CHUYÊN ĐỀ 2 THỐNG KÊ VÀ PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TỪ ĐẦU NĂM 2018 ĐẾN NAY THỐNG KÊ PHÂN TÍCH TỪNG CÔNG CỤ CSTT (mỗi quý vẽ biểu đồ phân tích ) DỰ TRỮ BẮT BUỘC Khái niệm Vai trò Tác.
Trang 1CHUYÊN ĐỀ 2 : THỐNG KÊ VÀ PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH
SÁCH TIỀN TỆ TỪ ĐẦU NĂM 2018 ĐẾN NAY
THỐNG KÊ PHÂN TÍCH TỪNG CÔNG CỤ CSTT
(mỗi quý vẽ biểu đồ phân tích )
DỰ TRỮ BẮT BUỘC
Khái niệm
Vai trò
Tác động
Phân tích theo từng quý (quý 1 năm 2018- quý 3 năm 2021)
Nguyên nhân
Tác động
Giải pháp
LÃI SUẤT
Khái niệm LS, LSTCV, LSTCK, LSLNH
Vai trò
Tác động
Phân tích theo từng quý (quý 1 năm 2018- quý 3 năm 2021)
Nguyên nhân
Tác động
Giải pháp
THỊ TRƯỜNG MỞ
Khái niệm
Vai trò
Tác động
Phân tích theo từng quý (quý 1 năm 2018- quý 3 năm 2021)
Nguyên nhân
Tác động
Giải pháp
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
Khái niệm TGHĐ , TGTT
Vai trò
Tác động
Trang 2 Phân tích theo từng quý (quý 1 năm 2018- quý 3 năm 2021)
Nguyên nhân
Tác động
Giải pháp
HẠN MỨC TÍN DỤNG
Khái niệm LS, LSTCV, LSTCK, LSLNH
Vai trò
Tác động
Phân tích theo từng quý (quý 1 năm 2018- quý 3 năm 2021)
Nguyên nhân
Tác động
Giải pháp
ĐÁNH GIÁ CHUNG TOÀN THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Lời dẫn : vậy để hiểu được những công cụ thực thi cstt như thế nào thì chúng ta cùng tìm hiểu kn vt tđ của những công cụ cstt với nhóm 2 nào (đọc slide 5-12)
ĐÁNH GIÁ CHUNG TOÀN THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Lời dẫn : theo nhóm mình tìm hiểu thì từ đầu năm 2018 đến 2021 thi trường tài chính thế giới có 2 sự kiện tác động mạnh đến nền kinh tế VN đó là :
Năm 2018-2019 : căng thẳng thương mại Mỹ-Trung
Năm 2018 – 2019 Trong năm 2019, cơ quan điều hành đã chủ động sử dụng một loạt các công cụ thị trường tiền tệ như hạ lãi suất điều hành, hạ lãi suất thông qua kênh tín phiếu/thị trường mở, hạ tỷ giá mua vào song song việc điều chỉnh tăng dần tỷ giá trung tâm phù hợp diễn biến thị trường VND tiếp tục nằm trong nhóm những đồng tiền ổn định nhất khu vực bất chấp những bất ổn địa chính trị và các sự kiện kinh tế toàn thế giới Cặp tỷ giá USD/VND gần như duy trì đà ổn định xuyên suốt
Năm 2020-2021 : đại dịch covid
Dịch Covid-19 kéo dài và ngày càng diễn biến phức tạp trên thế giới và trong nước
khiến cho triển vọng phục hồi kinh tế còn nhiều bất trắc Trong bối cảnh đó, Ngân
hàng Nhà nước đã chủ động duy trì ổn định mặt bằng lãi suất phù hợp với cân đối vĩ
mô, lạm phát, tạo điều kiện giảm chi phí vay vốn cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế với 3 lần hạ lãi suất điều hành hỗ tợ doanh nghiệp tctd Điều hành tỷ giá chủ động, linh hoạt phù hợp với diễn biến thị trường, các cân đối vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu chính sách tiền tệ Bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, tình hình dịch bệnh trong nước và quốc tế để điều hành tín dụng phù hợp theo hướng mở rộng tín dụng,
