1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận phát triển kinh tế tư nhân ở việt nam

49 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu Luận Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 251,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nền KTTT hiện đại, do đặc điểm củaLLSX và QHSX, kinh tế cá thể và DN khu vực KTTN là hai hình thức biểuhiện chủ yếu của KTTN Ở VN, KTTN được hình thành và phát triển mạnh mẽ gắn li

Trang 1

PHÁT TRIỂN KTTN Ở VN

1 Tổng quan chung về KTTN 1.1 Khái niệm KTTN

Khái niệm KTTN hay khu vực KTTN hiện nay còn có nhiều ý kiến chưađồng nhất Theo nghĩa rộng, KTTN được sử dụng để phân biệt với KTNN

Theo nghĩa hẹp hơn, KTTN là thành phần kinh tế được hình thành và pháttriển dựa trên sở hữu tư nhân về TLSX và lưoij ích cá nhân

Trong lịch sử phát triển kinh tế, KTTN đã ra đời từ rất sớm, gắn liền với sựhình thành và phát triển KTHH Trong nền KTTT hiện đại, do đặc điểm củaLLSX và QHSX, kinh tế cá thể và DN khu vực KTTN là hai hình thức biểuhiện chủ yếu của KTTN

Ở VN, KTTN được hình thành và phát triển mạnh mẽ gắn liền với sựnghiệp đổi mới, quan niệm về KTTN cũng từng bước được thể hiện rõ hơn

Có ba quan điểm về KTTN ở VN:

 KTTn là hành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về TLSX

 KTn bao gồm các loại hình DN hoạt động theo Luật DN

 Đại X của Đảng đã khẳng định: KTTN bao gồm hai thành phần kinh

tế tư bản tư nhân và cá thể, tiểu chủNhư vậy, ở nước ta hiện nay, KTTN không phải là một thành phần kinh

tế mà là một khu vực kinh tế gồm hai thành phần kinh tế

Ở đây, khái niệm khu vực KTTN được dùng để chỉ các thành phần kinh

tế có cùng chế độ sở hữu tư nhân về TLSX

1.2 Bản chất KTTN

Để xác định bản chất KTTN, cần xem xét KTTN trên ba mối quan hệ cơbản: quan hệ sở hữu về TLSX, cơ chế hoạt động và quan hệ trong phân phối

Trang 2

* Về quan hệ sở hữu: sở hữu tư nhân về TLSX là cơ sở tồn tại của

KTTN Sở hữu tư nhân phát triển từ thấp lên cao và bao gồm hai hình thức

cơ bản:

Một là, sở hữu tư nhân nhỏ là sở hữu của cá nhân hay hộ gia đình sản

xuất ra sản phẩm bằng sức lao động của chính cá nhân hay hộ gia đình đó

Hai là, sở hữu cá nhân lớn gắn liền với sự xác lập nền sản xuất lớn, là đại

biểu của nền KTHH phát triển đến trình độ cao, của PTSX tư bản côngnghiệp

* Về cơ chế hoạt động: KTTN hoạt độngt heo cơ chế “ 4 tự”: tự bỏ vốn,

tự tổ chức, tự chủ trong kinh doanh và tự bù lỗ

* Về quan hệ phân phối: Trong KTTN, các hình thức tổ chức khác nhau

có quan hệ phân phối khác nhau Đối với kinh tế cá thể, do dựa vào sức laođộng của bản thân nên sản phẩm và kết quả lao động là hoàn toàn thuộc vềchính hộ hay cá nhân đó Đối với kinh tế tư bản tư nhân, quan hệ phân phốiđược dựa trên nguyên tắc: chủ sở hữu TLSX chiếm phần lớn sản phẩm thặng

dư còn người lao động được hưởng một phần sản phẩm tất yếu Trong nềnKTTT hiện đại, các yếu tố khoa học – công nghệ, trình độ tổ chức quản lýcủa DN, trình độ của người lao động, thị trường…đóng vai trò ngày càngquan trọng hơn trong quá trình sản xuất, chủ DN không còn là người sở hữuduy nhất về vốn và TLSX Hơn nữa, trong điều kiện mới, nhà nước có vaitrò quan trọng trong điều tiết quan hệ phân phối Do vây, quan hệ phân phốitrong các Dn trở nên phức tạp hơn Sản phẩm thặng dư ngoài phần đóng gópcho nhà nước và tích lũy cho tái sản xuat mở rộn, được phân phối lại bằngrất nhiều hình thức khác nhau và cho các yếu tố đóng góp vào quá trình tạo

ra giá trị thặng dư như: lao động, tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, vốn

cổ phần…

Trang 3

Bản chất chung của KTTN là sở hữu tư nhân về TLSX và các nguồn lựcsản xuất.

