Thực nghiệm ương cá Thát Lát Còm (Chitala chitala) bằng các loại thức ăn khác nhau
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Sinh viên thực hiện
CÔNG QUỐC THÁI MSSV: 06803038 LỚP: NTTS K1
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Sinh viên thực hiện
CÔNG QUỐC THÁI MSSV: 06803038 LỚP: NTTS K1 Cán bộ hướng dẫn
Ts PHẠM MINH THÀNH
Trang 3CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), là vùng đất có nhiều điều kiện tự nhiên thuận
lợi, đa dạng về sinh cảnh, có diện tích mặt nước lớn, khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nhiệt độ trung bình trong năm cao biến động lại thấp, giá trị nhiệt ở
ĐBSCL rất thích hợp cho sự sống, sinh trưởng và phát triển của thủy sinh vật
ĐBSCL còn có hệ thống sông ngòi dày đặc, đa dạng thuỷ vực Có nguồn nước ngọt
dồi dào, độ phèn thấp, được cung cấp bởi hai con sông lớn là sông Tiền và sông Hậu Ngoài ra ĐBSCL còn gần với biển nên thuận lợi cho cả nuôi trồng hải sản
Bên cạnh nghề khai thác thủy hải sản thì nghề nuôi trồng thủy sản đang phát triển rất nhanh và là một trong những thế mạnh của vùng, góp phần to lớn vào tổng thu nhập của đất nước và nâng cao thu nhập của người dân
Hội tụ ở ĐBSCL có hơn 200 loài cá nước ngọt Trong đó có nhiều loài có giá trị kinh
tế cao đã được chọn làm đối tượng nuôi
Ngoài những loài cá như: Basa, Tra, Trê, Lóc, Điêu Hồng… là những loài cá truyền thống đang được nuôi, thì hiện nay một trong những đối tượng cá nước ngọt đang rất
được ưa chuộng là cá thát lát còm (Chitala chitala)
Do cá thát lát còm có hình thái và màu sắc đẹp, thịt thơm ngon chất lượng cao, có khả năng thích nghi tốt, nên những năm gần đây việc nuôi cá thát lát còm không chỉ giới hạn ở mục đích làm cảnh, mà còn đáp ứng nhu cầu làm thực phẩm ngày càng tăng Nhằm góp phần giúp người sản xuất giống và người nuôi giảm giá thành sản xuất và
có lợi nhuận, được sự phân công của khoa sinh học ứng dụng, Trường Đại Học Tây
Đô, đề tài “Thực nghiệm ương cá Thát Lát Còm (Chitala chitala) bằng các loại
thức ăn khác nhau” được thực hiện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Cung cấp một số dẫn liệu về khả năng sử dụng các loại thức ăn, tốc độ sinh trưởng, tỷ
lệ sống của cá thát lát còm từ giai đoạn bột lên giống, góp phần bổ sung cơ sở cho
việc xây dựng qui trình ương giống cá thát lát còm (Chitala chitala) ở ĐBSCL
1.3 Nội dung nghiên cứu
Xác định tốc độ sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá thát lát còm được ương bằng các loại thức ăn và phương tiện ương khác nhau
Trang 4CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học
2.1.1 Phân loại
Dựa và tài liệu của D.V Serov, V.K Nezdoliy, D S Pavlov (2006), Nguyễn Văn Hảo (2005), Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), cá còm có hệ thống phân loại như sau:
Loài: Chitala chitala
Tên khác: Notopterus chitala, Notopterus maculatus, Chitala ornata (Gray), Mytus
Trang 5Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), cá còm có những đặc điểm sau:
Xương hàm trên kéo dài qua khỏi mắt, vẩy ở đầu có cùng kích thước với vẩy ở thân Phía trên gốc vi hậu môn có từ 5-10 chấm đen, xung quanh có viền trắng Thân dài, dẹp bên, lưng gù độ cong của lưng tăng dần theo kích thước của cá Lườn bụng có hai hàng gai chạy dọc theo lườn bụng Vẩy nhỏ phủ khắp thân và đầu, vẩy dính rất chắc, khó rụng Đường bên bắt đầu từ mép trên của lỗ mang và chấm dứt ở điểm giữa gốc vi
