Tính cấp thiết của đề tài Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó có tư tưởng về dân vận - một bộ phậ
Trang 1
LUẬN VĂN:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và
sự vận dụng vào công tác vận động nông dân ở tỉnh Quảng Bình trong những
năm đầu thế kỷ XXI
Trang 2
Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó có tư tưởng về dân vận - một bộ phận hết sức quan trọng trong toàn bộ di sản vô giá mà Người để lại cho Đảng và nhân dân các dân tộc ở nước ta
Có thể nói, tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh không những chứa đựng tinh thần trọng dân, thương dân, hết lòng chăm lo lợi ích của nhân dân, nhận rõ sức mạnh của nhân dân, mà còn chỉ ra nội dung và phương thức vận động, tập hợp nhân dân
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn luôn xác định rõ vai trò, vị trí quan trọng của công tác dân vận đối với sự nghiệp cách mạng Bước vào thế kỷ XXI, đất nước đứng trước nhiều thời cơ và thách thức lớn; trong đó thách thức nổi bật là âm mưu của các thế lực thù địch hòng chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam
Do đó, công tác dân vận lúc này cần phải được đẩy mạnh và tăng cường hơn nữa với những nội dung phù hợp với tình hình mới của đất nước và thế giới nhằm phát huy cao
độ sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi mục tiêu của sự nghiệp đổi mới đất nước
Trong 20 năm đổi mới vừa qua (1986-2006), công tác dân vận do Đảng tổ chức, lãnh đạo đã tạo ra động lực lớn cho các phong trào thi đua yêu nước, góp phần không nhỏ làm chuyển biến tình hình kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, chống lại có hiệu quả âm mưu "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch, tạo thế và lực cho đất nước; đồng thời góp phần mở rộng quyền dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác dân vận vẫn còn một số yếu kém cần được khắc phục Việc triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước còn thiếu đồng bộ, nhiều nơi còn làm hình thức, chiếu lệ Đáng tiếc các cấp uỷ đảng, cấp chính quyền, cán bộ, đảng viên ở một số nơi vẫn chưa nhận thức đúng vị trí và tầm quan trọng của công tác dân vận, thậm chí còn xem nhẹ công tác này, không coi đó là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị Tình trạng một số cán bộ, đảng viên quan liêu, ngại đi cơ sở nắm bắt nguyện vọng của nhân dân, thậm chí lợi dụng
Trang 3
chức quyền, làm trái đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để tham nhũng, trục lợi, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân còn khá phổ biến Tình trạng này là nguyên nhân chính gây ra các vụ khiếu kiện, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước, yêu cầu tập hợp, đoàn kết, vận động nhân dân tiếp tục được đặt ra một cách bức thiết Do vậy, công tác dân vận đã được đề cập trong nhiều nghị quyết của Đảng, đặc biệt Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 khoá IX, có ba nghị quyết về công tác dân vận nhằm đáp ứng những yêu cầu bức thiết của nhân dân và huy động tối đa nội lực, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Vì vậy, nghiên cứu, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận và tích cực đưa đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống, tạo ra
sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong công tác vận động nhân dân là một đòi hỏi bức thiết hiện nay
Với những lý do đó, tôi chọn đề tài "Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và sự
vận dụng vào công tác vận động nông dân ở tỉnh Quảng Bình trong những năm đầu thế kỷ XXI" làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Hồ Chí
Minh học
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận là một công việc cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Do vậy, việc nghiên cứu này được nhiều cơ quan, tổ chức và nhiều nhà khoa học quan tâm thực hiện và đã có nhiều công trình nghiên cứu được công
bố Sau đây là một số công trình tiêu biểu mà tôi đã tham khảo:
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận của TS Đỗ Quang Tuấn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Khái niệm, nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân vận của PGS.TS Nguyễn Bá Linh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh của TS Thanh Tuyền, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Cán bộ dân vận thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, của TS Trịnh Xuân Giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Tác phẩm dân vận của Chủ tịch