1.4 Vai trò của KTTN trong nền KTTT

KTTN luôn mang trong mình động lực phát triển mạnh mẽ - động lực cánhân Từ kinh nghiệm thế giới có thể khẳng định: không có KTTN thì vềthực chất không có KTTT Vai trò của KTTN biểu hiện:

- Huy động, phân bổ và sử dụng một cách tối ưu các nguồn lực trong xãhội

- Quy mô đa đạng nên KTTn có khả năng tối ưu hóa tổ chức sản xuất

- Góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và mức song chongười lao động từ đó giảm các tệ nạn xã hội

- Góp phần đáp ứng ngày càng cao, đa dạng các nhu cấu của người tiêudùng

- Góp phần dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại

Trang 4

- Góp phần tạo nguồn thu thuế và tăng đóng góp ngân sách nhà nước

- Thúc đẩy phát triển năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

- Là động lực cho quá trình hộ nhập kinh tế quốc tế

1.5 Điều kiện tồn tại và phát triển KTTN trong nền kinh tế chuyển đổi

Sự hình thành và phát triển KTTN là kết quả tất yếu của sự phát triểnLLSX Đối với các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, mặc dù có sự điềuchỉnh về mô thức phát triển kinh tế nhưng mục đích cuối cùng vẫn là xâydựng thành công CNXH Bản chất của xã hội XHCN là thực hiện chế độcông hữu về TLSX Vậy chế độ công hữu được hình thành do đâu? Có phải

do ý chí chủ quan của con người? Theo lý luận của Mác, nếu hiểu công hữu

là một sản phẩm của quá trình phát triển lịch sử thì công hữu chính là kếtquả tất yếu của sự liên kết tự nhiên của các sở hữu cá nhân Nói vậy tức làtheo Mác, tiền đề xuất hiện công hữu chính là sở hữu tư nhân

Trong nền kinh tế chuyển đổi, trình độ phát triển của LLSX còn thấp kémhơn so với các nước tư bản phát triển nên phát triển KTTN là cần thiết Điềukiện để KTTN tồn tại và phát triển:

- Xóa bỏ rào cản tâm lý

- Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, tạo môi trương cạnh tranhlành mạnh, bình đẳng

- Quản lý kinh tế vĩ mô chặt chẽ, hoàn thiện khung pháp luật, xâydựng hành lang pháp lý đồng bộn vf thống nhất, tạo sân chơi chung cho tất

cả các khu cực kinh tế

1.6 Đặc điểm KTTN VN hiện nay

Hoàn cảnh ra đời của KTTN VN khác với các nước phát triển kháctrên thế giới:

Trang 5

- KTTN là sản phẩm của công cuộc đổi mới do Đảng khở xướng vàđược phát triển trong điều kiện nhà nước XHXN

- KTTN ở nước tar a đời và phát triển trong điều kiện QHSX thốngtrị trong xã hội không phải là QHSX TBCN

- KTTN VN ra đời và phát triển trong thời kỳ đất nước đang quá độlên XHCN từ nền kinh tế chậm phát triển

Từ những điểm khác trên mà KTTN VN có các đặc điểm khác về bảnchất so với KTTN ở các nước phát triển khác:

- Là kết quả của chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần,

là bộ phận hữu cơ trong nền KTTT định hướng XHCN, phát triển trongkhuôn khổ chính sách phát triển nền kint tế nhiều thành phần

- Ngay từ khi mới ra đời đã mang trong mình những yếu tốXHCN, phát triển theo định hướng mà ĐCSVN đề ra thông qua hệ thống cácchính sách, pháp luật của nhà nước XHCN

- Phạm vi hoạt động trải hầu khắp các ngành, lĩnh vực kinh tếnhưng chủ yếu ở lĩnh vực thương mại và dịch vụ, những ngành có doanh lợihấp dẫn, có sẵn thị trường và kinh nghiệm hoạt động Phần lớn tập trung ởcác thành phố và khu kinh tế phát triển

- Quy mô các DN còn nhỏ bé, chủ yếu là các DN nhỏ và vừa,suất đầu tư thấp, kỹ thuật và công nghệ còn nhiều bất cập

