Nghiên cứu những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng Đảng Cộng sản Đông Dương chẳng những giúp chúng ta hiểu sâu sắc về vai trò của Người đối với toàn bộ sự nghiệp Các
Trang 1
LUẬN VĂN:
Hoạt động xây dựng Đảng của Chủ
tịch Hồ Chí Minh thời kỳ 1939-1945
Trang 2
Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta Người
đã cùng Trung ương tổ chức lãnh đạo thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 đưa nhân dân ta thoát khỏi ách nô lệ của đế quốc phong kiến, đưa nước ta trở thành một nước độc lập, đưa Đảng ta từ một Đảng hoạt động bí mật trở thành Đảng cầm quyền trong cả nước Một trong những yếu tố đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công là nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Bởi vậy khi nghiên cứu về Cách mạng Tháng Tám chúng ta không thể không nghiên cứu vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc xây dựng Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) Nghiên cứu những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng Đảng Cộng sản Đông Dương chẳng những giúp chúng ta hiểu sâu sắc về vai trò của Người đối với toàn bộ sự nghiệp Cách mạng Tháng Tám Đồng thời giúp chúng ta cũng hiểu sâu sắc, toàn diện hơn nữa về vai trò của Đảng và nhân dân ta trong Cách mạng Tháng Tám
Từ khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công đến nay đã 60 năm, đã có nhiều công trình nghiên cứu phản ánh về cuộc cách mạng này một cách khách quan khoa học Song cho đến nay vẫn có một số công trình nghiên cứu lịch sử cách mạng Việt Nam, phần lớn là công trình của người nước ngoài đã quá nhấn mạnh vai trò đánh thắng chủ nghĩa phát xít của quân đồng minh Không phản ánh, đánh giá đúng sự thật lịch sử về vai trò quyết định thắng lợi của cách mạng là do có sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; là do sức mạnh vĩ đại của khối đại đoàn kết toàn dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng
Kết quả nghiên cứu vấn đề vai trò của Hồ Chí Minh trong hoạt động xây dựng Đảng (1939-1941) còn là sự thực lịch sử góp phần đánh giá một cách khách quan khoa học hơn về nguyên nhân, điều kiện thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và bác bỏ những nhận định đánh giá sai trái sự thật lịch sử, nhằm hạ thấp hoặc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Kết quả nghiên cứu vấn đề một phần nào cũng giúp cho chúng ta cơ sở lý giải vì sao một Đảng mới 15 tuổi, chỉ có trên 5000 đảng viên mà lãnh đạo cuộc cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi?
Trang 3
Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám (1939-1945) rất quan trọng như vậy, nhưng cho đến nay cũng chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này
Những nội dung và tư liệu lịch sử nghiên cứu được qua đề tài này sẽ góp phần vào việc nghiên cứu, biên soạn,giảng dạy, học tập về Cách mạng Tháng Tám nói chung
và về nghiên cứu, giảng dạy, học tập về Chủ tịch Chí Minh nói riêng
Luận văn còn là tài liệu dùng để giáo dục, bồi dưỡng truyền thống yêu nước cách mạng và niềm tin khoa học vào sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta hiện nay cho thế hệ trẻ và cán bộ đảng viên
Trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta hiện nay đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhưng cũng có không ít những khó khăn, thử thách rất phức tạp, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mới thắng lợi được Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 (lần 2) của Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (tháng 2/1999) đã nhấn mạnh: "Sự lãnh đạo đúng đắn
và sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam" Nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ cấp thiết của toàn Đảng, toàn dân
Những tư tưởng chỉ đạo, những bài học kinh nghiệm trong hoạt động xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ 1939-1945 vẫn còn nguyên giá trị thiết thực phục vụ cho hoạt động xây dựng Đảng ta trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay
Với những lý do trên đây, chúng tôi đã chọn đề tài "Hoạt động xây dựng Đảng
của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ 1939-1945" làm đề tài cho luận văn thạc sĩ khoa học
Lịch sử của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hoạt động xây dựng Đảng của Đảng ta nói chung và của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng trong thời kỳ vận động cách mạng Tháng Tám 1945, đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu Hiện nay đã có nhiều tác giả và các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau đây:
- Cuốn "Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam" của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng
Trung ương (1983) đã đề cập đến một số hoạt động của Nguyễn ái Quốc (Hồ Chí Minh)
và Trung ương Đảng về hoạt động xây dựng Đảng (1930-1945)
Trang 4- Cuốn "Chủ tịch Hồ Chí Minh tiểu sử và sự nghiệp" Ban Nghiên cứu Lịch sử
Đảng Trung ương (1980) trong đó dành một số trang từ 89 - 117 nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cuộc vận động giải phóng dân tộc và Cách mạng Tháng Tám, cũng chỉ đề cập đến một số hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về xây dựng Đảng 1939 - 1945
- Cuốn "Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử" Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh (1993), các tác giả cũng đã dành một số trang nêu lên được một số
sự kiện quan trọng về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc xây dựng Đảng thời
kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám Tuy vẫn còn chưa chi tiết, đầy đủ và hệ thống, song cuốn sách này đã là cơ sở quan trọng giúp chúng tôi tìm hiểu thêm và bổ sung để hoàn thành luận văn
- Cuốn "Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng" của Trần Đình
Huỳnh (1999) giúp chúng tôi những tư liệu, những nhận định, đặc biệt là cung cấp cho chúng tôi các vấn đề về lý luận, đường lối, phương pháp xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1920-1969) Tuy nhiên cuốn sách này lại không cung cấp cho chúng tôi một cách cụ thể hệ thống, đầy đủ về quan điểm, đường lối, phương pháp xây dựng và những hoạt động thực tiễn xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1939 - 1945
- Những giáo trình, bài giảng về Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cũng không đề cập chuyên sâu về xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1939 - 1945
Như vậy, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng thời kỳ 1939 - 1945
3 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng Đảng thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám
Trang 5
* Phạm vi nghiên cứu:
Tìm hiểu những hoạt động xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ 1939-1945
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Trên cơ sở những tư liệu lịch sử tin cậy, chọn lọc, luận văn khôi phục lại một cách trung thực, tương đối đầy đủ, toàn diện và hệ thống về những hoạt động của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực xây dựng Đảng thời kỳ 1939-1945 Từ đó góp phần vào việc đánh giá một cách khách quan, khoa học vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám, nhân tố quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám
- Luận văn còn rút ra những tư tưởng, đường lối, phương pháp xây dựng Đảng của Người trong thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám nhằm đóng góp vào việc xây dựng Đảng ta vững mạnh trong công cuộc cách mạng của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiện nay
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tư liệu nghiên cứu:
Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều nguồn tư liệu khác nhau:
+ Các tác phẩm của các tác giả kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng Cộng sản Nguồn tư liệu này cung cấp cho chúng tôi những phương pháp luận nghiên cứu, những quan điểm, đường lối, nguyên tắc xây dựng Đảng vô sản kiểu mới trong thời đại mới nói chung và trong các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa như Việt Nam nói riêng
+ Những bài viết, bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng; các văn kiện Đảng (1930 - 1945) Đây là nguồn tư liệu gốc để chúng tôi xây dựng luận văn
+ Những tài liệu, công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu: Viện Lịch sử Đảng (Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương), Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Khoa học Xã hội nhân văn, Viện Sử học và các Trường đại học trong nước (Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn ) Những tài liệu và các công trình này là cơ sở để chúng tôi so sánh đối chiếu những kết quả nghiên cứu của mình
Trang 6
+ Một số tài liệu, công trình nghiên cứu của người nước ngoài có đề cập đến Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ 1939-1945 Đối với nguồn tài liệu này chúng tôi tiếp thu có chọn lọc, đồng thời cũng phê phán những ý kiến xuyên tạc, không đúng sự thật về vai trò của Hồ Chí Minh, của Đảng và nhân dân ta trong Cách mạng Tháng Tám
+ Các cuốn Hồi ký của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; Hồi ký của các cán bộ, đảng viên, nhân chứng lịch sử; những tranh ảnh, tư liệu lịch sử thời kỳ 1939 - 1945 Nguồn tư liệu này được chúng tôi chọn lọc sử dụng nhằm bổ sung cho những thiếu sót của tư liệu thành văn
* Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện nghiên cứu đề tài và trình bày luận văn chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau: kết hợp giữa phương pháp lịch sử với phương pháp lôgíc, trong đó phương pháp lịch sử là chủ yếu; kết hợp với phương pháp so sánh, phân tích, khái quát, tổng hợp Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử dân tộc với phương pháp nghiên cứu lịch sử Đảng
Đặc biệt, chúng tôi rất coi trọng và làm tốt công tác sử liệu như: sưu tầm, tập hợp, chỉnh lý và sử dụng chọn lọc các sử liệu đảm bảo tính chân thực lịch sử
Chúng tôi cũng chú ý sử dụng phương pháp điền dã sưu tầm tư liệu ở căn cứ địa Việt Bắc và phỏng vấn các nhân chứng lịch sử, thu thập các hồi ký cách mạng
5 Đóng góp của luận văn
- Luận văn lần đầu tiên khôi phục lại một cách tương đối có hệ thống, toàn diện, trung thực về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, về việc xây dựng Đảng trong thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám
- Luận văn góp phần đánh giá một cách khách quan, khoa học về vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng Đảng, nhân tố quyết định đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám Trên cơ sở đó góp phần phê phán những ý kiến, quan điểm xuyên tạc, sai sự thật lịch sử nhằm phủ nhận vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và của nhân dân ta đối với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám
- Luận văn bước đầu rút ra một số tư tưởng, đường lối, nguyên tắc, phương pháp, kinh nghiệm xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám (1939 - 1945) nhằm đóng góp cho lĩnh vực xây dựng Đảng ta trong thời kỳ cách mạng mới hiện nay
Trang 7
- Những nội dung, tư liệu lịch sử của luận văn còn góp phần vào việc nghiên cứu biên soạn, giảng dạy và học tập lịch sử dân tộc và lịch sử Đảng thời kỳ 1939 - 1945; đồng thời luận văn còn là tài liệu giáo dục truyền thống yêu nước cách mạng và niềm tin khoa học vào sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp cách mạng hiện nay cho thế hệ trẻ và nhân dân ta
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo, phụ lục, mục lục, luận văn có
Đến cuối 1940, với sự hiếu chiến và sức mạnh quân sự, chỉ trong thời gian ngắn quân Đức đã đánh chiếm và gần như làm chủ hoàn toàn châu Âu (trừ Liên Xô) và sửa soạn cho kế hoạch xâm lược Liên Xô ở Viễn Đông, quân Nhật mở rộng chiến tranh xâm lược Trung Quốc, Mông Cổ, Thái Bình Dương, Đông Dương
Thấy được mối hiểm họa của chủ nghĩa phát xít và chiến tranh phát xít, ngay từ khi chiến tranh thế giới thứ II chưa bùng nổ, Quốc tế Cộng sản đã có sự chỉ đạo kịp thời cho các Đảng cộng sản và nhân dân các nước thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc để đánh bại chủ nghĩa phát xít, bảo vệ nền hòa bình, dân chủ, văn minh, tiến bộ của thế giới (Đại hội VII Quốc tế cộng sản 1935)
Trang 8
Dưới sự lãnh đạo của Quốc tế cộng sản, những năm 1935-1939 phong trào đấu tranh chống phát xít, chống chiến tranh bảo vệ hòa bình đòi quyền dân sinh, dân chủ của giai cấp vô sản và nhân dân các dân tộc trên thế giới diễn ra mạnh mẽ (Pháp, Tây Ban Nha, các nước bị áp bức ) Điển hình là phong trào kháng Nhật của nhân dân Trung Quốc; phong trào chống phát xít hóa ở Pháp, các cuộc kháng chiến chống quân Đức, ý ở Châu Âu
Ngay từ khi cuộc chiến tranh thế giới thứ II nổ ra, Đảng Cộng sản Đông Dương đã nhận định: "Thế giới đế quốc chiến tranh lần này tiến hành theo một khuôn khổ to tát"
"Thế giới sẽ là cái lò sát sinh lớn! nhân loại sẽ phải chịu một số kiếp vô cùng thê thảm" Nhưng chiến tranh sẽ làm cho chủ nghĩa đế quốc suy yếu, cách mạng sẽ nổ ra, thắng lợi ở nhiều nước "ở các nước đế quốc tư bản nhất là ở các nước đang đánh nhau, hết thảy dân chúng bị áp bức sẽ thừa cơ nổi dậy bẻ cái xiềng nô lệ kéo dài đã hàng chục thế kỷ ở các nước thuộc địa hết thảy dân tộc bị áp bức sẽ vùng dậy tranh đấu liều sống liều chết với đế quốc xâm lược để cởi vất cái ách tôi đòi" [21 512, 515]
Đúng như vậy, cuộc chiến tranh đế quốc phát xít nổ ra làm cho đời sống của giai cấp công nhân và mọi tầng lớp nhân dân các nước trên thế giới cơ cực Phong trào đấu tranh phản chiến, phong trào công nhân ở chính quốc các nước tư bản phát triển mạnh mẽ đòi chấm dứt chiến tranh ở Anh, Pháp, Nhật ngay ở Đức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đức phong trào đấu tranh chống phát xít chống chiến tranh cũng diễn ra mạnh
mẽ Nhiều cuộc xung đột giữa thợ thuyền với quân đội Hít le nổ ra
Ngoài các nước trên đây, phong trào phản đối chiến tranh cũng diễn ra ở ý, Mỹ
ở các nước thuộc địa, phong trào đấu tranh cách mạng của các dân tộc bị áp bức đòi giải phóng cũng phát triển mạnh mẽ ở ấn Độ luôn có những cuộc đình công, biểu tình có hai, ba chục vạn thợ tham gia Nhiều cuộc biểu tình của mọi tầng lớp nhân dân ấn Độ tham gia đòi ấn Độ độc lập Tại Trung Quốc, phong trào đấu tranh chống phát xít Nhật diễn ra sôi nổi và mạnh mẽ Cuối 1940, quân Nhật xâm lược Đông Dương, phong trào cách mạng chống đế quốc Pháp, phát xít Nhật của nhân dân ba nước Đông Dương cũng diễn ra nhiều cuộc mít tinh, phát truyền đơn, dán áp phích khởi nghĩa chống đế quốc phát xít Pháp - Nhật
Dưới ách thống trị tàn bạo, dã man của đế quốc phát xít Pháp - Nhật, nhân dân Việt Nam liên tiếp nổi dậy đấu tranh Nhiều cuộc biểu tình, bãi công của công, nông, binh lính
nổ ra Các cuộc khởi nghĩa vũ trang của nhân dân Bắc Sơn (9/1940), Nam Kỳ (11/1940) và
Trang 9
anh em binh lính ở Đô Lương (1/1941) đã bùng nổ báo hiệu cách mạng Việt Nam chuyển qua thời kỳ mới, thời kỳ đấu tranh võ trang khởi nghĩa giành chính quyền, giành độc lập của các dân tộc Việt Nam, Đông Dương bắt đầu [23 108-109]
Rõ ràng chiến tranh thế giới II do bọn đế quốc phát xít hiếu chiến gây ra đang xô đẩy nhân loại vào cuộc chém giết lẫn nhau Dù trực tiếp hay gián tiếp thì hầu hết các nước trên thế giới đã bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh
1.1.2 Tình hình Đông Dương
Tháng 6.1940, nước Pháp bị Đức chiếm đóng Mặt trận nhân dân Pháp bị thất bại ở Pháp đã thành lập chính phủ thân phát xít Nhân cơ hội đó bọn phát xít ở Pháp và ở thuộc địa ngóc đầu dậy chống phá
Tháng 9.1940, quân Nhật tràn vào Đông Dương qua đường Lạng Sơn Bịn Pháp ở Đông Dương chống cự yếu ớt rồi hèn nhát đầu hàng dâng Đông Dương cho Nhật, nhượng cho Nhật vô số những quyền lợi kinh tế, chính trị ở Đông Dương Từ đó hai tên
đế quốc phát xít Pháp - Nhật đã cấu kết chặt chẽ với nhau, bóc lột dân ta đến tận xương tủy
Với Pháp:
Về chính trị: Chúng phát xít hóa bộ máy chính quyền thuộc địa, xóa bỏ tất cả các
quyền tự do dân chủ mà nhân dân ta đã giành được qua cao trào đấu tranh dân chủ 1936 -
1939 “ở Đông Dương những cải cách vụn vặt nhân dân Đông Dương chiếm được dưới thời kỳ chính phủ mặt trận bình dân bị Catơru phá phách hết Luật lao động bị bỏ rơi Các
ái hữu thợ thuyền bị giải tán Những báo chí tiến bộ bị đóng cửa, chế độ kiểm duyệt thì được thi hành rất ngặt Những người bản xứ nhập Pháp tịch trong hồi bình dân bị đuổi ra khỏi “Làng Tây” Những người cộng sản, những chiến sĩ tranh đấu cho hòa bình, tự do, dân chủ bị bắt bớ Những trại giam tập trung theo kiểu phát xít thành lập khắp nơi Không những các phần tử cách mạng hay “tình nghi can” bị giam trong đó, mà cả những người bị coi là “thành tích bất hảo” cũng bị nhốt vào đó Tất cả họ là những người tù không có thời hạn Họ bị bắt buộc làm đường, xẻ núi, dưới ngọn roi, báng súng của bọn lính canh” [22.41] Chúng tăng cường hơn nữa chính sách khủng bố, đàn áp, bắt bớ giam cầm nhiều phần tử tiên tiến, những đảng viên, những chiến sĩ cách mạng, nhất là thanh niên Chúng tiếp tục tiến hành khủng bố trắng Chúng giải tán tất cả các đoàn thể quần chúng (công nhân, nông dân, phụ nữ, phụ lão, ái hữu ) Chúng còn thực hiện chính sách
Trang 10
“chia để trị”, chia rẽ dân tộc để làm chỗ dựa cho chính sách bóc lột Đây là hình thức cai trị rất cổ truyền “Khủng bố, lừa gạt chưa đủ, đế quốc Pháp còn dùng chính sách chia rẽ Chia rẽ dân Việt Nam với dân Việt Nam, chia rẽ dân Việt Nam với các dân tộc Miên - Lào và các dân tộc thiểu số khác (chúng lợi dụng người dân tộc này bắt người dân tộc kia)” [21.517-518] Chúng sử dụng đắc lực thế lực phong kiến bù nhìn làm chỗ dựa cho chính sách bóc lột “Chúng định nhả một ít quyền cho tụi vua chúa bù nhìn, mượn tay bọn này sát hại dân chúng” [21.518] Mặt khác đế quốc Pháp cũng không quên động viên
dư luận tiến hành mọt cuộc đại tiến công nói láo, ra lệnh cho mấy tờ báo bợ đỡ và lũ gia
nô tẩu cẩu nói xấu cộng sản, công kích Liên Xô, kêu gọi nhân dân hiến mình nạp cho đế quốc chiến tranh" [21.518]
Bên cạnh việc đàn áp, khủng bố, bắt bớ các chiến sĩ cách mạng và nhân dân yêu nước của ta, thực dân Pháp cũng đưa ra nhiều thủ đoạn lừa bịp, hòng làm cho nhân dân ta lầm tưởng chúng là “bạn” chứ không phải là “thù” Chúng cho một số người Việt Nam có bằng cấp cao được làm chức chủ sự, sĩ quan, thanh tra, cảnh sát trước đó chỉ người Pháp hay người vào làng Tây mới được làm Chúng mở thêm một số trường cao đẳng (Cao đẳng Khoa học, Cao đẳng Kiến trúc, Cao đẳng Nông lâm, Cao đẳng Thể dục ), lập
ra “Đông Dương học xá” cho một số thanh niên lưu trú với mục đích lôi kéo trí thức, thanh niên Đồng thời cũng giống như chính phủ đầu hàng Đức ở bên Pháp, chúng còn đưa ra các khẩu hiệu bịp bợm như “Cách mạng quốc gia”, “Pháp Việt phục hưng”, “Cần lao - Gia đình - Tổ quốc”, “Đoàn kết và cường tráng để phục vụ” nhằm tuyên truyền, lôi kéo đông đảo thanh niên, học sinh trung thành với Pháp
Dưới những khẩu hiệu “lập lờ” đó, tuy chúng có để cho thanh niên ta tổ chức kỷ niệm các anh hùng dân tộc (Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung ), hát những bài ca khích lệ tinh thần yêu nước chống xâm lược (Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, Tiếng gọi thanh niên ) nhưng đồng thời chúng cũng hướng thanh niên ta tôn sùng các anh hùng dân tộc Pháp như Gian Đa, thậm chí cả tên phát xít phản động đầu hàng như Pê Tanh Chúng khuấy lên một phong trào thanh niên giả tạo với những cuộc đại hội điền kinh, biểu diễn thể thao - thể dục toàn Đông Dương Nhưng tất cả những trò bịp bợm đó của chúng đều chẳng đưa lại kết quả bao nhiêu vì bộ mặt xấu xa, tàn ác của chúng đã quá
lộ liễu, làn sóng cách mạng đã dâng lên từ những năm đầu chiến tranh thế giới và đang sắp nhấn chìm chúng
Trang 11
Chúng từng bước quỳ gối, nhân nhượng cho Nhật nhiều quyền lợi kinh tế, chính trị
ở Đông Dương (ký với Nhật Hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương (23.7.1941) thừa nhận cho Nhật có quyền đóng quân trên toàn cõi Đông Dương Ngày 29.7.1941, ký tiếp Hiệp ước với Nhật thừa nhận cho Nhật có quyền sử dụng tất cả các sân bay và cửa biển Đông Dương vào mục đích quân sự Đến khi Nhật phát động chiến tranh Thái Bình Dương (7.12.1941), Pháp phải ký thêm với Nhật một Hiệp ước cam kết hợp tác về mọi mặt, như tạo mọi sự dễ dàng cho việc hành binhh, cung cấp lương thực, bố trí doanh trại, giữ gìn trật tự xã hội ở Đông Dương để đảm bảo hậu phương an toàn cho quân đội Nhật
Kể từ đây, trong thực tế, Pháp và Nhật đã cấu kết chặt chẽ với nhau trong việc áp bức, bóc lột nhân dân Đông Dương, chống lại phong trào cách mạng phục vụ cho chiến tranh
đế quốc [21.518]
Về kinh tế: Để có đủ số thóc gạo cung cấp cho Nhật, thực dân Pháp bắt nhân dân ta
phải bán thóc theo diện tích đất cày cấy Tàn ác và dã man hơn nữa, chúng còn bắt nhân dân ta phải nhổ lúa, phá hoa màu để trồng đay, thầu dầu lấy nguyên liệu cần thiết cho chiến tranh Tuy bị Nhật ức hiếp, tước đoạt mọi bề, thực dân Pháp đã có nhiều thủ đoạn gian xảo để vẫn thu được lợi nhuận cao nhất Trước hết, chúng thi hành chính sách “Kinh
tế chỉ huy” mà thực chất là một thủ đoạn lợi dụng kinh tế thời chiến để nắm độc quyền toàn bộ nền kinh tế Đông Dương và tăng cường tệ đầu cơ tích trữ để vơ vét bóc lột nhân dân ta được nhiều hơn
Thủ đoạn thứ hai là tăng thuế, đặc biệt là các thứ thuế gián thu, riêng với khoản thuế rượu, muối và thuốc phiện từ 1939 - 1945 đã tăng lên gấp 3 lần “Ngoài thuế má nặng nề, tăng cường vơ vét tài nguyên và các hình thức cướp đoạt khác khiến dân chúng hết đường sống, lòng dân sôi sục căm hờn” [46.170-171]