Trang 3tập trung vốn cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên, lĩnh vực sản xuất kinh doanh; định hướng cơ cấu tín dụng phù hợp với chuyển dịch nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững Trong đó, tập trung một số nội dung trọng điểm: Đẩy mạnh triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 phục hồi sản xuất kinh doanh; Tiếp tục phối hợp với bộ ngành liên quan đề xuất, triển khai chính sách cho vay hỗ trợ trả lương cho người lao động do bị ngừng việc, gián đoạn sản xuất cho ảnh hưởng Covid-19
PHÂN TÍCH
Năm 2018
Nguyên nhân : khởi đầu thương chiến Mỹ - Trung
Tác động : cuối tháng 6, đầu tháng 7/2018 (khi có dấu hiệu chiến tranh thương mại leo thang), tỷ giá USD/VND đã có những biến động mạnh (vượt qua mức 23.000 VND/USD Về lãi suất, căng thẳng thương mại Mỹ-Trung tuy không trực tiếp tác động lên lãi suất tại Việt Nam nhưng có thể tác động gián tiếp thông qua biến động tỷ giá và áp lực lạm phát Tỷ giá USD/VND dự báo chịu áp lực hơn và đặc biệt áp lực lạm phát tăng lên trong ngắn hạn có thể khiến mặt bằng lãi suất tăng nhẹ
Biện pháp :việc Fed thắt chặt tiền tệ và sự phá giá của đồng CNY, Việt Nam có thể làm là giảm giá VND đối với USD ở mức vừa phải và thấp hơn mức giảm giá đồng CNY so với USD Với đặc thù là một nước nhập khẩu nhiều nguyên liệu từ Trung Quốc để chế biến và xuất khẩu, việc điều chỉnh tỷ giá như vậy khiến các nhà nhập khẩu nguyên liệu có lợi từ thị trường Trung Quốc, đồng thời các nhà nhập khẩu có lợi thêm từ việc xuất khẩu Trên cơ sở đó, Việt Nam có thể đồng thời tận dụng hai thị trường lớn này để cải thiện tình trạng sản xuất và cán cân thương mại
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc : Đối với công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì theo mình tìm hiểu không có thay đổi nhiều qua các năm và đây là bảng tlđbb hiện nay đang sd từ ngày 1/6/2018 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi VND được duy trì ở mức 3% đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng, 1% đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên Đối với tiền gửi bằng ngoại tệ, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được duy trì ở mức 8% đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng, 6% đối với tiền gửi có
kỳ hạn từ 12 tháng trở lên và 1% đối với tiền gửi của các TCTD ở nước ngoài
Lãi suất :
Trang 4Về mặt bằng lãi suất năm 2018 NHNN vẫn sử dụng bảng lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn của ngày 07/10/2017 với mức lãi suất tái cấp vốn 6.25%/năm và lãi suất tái chiết khấu 4.25%/năm
QUÝ 1 : Lãi suất qua đêm và một tuần của tháng 1 với mức 1.42% và 1.72%, ngày càng tăng cao đến mức 4.92% ở ngưỡng 3 tháng sau đó Đối với tháng 2, lãi suất qua đêm và một tuần lần lượt ở mức 1.76% và 1.70% và cao nhất ở 6 tháng sau đó là 4.95% Ở tháng 3, ở mức 1.18% đối với lãi suất một đêm và 1.33% đối với lãi suất một tuần và cao nhất cũng ở mức 6 tháng là 4.55% Kết thúc quý của những tháng cuối năm, lãi suất qua đêm và một tuần ở mức 4.78% và 4.85% cao hơn rất nhiều so với những tháng của các quý đầu năm