- Hạn chế về vốn và khả năng tích lũy

- Thiếu kinh nghiệm và bản lĩnh kinh doanh

- Mối quan hệ trực tiếp giữa chủ DNTN với công nhân, người laođộng trong từng DN không còn là quan hệ đối kháng

- Sự phát triển của KTTN góp phần tăng tính cộng đồng dân tộc,yếu tố dân tộc và hình ảnh dân tộc trong cộng đồng quôc tế

Trang 6

Trung Quốc là quốc gia có nhiều nét tương đồng với VN cả về lịch sửphát triển cũng như điều kiện tự nhiên Trung Quốc đã tiến hành cải cáchkinh tế từ 1978 và đã đạt được nhiều thành tựu, đặc biệt trong phát triểnKTTN.

* Thay đổi nhận thức, quan điểm về KTTN

Phải nói đến đầu tiên đó là bước đột phá trong tư duy lý luận của TQ

Quan niệm truyền thống Xây dựng lý luận mới theo quan

niệm cải cách

1 Lý luận về KTTT

- KTTT có thuộc tính chế độ, mangbản chất giai cấp, gắn liền với tư bản

và bóc lột

- Chế độ công hữu XHCN phải thuầnnhất, không dung nạp và không thểkết hợp với KTTT

- Phân phối theo lao động là duy nhất

- KTTT vừa phục vụ CNTB, vưaphục vụ CNXH

- Chế độ công hữu là chính, các hìnhthức sở hữu khác cùng phát triển

- Phân phối theo lao động là chính,các hình thức phân phối khác cùngtồn tại

2 Lý luận về CNXH

- CNXH mang tính cộng đồng, tínhphổ biến

- Liên Xô là nước CNXH phát triểnnhất, CNXH chỉ có thể học tập LiênXô

- CNXH vừa có tính phổ biến, vừa cótính đặc thù, có thể đi theo conđường riêng của từng nước

- Cần phải vận dụng tất cả nhữngthành tựu của văn minh nhân loại cho

Trang 7

- Thủ tiêu tư bản, hạn chế phát triểnkinh tế phi công hữu

cho tăng cường sức mạnh tỏng hợpcủa nhà nước XHCN, có lợi chonâng cao đời sống nhân dân (ba lợi)

và các hình thức tổ chức kinh doanhphản ánh QHSX XHCN đều có thểmạnh dạn vận dụng

Học hỏi kinh nghiệm phát triển KTTN từ TQ, VN cần thay đổi tư duy,mạnh dạn hơn nữa trong việc nhìn nhận vai trò cũng như vị trí của KTTN:

* Xây dựng thể chế, tạo điều kiện cho phát triển KTTN

- Thật sự đối xử công bằng và tạo điều kiện bình đẳng về cơ hội

- Tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển KTTN

- Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy sự phát triển KTTN

- Xây dựng môi trường tâm lý xã hội cho sự phát triển

* Cải cách DNNN

- Đổi mới và sắp xếp đồng bộ

- CPH và tư nhân hóa

2 Thực trạng phát triển KTTN VN 2.1 Chính sách phát triển KTTN thời kỳ trước đổi mới

Dưới góc độ xem xét các chính sách kinh tế, có thể chia thời kỳ nàythành những giai đoạn nhỏ với những đặc trưng khác nhau

Thứ nhất: Thời kỳ khôi phục kinh tế (1955 - 1957)

Đây là thời kỳ Việt Nam tạm thời chia làm hai miền với hai chế độ khácnhau, trong đó miền Bắc phát triển kinh tế theo đường lối của ĐCSVN Kinh

Trang 8

tế miền Bắc vốn rất lạc hậu lại chịu hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranhvới Pháp Bởi vậy tháng 9/1954, Bộ Chính trị ĐCSVN đề ra kế hoạch 3 năm(1955 - 1957) hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh

tế mà trọng tâm là cải cách ruộng đất

Song song với cải cách ruộng đất, tháng 5/1955, Chính phủ ban hành 8chính sách khuyến khích sản xuất mà trước hết là kinh tế nông dân, baogồm: 1/ bảo đảm quyền sở hữu ruộng đất; 2/ bảo hộ tài sản cho nông dân vàcác tầng lớp khác; 3/ khuyến khích khai hoang phục hoá bằng việc miễngiảm thuế 3 năm cho ruộng đất phục hoá và 5 năm cho ruộng đất khaihoang; 4/ tự do thuê mướn nhân công, trâu bò, tự do vay và cho vay; khuyếnkhích phát triển hình thức tổ đổi công; 6/ khuyến khích phát triển nghề phụ

và nghề thủ công trong nông dân và nông thôn; 7/ bảo hộ, khuyến khích vàkhen thưởng những hộ nông dân làm ăn giỏi; 8/ nghiêm cấm phá hại sảnxuất

Trong bối cảnh nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, những chính sách này rõràng đã hướng vào sự phát triển KTTN, coi khôi phục kinh tế nông dân -

Trang 9

KTTN - là khâu trọng yếu của khôi phục kinh tế Thực tế đã chứng minhtính đúng đắn của những chính sách này.