Một thủ đoạn tàn ác nữa là chúng "thu mua" thực phẩm, chủ yếu là lúa gạo theo lối cưỡng bức, cướp đoạt với giá rẻ mạt, một phần để cung đốn cho Nhật, một phần để tích trưc chuẩn bị chiến tranh Chính thủ đoạn tàn ác này đã gây ra nạn khan hiếm lương thực, thực phẩm nghiêm trọng trên thị trường và là nguyên nhân trực tiếp làm cho hơn 2 triệu đồng bào ta ở miền Bắc chết đói vào cuối năm 1944 và đầu 1945
Với Nhật:
Về chính trị: Âm mưu của Nhật “Đem quân sang Đông Dương, Nhật muốn nhân cơ
hội Pháp bại trận, nhận trước lấy một bộ phận thuộc địa của Pháp, chiếm lấy những nguồn nguyên liệu béo bở ở Đông Dương để cung cấp cho chiến tranh, lấy Đông Dương
Trang 12
làm nơi căn cứ quân sự đánh Hoa Nam và triệt đường tiếp tế quân nhu, khí giới cho Tàu
ở Diến Điện, hòng mau ra khỏi vũng bùn lầy Trung Quốc, dùng Đông Dương làm cái cầu tiến bước xuống miền Nam Dương, á Châu” [22.49] Để che đậy cho những hành vi cướp bóc tàn bạo và âm mưu xâm lược, để có chỗ dựa khi nhảy lên độc chiếm Đông Dương, phát xít Nhật đã đưa ra nhiều thủ đoạn chính trị thâm độc Cụ thể, chúng bí mật cho người tập hợp những phần tử trí thức, nhân sĩ yêu phần nào bất mãn với Pháp (Trần Trọng Kim, Nguyễn Xuân Chữ ) hoặc những tên gián điệp cũ của Pháp (Nguyễn Thế Nghiệp ) và giúp chúng thành lập ra những đảng phải chính trị thân Nhật (Đại Việt Dân chính, Đại Việt Quốc xã, Việt Nam ái quốc, Phục Quốc, Đại Việt quốc gia liên minh ) Chúng còn lợi dụng cả các đạo giáo có xu hướng chống Pháp ở Nam Kỳ (Cao Đài, Hòa Hảo) Chúng thống nhất các phe phái trên thành một đoàn thể thân Nhật có tên chung trong cái gọi là “Việt Nam phục quốc đồng minh hội”, và ráo riết sửa soạn nặn ra một chính phủ bù nhịn làm tay sai cho chúng
Đồng thời, chúng còn tung ra luận điệu là bịp như “Khu thịnh vượng chung Đại Đông á”, cho xuất bản nhiều sách học tiếng Nhật, mở lớp dạy tiếng Nhật, tổ chức trao đổi trí thức, học sinh và sinh viên giữa Đông Dương và Nhật để tuyên truyền cho văn hóa
và sức mạnh “vô địch của Nhật”, gạt dần ảnh hưởng của Pháp độc chiếm Đông Dương
Về kinh tế: Các Công ty tư bản Nhật đưa vốn vào Đông Dương ngày một nhiều và
hoạt động trong nhiều ngành công nghiệp và thương mại (Công ty Thương mại và Công nghiệp Đông Dương, Công ty Đại Nam ) Về công nghiệp, Nhật bỏ vốn chủ yếu vào khai mỏ (quặng sắt, măng gan, phốt pho ) Về thương mại, từ 1942, là khách hàng độc nhất của Đông Dương, Nhật bán ít mà chủ yếu là mua Trị giá hàng nhập từ Đông Dương sang Nhật lớn gấp nhiều lần hàng Nhật xuất sang Đông Dương Năm 1944, Nhật xuất sang Đông Dương 25.000 tấn hàng và nhập của Đông Dương 1.400.000 tấn quặng thực phẩm
Đúng như Hồ Chí Minh viết: “Mùa thu 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật Từ đó nhân dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật” [46.556]
Dưới hai tầng áp bức bóc lột nặng nề của Pháp - Nhật, các tầng lớp nhân dân ta nói chung, nhất là nông dân, bị đầy đến tình trạng cực khổ, điêu đứng
Trang 13
Với nông dân, cuộc sống của người nông dân lúc đó thật sự khốn quẫn Họ bị tước đoạt đến hạt gạo cuối cùng mà họ phải nắm nắng, mười sương mới kiếm được, hay mảnh vải mà họ phải thức khuya dậy sớm để dệt thành Họ phải sống cầm hơi qua ngày với hớp cháo cám nhạt và trần mình chịu rét lúc đêm đông Theo thống kê “Số chi thu của những gia đình dân cày bị hao hụt Giá hàng kỹ nghệ tăng, tiền sắm sửa nông cụ, mua phân bón nhất nhất cái gì cũng đắt mà nông sản bán không chạy và sưu thuế ngày một tăng cao” [22.53]
Trong tổng số gần 2 triệu đồng bào ta bị chết đói cuối 1944, đầu 1945 thì đa số là người nông dân, thiết nghĩ đó cũng là điều dễ hiểu
Với công nhân và kể cả thợ thủ công đời sống của họ cũng điêu đứng nhiều bề Giá
cả đắt đỏ làm cho cuộc sống của họ càng trở nên khó khăn Các tệ nạn cúp phạt, giảm lương, tăng giờ làm, đánh đập , thậm chí dãn thợ, sa thải thường xuyên đe dọa, uy hiếp
họ “Tình cảnh thợ thuyền hết sức khổ sở Đồng lương thực của thầy thợ bị giảm Giờ làm của thợ thuyền công chức tăng gia Từ khi Pháp thu, sức sinh sản ở Đông Dương bị rút hẹp lại Nhiều thợ bị giảm, nhiều thợ khác chỉ làm ba, bốn ngày trong một tuần Tiền nhà, tiền cơm, đắt đỏ đến nỗi có nhiều anh em thợ không dám trọ ở tỉnh, phải quốc bộ hàng 10 cây số từ nhà quê ra tỉnh làm Nhiều gia đình thợ bị tan nát Chồng làm không đủ nuôi vợ, vợ phải về quê làm mướn hoặc bán lá rau, cái bánh lần hồi cho qua ngày” [22.53]
Với tiểu tư sản, đời sống của họ cũng hết sức bấp bênh Đối với bộ phận công chức các sở công tuy thực dân Pháp có tăng lương cho họ vì giá sinh hoạt tăng nhanh, hay phát thẻ cung cấp một số mặt hàng cần thiết (vải, đường, gạo ) nhưng sự “ưu đãi” ít ỏi đó cũng không thể bù đắp nổi những thiếu hụt trong đời sống của họ vì giá sinh hoạt ngày càng cao vọt Còn đối với các tầng lớp tri thức làm nghề tự do, các tiểu thương, tiểu chủ thì tình cảnh càng vô cùng gieo neo, điêu đứng Các nạn thất nghiệp, buôn bán thua lỗ, sập hiệu sẵn sàng chờ đón họ Ngoài ra hiện trạng “Thiếu vật liệu và thị trường tiêu thụ, nhiều nhà tiểu công nghệ bị phá sản hoặc chỉ sống một cách ngoắc ngoải Nhiều tiểu thương bị chết chẹt giữa nạn đầu cơ của bọn đại thương buôn cắt và chính sách kiểm soát giá sinh hoạt thiên tư của chính phủ thuộc địa” [22.53]
Trang 14
Ngay cả giai cấp tư sản và giai cấp địa chủ, chỉ trừ một số có quyền lại gắn chặt với Pháp - Nhật thì càng chớp thời cơ để làm ăn lớn, đầu cơ tích trữ, phát tài to, còn lại nói chung đều ít nhiều bị sa sút hay phá sản
Nói tóm lại, dưới ách áp bức của Pháp - Nhật đời sống nhân dân ta vô cùng bần cùng về kinh tế, ngột ngạt về chính trị Trừ bọn đại địa chỉ, tư sản mại bản, quan lại cường hào tham nhũng và bọn đầu cơ tích trữ, còn mọi tầng lớp nhân dân đều rên xiết dưới hai tầng áp bức bóc lột của bè lũ Nhật - Pháp
Chính sách hèn đớn, phản động của đế quốc Pháp và những hành vi bạo ngược của Nhật đã khêu gợi tinh thần phản đế của đồng bào ta Khắp Đông Dương nhân dân muốn đứng lên cởi bỏ xiềng xích nô lệ, đánh đuổi ách thống trị của giặc Nhật, Pháp Mâu thuẫn nổi lên hàng đầu trong xã hội Việt Nam lúc này là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc phát xít Pháp và Nhật Cả nước Việt Nam lúc này có thể ví như là một đống cỏ khô, chỉ cần một tàn lửa nhỏ rơi vào là sẽ bùng lên thiêu cháy bè lũ cướp nước
và tay sai
Yêu cầu cấp thiết của cách mạng Việt Nam lúc này là phải đánh đuổi đế quốc, phát xít Pháp - Nhật và bè lũ tay sai giành độc lập - tự do và chính quyền về tay nhân dân, xây dựng chế độ dân chủ mới
Nhưng muốn cho cách mạng đi đến thắng lợi thì lúc này hơn bao giờ hết đòi hỏi Đảng ta phải vững vàng về mọi mặt trước cơn khủng bố gắt gao của kẻ thù để lãnh đạo nhân dân ta đứng lên đấu tranh giành chính quyền
Do sớm dự báo được chiến tranh thế giới thứ hai sẽ nổ ra, nên Đảng ta hoàn toàn không bị bất ngờ về cuộc chiến tranh này Trong thời kỳ 1936 - 1939 Đảng ta đã có một
số chủ trương hoạt động thích hợp khi chiến tranh bùng nổ (Thông báo khẩn cấp 10.3.1938, Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương ngày 29.3.1938 và Tuyên ngôn Đảng Cộng sản Đông Dương với thời cuộc ngày 29.3.1938 đã nói rõ chiến tranh sẽ nổ ra, cần tập trung mũi nhọn chống phát xít gây chiến)
Một tháng sau khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, ngày 29.9.1939, Trung ương Đảng gửi thông báo cho các cấp bộ Đảng vạch rõ cách mạng Đông Dương sẽ tiến đến mục tiêu giải phóng dân tộc, chỉ thị cho toàn Đảng kịp thời rút vào bí mật và chuyển hướng hoạt động
Tuy nhiên tình hình Đảng ta lúc này cũng gặp nhiều khó khăn tổn thất lớn Số lượng đảng viên ở Trung, Nam, Bắc kỳ còn quá ít ỏi Đảng bộ 3 xứ bị thiệt hại rất nhiều do
Trang 15
chính sách khủng bố của thực dân Pháp từ tháng 9.1939 Mặc dù vậy nhiều Đảng viên mới cũng được kết nạp vào Đảng, phần nào bù đắp được sự thiệt hại và mở rộng ra là khác Ai Lao và Cao Miên vẫn giữ được tổ chức Đảng Về chất lượng Đảng viên chưa cao, thành phần chủ yếu là dân cày và tiểu tư sản Do chính sách khủng bố của Pháp nhiều chi bộ xí nghiệp của Đảng ở Ba Son, Xe lửa Sài Gòn, Sợi Nam Định, Xi măng Hải Phòng, các mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả, Xe lửa Vinh bị phá Do đó làm cho “thành phần công nhân của Đảng đã kém lại kém thêm” [22.59] Vì trình độ Đảng viên nhìn chung đều biết chữ Tuy nhiên trình độ hiểu biết phổ thông lại rất kém do đó việc nghiên cứu và
tự rèn luyện của đảng viên có phần chậm chạp Nhưng điều đáng mừng là các đồng chí đảng viên lại rất hăng hái Có nhiều đồng chí khi bị tra tấn rất dã man mà vẫn giữ được tinh thần Có nhiều đồng chí chuyên môn bị truy tìm rất gay gắt, hoạt động trong những điều kiện rất khó khăn vẫn cương quyết tranh đấu không nản chí” [22.59] Về mặt tổ chức, mặc dù bị đế quốc khủng bố gắt gao, Đảng vẫn luôn phát triển Tuy nhiên Đảng vẫn chưa khôi phục được những chi bộ ở những nơi công nhân tập trung như những đồn điền ở Nam kỳ, những mỏ ở Bắc kỳ và những tỉnh thành kỹ nghệ phát triển ở Nam Định, Hải Phòng, Sài Gòn Về chỉ huy toàn Đảng lúc này không được thống nhất, lý do là do Ban chấp hành Trung ương bị thất bại gần hết Việc chỉ huy toàn Đảng lúc này là xứ nào riêng xứ ủy ấy chỉ huy cho nên phần nào nó ảnh hưởng đến chất lượng và sự thống nhất lãnh đạo của Đảng
Đặc biệt chính sách khủng bố thâm độc, tàn bạo của đế quốc Pháp và quân phiệt Nhật 1939-1941, đã làm cho Đảng Cộng sản Đông Dương tổn thất nặng nề Chúng tìm mọi biện pháp khủng bố, giết hại đồng bào, cán bộ, chiến sĩ yêu nước, cách mạng, nhất là đối với cán bộ, đảng viên của Đảng, nhằm làm tê liệt mọi sự hoạt động và sự lãnh đạo của Đảng, dẫn đến sự tan rã của phong trào trước cách mạng Chúng tìm cách cài cắm bọn "A-B" (Antibolchévik - chống bônsêvích), là những phần tử khiêu khích, phản bội, mật thám, tay sai của đế quốc, đội lốt cộng sản chui vào tổ chức đảng, dò xét, phá hoại Đảng [66 108-110] Với các thủ đoạn thâm độc, qua mỗi đợt khủng bố của địch hàng loạt cơ sở, tổ chức đảng và của đoàn thể quần chúng bị phá vỡ mất liên lạc; hàng ngàn cán bộ đảng viên ưu tú, trong đó có nhiều cán bộ lãnh đạo cao cấp quan trọng của Đảng
bị bắt, tù đày và bị sát hại; nhiều tổ chức cấp bộ đảng phải lập đi lập lại nhiều lần.Trong những năm 1939 - 1941, các đồng chí Lê Hồng Phong ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế
Trang 16
Cộng sản; Nguyễn Văn Cừ Tổng Bí thư Đảng; Hà Huy Tập Tổng Bí thư Đảng; Võ Văn Tần ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Bí thư Xứ ủy Nam kỳ; Nguyễn Thị Minh Khai
ủy viên Xứ ủy Nam kỳ và Bí thư Thành ủy Sài Gòn đã bị địch bắt và bị sát hại