QUÝ 2: lãi suất trên thị trường liên ngân hàng luôn có các đợt dao động mạnh Cuối tháng Tư và tháng Năm là hai thời điểm lãi suất liên ngân hàng tất cả các kỳ hạn tăng mạnh Lãi suất cao nhất kỳ hạn qua đêm và một tuần đều đạt 4.5% Lãi suất vào cuối Quý 2 giảm xuống tương đương cuối Quý 1
QUÝ 3: : lãi suất trên thị trường liên ngân hàng bị đẩy lên cao, đặc biệt trong khoảng thời gian từ giữa tháng Tám tới giữa tháng Chín Lãi suất kỳ hạn qua đêm và một tuần nhiều thời điểm đã tiệm cận mức 4,60%, cao hơn khá nhiều cả dịp cận Tết Nguyên đán Sự eo hẹp của thanh khoản hệ thống dẫn tới nhiều NHTM đã có động thái tăng lãi suất huy động trên thị trường 1 Lãi suất liên ngân hàng chỉ tăng từ giữa tháng Chín và kết thúc Quý 3 ở mức 4.99%
và 4.66% lần lượt với kỳ hạn qua đêm và một tuần
QUÝ 4: Trong nửa đầu năm 2018 khi tỷ giá VND/USD còn tương đối ổn định, NHNN đã mua vào hơn 11 tỷ USD bổ sung dự trữ ngoại hối, và chủ động không trung hòa tuyệt đối khí chỉ hút vào hơn 62,5 nghìn tỷ qua kênh OMO và tín phiếu Trong nửa sau năm 2018 khi đồng USD mạnh lên, áp lực tỷ giá đã buộc NHNN phải bán ngoại tệ để giữ giá trị đồng nội tệ lãi suất trên thị trường liên ngân hàng bị đẩy lên cao Lãi suất kỳ hạn qua đêm và một tuần nhiều thời điểm đã tiệm cận mức 6,0%, cao hơn khá nhiều nếu so với dịp Tết Nguyên đán đầu năm
Tỷ giá trung tâm
Quý 1: tỷ giá thamchiếu và tỷ giá giao dịch tại các NHTM đều biến động không đáng
kể, không chịu nhiều ảnh hưởng từ các sự kiện bên ngoài.Cụ thể, tỷ giá cao nhấtđạt hơn 22.470 VND/USD vào tháng 3
Quý 2 : tỷ giá trung tâm và tỷ giá giao dịch tại các NHTM đều tăng nhẹ Cụ thể, tỷ giá bán ra ở tháng 4 đạt hơn 22.440VND/USD Trong khi đó, tỷ giá trung tâm do NHNN công bố ở mức 22.560 VND/USD vào tháng 6 Còn USD trên thị trường tự do cũng
đã vượt ngưỡng chặn 23.000 VND
Trang 5Quý 3: Tại thời điểm cuối Quý 3, tỷ giá trung tâm ở mức 22.678 VND/USD, chỉ tăng 0,3% so với cuối tháng Sáu Chính mức tăng chênh lệch đã dẫn tới thực tế là tỷ giá giao dịch của NHTM đã tiến tới sát mức biên độ trần 5% mà NHNN đặt ra
Quý 4: tỷ giá giao dịch VND/USD của NHTM trong Quý 4 đều rất sát mức trần 5% (so với tỷ giá trung tâm) mà NHNN đặt ra Theo đó, tỷ giá giao dịch tại các NHTM vào thời điểm cuối quý 4 ở mức 22.767 VND/USD
Năm 2019
Nguyên nhân : kinh tế Mỹ và Trung Quốc trở nên bấp bênh hơn do cả những vấn đề nội tại lẫn căng thẳng thương mại giữa hai quốc gia Trong khi đó, nền kinh tế châu
Âu có nhiều bất ổn trước áp lực của đàm phán Brexit cũng như các chia rẽ khác trong nội khối
Tác động : 4 tháng đầu năm 2019, tỷ giá giao dịch ổn định Tuy nhiên, đến đầu tháng 5/2019, tỷ giá VND/USD biến động mạnh hơn, khiến cho tính đến hết ngày 24/5/2019, tỷ giá giao dịch đã tăng khoảng 0,95% so với đầu năm; riêng giai đoạn từ ngày 6/5 đến 24/5/2019, tỷ giá giao dịch đã tăng khoảng 0,5%