Thứ hai: Thời kỳ cải tạo XHCN nền kinh tế (1958 - 1960)

Chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tố thời đại, Việt Nam đã sớm lựa chọn conđường phát triển XHCN theo mô hình Liên Xô

Tháng 4/1958, Quốc hội Việt Nam thông qua Kế hoạch 3 năm (1958 1960) phát triển và cải tạo kinh tế, phát triển văn hoá Công cuộc cải tạoXHCN đối với nền kinh tế được thực hiện với mục tiêu biến nền kinh tếnhiều thành phần thành nền kinh tế XHCN với hai hình thức sở hữu chủ yếu

-là quốc doanh và tập thể; kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân được coi

là đối tượng phải cải tạo Nội dung chủ yếu của công cuộc cải tạo là:

1 Quốc hữu hoá các xí nghiệp của chính quyền cũ và tư sản mại bản

2 Cải tạo hoà bình đối với tư bản dân tộc bằng công tư hợp doanh

3 Tập thể hoá nông nghiệp và công thương nghiệp cá thể

Trong toàn bộ công cuộc cải tạo thì việc đưa nông dân vào hợp tác xãđược coi là khâu chính Đến năm 1960, đã có 89,4% nông dân đồng bằng

Trang 10

Bắc bộ vào hợp tác xã nông nghiệp Ở khu Bốn cũ, tỷ lệ này là 87,9%, trung

du và miền núi phía bắc là 65,8%

Trong thương nghiệp, 65% trong số 185 ngàn tiểu thương vào hợp tác xãmua bán; các hợp tác xã cũng được lập ra trong nghề cá, vận tải thô sơ

Đi đôi với cải tạo kinh tế cá thể, công việc cải tạo cũng đã tiến hành mộtcách triệt để đối với tư bản công – thương nghiệp Tính đến hết năm 1960,

đã cải tạo xong 729 hộ tư bản công nghiệp thành 661 xí nghiệp công tư hợp

doanh và 68 hợp tác xã; toàn bộ vận tải tư nhân cơ giới với 1602 ô tô và 132phương tiện vận tải thuỷ thành xí nghiệp công tư hợp doanh; đã chuyểnthành công tư hợp doanh 1489 hộ tư sản thương nghiệp (tức là 99,4% số hộcần cải tạo)

Song song với quá trình cải tạo các thành phần kinh tế tư bản tư nhân,Nhà nước tăng đầu tư phát triển kinh tế quốc doanh Kết quả là, trong vài

năm, khu vực kinh tế XHCN đã có sự phát triển vượt bậc, lấn át đối với

KVTN.

Thứ ba: Thời kỳ 1961 - 1975

Trang 11

Tháng 9/1960, ĐCSVN tiến hành Đại hội lần thứ III đề ra đường lối cáchmạng XHCN và kế hoạch kinh tế 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) Mộttrong những quyết định quan trọng nhất lúc này là phải “hoàn thành cải tạoXHCN, làm cho kinh tế miền Bắc trở thành nền kinh tế XHCN”.

Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất bị bỏ dở do Mỹ mở rộng chiến tranh ramiền Bắc, nhưng đường lối kinh tế do Đại hội III đề ra vẫn tiếp tục đượctriển khai một cách tích cực Công cuộc cải tạo XHCN được thực hiện vớinội dung chủ yếu là hạn chế kinh tế cá thể, chuyển toàn bộ xí nghiệp công tưhợp doanh thành xí nghiệp quốc doanh, phát triển mạnh kinh tế quốc doanh

và hợp tác xã

Trong cải tạo XHCN, hợp tác hoá nông nghiệp vẫn giữ vị trí đặc biệtquan trọng với phương thức chủ yếu là chuyển hợp tác xã bậc thấp lên bậccao, mở rộng quy mô hợp tác xã Đồng thời, để nâng cao tỷ trọng của kinh tếXHCN, Nhà nước tăng cường đầu tư xây dựng kinh tế quốc doanh ở tất cảcác ngành, các vùng, các địa phương trên miền Bắc