Trong bối cảnh ấy, yêu cầu quan trọng cấp thiết đặt ra cho cách mạng Việt Nam lúc này là phải làm sao khôi phục lại được các tổ chức cơ sở cũng như hoạt động của Đảng, khôi phục lại phong trào làm cho Đảng ta thực sự vững mạnh về mọi mặt đủ sức đóng vai trò là người tiên phong dẫn đường, lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lãnh đạo quần chúng nhân dân đứng lên lật đổ ách áp bức Pháp - Nhật, giải phóng nhân dân ta khỏi kiếp nô lệ mất nước, giành độc lập tự do, cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân giành chính quyền về tay nhân dân, xây dựng một chế độ dân chủ mới
1.2 Chủ trương xây dựng Đảng của Hồ Chí Minh của Đảng ta trong thời kỳ mới
Ngay từ cuối 1938, trước những biến động lớn của tình hình thế giới, Hồ Chí Minh
đã rời Liên Xô đến Trung Quốc tìm cách về nước hoạt động và trực tiếp lãnh đạo cách mạng nước ta Cuối 1938 đến 1940, từ Tây An (Thiểm Bắc), Người về Quế Lâm (Quảng Tây - Trung Quốc), tìm cách bắt liên lạc với Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương Đầu 1940, Hồ Chí Minh đến Côn Minh (Vân Nam - Trung Quốc) chắp nối liên lạc với Trung ương Đảng Cộng sản Qua Ban hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương, Người đã đóng góp nhiều ý kiến chỉ đạo cho công tác xây dựng Đảng, lãnh đạo cách mạng thời kỳ mới
Tháng 11.1939, Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 6 tại Bà Điểm - Gia Định (gồm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu ) Sau khi phân tích kỹ lưỡng tình hình, thấm nhuần những tư tưởng, chỉ đạo của Nguyễn ái Quốc từ trước, Hội nghị đã nhận định: trong điều kiện lịch sử mới "bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không phải con đường nào khác hơn là con đường đánh đuổi đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập" Từ đó Hội nghị đặt vấn đề giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, cấp bách nhất của cách mạng Đông Dương Để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, lập Chính phủ Liên bang cộng hòa dân chủ Đông Dương, Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng yêu nước dân tộc, nhất là phải chăm lo xây dựng Đảng Cộng sản Đông Dương vững mạnh, thống nhất
Trang 17
Trong công tác xây dựng Đảng, căn cứ vào tình hình mới đang diễn ra, phân tích một cách hết sức khách quan, khoa học, Trung ương Đảng chủ trương:
-“Đảng phải thống nhất ý chí và hành động” Lúc này sự liên lạc giữa các đảng bộ
từ Trung ương đến các xứ ủy, tỉnh ủy, các chi bộ không được mật thiết, địa phương nào chỉ biết lo cho địa phương ấy, ý chí và hành động của Đảng chưa được thống nhất, sự chỉ huy của Đảng không thống nhất cho nên trong lúc phong trào cách mạng đang sắp phát triển hết sức to lớn quyết liệt thì Đảng ta nhất định phải thống nhất ý chí lại thành một ý chí duy nhất Hành động nhất định phải thống nhất, trên dưới khăng khít như một, phải theo nguyên tắc, phải có kỷ luật, các đồng chí từ Trung ương đến chi bộ phải liên lạc mật thiết, kết chặt lại như một người, như một tảng đá [21 555]
- “Đảng phải mật thiết liên lạc với quần chúng” Trong lúc này Đảng phải mật thiết
liên lạc với quần chúng, phải lắp tai nghe tiếng nói của quần chúng, hiểu rõ nguyện vọng của quần chúng, đề ra những yêu cầu thiết thực với họ Đảng không những chỉ đạo quần chúng mà còn phải học hỏi trong quần chúng nữa Đảng phải xem xét coi những khẩu hiệu của mình có được quần chúng hiểu rõ và hưởng ứng không, phải tìm tòi những nguyên nhân thất bại để sửa đổi, để gần gũi và lôi léo quần chúng [21.557]
- “Đảng phải có vũ trang lý luận cách mệnh” Đảng cần phải có vũ trang lý luận
cách mệnh, cần phải hiểu rõ những quy luật vận động và phát triển của xã hội, hiểu rõ đường lối mình đi, biết tiến, biết thoái thì mới có thể làm tròn vai trò lãnh đạo Đảng phải xuất bản sách báo huấn luyện, phải mở những lớp huấn luyện, phải huấn luyện lý luận cách mệnh cho đảng viên Đảng phải dịch và xuất bản những tác phẩm quan trọng của chủ nghĩa Mác, Ăng ghen, Lê Nin nhất là cuốn “Lịch sử Đảng Cộng sản Nga” để huấn luyện đảng viên và những cán bộ không Đảng, vì theo Lê Nin “không có lý luận cách mệnh, không có vận động cách mệnh” [21.557]
- Đảng phải biết “lựa chọn cán bộ mới” Đảng phải coi đây là việc làm rất quan
trọng, nó quyết định đến sự thành bại của Đảng Phong trào cách mạng ngày càng phát triển thì càng phải cần có thêm cán bộ mới để chỉ huy Muốn lựa chọn cán bộ phải căn cứ vào công tác, phải công tác, phải lựa chọn những người hăng hái và hy sinh, biết cách làm việc, biết cách cổ động và thuyết phục quần chúng, được quần chúng tín nhiệm Nếu không chú ý đến lựa chọn và đào tạo cán bộ thì vận động cách mệnh cũng không thể nào phát triển được Trong khi lựa chọn cán bộ cần chú ý đưa đa số vô sản vào các cơ quan chỉ huy để dễ dàng đảm bảo đi đúng con đường cách mạng vô sản [21.558]
Trang 18
- Đảng “phải lập tức khôi phục hệ thống Trung - Nam - Bắc và làm cho các Đảng
bộ từ chi bộ đến Trung ương mật thiết liên lạc” Vì sự khủng bố của địch làm cho các
đảng bộ bị phá hoại ít nhiều Vì liên lạc của Trung ương với các xứ ủy, của xứ ủy với các tỉnh ủy, của tỉnh ủy với các quận, huyện, các chi bộ nhiều nơi bị đình trệ Vậy Đảng lúc này phải khôi phục cho được hệ thống Bắc - Trung - Nam và phải làm cho sự liên lạc từ Trung ương đến các chi bộ trở nên khăng khít, mật thiết Nhất là trong lúc này Đảng thay đổi chính sách, phải làm cho chính sách ấy được phổ cập trong toàn Đảng, toàn bộ đảng viên đều tham gia thảo luận để cho Đảng có thể thực sự tiêu biểu ý chí và hành động thống nhất của toàn thể đảng viên Trong lúc tình thế cách mạng ngày một lên cao như thế nào Nếu các tổ chức của Đảng từ trên chí dưới không liên lạc mật thiết thì Đảng không thể chỉ huy phong trào một cách đúng đắn được Phong trào cách mạng quần chúng sẽ vì đó mà yếu ớt đi, cách mạng không thực hiện được thắng lợi [21.560]
- Đảng phải “Khuyếch trương và củng cố cơ sở Đảng ở các thành thị, các trung tâm điểm kỹ nghệ và các hầm mỏ, đồn điền” Đảng phải coi đây là nhiệm vụ rất quan trọng
Mấy thành phố lớn có công nghiệp tập trung nhiều như Sài Gòn, chợ Lớn, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh nhìn chung Đảng ta chưa có cơ sở Nếu có cũng rất nhỏ yếu Do
đó, nếu không gây dựng được cơ sở rộng rãi, vững vàng ở những nơi công nhân tập trung thì không thể nói đến vai trò lãnh đạo thực tế của giai cấp vô sản trong cuộc cách mạng [21.560]
- Đảng “phải chú ý gây dựng cơ sở Miên, Lào và tổ chức những đảng bộ tự trị của các dân tộc thiểu số” Cách mạng Đông Dương có mối liên hệ mật thiết với nhau, do đó
Đảng phải đặc biệt chú ý sự vận động các dân tộc Miên, Lào và các dân tộc thiểu số Trung ương Đảng cũng như các xứ ủy phải tổ chức ban chuyên môn về vấn đề dân tộc thiểu số, phải cho người học chữ, học tiếng nói của các dân tộc ấy để tuyên truyền vận động họ, gây dựng cơ sở đối với Miên, Lào phải tổ chức cho được những phần tử hăng hái của các dân tộc thiểu số vào Đảng và các đảng bộ miên, Lào cũng như Thổ, Thượng vẫn nằm trong hệ thống duy nhất toàn Đảng, theo đúng tinh thần chủ nghĩa quốc tế, nhưng được tổ chức thành những Đảng bộ tự trị để chỉ huy cho sát với những đồng chí đặc biệt của các dân tộc họ và lôi kéo được đông đảo quần chúng trong các dân tộc ấy đứng lên đấu tranh đánh đổ đế quốc Pháp, giải phóng dân tộc [21.561]
- Đảng “phải củ soát thi hành nghị quyết” Con đường chính trị và những nghị
quyết mà Đảng đứa ra có khi vì đồng chí không hiểu biết, thiếu năng lực mà làm sai, có
Trang 19
khi bị mật thám phá hoại, cũng có khi vì sự xung đột cá nhân giữa các đồng chí chấp hành mà làm chậm chễ hoặc hư hỏng Tất cả những điều ấy nếu không có sự kiểm soát thì không sao thấy ngay được để kịp sửa đổi Không có kiểm soát, cơ quan thượng cấp sẽ không thấy được tính năng lực của đảng viên, sự lựa chọn cán bộ do đó sẽ không thỏa mãn, dùng cán bộ sẽ không sát với năng lực của họ Do đó, ở mỗi đảng bộ, mỗi cơ quan phải kiểm soát công tác của nhau, phải tìm xem vì nguyên nhân gì mà công tác không phát triển để kịp thời sửa đổi [21.562]
- Đảng “phải có các ban chuyên môn” Đảng lúc này chưa có các ban chuyên môn
Lý do chủ yếu không phải là thiếu người, thiếu tiền mà là do chính Đảng ta vẫn chưa thấy
rõ sự cần thiết của các Ban chuyên môn Vì vậy hoạt động của Đảng chưa thực sự chất lượng, hiệu quả Đảng phải thành lập những Ban chuyên môn như: Ban tuyên truyền vận động, Ban tài chính, Ban giao thông, Ban công vận, nông vận, Ban vận động dân tộc thiểu số
- Đảng phải chú ý đến “Công tác chi bộ” Chi bộ là cơ sở của Đảng, sinh hoạt
chính trị của chi bộ là biểu hiện chung của toàn Đảng Phải làm cho các đồng chí trong chi bộ nhận thức rõ rằng mỗi một đồng chí trong ngày thương là một người lính của đội quân tuyên truyền vận động đấu tranh, khi bạo động và người đi đầu lãnh đạo quần chúng ra chiến trường, lúc thành công la những người xây dựng xã hội mới Chi bộ có mạnh thì Đảng mới vững mạnh
- Đảng còn phải chú ý chống nạn khiêu khích mật thám Không kết nạp những phần
tử mật thám, tay sai đế quốc, hoặc luôn củng cố Đảng, loại khỏi hàng ngũ của Đảng những phần tử xấu, mật thám tay sai đế quốc; đồng thời tự chỉ trích và đấu tranh trên hai mặt trận hữu khuynh, tả khuynh [21.563]
Có thực hiện được tất cả những chủ trương ấy thì Đảng ta mới thực sự vững mạnh, đảm bảo được sứ mệnh lãnh đạo toàn dân đấu tranh đi đến thành công
Tháng 9.1940, quân Nhật xâm lược Đông Dương Thực dân Pháp đầu hàng dâng Đông Dương cho Nhật Nhân dân ta một cổ đôi tròng áp bức Trước tình hình mới, 11/1940, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần 7 tại Đình Bảng (Bắc Ninh) (gồm: Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc việt ) Hội nghị tiếp tục nhận định "vấn đề giải phóng", "vấn đề dân tộc độc lập" đã trở thành thực tại và gắt gao" Đảng phải "lãnh đạo các dân tộc bị áp bức Đông Dương vũ trang bạo động giành lấy quyền tự do, độc lập" Hội nghị chủ trương mở rộng hơn nữa Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương
Trang 20
Đồng thời Hội nghị cũng chủ trương giai cấp vô sản Đông Dương phải giữ vững quyền lãnh đạo cách mạng Muốn vậy Đảng phải khắc phục những tồn tại khuyết điểm về số lượng, chất lượng, trình độ đảng viên và công tác Đảng [22 58-62, 71]
Trước nhiều biến động của tình hình thế giới và trong nước, phong trào cách mạng trong nước ngày càng phát triển đòi hỏi tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng Ngày 28-1-1941, sau 30 năm xa Tổ quốc, Nguyễn ái Quốc trở về Tổ quốc trên mảnh đất Cao Bằng Sau khi cùng Trung ương xem xét, phân tích kỹ lưỡng tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển lớn, từ ngày 10 đến 19-5-1941, tại Pác Pó, Cao Bằng, Người chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8