đuôi (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Vi lưng nhỏ, nằm lệch về phía sau của thân, gần điểm giữa gốc vi đuôi hơn gần chóp mõm Gốc vi hậu môn rất dài, vi hậu môn nối liền với vi đuôi Vi bụng rất nhỏ Vi
đuôi tròn không chẻ hai Vây ngực phát triển, vây bụng nhỏ Cá có màu xám bạc, lưng
thẫm hơn Dọc theo vây hậu môn có 4 - 5 đốm đen viền trắng, số lượng có thể thay
đổi từ 5 - 12 chấm trên các cá thể khác nhau Ngay trên cùng một cơ thể số lượng
chấm ở hai bên thân cũng không giống nhau
Cá có đầu nhỏ, nhọn, dẹp bên Miệng trước, rạch miệng xiên kéo dài qua khỏi mắt, xương hàm trên phát triển, Răng nhọn, bén mọc ở hàm dưới, phần gai giữa xương hàm trước, xương khẩu cái, xương lá mía và lưỡi, ngoài ra còn có đám xương nhỏ mịn trên xương bướm phụ Có một đôi râu mũi ngắn nhỏ Mắt nằm lệch về phía lưng của
đầu, gần chóp mõm hơn gần điểm cuối của xương nắp mang Phần trán gần hai mắt
cong và lồi tương đương đường kính mắt Lỗ miệng rộng, màng da sau xương nắp mang rất phát triển (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Khi cá còn nhỏ, thân cá không có màu đốm mà thay vào đó là những đường sọc vân màu đen ngang thân, có từ 6 – 14 sọc đen, khi lớn các sọc đen mờ dần mất hẳn và thay vào đó là các đốm nâu tròn từ từ xuất hiện, nhưng không hẳn mỗi sọc ứng với một
đốm nâu (Trương Thủ Khoa, Trần Thị Thu Hương, 1993)
2.1.3 Phân bố
Cá còm phân bố chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á, lưu vực sông Mekong (Lào, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam), sông Chao Phraya (Thái Lan) và các nước Srilanka, Pakistan, Bangladesh, Indonesia, Malaixia, Ấn Độ……Ở Việt Nam cá phân bố như ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long gồm có các tỉnh: An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Tiền Giang, Long An, Sóc Trăng, trà Vinh, Vĩnh Long Vùng Tây nguyên: Gia lai, Đắk Lắk, Kon Tum Mùa nước lên cá đi vào các đồng ruộng ngập nước sinh sống, mùa khô cá ra sống ở các rạch lớn, sông chính, các vực nước sâu Nguồn:
Cá còm sống ở sông, rạch, ao, đầm, ruộng trũng, có thể chịu được ở các vực nước có lượng ôxy thấp, nhờ cơ quan hô hấp phụ Trong điều kiện tự nhiên, cá sống ở tầng
Trang 6giữa và tầng đáy Ban ngày cá thường ẩn nấp trong đám thực vật thuỷ sinh Ban đêm
cá hoạt động nhiều hơn, cá bơi lội chậm nhẹ nhàng, vây hậu môn hoạt động liên tục như làn sóng, cá thích sống trong môi trường có nhiều thực vật thủy sinh lớn, nước trung tính pH: 6,5-7, nhiệt độ thích hợp cho cá từ 26-280C (Dương Nhựt Long, 1999)
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), Mai Đình Yên (1983), cá còm thuộc nhóm ăn tạp, có thể ăn côn trùng, giáp xác, phiêu sinh thực vật, rễ thực vật thuỷ sinh, cá con, nhuyễn thể và bùn đáy Khi đói chúng hung dữ tấn công săn bắt những con cá khác làm mồi ăn Tính ăn của cá không ổn định, cá có thể bỏ ăn cho đến khi kiệt sức và nhiễm bệnh chết nếu có hiện tượng sốc môi trường, thay đổi mồi ăn
đột ngột hoặc bắt cá phải ngừng ăn lâu khi chuẩn bị vận chuyển