Một số chỉ tiêu chủ yếu hai năm 1957 và 1960 (%)

Chỉ tiêu 1957 1960

Trang 13

Kết quả là, sau 10 năm chiến tranh (1965 - 1975), kinh tế XHCN dướihai hình thức quốc doanh và tập thể đã giữ địa vị thống trị tuyệt đối trongnền kinh tế Năm 1975, kinh tế XHCN tạo ra 88,4% tổng sản phẩm xã hội,84,1% thu nhập quốc dân, 95,5% giá trị sản lượng công nghiệp, 97,1% giátrị sản lượng nông nghiệp, 87,5%giá trị sản lượng xây dựng cơ bản, và gần100% khối lượng hàng hoá luân chuyển Tình hình này cũng có nghĩa là,

tính đến năm 1975, về cơ bản, miền Bắc Việt Nam đã xoá bỏ KTTN như

một khu vực kinh tế.

Thứ tư: Thời kỳ 1976 – 1985

Ngày 30/4/1975, chiến tranh kết thúc và năm 1976, Việt Nam thống nhất

về mặt Nhà nước và tổ chức Đảng Đại hội lần thứ IV ĐCSVN đã quyết địnhđường lối cách mạng XHCN cho cả nước và kế hoạch kinh tế 5 năm (1976 -1980) Tháng 3/ 1977 Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra quyết định: hoànthành về cơ bản cải tạo XHCN đối với công thương nghiệp tư bản chủ nghĩatrong hai năm 1977- 1978, trước hết là xoá bỏ tư bản thương nghiệp Thựcchất của đường lối và kế hoạch kinh tế này là mở rộng mô hình CNXH dựatrên sở hữu công cộng ở miền Bắc ra phạm vi cả nước

Trang 14

Nhưng, những cố gắng quyết liệt để mở rộng kinh tế XHCN, xoá bỏKTTN trên phạm vi cả nước đã không thành công Kế hoạch 5 năm (1976 -1980) không thực hiện được hầu hết các chỉ tiêu quan trọng, kinh tế sa sút,sản xuất và đời sống gặp nhiều khó khăn Tháng 9/1979, Hội nghị Trung

ương ĐCSVN lần thứ VI đã phải ra Nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cấp

bách, trong đó lợi ích cá nhân của người lao động lần đầu tiên được nhấn

mạnh và do đó lần đầu tiên đặt ra vấn đề phải sử dụng đúng đắn các thànhphần kinh tế cá thể và tư sản dân tộc Tuy nhiên KTTN, kinh tế thị trườngvẫn bị coi là các lực lượng phi XHCN cần tiếp đấu tranh và cải tạo

Tháng 3/1982, Đại hội ĐCSVN lần thứ V thông qua kế hoạch 5 năm(1981 - 1985), đặt vấn đề đổi mới tư duy, điều chỉnh đường lối và chính sáchkinh tế Với quan điểm thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần (3 thànhphần ở miền Bắc, 5 thành phần ở miền Nam), ĐCSVN đã đề ra chính sách

“kết hợp cải tạo với sử dụng, thông qua sử dụng để cải tạo các thành phần

kinh tế phi XHCN” Chính sách này đã cứu KTTN khỏi nguy cơ bị tiêu diệt,

tuy rằng nó chưa được khuyến khích phát triển.

Trang 15

Song, nhân tố kích thích khuynh hướng phát triển của KTTN lúc này lạikhông phải là những quyết định chính sách đối với bản thân nó mà chính lànhững quyết định chính sách (nhằm cứu vãn) đối với khu vực kinh tế XHCN

Có hai quyết định quan trọng thuộc lại này:

- Quyết định 25/CP của chính phủ (ngày 21/01/1981) “Về một số chủ

trương và biện pháp nhằm tiếp tục phát huy quyền chủ động sản xuất kinh

doanh và tự chủ tài chính của xí nghiệp quốc doanh” Thực chất, đây là

bước điều chỉnh công tác kế hoạch hoá của DNNN, cho phép, ngoài một sốchỉ tiêu kế hoạch buộc phải thực hiện, các DN tự tìm kiếm đầu vào và kháchhàng, sản xuất và cung ứng theo “giá cả thoả thuận”

