Mở bài - Giới thiệu đôi nét về tác giả Nguyễn Trãi- là một vị tướng tài của dân tộc, thêm nữa còn là một nhà thơ là một nhà yêu nước nồng nàn - Bài “Nước Đại Việt ta” – một bản tuyên ngô
Trang 1CẢM NHẬN NƯỚC ĐẠI VIỆT TA Cảm nhận đoạn trích Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi – mẫu 1
Cuộc kháng chiến chống xâm lược Minh do Lê Lợi lãnh đạo giành thắng lợi Sau khi
đuổi giặc ra khỏi bờ cõi, vâng mệnh Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết văn bản Bình Ngô đại cáo để
công bố trước dân chúng về sự nghiệp dẹp yên giặc Ngô đã hoàn thành Bài cáo được ban bố vào đầu năm 1428, đây cũng là thời gian Lê Lợi lên ngôi vua lập ra nhà Lê
Bình Ngô đại cáo được xem như một bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc ta, bài cáo ca
ngợi tinh thần độc lập tự cường, lòng tự hào dân tộc trước thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống xâm lược phương Bắc
Đoạn trích “Nước Đại Việt ta” nằm ở phần đầu của tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” Trong phần này, Nguyễn Trãi đã nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, đồng thời ca ngợi nền văn hiến lâu đời của dân tộc ta Coi nhân nghĩa là cốt cách và là mục tiêu của dân tộc:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Yên dân, điếu phạt, trừ bạo là cốt lõi của tư tưởng nhân nghĩa, tất cả đều vì con người và cho con người, vì nhân dân đang bị áp bức lầm than Thương dân, trừng phạt kẻ có tội (điếu phạt), tiêu diệt kẻ tham tàn, cứu nhân dân thoát khỏi đau thương, đem lại cuộc sống yên vui hạnh phúc cho nhân dân… đó chính là nhân nghĩa Nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi nói đến là một
tư tưởng vô cùng cao đẹp: đánh giặc để cứu nước cứu dân, vì độc lập đất nước, vì tự do của nhân dân Việc nhân nghĩa bao giờ cũng chính nghĩa Nhân nghĩa là sức mạnh để dân tộc ta chiến thắng quân xâm lược, đó là tư tưởng:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo.
Nhân dân ta đã lấy nhân nghĩa để xây dựng và phát triển nền văn hiến lâu đời Đó là nền văn hiến đã trải qua các triều đại và được khẳng định một cách chắc chắn ngang tầm với phong kiến Trung Hoa:
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Trang 2Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào cũng có.
Tác giả đã dẫn chứng nhiều chi tiết để khẳng định nước ta cũng là một thực thể độc lập
và ngang hàng với phong kiến phương Bắc Đó là có nền văn hiến lâu đời, có lãnh thổ đã được chia, có thuần phong mĩ tục, có nền độc lập trải qua các triều đại, có nhân tài hào kiệt Những yếu tốđó đã góp phần làm nên tầm vóc Đại Việt, đồng thời là sức mạnh của dân tộc để đương đầu thắng lợi trước những cuộc xâm lược của một thế lực hùng mạnh Tác giả nhắc lại những chiến tích trong lịch sử để cảnh báo quân thù, đồng thời khẳng định sức mạnh và truyền thông bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta:
Lưu Cung tham công nên thất bại, Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong, Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô, Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã.
Việc xưa xem xét Chứng cớ còn ghi.