Biện pháp : Chính sách tiền tệ cần thích ứng kịp thời với các biến động kinh tế Ưu tiên hàng đầu là điều hành tỷ giá linh hoạt, nhằm hấp thụ bớt tác động từ các cú sốc bên ngoài Lãi suất được giữ mức ổn định tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận với thị trường vốn, đặc biệt đối với các ngành đang trên đà tăng tưởng và tiềm năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu
Lãi suất Ngân hàng Nhà nước thông báo về việc điều chỉnh giảm lãi suất điều hành Theo đó, kể từ ngày 16/9/2019, lãi suất tái cấp vốn giảm từ 6,25% xuống 6%/năm, lãi suất tái chiết khấu giảm từ 4,25% xuống 4%/năm Đây cũng là lần điều chỉnh lãi suất điều hành đầu tiên của NHNN kể từ tháng 10/2017 Trong giai đoạn kinh tế thế giới diễn biến kém thuận lợi, nhiều ngân hàng trung ương các nước đã giảm lãi suất điều hành
Quý 1 : So với cùng kỳ năm 2018, lãi suất liên ngân hàng Quý 1/2019 có xu hướng cao, biên độ dao động hẹp hơn trong khoảng 4.83% (giữa tháng 01) cho tới 5,26% (cuối tháng 02 – trước tết nguyên đán) Nguyên nhân của sự gia tăng lãi suất là do đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc và biến động nguồn tiền gửi từ các ngân hàng lớn
Quý 2: so với cùng kỳ năm 2018, lạm phát, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh lãi suất liên ngân hàng Quý 2/2019 có xu tế đang đứng trước nhiều nguy cơ đẩy chỉ hướng tăng cao Dư âm từ Quý 1/2019 với số giá tăng cao những yêu cầu gia tăng tỷ lệ dự trữ buộc và biến động nguồn tiền gửi khiến mức lãi suất liên ngân hàng lên cao hơn 4% vào đầu Quý 2/2019 Cuối Quý 2/2019, do nguồn cung tiền kém dồi dào nên lãi
Trang 6suất liên ngân hàng liên tục tăng đạt mức 3.46%/năm với kỳ hạn qua đêm và 3.29%/năm với kỳ hạn một tuần
Quý 3: Trong Quý 3/2019, lãi suất liên ngân hàng qua đêm và một tuần có nhiều biến động đáng kể và theo sát diễn biến của nhau Lãi suất liên ngân hàng tăng cao trong suốt tháng Tám đến đỉnh trong Quý vào 3% với thời hạn một tuần
Quý 4: ): Lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh theo xu hướng dốc lêntrong Quý 4/2019, lãi suất liên ngân hàng qua đêm và một tuần có nhiều biến động đáng kể và theo sát diễn biến của nhau Tiếp tục đà tăng từ Quý 3/2019, lãi suất liên ngân hàng qua đêm và một tuần liên tụctăng đến mức 2.11% (qua đêm) và 2.38% (một tuần) vào giữa tháng 11 dưới quyết định giảm lãi suất của NHNN Tuy nhiên, cho đến tận giữa tháng 12, lãi suất liên ngân hàng qua đêm đã trở lại mức 4,28%, một tuần lên 4,43% nguyên nhân do nhu cầu thanh khoản cuối năm cao và vẫn dưới ngưỡng 4% mà Chính phủ đặt ra
Tỷ giá trung tâm
Quý 1:Tỷ giá trung tâm của NHNN tiếp tục đà tăng nhẹ từ đầu Quý 4/2018 cho đến hết Quý 1/2019 Cụ thể tỷ giá vào cuối tháng 3/2019 đạt 22.920 VND/USD, tăng gần 1.01% so với cùng kỳ năm 2018 Tỷ giá giao dịch VND/USD của NHTM trong Quý 1/2019 neo sát mức trần 6% (so với tỷ giá trung tâm) mà NHNN đặt ra, tuy có một số biến động nhẹ trước Tết Trước Tết, thị trường thường chứng kiến hoạt động chuyển đổi mạnh từ ngoại tệ sang VND Nhu cầu VND những ngày cao điểm thanh toán, chi trả đã đẩy tỷ giá VND/USD giảm xuống 22.822 VND/USD vào tháng 1/2019