Theo Dương Nhựt Long (2003), cá có hệ tiêu hóa gồm: miệng, thực quản, dạ dày, ruột Miệng trước rộng, rạch miệng xiên và kéo dài ra khỏi mắt, xương hàm trên phát triển Răng nhiều, nhọn mọc ở hàm dưới trên phần giữa xương trước hàm, trên xương khẩu cái, xương lá mía và lưỡi Ngoài ra còn có đám rănh nhỏ mịn trên xương bướm phụ, vì vậy chúng có thể bắt giữ, cắn xé con mồi, thực quản ngắn, rộng và có vách hơi dày Dạ dày hình chữ J có vách hơi dày, ranh giới giữa ruột non và ruột già không phân biệt rõ ràng Tỉ lệ Li/L0 = 0,3 cho nên đây là loài ăn động vật
Do cá còm có đặc tính ăn thiên về động vật nên muốn nuôi ghép với các loài cá khác nên chọn những loài cá không cùng tính ăn và không cạnh tranh thức ăn với cá còm như: cá mè trắng, sặc rằn, rô phi, trắm cỏ, rô đồng… Các loài như: cá rô phi, sặc rằn,
mè có thể lọc tảo nên có thể sử dụng nuôi ghép để hạn chế tảo phát triển nhiều trong
ao và cá con bổ sung nguồn thức ăn tự nhiên cho cá còm Tỷ lệ nuôi các loài cá này chiếm khoảng 10%
Giai đoạn cá bột, 1-4 ngày sau khi nở, cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng,từ 4-8 ngày tuổi, cá ăn Moina, Daphnia, từ ngày thứ 9, cá có thể ăn trùn chỉ, ấu trùng giáp xác, côn trùng, sau 50 ngày tuổi cá có tính ăn giống cá trưởng thành
Trong nuôi thương phẩm có thể cho cá ăn mồi sống hoặc cũng có thể tập cho cá ăn thức ăn chế biến (70% bột cá + 30% bột cám), các phụ phẩm nông nghiệp, phụ phẩm
lò mổ, thức ăn đông lạnh hay thức ăn công nghiệp Khẩu phần ăn của cá từ 3-7% khối lượng cá, tùy theo loại thức ăn và điều kiện môi trường (Nguyễn Chung, 2006)
Theo Lê Ngọc Diện (2004), Phạm Phú Hùng (2007), có thể thay thế 50% thức ăn là cá tươi bởi 50% thức ăn viên công nghiệp trong quá trình nuôi cá thát lát vẫn thu được kết quả tốt
Trong thực tế nuôi thì cá còm vẫn ăn mồi ở tầng mặt và cũng cạnh tranh ăn mồi như những loài cá khác (Nguyễn Chung, 2006)
Trang 72.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Sinh trưởng là sự gia tăng về kích thước, về khối lượng cơ thể sinh vật theo thời gian,
là kết quả của quá trình trao đổi chất (Phạm Minh Thành, 2005) Những lòai cá khác nhau thì có tốc độ sinh trưởng khác nhau Cá có kích thước lớn thì có tuổi thọ cao, tốc
độ sinh trưỏng nhanh, thời gian sinh trưởng kéo dài hơn những loài cá có kích thước
nhỏ Trong cùng một loài thì tốc độ sinh trưỏng của cá thay đổi qua các giai đoạn trong một chu kì sống
Trong họ thát lát (Notopteridae) loài cá còm có tốc độ sinh trưởng nhanh nhất Trong
tự nhiên cá 1 năm tuổi có thể đạt 0,6-1 kg, mỗi năm tăng từ 0,9-1,1 kg Cá có thể sống 8-10 năm đạt chiều dài hơn 1m, nặng trên 10 kg (Nguyễn Chung, 2006)
Đặc tính của cá còm là cá sống thành đàn, khi cá lớn thì đặc tính này vẫn còn nhưng
cá tự phá bầy săn mồi riêng lẻ Trong ao nuôi mật độ cao ta có thể thấy được sự phân
đàn rõ sau hai tháng nuôi, sẽ có những con cá cạnh tranh thức ăn không lại dẫn đến
không lớn được có thể gầy yếu và chết Cá hoạt động mạnh về ban đêm nên chú ý trong quá trình nuôi để chăm sóc cá cho tốt hơn
Trước lúc cá đạt trạng thái thành thục sinh dục lần đầu cá chủ yếu tăng nhanh về kích thước, sau khi đạt trạng thái thành thục sinh dục, tốc độ tăng trưởng về chiều dài giảm nhường bước cho sự tăng trưởng về khối lượng (Phạm Phú Hùng, 2007)