Giọng văn trong bài cáo hùng hồn, đĩnh đạc; lí lẽ sắc bén; cách diễn đạt sóng đôi, cân xứng của lối văn biến ngẫu đã khẳng định và ca ngợi tầm vóc lớn lao của Đại Việt, biểu hiện một ý chí tự cường cao độ Phần đầu của văn bản đã góp phần thể hiện giá trị tư tưởng và nghệ thuật của bản tuyên ngôn độc lập, áng thiên cổ hùng văn của dân tộc
Sơ đồ tư duy
Trang 3Dàn ý chi tiết
I Mở bài
- Giới thiệu đôi nét về tác giả Nguyễn Trãi- là một vị tướng tài của dân tộc, thêm nữa còn là một nhà thơ là một nhà yêu nước nồng nàn
- Bài “Nước Đại Việt ta” – một bản tuyên ngôn độc lập khẳng định chủ quyền dân tộc và nêu rõ rằng nước ta hoàn toàn tự chủ, độc lập, tự cường
II Thân bài
Trang 4* Nêu cao tư tưởng nhân nghĩa
- “Yên dân”- làm cho nhân dân được hưởng thái bình, hạnh phúc
- “Trừ bạo”: Diệt mọi thế lực tàn bạo để giữ yên cuộc sống cho nhân dân
⇒ Nhân nghĩa là lo cho dân vì dân, là yêu nước, chống quân xâm lược là ngăn chặn mọi thế lực
có thể làm hại đến dân, cho nhân dân hưởng thái bình hạnh phúc
* Chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền
Lời thơ khẳng định chân lí về sự độc lập của dân tộc thông qua việc chứng minh đất nước ta là một đất nước có:
- Có nền văn hiến riêng
- Có lãnh thổ riêng
- Có phong tục riêng
- Có lịch sử riêng
- Có chế độ, chủ quyền riêng
⇒ Chứng cứ hùng hồn giàu sức thuyết phục, lời thơ đanh thép thể hiện ý chí của dân tộc, lời văn biền ngẫu nhịp nhàng => khẳng định Đại Việt là một quốc gia có độc lập chủ quyền, là một nước tự lực tự cường, có thể vượt mọi thử thách để đi đến độc lập
* Sức mạnh của nhân nghĩa, sức mạnh của độc lập dân tộc
- Sức mạnh làm cho kẻ thù thất bại thảm hại, sức mạnh ấy đập tan mọi khó khăn mọi thử thách
⇒ Đó là hậu qủa của những kẻ xâm lược phi nghĩa làm trái mệnh trời, những kẻ dám làm tổn hại đến dân tộc ta chắc chắn không có kết quả tốt đẹp
III Kết bài
- Khẳng định lại giá trị nghệ thuật, nội dung của văn bản: Bài Cáo của Nguyễn Trãi có thể nói như một bản tuyên ngôn độc lập, khẳng định rõ ràng chủ quyền dân tục
Trang 5- Liên hệ bản thân: Cần cố gắng giữ gìn bảo vệ đất nước, cô gắng khẳng định đất nước trên đấu trường quốc tế với bạn bè năm châu
Các bài văn mẫu khác:
Cảm nhận đoạn trích Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi – mẫu 2
Nguyễn Trãi là một tài năng lỗi lạc về chính trị, quân sự, ngoại giao…Cuộc đời Nguyễn Trãi là một cuộc đời kì lạ, phi thường, mà chất anh hùng và chất bi kịch đều đến mức tột đỉnh Trong lĩnh vực văn chương, ông là một trong những tác giả lớn nhất của vặn học trung đại VN
với những tác phẫm trữ tình, chính luận viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm như Quân trung từ
mệnh tập, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập…Hội đồng Hoà bình thế giới đã công nhận Nguyễn
Trãi là danh nhân văn hóa của toàn nhân loại
Nguyễn Trãi có vai trò rất lớn trong cuộc khởi nghĩa chống quân Minh Từ Đông Quan tìm vào đất Lam Sơn để tham gia khởi nghĩa, Nguyễn Trãi đã dâng lên chủ tướng Lê Lợi Bình Ngô sách với chiến lược tâm công ( đánh vào lòng người) là chủ yếu Suốt 10 nãm kháng chiến, ông thừa lệnh Lê Lợi soạn thảo nhiều văn bản, thư từ quan trọng và cùng các tướng lĩnh bàn bạc chiến lược, chiến thuật đánh giặc
Năm 1428, đất nước ta sạch bóng quân thù Trong không khí hào hùng của ngày vui đại thắng, Nguyễn Trãi thay lời nhà vua viết lên bài Bình Ngô đại cáo, tuyên bố cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã hoàn toàn thắng lợi và kỉ nguyên phục hưng dân tộc bắt đầu Với giá trị nội dung tư tưởng lớn lao và giá trị nghệ thuật độc đáo, Bình Ngô Đại cáo xứng đáng là một ánh thiên cổ hùng văn trong nền văn học nước nhà