Hội nghị Trung ương lần thứ 8 đã hoàn thiện sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng được đề ra tại Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11/1939) Hội nghị xác định cuộc cách mạng Đông Dương hiện thời là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) mở rộng khối đoàn kết toàn dân tộc đánh đuổi đế quốc phát xít Pháp - Nhật giành độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Muốn hoàn thành sứ mệnh lịch sử đó trước hết phải xây dựng Đảng Cộng sản Đông Dương vững mạnh về mọi mặt có đủ điều kiện khả năng lãnh đạo cách mạng đến thành công
Về vấn đề xây dựng Đảng, Người cùng Trung ương nhận thấy thực tế tình hình Đảng ta lúc đó có một thực trạng là: Sau những cuộc khủng bố 1939 - 1940, Đảng ta bị
hao tổn rất nhiều cán bộ Trong cấp cấp bộ Đảng bị thiếu, thiếu cán bộ chỉ đạo, lại thiếu cán bộ chuyên môn Các cán bộ chỉ huy đã thiếu, các cán bộ chuyên môn lại cũng không
đủ, các cấp đảng bộ ít chú trọng tổ chức ra các ban chuyên môn cần thiết như Ban công vận, nông vận, Ban tuyên truyền làm cho các ngành công tác quan trọng ấy không được phát triển đầy đủ [22.132]
Tuy là Đảng của giai cấp vô sản nhưng thành phần của giai cấp vô sản ở trong Đảng ít Đảng viên xuất thân từ các giai cấp khác như nông dân và tiểu tư sản thì chiếm nhiều hơn Hiện nay Đảng chỉ có 25% là vô sản, 5% phụ nữ, còn 70% nông dân và tiểu tư sản, vì đó lực lượng của Đảng ta trong các chỗ vô sản tập trung và các nơi thành thị, đồn điền lại rất yếu [22.132]
Trang 21
Bên cạnh đó là tình hình phát triển cách mạng không đều Xem xét các phong trào
cách mạng Đông Dương có nơi phong trào lên cao mà có nơi không có gì hết, xem như trong lúc Nam, Bắc đã có những cuộc khởi nghĩa mà ở các xứ Lào và Cao Miên chưa có manh mối của Đảng, lại có những tỉnh ở Trung, Bắc Kỳ cũng chưa có manh mối, các dân tộc thiểu số chưa tổ chức được mấy Mặt khác, phong trào nông dân và binh lính mạnh hơn và lấn át cả phong trào thợ thuyền, thôn quê mạnh hơn thành phố và các nơi kỹ nghệ,
sự chênh lệch phát triển ấy đã đem lại sự thất bại to lớn, ngoài ra lại do manh mối giao thông, tổ chức không bền vững Đảng bộ nhiều nơi thiếu hẳn tinh thần tự động và sáng kiến, nên manh mối Đảng hay bị đứt và công tác Đảng hay bị đình đốn Những tai hại ấy làm cho Đảng ta phí tồn rất nhiều thì giờ mới tiếp tục manh mối và tiếp tục công tác [22.133]
Trước thực trạng ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã có chủ trương xây dựng Đảng lúc này gồm có mấy vấn đề sau:
- Phải gấp rút đào tạo cán bộ chuyên môn như công vận, nông vận, binh vận, quân sự “Việc đào tạo cán bộ nay dã trở thành công tác gấp rút, không thể bỏ qua mọi giờ phút Tất cả các cấp bộ chỉ huy của Đảng phải đặc biệt chú ý công tác này Những cấp
bộ ấy phải mau mau tìm ra những đảng viên trung thành có bảo đảm chắc chắn, có năng lực sáng tạo lập ra các lớp huấn luyện Dù phải đình đốn rất nhiều ngành khác, việc đào tạo cán bộ cũng không thể sao lãng được [22.134] Đảng phải chú trọng đến việc đào tạo cán bộ chuyên môn như công vận, binh vận, quân sự và phải lựa chọn những cán bộ thích hợp, đào tạo cho họ đủ năng lực và tinh thần chuyên môn về công tác ấy
- Về mặt tổ chức đảng phải chú ý đào tạo giai cấp vô sản đem Đảng Trung ương Đảng xác định rõ cuộc cách mạng Đông Dương hiện nay tuy là cuộc cách mạng giải phóng mà nó chỉ là một chiến lược trong giai đoạn khúc khuỷu hiện tại của Đảng mà thôi Nhưng hình thức tổ chức Đảng vẫn là tổ chức tiền phong của giai cấp vô sản mà linh hồn của nó cũng là theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin Hơn nữa giai cấp vô sản vẫn luôn là đội tiền phong của cuộc cứu quốc ngày nay, cho nên xao lãng sự vận động thợ thuyền vào Đảng cũng là sự thiếu sót to lớn Huống hồ cuộc cách mạng Đông Dương còn phải bước nhiều qua các giai đoạn lịch sử, còn phải làm xong cuộc cách mạng Tư sản dân quyền Đông Dương, tiến tới cách mạng xã hội Nhiệm vụ ấy còn dài bao nhiêu, khó khăn bao nhiêu
Trang 22Kỳ tổ chức và gây dựng cơ sở Đảng ở Cao Miên, Đảng bộ Trung kỳ ở Lào, đối với các dân tộc thiểu số phải có các ủy ban chuyên môn vận động họ, làm cho họ thành một lực lượng hậu thuẫn của cuộc cách mạng Đông Dương, đừng để họ luôn là một khí cụ đế quốc lợi dụng mà đàn áp cách mạng”
- Về mặt giao thông liên lạc, Đảng cần phải đảm bảo sự thống nhất chặt chẽ về giao thông liên lạc, đảm bảo sự chỉ đạo thông suốt từ Trung ương đến các chi bộ Đảng, tránh
để bị gián đoạn Sự liên lạc giữa cấp bộ này với cấp bộ khác phải có ngành dự bị
Tóm lại, lúc này “Đảng ta phải làm những công việc mà từ trước đến nay chưa làm xong Nhiệm vụ ấy đặt thêm cho Đảng ta một gánh nặng, vì trong khi đương tiến lên trước tình thế khó khăn để làm xong những nhiệm vụ mới của lịch sử, thì giờ rất cấp tốc, nhưng cũng chưa phải hết Ta phải biết nhằm vào các công tác trung tâm mà tiến tới, phải nắm lấy thời cơ thuận lợi mà làm việc Làm sao cho đủ năng lực lãnh đạo cuộc cách mạng Đông Dương đi đến toàn thắng [22.136]
Trang 23Mặc dù cách mạng Việt Nam những năm 1939-1945, tính chất là "một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc", "nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là nhiệm
vụ trước tiên của Đảng ta và của cách mạng Đông Dương" [22 118] Nhưng vì xu hướng phát triển của cách mạng Việt Nam, Đông Dương đã được Đảng và Hồ Chí Minh xác định từ trước là "cách mạng giải phóng dân tộc phải đi tới cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng xã hội chủ nghĩa" Vì thế, vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản Đông Dương vẫn
là Đảng lãnh đạo cách mạng Hồ Chí Minh và Trung ương đã giải thích và làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng như sau: "Ta phải chú ý rằng cuộc cách mạng Đông Dương hiện nay tuy là cuộc cách mạng giải phóng mà nó chỉ là một chiến lược trong giai đoạn khúc khuỷu hiện tại của Đảng ta mà thôi Nhưng hình thức tổ chức đảng vẫn là tổ chức tiền phong của giai cấp vô sản mà linh hồn của nó cũng là theo chủ nghĩa Mác - Lênin Hơn nữa giai cấp vô sản vẫn luôn là đội tiền phong của cuộc cứu quốc ngày nay" [22 135]
Về vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam 1939-1945 của Đảng Cộng sản Đông Dương đã được Người và Trung ương xác định trong Điều lệ tóm tắt của Đảng được thông qua Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) như sau; "Đảng Cộng sản Đông Dương là đội quân tiền
Trang 24
phong duy nhất của giai cấp vô sản Đông Dương lãnh đạo giai cấp vô sản và toàn thể nhân dân Đông Dương làm cách mạng giải phóng làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập, đặng hoàn thành trách nhiệm của cách mạng tư sản dân quyền, tiến tới cách mạng vô sản thực hiện xã hội chủ nghĩa, bước đầu của cộng sản chủ nghĩa" [22 137]
Trong thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám 1945, Người thường giảng giải cho cán bộ hiểu vai trò quan trọng đặc biệt của Đảng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước nhà Người nói: “Nhà thì phải có cột mới vững chãi Các đoàn thể cách mạng cũng thế, phải có cột mới vững được, nghĩa là phải có Đảng lãnh đạo” [15.376]; “Muôn việc lấy Đảng làm gốc Đảng là gia đình của người Cộng sản” [30.82]
Người thường tuyên truyền giác ngộ làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng hiểu rõ: vì sao chỉ có Đảng Cộng sản Đông Dương mới lãnh đạo được sự nghiệp cách mạng đánh đuổi đế quốc phát xít Pháp - Nhật giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, giành chính quyền
về tay nhân dân, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến thắng lợi hoàn thành Đảng Cộng sản Đông Dương không chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin, hệ tư tưởng khoa học tiên tiến của thời đại soi đường chỉ lối mà Đảng còn là một tổ chức tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, vừa đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân Việt Nam, vừa đại biểu lợi ích của toàn thể dân tộc và nhân dân Việt Nam Chỉ có Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam mới đấu tranh chống đế quốc, phong kiến triệt để và tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam
2.1.2 Quan điểm, đường lối, nguyên tắc xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
2.1.2.1 Trước hết phải xây dựng cương lĩnh chính trị đúng đắn cho Đảng
Vai trò lãnh đạo và sức mạnh của Đảng trước hết được khẳng định ở cương lĩnh chính trị đúng đắn của Đảng
Để lãnh đạo được cách mạng Việt Nam đến thắng lợi, Đảng phải luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng làm kim chỉ nam cho mọi hành động của mình Đảng phải vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam vạch ra được đường lối, chính sách đúng, lại luôn bổ sung, hoàn chỉnh để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của từng giai đoạn cách mạng
Cương lĩnh chính trị - đường lối chính sách của Đảng phải đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ của cách mạng, phù hợp với quyền lợi, nguyện vọng thiết thân của đông đảo quần
Trang 25Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám chứng tỏ cương lĩnh, chủ trương, đường lối chính sách của Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng là hoàn toàn đúng "Vì chính sách của Đảng đúng và thi hành chính sách ấy kịp thời, linh động, cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công"
Trên cơ sở xác định đúng đắn vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng, Hồ Chí Minh nêu lên quan điểm, đường lối, nguyên tắc xây dựng Đảng vững mạnh
2.1.2.2 Chú trọng xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đồng thời xây dựng đảng
về mặt tổ chức
a) Hồ Chí Minh coi trọng việc xây dựng tổ chức Đảng
Công tác tổ chức có vị trí quan trọng của nó Tổ chức là điều kiện vật chất đảm bảo cho tư tưởng được củng cố và biến thành hành động, thành hiện thực Tổ chức có chặt chẽ, nội bộ mới đoàn kết thật sự, kỷ luật mới nghiêm minh và hành động mới tự giác, thống nhất
Người thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân phải đoàn kết đồng lòng và phải tự tổ chức chặt chẽ thì nước nhà mới mau giành được độc lập, cách mạng mới chóng thành công
Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề xây dựng tổ chức Đảng, tổ chức đoàn thể quần chúng cách mạng, dốc toàn tâm toàn lực xây dựng tổ chức Đảng ngày một vững mạnh, chặt chẽ, đoàn kết, thống nhất
Ngay trong lúc bị nhà cầm quyền Tưởng Giới Thạch cầm tù, Người vẫn lo nghĩ về xây dựng tổ chức Đảng, tổ chức đoàn thể cách mạng sao cho vững mạnh Lòng người
"rối như tơ vò", vì "Ai khuyên bảo đồng chí? Ai giúp đỡ đẩy mạnh việc tổ chức? của Đảng và của cách mạng nước nhà"
Trang 26
Trong bài thơ “Hỏi Giăng” (làm ngày 21.8.1942) của Người có đoạn viết:
“Muốn biết tự do chầy hoặc chóng
Thì xem tổ chức khăng hay không?