Quý 2: Tiếp tục đà tăng từ Quý 1/2019, tỷ giá trung tâm cũng gia tăng trong Quý 2/2019 tuy nhiên mức tăng không đáng kể Tỷ giá trung tâm cuối tháng 6/2019 ở mức 22.920 VND/USD
Quý 3: Tiếp tục đà tăng từ Quý 2/2019, tỷ giá trung tâm gia cũng tăng trong Quý 3/2019 tuy nhiên mức tăng không đáng kể Tỷ giá trung tâm tại ngày 30/9/2019 ở mức 23.161 VND/USD, tăng 0,4% so với cuối Quý 2/2019
Quý 4: Tỷ giá VND/USD tiếp tục được bình ổn trong Quý 4/2019 Tỷ giá trung tâm trong suốt Quý dao động nhẹ quanh mức 23.137 – 23.165 VND/USD Từ đầu năm đến nay, tỷ giá trung tâm ngày càng có xu hướng ổn định hơnvà trong Quý 4/2019 mức dao động gần như không đáng kể Tại các NHTM, xu hướng tương tự cũng diễn
ra Mở đầu Quý 4/2019, tỷ giá ở mức 23.165 VND/USD, kết thúc Quý giảm xuống chỉ còn 23.157 VND/USD, di chuyển theo sát thay đổi của tỷ giá trung tâm
Hạn mức tín dụng : Trong 3 năm liên tiếp, tăng trưởng tín dụng ở nước
ta thường đạt mức thấp trong quý I Cụ thể, năm 2018, tăng trưởng
Trang 7tín dụng quý I là 2,23% Năm 2019, tăng trưởng tín dụng trong quý
I đạt 1,9% Năm 2020, trước tác động của dịch Covid-19, tăng trưởng tín dụng thấp kỷ lục, chỉ đạt 0,68% năm 2021 tăng trưởng tín dụng ngân hàng có thể ở mức 2.93% Đáng chú ý, dòng vốn được tập trung cho lĩnh vực sản xuất công nghiệp, xây dựng, thương mại dịch vụ… Điều này phản ánh mức độ hồi phục rõ rệt của nền kinh tế
từ nửa cuối năm 2020 đến nay
Năm 2020
Nguyên nhân: đại dịch covid bùng phát trên toàn cầu
Tác động :Các tổ chức tài chính - chi nhánh hoặc công ty con đang hoạt động ở Việt Nam rút vốn về nước Dịch bệnh cũng tạo tâm lý bảo toàn vốn, tâm lý nắm giữ tiền mặt hơn là cổ phiếu của các Nhà đầu tư Những hoạt động này tạo hiệu ứng tâm lý tiêu cực khiến thị trường chứng khoán trong nước gặp nhiều khó khăn Các hoạt động đầu tư, liên kết góp vốn mua cổ phần của các nhà đầu tư chiến lược vào hệ thống ngân hàng trong nước giảm, ảnh hưởng đến chiến lược tăng trưởng vốn điều lệ của một số ngân hàng thương mại cổ phần.Những biến động của lãi suất, đồng Dolla Mỹ trên các thị trường tiền tệ thế giới nhanh, liên tục và khó dự báo Điều này tạo môi trường cho các hoạt động đầu cơ, gây tác động tiêu cực nhất định đến thị trường tiền tệ, thị trường ngoại hối
Biện pháp: trong bối cảnh kinh tế, tài chính thế giới biến động nhanh, phức tạp do tác động của đại dịch Covid-19, tâm lý trên thị trường có thời điểm bị tác động tiêu cực, NHNN đã linh hoạt điều chỉnh tỷ giá bán can thiệp, thực hiện truyền thông và sẵn sàng can thiệp thị trường ngoại tệ để bình ổn thị trường Nhờ đó, tỷ giá giao dịch trên thị trường liên ngân hàng có xu hướng giảm dần về quanh mức giá mua của NHNN Trong giai đoạn nguồn cung dồi dào, NHNN đã linh hoạt điều chỉnh tỷ giá mua ngoại
tệ từ các tổ chức tín dụng (TCTD) và thực hiện mua ngoại tệ từ các TCTD giúp chuyển hoá thành tiền đồng để hỗ trợ phát triển kinh tế