Nội dung bài cáo gồm 4 phần, giống như kết cấu chung của thể cáo Phần đầu nêu luận
đề chính nghĩa Phần thứ hai là bản cáo trạng tội ác giặc Minh Phần thứ ba phản ánh quá trình phát triển của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ ngày đầu gian khổ cho đến khi kết thúc Phần cuối là lời tuyên bố chấm dứt chiến tranh, khẳng định nền độc lập vững chắc, đất nước Đại Việt mở ra
kỉ nguyên mới hòa bình, xây dựng Có thể nói Bình Ngô đại cáo là bản anh hùng ca về lòng yêu nước Tính chất hùng tráng thể hiện rõ trong từng câu, từng chữ gây xúc động mạnh mẽ, thấm thiết Sau Thơ Thần của Lý Thường Kiệt thì Bình Ngô đại cáo của NguyễnTrãi được koi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc VN
Trang 6Đoạn trích Nước Đại Việt ta có ý nghĩa như một lời tuyên bố hùng hồn về chủ quyền
đôc lập Đại Việt là quốc gia có nền văn hiến lâu đời, có lãnh thổ riêng, phong tục riêng, có truyền thống kịch sử chống xâm lăng đã mấy ngàn năm Lũ giặc cướp nước xâm phạm đến nước ta, chúng nhất định sẽ chuốt lấy bại vong Hai nội dung chính của đoạn trích là đạo lí nhân nghĩa và chân lí về chủ quyền dân tộc thiêng liêng của dân tộc Đại Việt Hai câu: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo có thể coi là cốt lõi tư tưởng của Nguyễn Trãi nói riêng và của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nói chung
Nhân là quan niệm đạo đức có từ lâu đời mà ý nghĩa ban đầu của nó chỉ bó hẹptrong sự tương thân, tương ái giữa người với người Chữ nhân trong chính sách cai trị của vua biểu hiện
ở khuynh hướng trọng dân, lấy dân làm gốc: Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh Nhân nghĩa trong đạo lí được mở rộng thành lòng thương ng và những việc tốt đẹp nên làm
Nguyên lí nhân nghĩa là nền tảng cơ bản để Nguyễn Trãi triển khai nội dung bài Bình Ngô đại cáo Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn trãi biểu hiện cụ thể qua hành động yên dân, trừ bạo Yên dân là vỗ về, an ủi, làm cho dân chúng đc hưởng cuộc sống ấm no, thái bình Muốn yên dân thì phải trừ bạo, tức là tiêu diệt mọi thế lực bạo tàn làm khổ dân
Đặt trong hoàn cảnh lịch sử Nguyễn Trãi viết Bình Ngô Đại cáo thì dân mà tác giả nói tới (dân đen, dân đỏ) là ng dân Đại Việt đang phải chịu cảnh đau thương, tan tóc dưới ách thống trị dã mang của quân xâm lược ; còn kẻ bạo tàn chính là giặc Minh mà tác giả gọi một cách khinh bỉ là quân cuồng Minh
Với nguyễn Trãi, việc nhân nghĩa gắn liền với hành động cứu nước, cứu dân Nội dung nhân nghĩa không còn bó hẹp trong phạm vi quan hê giữa ng vs ng mà nó liên quan đến sự sống còn của cả dân tộc Đây là sự phát triển cao độ của tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi
Trong cuộc kháng chiến chống xâm lăng thì hành động chiến đấu để bảo vệ nền độc lập của đất nước chính là việc nhân nghĩa cụ thể nhất, thiết thực nhất phải làm ngay Vả chăng có giữ đc nước thì mới thực hiện đc mục đích cao cả là yên dân Chính vì vậy nên sau khi nêu cao
tư tưởng nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã khẳng định chân lí bất di, bất dịch về chủ quyền độc lập của quốc gia Đại Việt Tám câu tiếp theo chứng minh hùng hồn cho chân lí ấy:
Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Trang 7
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào chẳng có.