Nước nhà giành lại nhờ gan sắt
Sự nghiệp làm nên bởi chí đồng
Tổ chức tuyên truyền càng rộng rãi
Tức là cách mạng chóng thành công” [48.41]
Đảng Cộng sản Đông Dương "là tổ chức cao nhất của giai cấp vô sản, gồm những người giác ngộ nhất, kiên quyết tranh đấu nhất của giai cấp vô sản Đảng có kỷ luật sắt, thống nhất hành động về tư tưởng" [22 139] Sức mạnh, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, trước hết là vì Đảng có tổ chức chặt chẽ, đoàn kết, thống nhất cả về hành động và về tư tưởng
b) Quan điểm tư tưởng, nguyên tắc xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh
* Điều quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng là phải đảm bảo tuyệt đối tính giai cấp của Đảng
Điều quan trọng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng quan tâm hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng là tính chất giai cấp của Đảng Người luôn xác định Đảng
ta là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam và không ngừng phấn đấu nâng cao tính chất giai cấp công nhân của Đảng
Nắm vững nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, thấy rõ sức mạnh vô địch của dân tộc Việt Nam, của giai cấp công nhân Việt Nam khi đã đoàn kết lại thành một khối nhất trí và tổ chức lại một cách chặt chẽ, thống nhất dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản cho nên trong công tác xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh một trong những tư tưởng lớn của Người là “Đại đoàn kết dân tộc” và “Tổ chức”
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (5/1941), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã phân tích một cách sâu sắc và sáng suốt về tình hình Đảng và cách mạng Việt Nam những năm 1939 - 1941 và thấy có một thực tế là: “Phong trào nông dân và binh lính mạnh hơn và lấn át cả phong trào thợ thuyền, thôn quê mạnh hơn thành phố và các nơi kỹ nghệ ” Rõ ràng đó là sự phát triển không đều của phong trào cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo, tạo nên sự chênh lệch giữa phong trào của công nhân với binh lính, nông dân, giữa thành thị, nông thôn [22.133]
Trang 27
Sở dĩ có tình trạng ấy là do nhiều nguyên nhân như: Cơ sở giao thông, tổ chức “không bền vững”, sự khủng bố của quân thù những năm 1939 - 1941 làm cho Đảng ta thiếu cán bộ chuyên môn, cán bộ chỉ đạo Nhưng nguyên nhân chủ yếu là do “thành phần của giai cấp
vô sản ở trong Đảng còn ít” (chỉ chiếm 25%), lực lượng cơ sở của Đảng trong các hầm
mỏ, nhà máy xí nghiệp, đồn điền lại rất nhỏ yếu Do đó, lúc này, Người và Trung ương chỉ ra rằng: phải “lấy vận động công nhân làm công việc đầu tiên trong công việc tổ chức quần chúng của Đảng” Dù khó khăn, phiền phức hao tốn một lực lượng khá lớn cũng phải phấn đấu chăm lo Đảng “phải làm sao cho phong trào thợ thuyền trở nên một lực lượng tiền phong cho cuộc cách mạng giải phóng Đông Dương” Muốn vậy theo Người lúc này trong công tác xây dựng Đảng phải đặc biệt chú ý đào tạo giai cấp vô sản đem vào Đảng Việc tăng cường thành phần giai cấp vô sản trong Đảng không chỉ xuất phát từ tình hình nhiệm vụ chính trị chiến lược lâu dài của Đảng mà còn xuất phát từ bản chất giai cấp vô sản của Đảng Cộng sản Đông Dương [22 132-135]
Những quan điểm trên đây chứng tỏ Hồ Chí Minh luôn quán triệt sâu sắc quan điểm
tư tưởng giai cấp công nhân và vai trò lãnh đạo của Đảng Theo Người, giữ vững, tăng cường tính giai cấp vô sản và vai trò lãnh đạo cho Đảng là điều cốt tử làm tăng tính chân chính cách mạng, khoa học, sức mạnh của Đảng Đồng thời nó khắc phục, phản bác lại những quan điểm sai trái cho rằng Đảng cộng sản Đông Dương là “Đảng của nhân dân”,
“Đảng của công - nông”
* Thực hiện nguyên tắc xây dựng Đảng vô sản kiểu mới: Tập trung dân chủ, đoàn kết thống nhất, phê bình và tự phê bình
Trong việc xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc thực hiện nghiêm túc những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của Lê Nin
Theo các nguyên tắc xây dựng Đảng Cộng sản ghi trong điều lệ tóm tắt thông qua Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) Người thường xuyên nhấn mạnh phải xây dựng Đảng ta
là một khối thống nhất ý chí và hành động Đặc biệt trong thời kỳ 1939 - 1945, thời kỳ Đảng lãnh đạo quần chúng giành chính quyền thì việc đó lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Người xác định, trong Đảng phải xây dựng sự nhất trí về đường lối chính trị, đảm bảo thống nhất về tư tưởng và tổ chức, thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng Mọi việc trong Đảng đều phải được bàn bạc một cách dân chủ và tập thể Khi đã thành nghị quyết rồi thì phải có sự phân công cho rạch ròi, rõ ràng, giao việc cho từng người và phải làm cho chu đáo
Trang 28
Người chỉ rõ rằng: Dân chủ phải đi đôi với tập trung, phải kiên quyết thực hành kỷ luật, tức là cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương
Tập trung dân chủ khi thực hiện nghiêm túc nó sẽ đảm bảo cho phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo trong việc thực hiện đường lối chính sách của Đảng của các cán bộ, đảng viên
Người luôn căn dặn Đảng ta phải chống lại mọi biểu hiện tập trung quan liêu, độc đoán, dân chủ hình thức và chống lại mọi biểu hiện phân tán, cục bộ, hẹp hòi, bè phái, tự
do vô kỷ luật Để giữ vững kỷ luật Đảng, Người luôn nhắc nhở cán bộ Đảng viên nghiêm chỉnh thực hiện “phê bình và tự phê bình” Người coi đó là một quy luật phát triển của Đảng, là biện pháp để củng cố và phát triển sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, giữ vững và phát huy sức mạnh của Đảng Người luôn luôn đề cao ý thức kỷ luật tự giác trong Đảng, coi đó là nhân tố quan trọng làm cho Đảng thực sự vững mạnh Trong Đảng
ý thức kỷ luật tự giác theo Người phải được thực hiện một cách nghiêm túc Có như vậy Đảng mới mạnh, mới đoàn kết, mới đảm nhận được sứ mệnh lịch sử cũng như nhiệm vụ cách mạng to lớn của mình Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm minh của cán bộ, đảng viên Đảng ta tuy nhiều người nhưng khi tiến đánh thì như chỉ một người Do đó là nhờ có kỷ luật, kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác
Bên cạnh đó, Người còn đặc biệt quan tâm đến nguyên tắc phê bình và tự phê bình trong Đảng Theo Người, nếu làm tốt được việc đó một cách nghiêm túc và thường xuyên thì mỗi cán bộ đảng viên đều tự biết rút ra những ưu, khuyết điểm của mình để kịp thời phát huy và sửa chữa Có như thế Đảng mới mạnh, nội bộ mới đoàn kết thương yêu lẫn nhau Người quan niệm rằng phê bình và tự phê bình luôn phải đi đôi với nhau để nhằm mục đích giúp đỡ đồng chí cùng tiến bộ, làm tốt nhiệm vụ chính trị
Những nguyên tắc trên luôn được Người gương mẫu thực hiện, ngay cả trong những công việc hàng ngày Mặt khác Người còn thường xuyên đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái với những nguyên tắc đó Ví dụ, vào năm 1941, một vài cán bộ được Đảng
cử đến Tĩnh Tây (Trung Quốc) để đấu tranh lập ra một tổ chức lấy tên là “Hội Việt Nam dân tộc giải phóng đồng minh” (gọi tắt là Hội giải phóng) nhằm tranh thủ tập hợp lực lượng ở bên ngoài, phục vụ cho cách mạng ở trong nước Khi Hội giải phóng vừa thành lập, các cán bộ đó lại ra một tờ báo lấy tên là “giải phóng” Được biết Người đã phê phán
Trang 29
và giải thích rằng: “Việc lãnh đạo cách mạng là do Đảng ở trong nước Tổ chức cách mạng để tập hợp tất cả các lực lượng quần chúng là Việt Minh ở trong nước, chứ không phải Hội giải phóng Ra báo thế này sẽ làm cho quần chúng hiểu lầm Cần đình chỉ, không ra nữa Những số đã in ra rồi thì chỉ để mấy tờ gửi cho một số cơ quan của Trung Quốc, còn nữa, phải đốt hết, tuyệt đối không được phát cho quần chúng” [15.124]
Trong thời kỳ 1939 - 1945, do phải hoạt động bí mật vì quân thù luôn đánh phá, khủng bố các cơ sở Đảng Hơn nữa phương tiện liên lạc hiện đại của Đảng không có, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến xây dựng một mạng lưới giao thông liên lạc bí mật và kiên
cố, nhằm duy trì sự liên lạc, sự lãnh đạo thống nhất của Đảng trong mọi tình huống Người thường nói: “Việc liên lạc là một việc quan trọng nhất trong công tác cách mệnh
vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó đảm bảo thắng lợi” [30.84] Lúc ấy, trước tình hình phát triển của phong trào cách mạng trong cả nước, Người thấy ngoài lối liên lạc thường dùng bằng giao thông bí mật, phải cấp tốc tổ chức những con đường quần chúng từ Cao Bằng đi về miền xuôi Có thế khi địch khủng
bố mới giữ được liên lạc, những hoạt động vũ trang của các đội du kích mới có thể tiến hành thuận lợi, và nhất là mới tranh thủ kịp khi thời cơ biến chuyển tốt, cách mạng có thể tiến lên tổng khởi nghĩa
Rõ ràng, trong công tác xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh luôn quán triệt và coi trọng việc thực hiện nghiêm túc những nguyên tắc về xây dựng Đảng vô sản kiểu mới Nhờ thực hiện tốt những nguyên tắc ấy đã giúp cho Đảng ta thật sự đoàn kết, dân chủ, thống nhất, tạo nên một sức mạnh to lớn giúp cho Đảng ta đủ sức lãnh đạo phong trào cách mạng của quần chúng đi đến chỗ thành công
* Xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa Đảng lãnh đạo với quần chúng nhân dân đông đảo
Việc liên hệ chặt chẽ với quần chúng nhân dân và thông qua phong trào cách mạng của quần chúng để làm công tác xây dựng Đảng là nguyên tắc và phương châm quan trọng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi trong quá trình xây dựng Đảng ta Đó cũng là một truyền thống tốt đẹp, là nguồn sức mạnh của Đảng, là điều kiện không thể thiếu để giữ gìn và phát huy bản chất cách mạng và khoa học của Đảng Xuất phát từ quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng của chủ nghĩa Mác - Lênin Người nói: "Làm cách mạng không thể một mình làm được, mà cần nhiều người cùng làm cách mạng"
Trang 30
"Cán bộ không được tự kiêu, tự mãn như ông tướng, mà phải khiêm tốn" "Phải lấy dân làm gốc như cá dựa vào nước " [15 142] Theo Người, mọi đường lối chính sách của Đảng phải thể hiện được ý chí, nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của quần chúng lao động thì Đảng mới thực sự gắn bó được với nhân dân lao động, mới được quần chúng tin tưởng, ủng hộ và mới hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình
Người và Trung ương Đảng chỉ ra "Đảng luôn luôn sống giữa quần chúng, lãnh đạo quần chúng và phát động công tác trong quần chúng" [22 155]
Mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và quần chúng trong thời kỳ vận động cách mạng tháng Tám (1939 - 1945) được xác lập thực tế, trước hết là vì Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã đề ra được đường lối phương pháp cách mạng đúng đắn Cụ thể là qua Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (11.1939), lần thứ 7 (11.1940) và đặc biệt là hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5.1941), Đảng ta đã kịp thời chuyển hướng và hoàn chỉnh
sự chuyển hướng về chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng, đáp ứng được yêu cầu của thời đại, đáp ứng được yêu cầu của dân tộc và đáp ứng được nguyện vọng của quần chúng nhân dân
Mối liên hệ mật thiết, hữu cơ giữa Đảng và quần chúng (1939 - 1945) được thiết lập còn là nhờ phương pháp cách mạng, phương pháp tổ chức lãnh đạo sáng tạo, khoa học của Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh Người và Trung ương đề ra nguyên tắc Đảng phải luôn giữ vai trò lãnh đạo quần chúng nhưng thực hành dân chủ chứ không phải bằng mệnh lệnh
Mặt trận Việt Minh do Đảng, Hồ Chí Minh sáng lập lãnh đạo nhưng trong lãnh đạo Mặt trận Người và Trung ương vẫn giữ nguyên tắc "dân chủ, bình đẳng, không lãnh đạo bằng hình thức "cưỡng bức""