- Chỉ thị 100/ CT của Ban Bí thư ĐCSVN (13/11/1981) về việc thựchiện chế độ khoán trong hợp tác xã nông nghiệp Theo chính sách này, hộnông dân nhận ruộng khoán của hợp tác xã và được đầu tư vào một số khâusản xuất, hợp tác xã không nắm quyền kiểm soát chặt chẽ việc bán sảnphẩm, cho phép nông dân được tự do trao đổi phần sản lượng vượt khoán

Những quyết định trên đây cùng với cuộc tổng điều chỉnh giá cả và tiền

tệ (tháng 10/1985) đã góp phần quyết định làm phân huỷ cơ cấu bên trong

Trang 16

khu vực kinh tế XHCN, làm phát triển các quan hệ thị trường tự do, và do đótạo ra môi trường cho sự bột phát của KTTN Đến hết năm 1985, khu vựckinh tế XHCN “chỉ còn” chiếm 70,9% tổng sản phẩm xã hội, khu vực kinh

tế tư nhân đã chiếm được 29,1%

Mặc dù chính phủ đã áp dụng nhiều biện pháp cứng rắn - kiểm tra hành

chính, kiểm soát thị trường, nhưng cho đến giữa thập kỷ 80, KTTN đã phát

triển và có xu hướng trở thành một khu vực kinh tế hiện thực Và vì vậy,

việc tạo lập một môi trường kinh tế vĩ mô nói chung, một hệ thống chínhsách kinh tế phù hợp với sự phát triển của khu vực KTTN cũng như toàn bộ

Trang 17

khủng hoảng và sa sút nghiêm trọng, lạm phát gia tăng, sản xuất đình trệ,đời sống dân cư rất khó khăn.

Đại hội ĐCSVN lần thứ VI (tháng 12/1986) đã đề ra Cương lĩnh chiếnlược và đường lối đổi mới nền kinh tế Một trong những quyết định quantrọng nhất của Đại hội VI là xác định mục tiêu xây dựng nền kinh tế hànghoá nhiều thành phần, có sự quản lý của nhà nước và phát triển theo định

hướng XHCN Theo mục tiêu này, ĐCSVN chủ trương phát triển kinh tế

nhiều thành phần như một chiến lược lâu dài và là chính sách cơ bản để dân

chủ hoá kinh tế, giải phóng các nguồn lực nhằm phát triển kinh tế

Đại hội lần thứ VII và VIII của ĐCSVN đã tiếp tục hoàn thiện cácquan điểm được đề xuất từ Đại hội lần thứ VI Mục tiêu kinh tế của ViệtNam được xác định là: xây dựng nền KTTT (nhiều thành phần) có sự điềutiết của nhà nước và phát triển theo định hướng XHCN

Những quyết định trên đây là sự định hướng chiến lược cho tiến trìnhkinh tế Việt Nam, đồng thời mở ra cơ hội và điều kiện thuận lợi cho KTTNphát triển như một khu vực quan trọng của nền kinh tế quốc gia

Trang 18

Thực hiện chiến lược đó, kể từ 1989, Việt Nam đã áp dụng nhiềuchính sách quan trọng và đồng bộ để xoá bao cấp, chuyển sang kinh tế thịtrường Những chính sách này đã tác động mạnh và tích cực đối với sự pháttriển KVTN

2.2.2 Những chính sách kinh tế mới của Nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân

* Khuôn khổ pháp lý chung.

Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng khuôn khổ pháp lý

để khuyến khích KVTN Tháng 12/ 1987, Quốc hội Việt Nam đã thông quaLuật Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Riêng đối với KVKTTN trong nước,

có thể nêu một số văn bản pháp lý quan trọng nhất là: Luật Công ty(21/12/1990), Luật DNTN (1991), Hiến pháp sửa đổi (4/1992, trong đó thừanhận và bảo hộ sở hữu tư nhân, cho phép mọi công dân được tự do kinhdoanh theo pháp luật), Luật Đất đai (1993), Luật Phá sản, Luật Khuyếnkhích đầu tư trong nước (6/1994) và Luật Khuyến khích đầu tư trong nướcsửa đổi (được Quốc hội khoá X thông qua ngày 20/5/1998, có hiệu lực thi

Trang 19

hành từ 1/1/1999) Năm 1999, Quốc hội khoá X đã thông qua Luật DN (cóhiệu lực từ 1/1/2000).