2.1.6 Đặc điểm sinh sản
Ngoài tự nhiên cá thành thục sinh dục lần đầu ở tuổi 2-3 năm nặng 1-2 kg Trong nuôi
vỗ cá có thể thành thục sinh dục lần đầu ở 2 năm nặng 2 kg, (Nguyễn Chung, 2006)
Cá có tập tính làm tổ để đẻ, trứng được đẻ vào tổ và cá đực giữ tổ, đảo nước để đưa oxy giúp trứng phát triển, sau khi đẻ 5-6 ngày trứng sẽ nở tùy theo nhiệt độ
Vào mùa sinh sản cá đực và cá cái tự bắt cặp giao phối Trứng có đường kính 2-3mm, trứng thụ tinh trương nước và bám trên các hốc đá, các giá thể thực vật thủy sinh Cá
đực bảo vệ trứng trong suốt thời gian ấp trứng và hung dữ tấn công những con cá khác
xâm nhập đến khu vực chúng đang bảo vệ (Nguyễn Chung, 2006)
Khi con đực và con cái thành thục, cho vào bể chúng sẽ bắt cặp với nhau Trong vòng những ngày đầu, chúng sắp xếp lại rong và chuyển chúng đến một góc bể Trong điều kiện tự nhiên cá đẻ trên các vùng cạn và những thân, rể tre chìm trong nước Sau khi con cái đẻ trứng trên ổ đã dọn sẳn con đực bơi theo thụ tinh Trứng cá thành thục có màu vàng, to tròn, đường kính 2,5-3,5 mm Cá bơi lội tự do và bắt đầu ăn được luân trùng và ấu trùng Artemia sau 2-3 ngày (Dương Nhựt Long, 2003)
Trang 82.2 Những kết quả nghiên cứu về sinh sản và ương nuôi cá thát lát còm
2.2.1 Kỹ thuật nuôi vỗ
Nuôi vỗ là khâu quan trọng nhất trong quy trình sản xuất giống nhân tạo Các nghiên cứu của các tác giả khác nhau đều có những điểm chung trong khâu nuôi vỗ, tuy nhiên mỗi công trình có những cải tiến riêng nhằm nâng cao sức sinh sản thực tế và rút ngắn thời gian tái phát dục
Theo Nguyễn Chung (2006), nuôi vỗ cá thát lát còm bố mẹ được thực hiện như sau: Chọn cá từ 2 tuổi trở lên có khối lượng trên 2 kg chiều dài 45-60 cm làm cá bố mẹ Mật độ 0,5 kg cá/m2 với tỷ lệ đực cái là 1 : 1 đến 3 : 1 thả đực cái chung với nhau Sử dụng nhiều loại thức ăn: cá tạp, chế biến (50% bột cá + 50% cám gạo + premix) hoặc cho ăn xen kẻ giữa cá tạp và thức ăn chế biến Thả chà hoặc lục bình ở các góc ao làm chổ ẩn nấp cho cá vào ban ngày và tiện cho chăm sóc quản lý
Ở trại cá Thạch Hòa – Hậu Giang: Trại chỉ tập trung nuôi vỗ cá cái trong ao hình chữ
nhật, diện tích 800-1000 m2, mật độ thả 1 kg cá/m2 Sử dụng thức ăn 100% cá biển Còn cá đực được trại tuyển chọn, thu mua từ các ao thương phẩm Tiến hành nuôi vỗ tái phát dục đàn cá bố mẹ sau khi chấm dứt kỳ sinh sản đầu tiên
Thời gian tái phát dục của cá là 1,5 tháng
2.2.2 Kỹ thuật sinh sản
Trên thế giới việc nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá thát lát còm vẫn còn nhiều hạn chế, hầu hết chỉ dừng lại ở việc mô tả hoạt động sinh sản của cá trong tự nhiên hay bố trí tạo điều kiện cho cá đẻ tự nhiên Thái Lan và Việt Nam là hai quốc gia đi đầu trong công tác nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo cá thát lát còm
2.2.3 Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo
Theo Nguyễn Chung (2006), khoảng 20h sau khi tiêm cá cái tiến hành kiểm tra sự rụng trứng Khi thấy trứng đã rụng thì vuốt trứng để thụ tinh Cá đực không thể nặn tinh mà phải mổ lấy tinh Một con đực có thể thụ tinh cho 3-5 con cái
