra để thu thập những thông tin

về bệnh trên cá tra Thuốc, hóa chất và cách phòng trị bệnh Tổng số hộ phỏng vấn là

3.3 Các biến chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu

Thông tin chung về hộ nuôi cá (tên, tuổi, trình độ kỹ thuật)

Thông tin về qui trình kỹ thuật nuôi

Thông tin về các loại bệnh

Thông tin về thuốc và hóa chất phòng trị bệnh

Trang 13

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thông tin chung

4.1.1 Trình độ văn hóa của người nuôi

Trình độ học vấn còn thấp là một trong những hạn chế để áp dụng khoa học kỹ thuật nhằm giảm giá thành và tăng lợi nhuận Qua khảo sát 30 hộ nuôi cá tra ở Thoại Sơn -

An Giang cho kết quả về trình độ văn hóa của người nuôi như sau:

sử dụng thuốc và hóa chất ở Đồng Tháp chỉ có 1,8% trình độ trên cấp 3, cấp 3 chiếm 15,8%, cấp 2 chiếm 61,4% còn lại là trình độ cấp 1 Qua khảo sát cho thấy thời gian nuôi trung bình của người dân từ 4-5 năm (thấp nhất là 1 năm và cao nhất là 10 năm)

Có một số hộ nuôi lâu năm, cũng có một số hộ hiện nay mới đầu tư vào việc nuôi cá nên kinh nghiệm của họ còn thấp, trình độ học vấn chưa cao, nuôi cá còn theo cảm

Trang 14

tính, học hỏi kỹ thuật qua hình thức truyền miệng Đó là một trong những hạn chế để

áp dụng khoa học kỹ thuật nhằm khống chế dịch bệnh, sử dụng thuốc thú y thủy sản

đúng mục đích

4.1.2 Qui mô nông trại

Phần đông số nông hộ được khảo sát có qui mô nuôi vừa và nhỏ, với diện tích trung bình hơn 1,5 ha, nhỏ nhất là 0,2 ha và lớn nhất 5 ha Tỉ lệ diện tích được thể hiện qua Bảng sau:

Bảng 4.2: Qui mô nông trại

hộ nuôi với qui mô nhỏ 33,3%

10%

57%

33%

L ớn Vừa Nhỏ

Hình 4.2: Tỉ lệ phần trăm qui mô của nông trại nuôi cá tra

So với kết quả điều tra của Trần Văn Nhì (2005), đánh giá việc sử dụng nguồn nguyên

liệu địa phương làm thức ăn nuôi cá tra (Pangasius hypophthalmus) ở An Giang, qui

mô nông trại của các hộ nuôi hiện nay lớn hơn trước đây rất nhiều Khi đó qui mô có

còn lại là những ao nuôi với qui mô nhỏ (3,1%) Điều đó cho thấy nuôi cá tra công nghiệp ngày càng phát triển, diện tích nuôi ngày càng được mở rộng nguồn nước dễ bị

ô nhiễm thì tình hình quản lý dịch bệnh cũng được quan tâm nhiều hơn

Trang 15

4.2 Đặc điểm về kỹ thuật

4.2.1 Diện tích, độ sâu, mật độ và kích cỡ cá nuôi

Kết quả điều tra 30 hộ nuôi cá tra ở huyện Thoại Sơn - An Giang thông tin về diện tích, độ sâu mực nước và mật độ nuôi như sau:

Bảng 4.3.: Diện tích, độ sâu, mật độ thả và kích cỡ cá giống

định của người nuôi tại địa bàn khảo sát ao càng rộng và thoáng, thì càng tạo không

gian cho cá dễ hoạt động, mặc khác ao lớn còn làm giảm được chi phí đào ao Nhưng

ao quá lớn cũng gây nhiều khó khăn trong quản lí như cải tạo ao, cho ăn, chăm sóc, thu hoạch và nhất là vấn đề dịch bệnh Nó có thể gây giảm hiệu quả điều trị, hoặc gây chết cá hàng loạt do tính sai liều lượng thuốc cần xử lý, nên các ao nuôi có diện tích

Hình 4.3: Ao nuôi cá tra ở Thoại Sơn Bên cạnh đó thì độ sâu mực nước trong ao cũng ảnh hưởng không kém đến quá trình phát triển cũng như chăm sóc cá Mực nước trung bình trong ao nuôi tại địa bàn nghiên cứu là (3,84±0,52m) (Bảng 4.3) Theo người nuôi, độ sâu thích hợp là từ 3-3,5m, với độ sâu đó thì một số yếu tố như nhiệt độ, pH của ao ít biến động Nhờ đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng của cá Độ sâu quá cao thì ảnh hưởng đến

Trang 16

phòng trị bệnh và chất lượng nước của cá nuôi, do lớp nước dưới đáy ao ít được trao

đổi, nhiệt độ và lượng oxy hòa tan thấp, chất lắng đọng nhiều

Kích cỡ cá giống cũng được người nuôi quan tâm, nhìn chung các hộ nuôi thả giống

có kích cỡ trung bình (1,84±0,44 cm) giới hạn từ 1-3 cm Đa số các hộ thả cá từ 1,5-2

cm chiếm 90%, một số hộ còn lại thả cá từ 2-3 cm chiếm 10% Theo người nuôi kích

cỡ cá giống thả nuôi càng nhỏ nguy cơ hao hụt càng cao do cá chưa đủ sức đề kháng