Các bộ luật quan trọng nói trên đã tạo ra khuôn khổ pháp lý chung,thuận lợi cho sự hoạt động của hệ thống DN nói chung, khu vực KTTN nóiriêng Theo tinh thần của các bộ luật này, mọi cá nhân và tổ chức ở ViệtNam có đủ điều kiện, đều được phép đăng ký tham gia hoạt động sản xuấtkinh doanh, phục vụ cho quốc kế dân sinh; Nhà nước tạo điều kiện cho việc

sử dụng đất đai, thuê mướn mặt bằng để sản xuất kinh doanh, tuỳ theo ngànhnghề và quy mô DN

Từ chỗ bị coi là đối tượng cải tạo , cấm đoán và hạn chế phát triển, giờđây, KVTN đã có môi trường phát triển tương đối thuận lợi và trên thực tế

đã phát triển nhanh, đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng chung của nềnkinh tế Nếu như năm 1990, cả nước có khoảng 500 xí nghiệp và công ty tưnhân, khoảng 360 ngàn hộ kinh doanh cá thể, thì đến năm 1996, những con

số này là 28.480 xí nghiệp và hơn 1 triệu hộ kinh doanh Đóng góp củaKVTN vào GDP năm 1996 ước tính lên tới 40,16% (chưa kể khu vực có vốnnước ngoài)

Trang 20

Một điểm đáng chú ý và cần nhấn mạnh là, trong điều kiện tự do kinhdoanh, công tác quản lý hoạt động của các DN phải được thực hiện hết sứcsát xao, chính xác - trong khi vẫn không gây khó khăn cho các DN Đây làmột điểm yếu trong quá trình thực hiện chính sách Có thể nêu một ví dụđiển hình cho vấn đề này là: ở Thành phố Hồ Chí Minh cuối năm 1999,trước khi Luật DN có hiệu lực thi hành, thì bỗng dưng, các cơ quan chứcnăng thấy “biến mất” gần hai trăm đơn vị trước đó đã có trong đăng ký kinhdoanh Có lẽ, không cần phải bình luận gì thêm về công tác quản lý DN vàthực hiện chính sách, khi để xảy ra hiện tượng như thế.

Ở khía cạnh khác lại phải thấy rằng, trong khi đường lối và các chínhsách nói trên đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý chung khá thuận lợi thì nhiềuvăn bản dưới luật (những qui định của Chính phủ, của các Bộ, ngành, địaphương) lại quá chồng chéo, mâu thuẫn, gây phiền hà và khó khăn rất nhiềucho các DN Nhằm khắc phục tình hình này, ngày 3/2/2000 Thủ tướngChính phủ đã ra quyết định (số 19/2000/QĐ- TTg) bãi bỏ 84 loại giấy phépliên quan đến hoạt động kinh doanh, trái với Luật DN Hiện tại, các Bộ,ngành, địa phương đang tiếp tục rà soát các loại quy định tuơng tự để thực

Trang 21

hiện theo tinh thần Quyết định nói trên Đây là bước tiến tích cực, tạo thuậnlợi cho hoạt động của giới kinh doanh nói chung, KTTN nói riêng.

* Chính sách cơ cấu

- Về sở hữu, nền kinh tế Việt Nam là hệ thống nhiều thành phần, trong

đó kinh tế nhà nước giữ vị trí chủ đạo, đảm nhận chức năng dẫn dắt cácthành phần khinh tế khác phát triển theo định hướng XHCN, KTTN pháttriển bình đẳng với mọi thành phần kinh tế khác

- Nhà nước Việt Nam cho phép các thành phần kinh tế đầu tư trênmọi vùng lãnh thổ theo quy hoạch thống nhất của Nhà nước Luật Khuyếnkhích đầu tư trong nước sửa đổi (1998) đưa ra nhiều biện pháp hỗ trợ và ưuđãi mạnh mẽ các hoạt động đầu tư trong nước nhằm phát huy tôí đa nội lựccủa nền kinh tế, đặc biệt dành nhiều ưu đãi cho các dự án đầu tư vào nhữngđịa bàn khó khăn

- KVTN không bị giới hạn lĩnh vực kinh doanh Luật DN mới banhành gần đây nhất cho phép mọi loại hình kinh tế, trong đó có KTTN, đượcđầu tư kinh doanh trong mọi ngành nghề, trừ lĩnh vực an ninh quốc phòng

Trang 22

- Trong tiến trình CNH - HĐH, và phát triển theo định hướngXHCN,Việt Nam dành những ưu tiên đặc biệt cho đầu tư phát triển kinh tế