Tác giả đưa ra những yếu tố căn bản để xác định chủ quyền độc lập của dân tộc Đại Việt Đó là nền văn hiến lâu đời, cương vực lãnh thổ rõ ràng, phong tục tập quán, lịch sử riêng, chế độ chính trị riêng Văn hiến nghĩa gốc dùng để chỉ sách vỡ và người hiền tài; nghĩa khái quát là nền văn hóa, văn minh của một quốc gia, dân tộc Dựa trên những yếu tố này, Nguyễn Trãi đã nêu lên một quan niệm đầy đủ, đc ng đời sau đánh giá là kết tinh học thuyết về quốc gia, dân tộc So với thời Lí, học thiết đó phát triển cao hơn bởi tính toàn diện và sâu sắc của nó Quan niệm về quốc gia trong Nam quốc sơn hà được xác định chủ yếu dựa trên hai yếu tố: lãnh thổ và chủ quyền Đến Bình Ngô đại cáo, thêm ba yếu tố nữa được bổ sung: văn hiến, phong tục tập quán và lịch sử Nguyễn Trãi cho rằng truyền thống văn hiến là yếu tố quan trọng nhất Ông khẳng định mạnh mẽ điều mà kẻ xâm lược phương Bắc luôn tìm cách phủ định là nước Nam không có nền văn hiến
Trong bài Nam Quốc Sơn Hà, Lí Thường Kiệt đã thể hiện tinh thần tự hào, tự tôn dân
tộc qua cách gôi vua Đại Việt là Nam đến, nâng vị thế vua ta lên ngang hàng với các triều vua của phong kiến Trung Hoa, đến Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi tiếp tục phát huy tinh thần đó
Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.
Để tăng sức thuyết phục cho bài cáo, tác giả sử dụng hàng loạt từ ngữ thể hiện của chủ quyền độc lập của nước ta: từ trước, vốn xưng, đã lâu, đã chia, cũng khác, bao đời, xưng đế…
Bên cạnh đó, tác giả đặt Đại Việt ngang hàng với Trung Quốc về mọi mặt: thể chế chính trị, tổ chức chế độ, quản lí quốc gia… (Các triều đại Triệu, Đinh, Lí, Trần của ta song song tồn tại với các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên của Trung Quốc)
Thực tế đã khẳng định Đại Việt là một quốc gia có truyêb2 thống căn hiến lâu đời, có bờ cõi riêng và chủ quyền độc lập hẳn hoi chứ không phải là một quận huyện, hay một chư hầu của phong kiến phương Bắc Nguyễn Trãi đã nhắc lại những chiến công vang dội trong lịch sử để làm cơ sở vững chắc cho điều mình khẳng định ở trên:
“Vậy nên
…
Trang 8Chứng cứ còn ghi”
Trong bài Nam quốc sơn hà Lí thường kiệt khẳng định sức mạnh của chính nghĩa: lũ giặc bạo ngược ( nghịch lỗ ) làm trái đạo nhân nghĩa, phạm vào sách trời (thiên thư ) tức là đi ngược chân lí khách quan, thì nhất định chúng sẽ chuốt lấy bại vong ( thủ bại hư ) Còn Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã đưa ra những dẫn chứng hùng hồn về sức mạnh của chân lí, sức mạnh của chính nghĩa Tướng giặc kẻ bị giết, ng bị bắt: Lưu Cung… thất bại, Triệu Tiết… tiêu vong, bắt sống Toa Đô, giết tươi Ô Mã… Những chứng cớ còn ghi rõ ràng trong lịch sử chống xâm lăng của nước Đại Việt đã chứng minh niềm tự hào to lớn của dân tộc là có cơ sở
Đoạn văn mở đầu bài Bình Ngô đại cáo không dài, tuy vậy, nó vẫn là điểm tựa, là nền
móng lí luận cho toàn bài Đoạn văn có sức khái quát cao, giàu chứng cớ lịch sử, tràn đầy cảm súc tự hào Bề nổi của bài văn là sự nghiêm khắc răn dạy, còn chiều sâu thắm thía tư tưởng nhân nghĩa cốt lõi của đạo làm người