Cách lãnh đạo Việt Minh của Người và Trung ương Đảng đã thể hiện quan hệ mật thiết giữa Đảng và quần chúng
Đảng lãnh đạo Việt Minh có hai cách:
- Đảng nhân danh một đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, ở đó Đảng có thể đưa chính sách cách mạng của Đảng đề nghị Việt Minh thực hiện và ở trong Mặt trận Việt Minh Đảng có thể tham gia trực tiếp chỉ huy các cuộc đấu tranh của quần chúng Đồng thời nhờ đường lối chính sách của Đảng đúng đắn, uy tín của Đảng nâng cao để lãnh đạo quần chúng
Trang 31
- Nhờ các đảng viên của Đảng tham gia đoàn thể cứu quốc của quần chúng mà có thể tuyên truyền phổ biến chủ trương chính sách của Đảng trong Việt Minh [22 124] Những chính sách của Mặt trận Việt Minh do Người đề ra và chỉ đạo thực hiện
đã góp phần quyết định và trực tiếp trong việc thiết lập được mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với quần chúng nhân dân rộng rãi Thường ngày, Người vẫn luôn nhắc nhở
và căn dặn cán bộ ta rằng: “Đảng ta nhất thiết phải dựa vào quần chúng Ta phải chịu khó, bền bỉ, tuyên truyền vận động cách mạng trong quần chúng, làm cho nhân dân các dân tộc đoàn kết một lòng” [15.191]
* Xây dựng, củng cố chi bộ Đảng
Chi bộ là tổ chức cơ sở của Đảng, là hạt nhân lãnh đạo, là pháo đài chiến đấu của Đảng Chi bộ chính là điểm gắn liền Đảng với quần chúng Chi bộ còn là nơi tổ chức giáo dục, lãnh đạo đảng viên và quần chúng thực hiện mọi đường lối chính sách của Đảng, rèn luyện cán bộ đảng viên Với vị trí và tầm quan trọng của chi bộ như vậy nên Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác chi bộ Người coi đây là công việc quan trọng, là hạt nhân đầu tiên cần phải được xây dựng chu đáo, đủ mạnh để làm cho Đảng thực sự vững mạnh bắt đầu từ chi bộ cơ sở
Người chỉ rõ rằng khi Đảng đã có đường lối chính trị cụ thể thì chi bộ chính là nơi phổ biến đường lối chính trị, đường lối chính sách của Đảng trực tiếp đến đảng viên và quần chúng
Theo Người sức mạnh của Đảng trước hết được phản ánh từ chi bộ Chi bộ có vững
- mạnh thì đường lối của Đảng mới thông suốt, mới đến được quần chúng Nếu chi bộ không vững mạnh, không đoàn kết thì mọi đường lối chính sách của Đảng dù có đúng, có hay đến mấy cũng khó đến được với quần chúng, do đó mục tiêu của Đảng không thực hiện được Chính vì vậy không lúc nào Người không đôn đốc, nhắc nhở, căn dặn Đảng ta phải chăm lo củng cố xây dựng chi bộ vững mạnh
Trong công tác xây dựng tổ chức Đảng và đoàn thể quần chúng, Người thường nhắc nhở cán bộ phải chú ý xây dựng cán bộ cốt cán, trung kiên, và xây dựng chi bộ Đảng Người căn dặn cán bộ: "Các đồng chí có cố gắng trong việc xây dựng phong trào, tổ chức các hội quần chúng phải luôn luôn dựa vào chi bộ để bàn bạc nhiệm vụ công tác" [15 59, 226]
Trang 32
Khi thảo luận về công tác hàng ngày Người luôn dặn đi dặn lại nhiều lần là “lúc nào cũng phải chú trọng xây dựng chi bộ” [30.213] và phải luôn lấy chi bộ là “hạt nhân lãnh đạo” của Đảng
Trong chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Người và Trung ương thường chỉ ra trong thời
* Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, phát triển đảng viên của Đảng
Công tác cán bộ là một trong những công việc quan trọng trong quá trình xây dựng Đảng Hồ Chí Minh luôn quan niệm cán bộ quyết định mọi công việc Công việc đạt hiệu quả như thế nào đều là do cán bộ Người thường nhắc nhở cán bộ "cán bộ quyết định phong trào" Như vậy, người cán bộ đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tổ chức, lập kế hoạch, sắp xếp công việc, chỉ đạo và lãnh đạo quần chúng Muốn Đảng mạnh thì trước hết cần phải xây dựng một đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức tốt Người cho rằng, xây dựng một đội ngũ cán bộ, đoàn kết nhất trí trung thành với Đảng, vói chủ nghĩa Mác - Lê Nin, có nhiệt tình và năng lực công tác, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của Đảng là một yêu cầu quan trọng để xây dựng Đảng vững mạnh
Trong công tác cán bộ của Đảng, Người đòi hỏi phải có kế hoạch và chính sách đúng đắn về sử dụng và đào tạo cán bộ, phải khéo kết hợp cán bộ cũ với cán bộ mới, cán
bộ già với cán bộ trẻ Để phát huy phẩm chất cách mạng và khoa học của Đảng, Người luôn quan tâm giáo dục cán bộ, đảng viên về cả hai mặt: phẩm chất cách mạng và năng lực công tác Không tách rời và coi nhẹ mặt nào Để nâng cao năng lực công tác, Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải có tinh thần học tập, nhất là học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lê Nin Cán bộ thường xuyên học tập nâng cao trình độ chính trị, quân sự, văn hóa, năng lực khả năng công tác
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (1941), chỉ ra tình hình Đảng ta thiếu nghiêm trọng về cán bộ chỉ đạo cũng như cán bộ chuyên môn, Người và Trung ương đã xác định: “Việc đào tạo cán bộ nay đã trở thành công tác gấp rút, không thể bỏ
Trang 33
qua một giờ phút Tất cả các cấp bộ chỉ huy của Đảng phải đặc biệt chú ý công tác này”
và “Đảng phải lựa chọn những cán bộ thích hợp, đào tạo cho họ đủ năng lực và tình thần chuyên môn nghiên cứu về công tác ấy ” [22.133 -134]
Nhờ có những quan điểm đúng đắn về xây dựng cán bộ như vậy nên Hồ Chí Minh
và Trung ương đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ trung kiên, có nang lực công tác, có phẩm chất đạo đức tốt lãnh đạo đảng viên và quần chúng làm nên cuộc cách mạng tháng Tám vĩ đại
- Về công tác phát triển đảng viên mới và đưa ra khỏi Đảng những phần tử không còn tư cách đảng viên
Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: Củng cố và phát triển Đảng là một nhiệm vụ phải tiến hành thường xuyên, phải quán triệt phương châm phát triển đi đôi với củng cố công tác xây dựng Đảng Về phát triển Đảng, để giữ vững tính giai cấp công nhân của Đảng, trên cơ sở đảm bảo tiêu chuẩn đảng viên, Người căn dặn phải chăm lo cải thiện cơ cấu thành phần xã hội của Đảng Đảng phải phát triển tổ chức của mình một cách thận trọng, vững chắc và rộng rãi trong quần chúng, chủ yếu là trong quần chúng công nhân, để tăng cường thành phần vô sản trong Đảng Rõ ràng trong việc phát triển Đảng viên mới Hồ Chí Minh vẫn rất coi trọng việc đảm bảo tính giai cấp trong Đảng làm sao trong Đảng phải có nhiều thành phần là giai cấp vô sản Có như vậy mới đảm bảo cho Đảng thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ và sứ mệnh lịch sử của mình là lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh giành thắng lợi
Trong chỉ đạo công tác Đảng Người nói: "phong trào cách mạng như nước thủy triều khi lên khi xuống, trung kiên cũng như những hàng cọc, cọc đóng có chắc thì mới giữ được phù sa, phòng khi nước xuống" gần như thành lệ, mỗi khi nghe báo cáo phong trào, bao giờ Người cũng hỏi: "đã được bao nhiêu cán bộ, bao nhiêu phần tử trung kiên,
đã chọn được bao nhiêu người tốt để tổ chức vào Đảng?" [15 59]
Trong công tác kết nạp đảng viên mới, Hồ Chí Minh thường lưu ý rằng Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên Vì vậy, “phải chọn lọc đảng viên mới một cách cẩn thận” [43.11] Trong công tác phát triển đảng viên mới, bên cạnh việc phát triển về số lượng là rất cần thiết thì Hồ Chí Minh vẫn đặc biệt chú ý đến chất lượng người đảng viên Theo Người thì người đảng viên mới được kết nạp vào hàng ngũ của Đảng phải là người trước hết có phẩm chất đạo
Trang 34
đức tốt, trình độ chính trị, năng lực công tác cũng phải tốt, đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ mà Đảng giao phó
Ngược lại việc kết nạp đảng viên mới theo Hồ Chí Minh là hoàn toàn phụ thuộc vào
sự tự nguyện của quần chúng chứ Đảng không được ép buộc bất cứ ai vào tổ chức của mình
Cùng với công tác phát triển Đảng, Hồ Chí Minh yêu cầu các cấp bộ Đảng phải tăng cường củng cố Đảng, phải đưa ra khỏi Đảng những người không còn đủ tư cách đảng viên Theo Người, phát triển và củng cố Đảng là phương châm cần được tiến hành thường xuyên trong quá trình xây dựng Đảng để làm cho Đảng ta luôn trong sạch và vững mạnh, đủ sức thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng trong mọi thời kỳ cách mạng
Ngay trong Hội nghị Trung ương lần thứ Tám (1941), trước tình hình thực trạng là Đảng ta bị khủng bố khốc liệt nên lực lượng, cơ sở Đảng bị tổn thất nhiều, cho nên Người và Trung ương đã đề ra một yêu cầu bắt buộc là sau một thời gian nhất định mỗi đảng viên phải giới thiệu được một đồng chí mới vào Đảng Công tác bồi dưỡng nâng cao chất lượng đảng viên cũ phát triển đảng viên mới là rất cần thiết Lúc này Người thường nhắc nhở cán bộ đảng viên phải tích cực phát triển Đảng
Trong công tác phát triển Đảng, Người thường chỉ thị: Khi phát triển đảng viên mới phải chú ý đến số lượng và chất lượng Không phải trên những phần tử cơ hội phức tạp, phản động, tay sai của địch vào Đảng Trong khi phát triển đảng viên mới phải thi hành
kỷ luật cho ra khỏi Đảng những đảng viên thoái lui, cơ hội, bọn A.B, bọn Tơ rốt kít
Như vậy, ngay từ đầu, Hồ Chí Minh đã thấy được tầm quan trọng của việc phát triển đảng viên mới cho Đảng Do đó Người đã cùng Trung ương đôn đốc thực hiện Nhờ
sự đôn đốc nhiệt tình, cẩn thận nguyên tắc nên việc phát triển đảng viên mới thời kỳ này
đã đạt kết quả nhất định, bù đắp cho Đảng những thiệt hại từ chính sách khủng bố Đảng của kẻ thù gây ra
2.1.2.3 Cơ sở lý luận và thực tiễn của quan điểm, đường lối, xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
* Cơ sở lý luận:
Trang 35
- Trước hết quan điểm, đường lối, nguyên tắc, phương pháp xây dựng Đảng của Hồ Chí Minh được bắt nguồn từ những quan điểm, đường lối, nguyên tắc xây dựng Đảng vô sản kiểu mới của chủ nghĩa Mác - Lê Nin
Theo Lê-Nin, Đảng Mác xít là một bộ phận của giai cấp công nhân, là đội ngũ tiền phong, giác ngộ nhất của giai cấp công nhân; Đảng không những là đội tiền phong, giác ngộ của giai cấp công nhân, mà còn là đội ngũ có tổ chức của giai cấp công nhân, có kỷ luật bắt buộc tất cả đảng viên tuân theo; Đảng không những là đội ngũ có tổ chức mà còn
là một tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân Đảng là hiện thân của sự liên hệ giữa đội tiền phong của giai cấp công nhân với hàng triệu quần chúng công nhân; Đảng phải được
tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có một điều lệ duy nhất, một kỷ luật duy nhất
mà tất cả mọi đảng viên cũng như lãnh tụ đều phải thi hành Đảng đó phải có tinh thần quốc tế vô sản
Tiếp thu tư tưởng sâu sắc của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, bắt nguồn từ quan điểm xây dựng Đảng của Lê Nin, Hồ Chí Minh luôn khẳng định rằng, chỉ có sự lãnh đạo của một Đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê Nin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi Người luôn coi chủ nghĩa Mác - Lê Nin là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi phương châm và hành động của Đảng ta
Những quan điểm, đường lối, nguyên tắc, xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ này còn được bắt nguồn kế tiếp từ những quan điểm về Đảng và xây dựng Đảng được thể hiện trong các văn kiện trước đó như: Đường Cách Mệnh (1927), Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt (1930), Luận cương chính trị của Đảng (10/1930)
Những quan điểm, đường lối xây dựng Đảng của Hồ Chí Minh và Trung ương thời
kỳ 1939-1945 được bắt nguồn, kế tục và phát triển những quan điểm, đường lối xây dựng Đảng của Người và của Đảng từ những thời kỳ trước, như: "Muốn cách mệnh thành công thì phải lấy dân chúng (công nông) làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải
hy sinh, phải thống nhất Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin"
"Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững mạnh cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy Đảng