ở các vùng sâu, vùng xa, ở khu vực nông nghiệp và nông thôn Hệ thống cácchính sách ưu tiên theo hướng này đã đưa đến những thay đổi hết sức quantrọng ở khu vực nông nghiệp và nông thôn Biểu hiện tập trung nhất củanhững thay đổi này là sự phát triển của kinh tế nông hộ và sự xuất hiện củaloại hình kinh tế trang trại Tuy nhiên, trong thực tế, KTTN hoạt động yếutrong công nghiệp, chưa được tham gia hệ thống ngân hàng và chưa dượctham gia hoạt động kinh tế đối ngoại với mức độ như DN nhà nước, và do

đó, chưa có cơ hội tham gia chuyển giao công nghệ, thực hiện mục tiêuCNH và HĐH

* Chính sách thuế

- Từ năm 1990, những cải cách thuế đã thực hiện đối xử bình đẳnggiữa KVTN với KVNN Nói một cách cụ thể, trong các luật thuế hiện naykhông có bất cứ một sự phân biệt đối xử nào đối với KVKTTN

Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó, hiện nay trong chính sách thuế, các

DN có vốn đầu tư nước ngoài, các DNNN được hưởng nhiều lợi ích hơn so

Trang 23

với KTTN Vấn đề không phải là ở chỗ các luật thuế tạo ra những kỳ thị đốivới khu vực KTTN, mà là ở chỗ, những quy định dưới luật đã đưa lại nhữnglợi ích cho các loại hình DN khác, mà KTTN không được hưởng Chẳnghạn, những quy định về việc miễn giảm thuế lợi tức, quy định về hoàn thuếgiá trị gia tăng, hay gần đây, quyết định giảm thuế xuất nhập khẩu… đều lànhững chính sách không nhằm vào khuyến khích khu vực KTTN.

- Một khó khăn khác trong việc thực hiện chính sách thuế là quy chếlỏng lẻo, lạc hậu về kế toán và kiểm toán trong KVTN Điều này tạo nhiều

sơ hở, gây thất thoát thuế từ khu vực này, nhất là trong điều kiện áp dụngLuật Thuế giá trị gia tăng (1/1/1999)

* Chính sách tín dụng

Chính sách về tín dụng và hỗ trợ vốn là vấn đề hết sức nhạy cảm đốivới giới kinh doanh Theo chính sách hiện hành, KVTN có quyền bình đẳngvới các khu vực khác trong việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng Theo LuậtKhuyến khích đầu tư trong nước, các DNTN cũng được nhận mọi sự ưu đãicần thiết như các DN trong nước khác, được xét ưu đãi vay vốn sản xuấthàng xuất khẩu, và kể cả việc ưu đãi vay vốn từ Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia

Trang 24

Tuy nhiên, trên thực tế, trong nhiều năm qua, hầu hết các DNTN gặpkhó khăn khi vay vốn ngân hàng do bị ràng buộc bởi các điều kiện thế chấptài sản, không được thế chấp bằng quyền sử dụng đất, càng không đượchưởng quy chế bảo lãnh như các DNNN Các DNTN không đủ khả năng gọivốn liên doanh Chỉ có một bộ phận dân cư (nhất là nông thôn) được sự ưuđãi tín dụng qua các chương trình xoá đói giảm nghèo và cho vay phát triểnkinh tế Có thể nói rằng, trên thực tế vẫn tồn tại sự phân biệt đối xử rất lớngiữa DNTN và DNNN Bằng chứng là, trong khi các DNTN và các loại hìnhdân doanh gặp khó khăn rất lớn về vốn, thì trong các năm 1997- 1999, cácDNNN đã nhận được những khoản hỗ trợ khổng lồ: 6.482 tỷ đồng do cấp bổsung vốn, 1.465 tỷ bù lỗ; ngoài ra, từ năm 1996- 1999, được miễn giảm thuế2.228 tỷ đồng, xoá nợ 1.088,5 tỷ đồng, khoanh nợ 3.392 tỷ đồng, giảm nợ

540 tỷ, và cho vay vốn tín dụng ưu đãi 8.685 tỷ đồng; ở nhiều DNNN, sốnộp của DN vào ngân sách ít hơn số tiền do nhà nước hỗ trợ Theo hướngnày, dù có thế nào đi nữa, KVKTTN cũng không thể có được vị thế bìnhđẳng, không thể cạnh tranh một cách lành mạnh với các DNNN

Ngày đăng: 19/10/2022, 18:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w