Hồ Chí Minh mãi mãi toả sáng, soi đường cho công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới của TS Nguyễn Văn Hùng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh với việc xây dựng kỹ năng, nghiệp vụ công tác dân vận của Lương
Trang 4
Ngọc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác dân vận của hệ thống chính trị của Đinh Hồng Vân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Quyền hạn và lợi ích của dân trong bài báo dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh của Nguyễn Thị Cận, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Quan hệ giữa chính quyền nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của PGS.TS Trần Quang Nhiếp, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2005; Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động nông dân của Lê Hoàng Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; GS Văn Tạo: Học tập tư tưởng dân vận Hồ Chí Minh, Tạp chí Dân vận, số 5-2000; PGS.TS Nguyễn Tri Thư: Tư tưởng Hồ Chí Minh
về một số vấn đề trong công tác vận động quần chúng, Tạp chí Dân vận, số 1+2, 2000; PGS.TS Hoàng Chí Bảo: Hồ Chí Minh với quan điểm thực tiễn và phương pháp khoa học
về dân vận, Tạp chí Dân vận, số 10-2000; TS Phạm Văn Khánh: Tư tưởng Hồ Chí Minh
về sức mạnh nhân dân và công tác dân vận, Tạp chí Dân vận, số 10-2003; PGS.PTS Đức Vượng: Đầu xuân suy ngẫm về dân vận trong sự nghiệp đổi mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Dân vận, số 1+2, 1999; PGS.TS Bùi Đình Phong: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận vào việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, Tạp chí Cộng sản, số 9-2003; GS.TS Mạch Quang Thắng: Dân vận - vấn đề luôn luôn mới (qua nghiên cứu tác phẩm "Dân vận" của Hồ Chí Minh), Tạp chí Lý luận chính trị, 8-2006
Ngoài ra, rất nhiều bài viết, luận văn, cuốn sách mà nội dung đề cập đến công tác dân vận cũng đã được công bố, như: Chính quyền và nhiệm vụ dân vận của Nguyễn Khánh, Tạp chí Cộng sản, số 1-1995; Lại bàn về dân vận của GS Đặng Nguyên Anh, Tạp chí Dân vận, số 1-2003; "Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công" của Phạm Thế Duyệt, Tạp chí Dân vận, số 10-2002; Công tác dân vận là một bộ phận quan trọng của công tác cách mạng của Phan Diễn, Tạp chí Dân vận, số 11-2000; Cơ quan nhà nước làm công tác dân vận như thế nào của Nguyễn Khánh, Tạp chí Dân vận, số 8-2000; Dân vận - một nhiệm vụ quan trọng của chính quyền của Nguyễn Khánh, Tạp chí Cộng sản, số 8-1996; Công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 1996), Luận văn thạc sĩ Lịch sử của Nguyễn Thị Ngọc Mai, 2002
Nhìn chung các công trình nghiên cứu của tập thể và cá nhân nêu trên đã làm sáng tỏ lý luận và một số nội dung cụ thể của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận Song chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận Tuy nhiên, những công trình này là những tài liệu quý báu để tôi tham khảo, kế thừa nhằm
Trang 5
nghiên cứu, trình bày một cách tương đối hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và vận dụng tư tưởng đó vào việc đánh giá thực trạng công tác dân vận trong những năm đầu thế kỷ XXI của tỉnh Quảng Bình; trên cơ sở đó xác định phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác nông vận của tỉnh này trong thời gian tới
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng, nêu ra phương hướng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác nông vận hiện nay ở tỉnh Quảng Bình
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt được mục đích nêu trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Phân tích cơ sở hình thành và nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận
- Phân tích thực trạng công tác nông vận trong những năm đầu thế kỷ XXI của tỉnh Quảng Bình, từ đó rút ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm của thực trạng trên
- Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và đánh giá thực trạng công tác nông vận, đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác nông vận trong những năm đầu thế kỷ XXI ở tỉnh Quảng Bình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và việc quán triệt, vận dụng tư tưởng đó trong vận động nông dân ở tỉnh Quảng Bình
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu quá trình hình thành và nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận; nghiên cứu việc vận dụng tư tưởng đó trong công tác nông vận những năm đầu thế kỷ XXI ở tỉnh Quảng Bình