để chống chọi với môi trường nên rất dễ nhiễm bệnh

Qua Bảng 4.3 cho thấy mật độ cá thả của các hộ nuôi trung bình là (56,6±20,59 con/m2), theo Nguyễn Thanh Phương và csv (2004) (trích dẫn bởi Trần Anh Dũng,

độ thả trung bình ở các ao nuôi cá tra tại Thoại Sơn tương đối cao do người nuôi tận

dụng tối đa diện tích mặt nước Nuôi mật độ cao sẽ gây bất lợi cho cá, cạnh tranh nhiều về không gian sống dẫn đến cá phân đàn cao, cá yếu và nhỏ luôn bị cá khỏe chen lấn, cạnh tranh thức ăn nên phải dạt vào bờ và nhóm cá này ngày càng yếu và dễ bệnh hơn do chất lượng nước gần bờ xấu, nhiều rong tảo và thiếu thức ăn Hơn nữa nuôi ở mật độ cao còn làm tăng lượng mùn bã hữu cơ do thức ăn dư thừa và chất thải của cá, từ đó làm cho nguồn nước nuôi giàu dinh dưỡng gây khó khăn trong quản lý chất lượng nước và khống chế dịch bệnh trên cá nuôi

4.2.2 Cải tạo ao

Chuẩn bị và cải tạo ao trước khi thả nuôi là khâu quan trọng đối với việc nuôi thủy sản trong ao đất Vì các yếu tố gây hại cho đối tượng nuôi có thể tồn tại dưới đáy ao Qua

điều tra nhận thấy các ao nuôi đều là ao cũ đã qua quá trình sử dụng nên hầu như đều

phơi ao lấy nước vào Có 8 loại thuốc hóa chất được sử dụng để cải tạo ao, thông tin về các loại thuốc hóa chất này thể hiện ở Bảng 4.4

Bảng 4.4: Thuốc và hóa chất cải tạo ao

Ngày đăng: 14/03/2014, 01:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Hình dạng ngoài của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) - Khảo sát tình hình dịch bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Thoại Sơn - An Giang
Hình 2.1 Hình dạng ngoài của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) (Trang 4)
Hình 2.2. Bản đồ huyện Thoại Sơn, An Giang  (Nguồn Sở Nông Ngiệp và PTNT An Giang) - Khảo sát tình hình dịch bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Thoại Sơn - An Giang
Hình 2.2. Bản đồ huyện Thoại Sơn, An Giang (Nguồn Sở Nông Ngiệp và PTNT An Giang) (Trang 6)
Hình 2.3:  Bệnh mủ gan trên cá tra - Khảo sát tình hình dịch bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Thoại Sơn - An Giang
Hình 2.3 Bệnh mủ gan trên cá tra (Trang 8)
Hình 2.4: Bệnh phù đầu xuất huyết - Khảo sát tình hình dịch bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Thoại Sơn - An Giang
Hình 2.4 Bệnh phù đầu xuất huyết (Trang 9)
Hình 2.5: Bệnh vàng da - Khảo sát tình hình dịch bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Thoại Sơn - An Giang
Hình 2.5 Bệnh vàng da (Trang 9)
Hình 2.6 Bệnh trùng quả dưa - Khảo sát tình hình dịch bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Thoại Sơn - An Giang
Hình 2.6 Bệnh trùng quả dưa (Trang 10)
Hình 4.1: Tỉ lệ phần trăm trình độ văn hóa của người nuôi - Khảo sát tình hình dịch bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Thoại Sơn - An Giang
Hình 4.1 Tỉ lệ phần trăm trình độ văn hóa của người nuôi (Trang 13)
Hình 4.3: Ao nuôi cá tra ở Thoại Sơn - Khảo sát tình hình dịch bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Thoại Sơn - An Giang
Hình 4.3 Ao nuôi cá tra ở Thoại Sơn (Trang 15)
Bảng 4.4: Thuốc và hóa chất cải tạo ao - Khảo sát tình hình dịch bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Thoại Sơn - An Giang
Bảng 4.4 Thuốc và hóa chất cải tạo ao (Trang 16)
Bảng 4.5: Nguồn giống cá tra thả nuôi của các nông hộ - Khảo sát tình hình dịch bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Thoại Sơn - An Giang
Bảng 4.5 Nguồn giống cá tra thả nuôi của các nông hộ (Trang 18)
Hình 4.8: Tỉ lệ phần trăm tần suất xuất hiện bệnh do ký sinh trùng trên cá tra - Khảo sát tình hình dịch bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Thoại Sơn - An Giang
Hình 4.8 Tỉ lệ phần trăm tần suất xuất hiện bệnh do ký sinh trùng trên cá tra (Trang 22)
Hình 4.9: Tỉ lệ phần trăm thuốc và hóa chất trị bệnh ký sinh trùng - Khảo sát tình hình dịch bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Thoại Sơn - An Giang
Hình 4.9 Tỉ lệ phần trăm thuốc và hóa chất trị bệnh ký sinh trùng (Trang 23)
Bảng 4.7: Các loại bệnh do vi khuẩn - Khảo sát tình hình dịch bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Thoại Sơn - An Giang
Bảng 4.7 Các loại bệnh do vi khuẩn (Trang 23)
Hình 4.10: Tỉ lệ phần trăm tần suất xuất hiện bệnh do vi khuẩn trên cá tra - Khảo sát tình hình dịch bệnh trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Thoại Sơn - An Giang
Hình 4.10 Tỉ lệ phần trăm tần suất xuất hiện bệnh do vi khuẩn trên cá tra (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w