Lãi suất Theo NHNN, từ đầu năm 2020 đến nay, để giảm bớt khó khăn do tác động của dịch COVID-19, từ đó nền kinh tế có điều kiện phục hồi nhanh, tăng khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng đối với nền kinh tế, trên cơ sở diễn biến kinh tế trong và ngoài nước, NHNN đã liên tiếp điều chỉnh giảm 3 lần các mức lãi suất, tổng mức giảm 1,5-2,0%/năm đối với lãi suất điều hành, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản cho TCTD, tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp hơn, qua đó có điều kiện giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ khách hàng phục hồi sản xuất kinh doanh Lần 1 NHNN đã giảm lãi suất tái cấp vốn từ 6%/năm xuống 5%/năm; Lãi suất tái chiết khấu giảm từ 4%/năm xuống 3,5%/năm Lần 2 NHNN đã giảm lãi suất tái cấp vốn từ 5%/năm xuống 4.5%/năm; Lãi suất tái chiết
Trang 8khấu giảm từ 3.5%/năm xuống 3%/năm Lần 3 NHNN đã giảm lãi suất tái cấp vốn từ 4.5%/năm xuống 4%/năm; Lãi suất tái chiết khấu giảm từ 3%/năm xuống 2,5%/năm
Qúy 1: Trong Quý 1/2020, lãi suất liên ngân hàng 6%/năm Lãi suất chào mua giấy tờ
có giá qua đêm và một tuần có nhiều biến động qua nghiệp vụ thị trường mở từ 4%/năm đáng kể và theo sát diễn biến của nhau, đạt xuống 3,5%/năm Động thái này ảnh hưởng mức trung bình 2,08% với lãi suất qua đêm đến lãi suất liên ngân hàng, cuối Quý mức và mức trung bình 2,37% với lãi suất một lãi suất qua đêm chỉ còn 2,19%.Lãi suất liên ngân hàng bắt đầu có xu hướng tăng cao từ đầu tháng 1/2020, đạt đỉnh trong Quý ở mức 3,5% và giữ mức trên 3% trong vòng 1 tuần
Quý 2: Ngay sau khi NHNN ban hành một loạt các quyết định về giảm lãi suất điều hành, trần lãi suất huy động và lãi suất cho vay vào tháng 5/2020, lãi suất liên ngân hàng qua đêm và một tuần lập tức giảm sâu xuống dưới mức 1%
Quý 3: Trong quý 3/2020, lãi suất iên ngân hàng qua đêm và một tuần có nhiều biến động đáng kể và theo sát diễn biến của nhau Lãi suất Liên ngân hàng tăng nhẹ trong nửa đầu tháng Tám đến đỉnh trong quý vào 0.25% với tới hạn một tuần do NHNN ngừng giao dịch trên thị trường mở, sau đó giảm mạnh xuống mức 0.13% vào cuối tháng chín nhờ thanh khoản dồi dào
Quý 4: Trong Quý 4/2020, lãi suất liên ngân hàng qua đêm và một tuần chỉ dao động nhẹ, ở mức thấp hơn so với Quý 3/2020, theo sát diễn biến của nhau do NHNN hạ lãi suất điều hành theo Quyết định 1728/QĐ- NHNN vào tháng 9/2020 Lãi suất liên ngân hàng kết thúc năm 2020 ở mức 0,21% đối với lãi suất qua đêm và 0,26% đối với lãi suất một tuần
Tỷ giá trung tâm
QUÝ 1: Tỷ giá trung tâm tại ngày 30/3/2020 ở mức 23.235 VND/USD, tăng 0,34% so với cuối Q4/2019 Mức thay đổi tỷ giá đang có xu hướng tăng trở lại sau một năm
2019 ổn định, so sánh với Quý 1/2019 tăng 1% (qoq), Quý 2 và 3/2019 tăng khoảng 0,3%(qoq) và Quý 4 thay đổi không đáng kể Tại NHTM, tỷ giá tăng 1,8% so với cuối Q4/2019
QUÝ 2 : Tỷ giá trung tâm tại ngày 30/6/2020 ở mức 23.229 VND/USD Tỷ giá trung tâm gần như đi ngang trong suốt Qúy 2/2020 Trong khi đó, tại NHTM, tỷ giá lại sụt giảm khá mạnh từ cuối Quý 1, kết thúc Quý 2 tại 23.300 VND/USD, giảm 1,5% so với đầu Quý
QUÝ 3:Tỷ giá trung tâm ổn định trong suốt quý 3/2020 , kết thúc quý ở mức 23.215 vnd/usd tỷ giá tại các ngân hàng thương mại cũng ổn định , kết thức ở 23.270