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về công tác dân vận
Trang 66 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn nghiên cứu một cách tương đối toàn diện, hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận
- Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận, luận văn làm rõ thực trạng công tác vận động nông dân hiện nay ở tỉnh Quảng Bình, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm về công tác này
- Luận văn mạnh dạn nêu ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng công tác nông vận trong giai đoạn hiện nay ở tỉnh Quảng Bình
7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ tính cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận Tính cách mạng và tính khoa học của tư tưởng này không chỉ
có ý nghĩa và giá trị to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc, mà
cả trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy công tác dân vận và làm công tác dân vận, nhất là làm công tác dân vận đối với nông dân
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, luận văn có 2 chương, 6 tiết
Trang 7
Chương 1
tư tưởng hồ chí minh về dân vận
1.1 quan niệm về dân, dân chủ, dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1.1.1 Quan niệm về dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người suốt đời đấu tranh đưa dân tộc Việt Nam từ dân tộc
nô lệ thành dân tộc tự do, đưa người dân Việt Nam từ thân phận người dân thuộc địa lên địa vị người làm chủ đất nước; đồng thời Người cũng suốt đời phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Khái niệm "dân" trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự tiếp thu và phát triển những quan điểm tiến bộ về dân trong lịch sử tư tưởng dân tộc Việt Nam, lịch sử tư tưởng phương Đông, phương Tây và khái niệm quần chúng của chủ nghĩa Mác - Lênin
Hồ Chí Minh đã rút ra một hệ thống các quan niệm về dân Cho dù xét theo cách tiếp cận nào thì quan niệm của Hồ Chí Minh về dân Việt Nam có thể khái quát trên các nội dung sau:
Dân là những người chung một nước, chung một cộng đồng, chung một lãnh thổ thống nhất, là đồng bào, là "con Rồng cháu Tiên", là "con Hồng cháu Lạc", là anh em ruột thịt, là các tầng lớp, các đoàn thể, là những người cùng giai cấp, là những người yêu nước, là lực lượng cách mạng…
Hồ Chí Minh mở rộng nội hàm khái niệm “dân” đến tất cả những ai thừa nhận mình
là “Con dân đất Việt” Người thường nói đến “Con Rồng cháu Tiên”, “đồng bào”, gốc
tích Việt Nam, “Hồng Bàng là tổ tiên ta”, “người chung một nước”, không phân biệt dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, không phân biệt “già, trẻ, trai, gái, giàu, nghèo, quý, tiện” Dân là toàn bộ đồng bào trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài
Dân là “toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu, nghèo, giai cấp, tôn giáo” [26, tr.8]
Dân ở đây trừ bọn phản bội, làm tay sai cho đế quốc thực dân đi ngược lại quyền lợi, nguyện vọng của toàn dân, dân tộc Nói đến dân cũng là nói đến tuyệt đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân, trí thức và những người lao động khác Với quan niệm đó, Người cho rằng giai cấp tư sản dân tộc - những người có lòng yêu nước, cũng là dân; họ
Trang 8
cũng có đóng góp nhất định trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh phân tích một cách sâu sắc và khoa học lực lượng quần chúng ở nước ta và chỉ rõ: “Nhân dân là: bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, và tư sản dân tộc Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng, các giai cấp ấy đoàn kết lại, bầu ra chính phủ của mình” [49, tr.214] Quan niệm về dân như vậy đã tạo ra một sự thuyết phục mạnh mẽ để tập hợp các lực lượng tiến bộ xã hội thành một mặt trận rộng rãi, làm nên thắng lợi của cách mạng
1.1.2 Quan niệm về dân chủ
Từ quan niệm về dân, Hồ Chí Minh đi đến quan niệm mới về dân chủ Bằng những mệnh đề giản dị, hàm súc, ngắn gọn mà đầy đủ ý nghĩa, Hồ Chí Minh khái quát bằng cách riêng của mình những giá trị văn hoá dân chủ nhân loại từ cổ đại đến hiện đại
mà lại rất Việt Nam - cụ thể và thiết thực nên ai đọc cũng nhận thức được ngay Người viết: “Chế độ của ta là chế độ dân chủ Nhân dân là chủ” [49, tr.368]; “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” [48, tr.515]; “Bây giờ chúng ta là dân chủ Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ” [50, tr.375]; “ Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ ” [49, tr.452]; “Chế độ ta là chế độ dân chủ Tức là nhân dân làm chủ” [52, tr.251] “Nhân dân là người chủ nắm chính quyền, nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy thế là dân chủ” [49, tr.218-219]