Trại cá Thạch Hòa – Hậu Giang thụ tinh nhân tạo với tỷ lệ đực cá (theo khối lượng) là 1: 20 Tỷ lệ thụ tinh đạt 85 - 98%
2.2.4 Ấp trứng
Theo Nguyễn Chung (2006), có thể ấp trứng cá thát lát còm bằng phương pháp: phương pháp khử dính và phương pháp ấp trứng dính trên giá thể Phương pháp ấp trứng khử dính: trứng được khử dính ấp trong bình Weys mật độ ấp 4000-5000 trứng/L, lưu tốc dòng chảy trong bể ấp 0,05-0,1 m/s Phương pháp cho trứng dính trên
Trang 9giá thể (giá thể là cây cỏ, sợi nilon, khung lưới mịn), mật độ ấp từ 50.000-60.000 trứng/m2
Tuy nhiên trong thực tế thì các trại sản xuất giống cá thát lát còm sử dụng phương pháp ấp trứng dính trên giá thể Trại cá Thạch Hòa – Hậu Giang: ấp trứng trong bể ximăng sử dụng nguồn nước sông qua hệ thống lắng lọc cơ học và sử dụng chlorine (20-30 ppm) để xử lý nước Trại sử dụng bạt che bể để nâng cao và ổn định nhiệt độ trong khoảng 29-31oC Mật độ ấp 50.000-60.000 trứng/m2, tỷ lệ thụ tinh 90-95%, tỷ lệ
nở 90-97%
2.2.5 Kỹ thuật ương cá giống
Bể ương có kích thước 1,5m x 2,5m x 0,5m, không bị rò rỉ, thoát nước Nguồn nước phải trong sạch, cấp đủ suốt thời gian ương pH từ 7-7,5, oxy hoà tan >=3 mg/lít Theo Phạm Phú Hùng (2007), Thời gian từ khi trứng thụ tinh đến ấp nở là 7 ngày, cá bột mới nở đến cá con phải mất 35-40 ngày mới đạt 3-4 cm, cá giống lớn chậm phải kéo dài thêm 30-40 ngày mới đạt chiều dài 12-15 cm, sau đó cá sẽ lớn nhanh hơn nuôi
6 tháng có thể đạt trọng lượng 400-500 g/con và nuôi 12 tháng có thể đạt trọng lượng
1 kg/con
Cá còm bột sau 4 ngày tiêu hết noãn hoàng có chiều dài trên > 1 cm đã có sắc tố và bắt đầu tìm mồi ăn Cá bột nên thả vào sáng sớm hoặc chiều mát, không thả vào lúc nắng nóng hay trời đang mưa sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và sức sống của
cá Vớt và thả cá bột bằng vợt mịn, thao tác phải nhẹ nhàng không làm cá mệt Mật độ thả là 200-250 con/m2 (Nguyễn Chung, 2006)
Theo Nguyễn Chung (2006), trong 7-8 ngày đầu cho cá ăn moina, daphnia rải đều khắp bể, cho ăn theo nhu cầu của cá, từ ngày thứ 8 về sau cho ăn trùn chỉ hay thức ăn chế biến gồm 30% thịt cá xay nhuyễn với 70% bột cá giàu đạm, mỗi ngày cho ăn 100-
250 gram trùn cho 10.000 bột và tăng dần theo nhu cầu bắt mồi của cá
Mỗi ngày nên cho cá ăn 3 lần, sáng và trưa 2/5, chiều 3/5 khẩu phần Cho ăn trùn chỉ nên ở vị trí cố định sẽ giảm hao hụt trùn, cá ăn được nhiều hơn và kiểm soát được lượng thức ăn cho phù hợp
Trùn chỉ rửa sạch loại mầm bệnh trùn mang theo, có thể rửa qua nước muối 0,6-1% trong một phút trước khi cho cá ăn (Nguyễn Chung, 2006)
Giai đoạn còn nhỏ, nhất là cá bột, cá hương có sức sống thấp do khả năng thích ứng với điều kiện môi trường kém nhất so với các giai đoạn khác của chu kỳ sống Cá chỉ
có thể thích ứng được với phạm vi biến đổi hẹp của các yếu tố môi trường
Những tác động xấu của môi trường dù nhỏ cũng dễ gây chết cho cá (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2008) Vì thế trong quá trình ương cần xiphông đáy lấy
Trang 10thức ăn dư thừa và phân cá ra, cấp thêm nước mới vào bằng với nước ban đầu Khi bể nhiễm bẩn, phải bớt nước trong bể còn lại 1/3 sau đó từ từ thêm nước mới vào, tránh làm ảnh hưởng đến cá ương
Quan sát tình hình ăn mồi của cá để tăng hoặc giảm lượng thức ăn cho phù hợp Thức