vnd/usd với nguồn cung ngoại tệ dồi dào nhờ vào thặng dư thương mại cao ( tahnwgj
Trang 9dư 16.52 tỷ usd trong 9 tháng đầu năm 2020) nguồn vốn FDI đăng kí mới không sụt giảm nhiều , tỷ giá vnd/usd có thể tiếp tục giữ mứ ổn định cho tới cuối năm 2020
QUÝ 4: Tỷ giá trung tâm có xu hướng giảm trong suốt Quý 4/2020, kết thúc quý ở mức 23.131 VND/USD Tỷ giá tại các ngân hàng thương mại cũng giảm nhẹ, kết thúc
ở 23.215 VND/USD Do Ngân hàng nhà nước đã hạ tỷ giá mua USD trong tháng Mười một vì nguồn cung USD dồi dào trở lại nhờ vào thặng dư thương mại cao trong Quý 3
Năm 2021
Nguyên nhân : làn song thứ 4 của đại dịch covid
Tác động : sự bùng phát của dịch bệnh làm cho thị trường hàng hoá, tiêu thụ thu hẹp,
do sản xuất của doanh nghiệp, thu nhập người dân giảm mạnh ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất nhập khẩu; thị trường hàng hóa, sản xuất tiêu dùng trong nước bị thu hẹp, thu nhập người dân giảm mạnh Lãi suất, giá vàng và ngoại tệ mạnh trên thị trường quốc tế biến động khó lường, tạo ra bất lợi cho thị trường kinh doanh ngoại hối
Biện pháp :kiểm soát dịch bệnh kết hợp giữa chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ
và các chính sách hỗ trợ ngành hoặc an sinh xã hội khác, trong đó bao gồm nhóm giải pháp ngắn hạn, cơ chế, chính sách trong một số ngành, lĩnh vực cụ thể, nhóm giải pháp căn cơ, dài hạn để tháo gỡ khó khăn cho tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp;
Lãi suất :
Quý 1: Lãi suất liên ngân hàng đột ngột tăng mạnh vào đầu tháng 2/2021, với lãi suất qua đêm đạt mức cao nhất 3.6% và lãi suất một tuần đạt mức cao nhất 3.66% Tuy nhiên, đây chỉ là hiện tượng mang tính mùa vụ do nhu cầu tiền mặt của người dân tăng cao vào dịp lễ Tết Thật vậy, lãi suất liên ngân hàng nhanh chóng ổn định sau Tết Nguyên đán, dao động trong khoảng 0,25-0,30% đối với lãi suất qua đêm và 0,35-0,50% đối với lãi suất một tuần
Quý 2: Sau khi duy trì mức lãi suất thấp vào giữa Quý 1, lãi suất liên ngân hàng đột ngột tăng mạnh vào cuối tháng 4/2021, với lãi suất qua đêm đạt mức cao nhất 1,54% vào ngày 31/5 và lãi suất một tuần đạt mức cao nhất 1,67% vào ngày 28/5 Tuy nhiên, đây chỉ là hiện tượng mang tính chất thời vụ do sự thiếu thanh khoản cục bộ ở một số ngân hàng nhỏ, trong khi thanh khoản của toàn hệ thống vẫn khá dồi dào Mặt khác,
do ảnh hưởng bởi đợt dịch thứ tư, cầu tín dụng dự kiến sẽ giảm Dự kiến lãi suất liên ngân hàng sẽ ổn định trở lại trong tháng 7
Quý 3: Sau khi duy trì mức lãi suất vào giữa Quý 3, lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm, với lãi suất qua đêm đạt mức cao nhất 1.6% và lãi suất một tuần đạt mức 1,52% Mặt khác, do ảnh hưởng bởi đợt dịch kéo dài, cầu tín dụng dự kiến sẽ giảm
Tỷ giá trung tâm
Qúy 1: Tỷ giá trung tâm có xu hướng tăng nhẹ trong suốt Quý 1/2021, kết thúc quý ở mức 23.145 VND/USD Tỷ giá tại các ngân hàng thương mại tăng vào tháng Một và giảm nhẹ từ tháng Hai do biến động của đồng USD, kết thúc ở 23.170 VND/USD