Có thể coi quan niệm trên đây là quan niệm chính thức của Hồ Chí Minh về dân chủ
và đó là quan niệm ngắn gọn nhất, phản ánh đúng thực chất và nội dung quan niệm của Người về dân chủ
Cũng có thể thấy quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ còn thể hiện nội dung căn bản nhất của loài người về khái niệm dân chủ Người viết:
Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân
Chính quyền xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [47, tr.698]
Trang 9
Như vậy, trong quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ, vấn đề nhất quán và sáng
tỏ nhất là sự khẳng định ngay chế độ dân chủ của nước ta phải thể hiện “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”, “quyền hành”, “trách nhiệm, lực lượng” là “của dân”, “đều ở nơi dân” Quan niệm đó cũng chỉ ra phương thức tổ chức, vận hành của xã hội dân chủ là chế độ đại diện,
uỷ quyền, trong đó chính quyền và đoàn thể “do dân cử ra và do dân tổ chức nên”
Tóm lại, quan niệm dân chủ ở nước ta được Hồ Chí Minh chỉ ra là: dân là chủ và dân làm chủ; bản chất của vấn đề dân chủ là quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân, địa
vị của dân là cao nhất, dân là chủ thể của mọi quyền lực Có thể nói toàn bộ tư tưởng chủ đạo về dân chủ của Hồ Chí Minh nằm trong chữ "Dân"
1.1.3 Quan niệm về dân vận
Dân vận là một hoạt động vận động, giác ngộ quần chúng nhân dân làm cho dân hiểu, dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân quyết định trong quá trình thực hiện các nhiệm
vụ cách mạng do Đảng ta lãnh đạo
Hồ Chí Minh thường dùng thuật ngữ “Công tác quần chúng” và “dân vận” để chỉ một lĩnh vực công tác của Đảng Vấn đề dân vận có nhiều khái niệm khác nhau và cho đến nay vẫn chưa có khái niệm nào xúc tích, dễ hiểu, lại độc đáo như khái niệm mà Chủ tịch Hồ
Chí Minh viết trong bài “Dân vận”
Người viết:
Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể giao cho
Dân vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ
Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho
kỳ được
Điểm thứ hai là bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành
Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân
Trang 101.2.1.1 Tư tưởng và văn hoá truyền thông Việt Nam trong đó chủ nghĩa yêu nước giữ vị trí hàng đầu
Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy tinh thần “trọng dân”, “yêu dân”, “dựa vào dân” của ông cha ta trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước
Bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Lý Thường Kiệt có tác dụng “Dân vận” to lớn trong đấu tranh giữ nước và dựng nước Bản Tuyên ngôn đã động viên toàn dân chống quân Tống xâm lược Từ phòng tuyến Như Nguyệt đã vọng lên lời thơ “Thần diệu” thôi thúc lòng người đứng lên giữ nước:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Trang 11
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư" [3, tr.65]
Tổng kết các bài học lớn của cuộc kháng chiến chống quân Nguyên- Mông, Trần Quốc Tuấn nhận thấy rằng nguyên nhân lớn nhất của chiến thắng là “Vua tôi đồng tâm,
anh em hoà thuận, cả nước góp sức”, và ông căn dặn: "Phải khoan thử sức dân để làm kế
bền gốc sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước” Những lời tâm huyết đó đã thúc giục lòng người đứng lên giết giặc lập công
Lê Lợi, Nguyễn Trãi bằng chiến lược đánh vào lòng người đã động viên toàn quân, toàn dân trên tư tưởng "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân", "chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân"
Tổng kết chiến thắng quân Minh, Nguyễn Trãi nhấn mạnh nguyên nhân thắng lợi là gắn bó với nhân dân, và vận động, giáo dục, phát huy sức mạnh của nhân dân:
"Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phất phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào" [3, tr.78]
Như vậy, để tập hợp lực lượng, các chính quyền phong kiến đã biết phát huy tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân, đứng dưới ngọn cờ cứu nước Trước hoạ ngoại xâm, cứu nước là để cứu dân Kẻ ngoại xâm “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi
con đỏ xuống dưới hầm tai vạ” [3, tr.76], nên cứu nước và giành lại nền độc lập cho đất
nước là để cứu dân Sau khi thắng lợi, các triều đại phong kiến Việt Nam đều có ý định thực hiện "kế sâu rễ, bền gốc là khoan thử sức dân"