ăn chế biến được nấu chín và bóp nhuyễn hoà tan trong nước, khi cho ăn rải đều lên
mặt bể
Trong quá trình ương cần chú ý tới sự xuất hiện của bọ gạo, nòng nọc ếch nhái và một
số địch hại khác, chúng có thể tấn công và làm hao hụt cá bột
Cá đạt chiều dài 3-4 cm/con đã chuyển sang cá hương có thể thu cá Để tránh hao hụt
và ảnh hưởng đến sức khỏe của cá nên xả bớt nước còn khoản 1/3 và dùng vợt xúc nhẹ nhàng cá ra thau xô, tránh làm cá bị xây sát Với cá còm kích thước 3-4 cm chưa thả nuôi thịt được nên tiếp tục ương dưỡng thêm để đạt chiều dài 5-6 cm mới tạm làm
cá giống nuôi thịt (Nguyễn Chung, 2006)
Thu hoạch
Trong thời gian ương cá hương lên cá giống nên định kì luyện cá Cá ương được một tuần lễ bắt đầu luyện, thường vào buổi sáng dùng cây tre hoặc gỗ đập vào nước hay khuấy động một góc ao Có thể dùng lưới để kéo cá dồn lại một góc (Nguyễn Chung, 2006)
Trước khi bắt cá cho cá ngừng ăn 1-2 ngày Khi vận chuyển nên dùng túi nilon có bơm oxy, tổng thời gian vận chuyển đường dài không quá 50 giờ
Trang 11CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ thàng 03/2010 đến tháng 06/2010
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại trại cá Minh Trang, Quận Cái Răng, TP Cần Thơ và Trại sản xuất cá giống Hậu Giang, Cái Tắc, Tỉnh Hậu Giang
3.2 Vật liệu nghiên cứu
3.2.1 Cá bột
Mua tại Trại sản xuất cá giống Hậu Giang Thuộc Cái Tắc, Tỉnh Hậu Giang
3.2.2 Dụng cụ và trang thiết bị
+ Bể ximăng, giai lưới, vợt…
+ Test pH, Test oxy, Nhiệt kế, Máy thổi khí…
+ Cân điện tử, thướt nhựa, xô, thao, ống hút nước, vợt thu mẫu, sàng ăn…
Bố trí thí nghiệm ương cá trong bể xi măng
Thí nghiệm đựơc thực hiện tại trại cá giống Hậu Giang, Cái Tắc, Tỉnh Hậu Giang
Bể ximăng có kích thước, chiều dài 3m, chiều rộng 2,5m, chiều sâu 0,5m Cá được thả với mật độ 1000 con/m2. Bố trí thí nghiệm theo 3 nghiệm thức thức ăn như Bảng 2 Cho cá ăn mỗi ngày 3 lần vào 7 giờ, 11 giờ và 17 giờ hàng ngày Theo dõi hoạt động
ăn, bơi lội bắt mồi của cá, Thức ăn thừa, phân cá được siphon hàng ngày, tại các bể
có sục khí liên tục
Bố trí thí nghiệm ương cá trong giai
Thí nghiệm đựơc thực hiện tại trại cá Minh Trang, Thuộc Quận Cái Răng, TP Cần Thơ
Trang 12Giai sử dụng cho ương cá có chiều dài 0,6m, chiều rộng 0,5m, chiều sâu 0,5m Giai có mắt lưới 40 micromet Cá đựợc thả với mật độ 1000 con/m2
Mỗi ngày cho cá ăn 3 lần: 7 giờ, 11 giờ và 17 giờ, theo dõi hoạt động ăn và bắt mồi của cá
Thức ăn cho cá qua các tuần theo Bảng 1
Bảng 1: Thức ăn qua các tuần
Thức ăn Nghiệm
3.3.2 Thu và phân tích mẫu
Thu và phân tích các yếu tố môi trường
Trong quá trình thí nghiệm tiến hành thu và phân tích nhiệt độ, O2 hoà tan, pH nước
- Nhiệt độ: Đo hàng ngày vào lúc 7h và 14h bằng nhiệt kế
- O2 hoà tan: Đo ôxy hoà tan 7 ngày 1 lần vào lúc 7h và 14h xác định ôxy bằng test ôxy
- pH nước: Xác định hàng ngày cùng lúc xác định nhiệt độ, sử dụng test pH
Thu mẫu và xác định tốc độ tăng trưởng của cá
Thu mẫu định kỳ 7 ngày 1 lần Mỗi lần thu 30 cá thể/1 nghiệm thức xác định chiều dài và trọng lượng của từng con
Tốc độ tăng trưởng của cá xác định theo công thức
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối:
DWG
1 2
Y1 - Y2