Cảm nhận đoạn trích Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi – mẫu 3
Đoạn trích “Nước Đại Việt ta” thuộc tác phẩm “Bình Ngô đại cáo”, được viết bởi Nguyễn Trãi, với mục đích công bố cho nhân dân biết về việc quân ta đã đại thắng quân xâm lược Minh, giành được độc lập Đoạn trích ‘Nước Đại Việt ta” có ý nghĩa như một bản Tuyên ngôn độc lập hùng hồn, với lập luận chặt chẽ và dẫn chứng đanh thép, nêu lên được niềm tự hào dân tộc về độc lập chủ quyền, và nêu lên được chân lý: kẻ xâm lược là phản nhân nghĩa, sẽ bị chuốc lấy thất bại
Mở đầu đoạn trích, cũng là mở đầu tác phẩm, Nguyễn Trãi đã nêu lên được tư tưởng cốt lõi của “nhân nghĩa”:
“Từng nghe…
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
“Nhân nghĩa”, vốn được biết đến là khái niệm đạo đức của Nho giáo, nhắc đến đạo lý và
lẽ sống ở đời, đó là cách ứng xử và tình thương yêu giữa con người với con người Nguyễn Trãi
đã tiếp thu tư tưởng của Nho giáo, và ông nêu lên được tư tưởng: việc nhân nghĩa là luôn hướng đến lợi ích của nhân dân, dân tộc Lợi ích của nhân dân luôn được đặt lên hàng đầu, dân là gốc
Do vậy, một trong những việc quan trọng nhất của một đất nước, đó là đem lại được cuộc sống yên ổn cho nhân dân Từ gốc nhân nghĩa đó, từ tình yêu thương dân, thì phải xử kẻ gây ra tội, gây ra lầm than cho nhân dân
Trang 9Tác giả lại tiếp tục nêu ra những lí lẽ, dẫn chứng vô cùng thuyết phục để góp phần khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc ta:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
… Song hào kiệt đời nào cũng có”
Dọc suốt chiều dài của lịch sử, dân tộc ta đã gây dựng nên một nền văn hiến vô cùng lâu đời, như một bức tường thành về văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng Song hành với đó, là sự phân chia rạch rõi về ranh giới, lãnh thổ, Nước ta có chủ quyền riêng, phong tục văn hóa riêng Tác giả Nguyễn Trãi đã nêu lên một loạt các Triều đại của nước ta từ trước, ngang hàng với các triều đại của phong kiến Trung Quốc Điều chó khẳng định được vị thế của nước ta, cũng như đặt ngang hàng các triều đại phương Nam, phương Bắc để nêu lên niềm tự hào dân tộc Tác giả đã khẳng định được truyền thống anh hùng, bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, thời thế xoay vần như thế nào thì đời nào cũng có những bậc anh hùng hào kiệt đứng lên lãnh đạo nhân dân chống lại bọn xâm lược Ý thức về dân tộc, Nguyễn Trãi đã đưa đến kết luận về số phận của những kẻ chuyên có âm mưu xâm lược, thôn tính nước khác:
“Vậy nên
… Chứng cứ còn ghi”
Một loạt các tên tướng của các triều đại ở Trung Quốc được nêu ra, các tên khác nhau, nhưng lại cùng mang âm mưu thôn tính, đi xâm lược nước khác, cho nên cuối cùng phải chịu một hậu quả giống nhau, đó là bị chuốc lấy thất bại Tác giả đã nêu lên một triết lí sống còn: kẻ xâm lược là làm điều phản nhân phản nghĩa, cho nên sớm muộn gì cũng sẽ chuốc lấy thất bại Đây là lời khẳng định đầy đanh thép về kết cục của những kẻ chuyên có âm mưu đi thôn tính nước khác, cũng là lời răn đe cho quân giặc Bên cạnh đó, đó cũng chính là lời khẳng định về ý chí chiến đấu của quân ta, luôn luôn tin tưởng vào sự chiến thắng của chính nghĩa