Trang 10Quý 2: Tính trong 6 tháng đầu năm 2021, tỷ giá USD/VND tiếp tục giữ mức ổn định khi tỷ giá trung tâm chỉ tăng 0.3% so với đầu năm, tương đương tăng thêm 47 đồng, lên mức 23,240 đồng/USD Tỷ giá trung tâm được điều hành linh hoạt, bám sát diễn biến thị trường và mục tiêu chính sách tiền tệ Nhờ đó, tỷ giá và thị trường ngoại tệ nhìn chung ổn định
Quý 3: Tỷ giá trung tâm cũng có xu hướng giảm nhẹ trong suốt Quý 3/2021, kết thúc quý ở mức 23.110 VND/USD Tỷ giá tại các ngân hàng thương mạI bình ổn vào tháng 7 và có xu hướngngiảm nhẹ từ tháng chín do biến động của đồng USD
Thị trường mở
Năm 2021
Qúy 1 : LSLNH tăng nhẹ trở lại ở kỳ hạn qua đêm, với mức tăng 0,01% lên 0,26% Ngược lại, các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần giảm trở lại, cùng ở mức 0,12%, xuống 0,41%
và 0,43%/năm Với thanh khoản khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục ở trạng thái tương đối dồi dào (tăng trưởng tín dụng đat 1,47 tính tới ngày 19/3/2021), LSLNH được dự báo sẽ tiếp tục ổn định ở mức thấp trong thời gian tới
Quý 2 : NHNN không phát hành lượng OMO hay tín phiếu nào mới trong tuần vừa qua, đồng thời, cũng không có lượng OMO và tín phiếu nào được đáo hạn Theo đó, lượng OMO và tín phiếu đang lưu hành tiếp tục được duy trì ở mức 0 Như vậy, lượng lưu hành kênh tín phiếu vẫn ở mức 0 trong gần 1 năm trở lại đây, kể từ sau lượng đáo hạn 2000 tỷ đồng trong nửa đầu tháng 6/2020 Ngược lại, trên kênh OMO, NHNN cũng chưa có hoạt động gì kể từ cuối tháng 2 tới nay
Qúy 3 : NHNN thực hiện bơm ròng 1 lượng nhỏ qua kênh OMO, với khối lượng là 52,8 tỷ đồng (lãi suất 2,5%/năm, kỳ hạn 7 ngày) và không thực hiện hoạt động bơm ròng nào qua kênh tín phiếu Như vậy, lượng OMO đang lưu hành tăng lên 52,8 tỷ đồng, trong khi lượng tín phiếu đang lưu hành tiếp tục duy trì ở mức 0
Năm 2019
Quý 1 : NHNN hút ròng 9.710 tỷ đồng qua kênh OMO Cụ thể đã có 28.681 tỷ đồng đáo hạn trong khi có 18.972 tỷ đồng được phát hành thêm Kênh tín phiếu tiếp tục không có hoạt động phát hành mới hay đáo hạn Tổng hợp hai kênh OMO và tín phiếu, tuần qua, NHNN đã hút ròng 9.710 tỷ đồng từ thị trường Mức hút ròng này thấp hơn rất nhiều so với mức hơn 72 nghìn tỷ đồng trong tuần từ 18.02 đến 22.02 trước đó Tính lũy kế kể từ đầu năm 2018 đến nay thì tổng lượng vốn bơm ròng qua kênh OMO và tín phiếu tiếp tục giảm xuống, còn 33.106 tỷ đồng vào cuối tuần qua
Xu hướng bơm ròng giảm đã duy trì tuần thứ ba liên tiếp, cho thấy thanh khoản hệ thống ngân hàng đang ở trong trạng thái khá ổn định, không cần sự hỗ trợ nhiều từ phía NHNN
Quý 2 NHNN bơm ròng 14.349 tỷ đồng qua kênh tín phiếu Cụ thể, NHNN đã phát hành mới 70.449 tỷ đồng (kỳ hạn 7 ngày với mức lãi suất tiếp tục ở mức 3%) trong khi có 84.799 tỷ đồng đáo hạn trong tuần Trên kênh OMO, NHNN không có hoạt động nào mới Tổng hợp 2 kênh OMO và tín phiếu, NHNN bơm ròng 14.349 tỷ đồng trong tuần qua Tính đến thời điểm hiện tại, đang có lượng tín phiếu lưu hành là 70.449 tỷ đồng, không có lượng OMO đang lưu hành nào Tính lũy kế kể từ đầu năm