Trang 36
muốn vững thì có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam
Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin" [45 280, 268]
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của giai cấp vô sản, tổng hợp lực lượng công, nông, các tầng lớp quần chúng lao khổ, tiểu tư sản, trí thức, liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới để làm cách mạng tư sản dân quyền, cách mạng ruộng đất
để đi tới xã hội cộng sản [18 4-9]
Quan điểm, đường lối, nguyên tắc xây dựng Đảng còn được thể hiện trong Điều lệ vắn tắt (2/1930) và Điều lệ Đảng (10/1930), như các vấn đề cách tổ chức, hệ thống tổ chức của Đảng, vấn đề chi bộ Đảng, kết nạp đảng viên mới, "phê bình tự phê bình" [18
7, 118]
* Cơ sở thực tiễn:
Những quan điểm, đường lối, nguyên tắc, phương pháp xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ này còn được bắt nguồn từ cơ sở thực tiễn, đó là trước hết, Người rút kinh nghiệm từ những bài học về Đảng và xây dựng Đảng, về lãnh đạo đấu tranh của Đảng ta trước 1939:
Một là, thời kỳ 1930 - 1931, đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình lãnh đạo quần chúng đấu tranh của Đảng ta Đây là lần đầu tiên, kể từ khi Đảng ra đời, Đảng đã lãnh đạo quần chúng nông dân nổi dậy đấu tranh cướp chính quyền trong hai tỉnh Nghệ
An và Hà Tĩnh, lập ra được các Xô Viết Nghệ - Tĩnh, thành lập chính quyền cách mạng
và thi hành những chính sách tự do dân chủ, đem lại quyền lợi thực sự cho người dân Nhưng Xô Viết Nghệ - Tĩnh chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn thì bị thực dân Pháp đàn
áp và đi đến thất bại Mặc dù vậy Xô Viết Nghệ Tĩnh nó đã để lại những ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm vô cùng to lớn cho Đảng ta về sau Nó thực sự là một cuộc tập dượt
vĩ đại đầu tiên đẻ đưa tới thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945 Theo Người: “Xô Viết Nghệ An bị thất bại, nhưng đã có ảnh hưởng lớn Tinh thần anh dũng của nó luôn nồng nàn trong tâm hồn quần chúng, và nó mở đường cho thắng lợi về sau” [43.62]
Sự thành công, thất bại của phong trào cách mạng 1930-1931, đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý cho sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào cách mạng và đối với công tác xây dựng Đảng ở giai đoạn sau
Trang 37
Hai là, thời kỳ 1931 - 1935 Đây là thời kỳ thực dân Pháp khủng bố Đảng ta rất khốc liệt Các cán bộ Đảng và quần chúng bị bắt bị hy sinh rất nhiều Hàng chục vạn chiến sĩ cộng sản và quần chúng đã bị bắt, bị giết hại Các cơ quan lãnh đạo của Đảng ở Trung ương và các địa phương lần lượt bị phá vỡ Song, sự khủng bố và lừa bịp của thực dân Pháp không làm cho những chiến sĩ cách mạng và quần chúng yêu nước từ bỏ con đường cách mạng, một số cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân vẫn nổ ra Các đảng viên cộng sản trong nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), Khám Lớn (Sài Gòn), Vinh (Nghệ An), Côn Đảo, Kon Tum đã thành lập các chi bộ Đảng để lãnh đạo đấu tranh chống chế độ lao tù
hà khắc, đòi cải thiện đời sống, biến nhà tù đế quốc thành trường đấu tranh cách mạng Mặc dầu bị thực dân Pháp khủng bố tàn bạo, một số tổ chức Đảng ở Cao Bằng, Sơn Tây, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi và nhiều nơi ở miền Nam đã bám chắc quần chúng để hoạt động Các đồng chí vượt tù tích cực tham gia khôi phục các tổ chức của Đảng, lãnh đạo quần chúng đấu tranh
Nhờ lòng trung thành và sự tận tụy của các đồng chí còn lại, nhờ sự kiên quyết của Trung ương và sự giúp đỡ của các Đảng bạn, từ 1933, phong trào dần được phục hồi Đến 1935, Đại hội lần I của Đảng họp ở Ma Cao (Trung Quốc) thắng lợi, đánh dấu Đảng
ta được phục hồi sau một thời gian bị khủng bố khốc liệt Tuy nhiên, Người nhận định:
“Chính sách của Đại hội Ma Cao vạch ra không sát với phong trào cách mạng thế giới và trong nước lúc bấy giờ (như địch chia ruộng đất cho công nhân nông nghiệp, chưa nhận
rõ nhiệm vụ chống phát xít và nguy cơ chiến tranh phát xít ” [43.63]
Ba là, thời kỳ 1936 - 1939 Năm 1936, Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất của Đảng diễn ra Đồng chí Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập đã sửa chữa những sai lầm ấy và định lại chính sách mới, dựa theo những nghị quyết của Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 7 (lập Mặt trận dân chủ, Đảng hoạt động nửa bí mật, nửa công khai ) Năm 1939, Mặt trận bình dân ở Pháp cầm quyền, Đảng ta bèn lãnh đạo quần chúng mở cuộc vận động dân chủ và lập Mặt trận dân chủ Đông Dương đấu tranh đòi các quyền tự do dân chủ, cơm áo hòa bình, chộng phát xít, chống chiến tranh Phong trào Mặt trận dân chủ lúc đó khá mạnh mẽ, rộng khắp; nhân dân đấu tranh công khai Theo Người: Đó là ưu điểm Nhưng khuyết điểm la: Đảng lãnh đạo không thật sát, cho nên nhiều nơi cán bộ phạm phải bệnh hẹp hòi, bệnh công khai say sưa vì thắng lợi bộ phận mà xao lãng việc tổ chức bí mật của
Trang 38
Đảng, Đảng không giải thích rõ về lập trường của mình về vấn đề độc lập dân tộc Một số đồng chí hợp tác vô nguyên tắc với bọn Tơ rốt kít Đến khi Mặt trận bình dân bên Pháp bị thất bại, chiến tranh thế giới lần II bắt đầu thì phong trào Mặt trận Dân chủ ở nước ta cũng bị thực dân Pháp đàn áp và Đảng cũng bối rối một hồi
Tuy nhiên, theo Người phong trào đó cũng dạy chún ta rằng: “Việc gì đúng với nguyện vọng nhân dân thì được quần chúng nhân dân ủng hộ và hăng hái đấu tranh và như vậy mới thực sự là một phong trào quần chúng, phải hết sức tránh những bệnh chủ quan, hẹp hòi ” [43.64]
Một cơ sở thực tiễn cho việc hình thành những quan điểm, đường lối, nguyên tắc, phương pháp xây dựng Đảng của Hồ Chí Minh thời kỳ này nữa là Người đã rút kinh nghiệm
từ công tác xây dựng Đảng của các Đảng Cộng sản anh em khác trên thế giới như Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Trung Quốc, đặc biệt là Đảng Cộng sản Liên Xô Qua việc rút kinh nghiệm từ công tác xây dựng Đảng của các Đảng anh em, Người đã vận dụng những kinh nghiệm quý báu của các Đảng bạn để áp dụng vào thực tế xây dựng Đảng cộng sản Việt Nam Người đã từng trực tiếp dịch sách lịch sử Đảng cộg sản (b) Liên Xô để làm tài liệu đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cho cán bộ, đảng viên của Đảng ta
2.2 Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên truyền giáo dục, vận động đảng viên, quần chúng thực hiện quan điểm, đường lối, nguyên tắc, phương pháp xây dựng Đảng
2.2.1 Người cùng Trung ương Đảng xây dựng Cương lĩnh chính trị đúng đắn cho Đảng và tổ chức giáo dục toàn Đảng, toàn dân thực hiện Cương lĩnh chính trị của Đảng
* Người cùng Trung ương xây dựng Cương lĩnh chính trị đúng đắn cho Đảng
Trước khi cuộc chiến tranh thế giới thứ II nổ ra, Hồ Chí Minh đang học tập, công tác tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Quốc tế Cộng sản đặt tại Liên Xô
Trước sự chuyển biến của tình hình Người quyết định tìm cách trở về Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam và Đông Dương Mặc dù còn phải làm nhiệm vụ chỉ đạo phong trào cách mạng ở các nước Đông Nam á, nhưng Người vẫn luôn giành nhiều sự quan tâm chỉ đạo Đảng Cộng sản Đông Dương và phong trào cách mạng Đông Dương
Trang 39
Cuối năm 1938 đầu năm 1939, sau khi rời Liên Xô Người đến Diên An (Trung Quốc) Sau đó Người tới Quế Lâm (Quảng Tây - Trung Quốc) và tham gia công tác trong một đơn vị Bát lộ quân (tổ chức vũ trang của Đảng cộng sản Trung Quốc), tìm cách bắt liên lạc với Đảng cộng sản Đông Dương Từ tháng 2 đến tháng 7.1939, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết 9 bài báo đề là “Thư từ Trung Quốc” gửi về nước và đăng trên báo Notrevoix (Tiếng nói của chúng ta), tuần báo công khai của Đảng xuất bản tại Hà Nội Trong những bài báo đó, Người tập trung viết về hai chủ đề lớn là họa xâm lược của phát xít Nhật lên án mạnh mẽ những tội ác man rợ của chúng và ca ngợi tinh thần đấu tranh anh dũng của nhân dân Trung Quốc chống Nhật cứu nước Cùng với những nghị quyết của Đảng ta nhận định về bọn Tơ rốt kít ở Việt Nam, những bài báo của Người viết về bọn Tơ rốt kít ở Trung Quốc đã có tác dụng quan trọng trong việc giáo dục về chính trị, tư tưởng, giúp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta nhận rõ bọn Tơ rốt kít là tay sai của chủ nghĩa phát xít Vận dụng một cách sáng tạo Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản vào điều kiện cụ thể của nước ta, trong thời gian này, Người đã gửi thư cho Trung ương Đảng nêu ra những ý kiến lãnh đạo đúng đắn về đường lối chiến lược và sách lược trong thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương (1936 - 1939) Những ý kiến ấy, Người đã tóm tắt trong bản báo cáo gửi Ban chấp hành Quốc tế cộng sản tháng 7.1939
Về Đảng, theo Người lúc này: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thật nhất Chỉ có trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa
vị lãnh đạo Muốn làm được nhiệm vụ trên, Đảng phải đấu tranh không nhân nhượng chống tư tưởng bè phái, và phải tổ chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lê Nin, nâng cao trình độ văn hóa và chính trị cho đảng viên Phải giúp đỡ cán bộ không đảng phái nâng cao trình độ Phải duy trì quan hệ chặt chẽ với Đảng Cộng sản Pháp” Người còn nhắc Trung ương phải kiểm soát các báo chí của Đảng để tránh những khuyết điểm
về chính trị Đảng phải hết sức cảnh giác trước âm mưu xâm lược của đế quốc Nhật với Đông Dương và thái độ thỏa hiệp của bọn phản động thuộc địa Pháp đối với đế quốc Nhật [2.87]
Nhờ có sự chỉ đạo đúng đắn của Người, Đảng ta đã lãnh đạo phong trào quần chúng đấu tranh đòi cải thiện đời sống, dân sinh dân chủ trong những năm 1936 - 1939 thu được
Trang 40vụ cách mạng trong giai đoạn cách mạng mới
Trong lúc này tình hình quốc tế, trong nước chuyển biến mau lẹ, phức tạp, đưa lại nhiều khó khăn, thử thách mới cho cách mạng Việt Nam, nhưng cơ hội cho Đảng và nhân dân ta đứng lên khởi nghĩa giành độc lập tự do, giành chính quyền đang sắp đến Người nhận thấy để giành được cơ hội trên, nhiệm vụ cấp thiết đầu tiên là Đảng Cộng sản Đông Dương phải sớm xác định, hoàn thiện được chủ trương, đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn, khoa học sao cho đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ lịch sử và đáp ứng được nguyện vọng, quyền lợi thiết thân của nhân dân ta Đồng thời phải xây dựng, củng
cố Đảng vững mạnh về mọi mặt để lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân thực hiện đường lối, chính sách mới của Đảng, đưa cách mạng đến thành công Vì vậy, Người đã suy nghĩ, đưa ra những dự kiến, bàn bạc cùng với các cán bộ ta nhằm tìm ra được chủ trương, đường lối, chính sách mới của Đảng và những chủ trương mới trong hoạt động xây dựng Đảng, chuẩn bị cho Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 sắp tới
Trước tình hình và nhiệm vụ mới, Hồ Chí Minh nhận thấy vấn đề đoàn kết toàn dân giải phóng dân tộc càng trở nên quan trọng; phải gấp rút lập một hình thức Mặt trận có thành phần rộng rãi, có tên gọi thích hợp (Người dự định thành lập Việt Nam Độc lập đồng minh gọi tắt là Việt Minh), đáp ứng được yêu cầu của cách mạng trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào trong nước Ngày 20.6.1940, nước Pháp bại trận, Chính phủ Pháp đầu hàng Nước Pháp rơi vào tay quân Đức Người nhận định cơ hội giành độc lập,
tự do cho Tổ quốc và nhân dân ta đang đến gần Người chỉ thị cho cán bộ của Đảng ta đang hoạt động ở Trung Quốc chỉ để lại một bộ phận cần thiết tiếp tục hoạt động ở nước ngoài, còn bao nhiêu cán bộ đều gấp rút chuẩn bị mọi điều kiện để về Tổ quốc hoạt động