Với sự kết hợp chặt chẽ giữa dẫn chứng hùng hồn, thuyết phục, lập luận đanh thép, Nguyễn Trãi đã nêu lên những ý nghĩa như một bản tuyên ngôn độc lập của nước ta lúc bấy giờ Không chỉ nêu lên được truyền thống văn hiến lâu đời của dân tộc ta, cùng với khẳng định về độc lập, chủ quyền lãnh thổ, Nguyễn Trãi còn nêu lên được lời răn đe đối với ngoại xâm, dù như thế nào thì chính nghĩa vẫn luôn chiến thắng lòng tham và chiến tranh phi nghĩa
Trang 10Cảm nhận đoạn trích Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi – mẫu 4
Lòng yêu nước là một đề tài quan trọng xuyên suốt mấy thế kỉ của nền văn học Việt Nam Trong buổi đầu non trẻ của văn học dân tộc, đề tài này đã được khai thác thể hiện lòng tự hào của mỗi người con dân đất Việt Ta có thể kể đến các tác phẩm: "Nam quốc sơn hà" của Lí Thường Kiệt (?), "Phò giá về kinh" của Trần Quang Khải, "Bạch Đằng giang phú" của Trương Hán Siêu,… Và không thể không nhắc đến "Đại cáo bình Ngô" của Nguyễn Trãi Trích đoạn sau đây của bài cáo nổi tiếng này chẳng những thể hiện sâu sắc lòng yêu nước của tác giả mà còn gợi nhiều suy nghĩ giàu ý nghĩa về lòng yêu nước:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
….
Chứng có còn ghi".
Trích đoạn “Nước Đại Việt ta” được trích từ “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi Bài cáo được viết cuối năm 1427 đầu nàm 1428 sau khi Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn đánh đuổi giặc Minh xâm lược Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa đã rửa sạch vết nhơ mất nước do nhà Hồ gây ra đồng thời chấm dứt hoạ đô hộ cùng những chính sách dã man, những hành động tàn bạo
mà giặc Minh gây ra cho nhân dân ta Ra đời trong hoàn cảnh đó, “Bình Ngô đại cáo” đã tái hiện quá trình hơn hai mươi năm khởi nghĩa đẩy nhọc nhằn, khó khăn của nghĩa quân Lam Sơn; những nỗi đau mà dân tộc phải hứng chịu cũng như chiến thắng đầy hào khí của cuộc khởi nghĩa oanh liệt trước kẻ thù Kết lại bài cáo, Nguyễn Trãi đã bố cáo cho toàn thiên hạ về nền độc lập lâu bền của đất nước và giương cao lòng nhân nghĩa trong nhân gian
Nếu “Nam quốc sơn hà” của Lí Thường Kiệt được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc thì “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi chính là bản tuyên ngôn độc lập đầy hào sảng thứ hai của đất nước ta Đoạn trích “Nước Đại Việt ta” chính là đoạn trích thể hiện rỏ nhất nội dung tuyên ngôn ấy
Mở đầu đoạn trích là tuyên ngôn nhân nghĩa của bài cáo:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.
Điều ấy có nghĩa là việc nhân nghĩa trên đời cốt ở việc giữ sự bình yên cho dân chúng, quân đội binh lính việc trước tiên là lo trừ bạo, trừ giặc cho dân Hai câu văn ấy đã khẳng định