Đến đầu thế kỷ XX, các nhà yêu nước tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh vượt qua hệ tư tưởng phong kiến, tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản, thực hiện một bước tiến về chất trong lịch sử tư tưởng dân tộc nói chung và trong vấn đề vận động quần chúng nói riêng Tuy nhiên, các nhà yêu nước nổi tiếng này chưa có phương pháp đánh giá và công tác vận động nhân dân một cách khoa học, nên phải chịu “trăm thất bại” mà không một thành công
Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống “yêu nước, trọng dân” của ông cha trên
cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, do đó đã đưa công tác dân vận lên thành một khoa học
1.2.1.2 Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận tư tưởng chủ yếu của sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, trong đó có tư tưởng dân vận
Trang 12
Hồ Chí Minh là nhà yêu nước Việt Nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 Người coi chủ nghĩa Mác - Lênin không những là cái “cẩm nang thần kỳ", mà còn là "kim chỉ nam" và "là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới mục đích cuối cùng", đó là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản
Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là đến với tri thức tiên tiến của thời đại, là tiếp thu sức mạnh và giá trị tinh thần của nhân loại
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ các đảng cộng sản đều phải làm công tác vận động nhân dân Đó là một công tác lâu dài và phải kiên trì thực hiện
Giai cấp công nhân phải làm công tác dân vận để giành lấy sự đồng tình, sự ủng hộ của đa số nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh cách mạng của mình; và phải nhận thức rằng, mỗi thời kỳ cách mạng khác nhau phải có những hình thức, nội dung công tác dân vận khác nhau
Nghiên cứu lịch sử đấu tranh giai cấp ở Pháp năm 1848, C Mác và Ph Ăngghen viết trong lời nói đầu tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp từ 1848 đến 1850” rằng:
Đã qua rồi, thời kỳ những cuộc đột kích, thời kỳ những cuộc cách mạng
do những nhóm thiểu số tự giác cầm đầu những quần chúng không tự giác tiến hành ở nơi nào mà vấn đề đặt ra là phải cải tạo hoàn toàn chế dộ xã hội, thì bản thân quần chúng phải tự mình tham gia vào công cuộc cải tạo ấy, phải tự mình hiểu rõ vì sao phải tiến hành đấu tranh, vì sao mình phải đổ máu và hy sinh tính mạng [42, tr.775]
Như vậy, theo C.Mác và Ph Ăngghen, muốn thắng lợi, các cuộc cách mạng xã hội không phải do những cá nhân, những nhóm người nhỏ bé cầm đầu, những quần chúng không tự giác tiến hành, mà phải do các chính đảng có lý luận tiên phong của các giai cấp lãnh đạo; các đảng đó phải biết thuyết phục, giác ngộ và tập hợp đông đảo quần chúng, huấn luyện quần chúng dám xả thân đấu tranh
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ rằng sức mạnh của quần chúng nhân dân là vô địch; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Tuy nhiên, quần chúng nhân dân chỉ có thể phát huy được sức mạnh của mình khi họ được tổ chức lại:
Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác:
Trang 13
tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền” [41, tr.615]
Phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin khẳng định rằng:
1) Không một phong trào cách mạng nào mà lại vững chắc được nếu không có một tổ chức ổn định và duy trì được tính liên tục gồm những người lãnh đạo; 2) Càng có đông đảo quần chúng được thu hút tự phát vào cuộc đấu tranh, tạo thành cơ sở cho phong trào và tham gia phong trào, thì càng cấp thiết phải có một tổ chức như thế và tổ chức ấy lại càng phải vững chắc (nếu không thì bọn mị dân sẽ dễ lôi cuốn được những tầng lớp lạc hậu trong quần chúng); một tổ chức như thế thì chủ yếu phải gồm những người lấy hoạt động cách mạng làm nghề nghiệp của mình [35, tr.158-159]
Vì vậy, V.I.Lênin nhấn mạnh "hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng, và chúng tôi sẽ đảo ngược nước Nga lên!" [35, tr.162]
Muốn có sức mạnh phải thống nhất ý chí, phải đoàn kết, phải có tổ chức Vì thế trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C Mác và Ph Ăngghen viết: “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!” [41, tr.646] Vận dụng tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen vào thời đại của mình - thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản, Lênin kêu gọi mở rộng khối đại đoàn kết của giai cấp công nhân với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới
Về phương hướng công tác dân vận, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ cần phải dùng phương pháp nêu gương và giúp đỡ; trong công tác dân vận thì những tấm gương, những
mô hình thực tiễn cụ thể có tác dụng cổ vũ, động viên, hướng dẫn quần chúng nhân dân rất to lớn; đối với quần chúng nhân dân không được dùng mệnh lệnh áp đặt ý chí chủ quan của cá nhân lãnh đạo đối với họ
V I Lênin rất coi trọng công tác thuyết phục, giáo dục và nêu gương đối với quần chúng nhân dân Người đề ra nhiệm vụ hàng đầu cho các đảng cộng sản là phải “thuyết phục cho đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn của cương lĩnh và sách lược của mình” [37, tr.208] Nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ giành được chính quyền, xây dựng chủ nghĩa xã hội là quản lý, nhưng “Chúng ta phải suy nghĩ kỹ rằng muốn quản lý được tốt, thì ngoài cái tài biết thuyết phục, biết chiến thắng trong cuộc nội chiến, còn cần phải biết tổ chức trong lĩnh vực thực tiễn” [37, tr.210] Đồng thời, V I Lênin phê phán những đảng viên, cán bộ, những tổ chức đảng không gương mẫu, không dũng cảm hoặc
Trang 14
“rất ít dùng những điển hình, những tấm gương cụ thể, sinh động, lấy trong mọi lĩnh vực của đời sống, để giáo dục quần chúng” [38, tr.109]; Người yêu cầu lấy kinh nghiệm, lấy
ví dụ thực tế để chứng minh cho quần chúng thấy rõ sự cần thiết của công việc đang làm
và coi đó là một biện pháp có hiệu quả
Để vận động quần chúng, V I Lênin khuyến khích mở rộng dân chủ, công khai làm cho mỗi người dân biết công việc của Đảng, của Nhà nước Đây là phương pháp vận động quần chúng có tác dụng nâng cao tính chủ động, tính tích cực sáng tạo, cách mạng của quần chúng V I Lênin viết: “Một nước mạnh là nhờ ở sự giác ngộ của quần chúng Nước mạnh là khi nào quần chúng biết rõ tất cả mọi cái quần chúng có thể phán đoán được về mọi cái, và đi vào hành động một cách có ý thức” [36, tr.23]
V I Lênin rất trân trọng ý kiến của quần chúng; xem tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân là những nguồn thông tin cực kỳ quý báu để hình thành chính sách Vì vậy, Người đề nghị tìm mọi cách để duy trì, phát triển và mở rộng hội nghị công nhân, nông dân ngoài Đảng, vì thông qua những hội nghị như thế, Đảng có thể “nhận xét tâm trạng của quần chúng, gần gũi họ, giải quyết những nhu cầu của họ, giao cho những phần
tử tốt nhất, trong số họ đảm nhiệm những chức vụ trong bộ máy nhà nước ” [39, tr.39] Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin là thế giới quan khoa học, là cơ sở phương pháp luận giúp Hồ Chí Minh tổng kết, tiếp thu có chọn lọc các học thuyết tư tưởng của nhân loại, đường lối của cách mạng thế giới Với ý nghĩa đó, chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở,
là nguồn gốc lý luận chủ yếu nhất để Người nâng cao truyền thống yêu nước của dân tộc theo phương hướng “Giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản”, hình thành
và hoàn chỉnh tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam nói chung, về tư tưởng dân vận nói riêng để vận động, giáo dục, tổ chức nhân dân hành động dưới ngọn cờ của đảng nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người
* Cơ sở thực tiễn:
Điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử của nước ta đã tạo nên mối quan hệ đoàn kết, gắn bó chặt chẽ với nhau trong chống chọi với thiên nhiên cũng như trong chống giặc ngoại xâm của cộng đồng người Việt Lịch sử đã chứng minh truyền thống đoàn kết, ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc ta đã được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Hồ Chí Minh là người am hiểu sâu sắc lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc; đã nhận thức được lịch sử Việt Nam thời phong kiến, tuy
Trang 15
chỉ là những việc đấu tranh thay đổi triều đại nhưng đã ghi lại những tấm gương tâm huyết dựng nước và giữ nước của cha ông ta Khi đất nước bị giặc xâm lăng, “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước góp sức” và “Khoan thử sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc là thượng sách giữ nước” Hội nghị Diên Hồng đời Nhà Trần là một điển hình của truyền thống đoàn kết toàn dân tộc nhằm tập hợp mọi lực lượng, thu phục tướng sĩ, nhân tài, phát huy sức mạnh của cả dân tộc để đánh đuổi kẻ thù Truyền thống này được
Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy lên một tầm cao mới, trong thời đại mới
Năm 1858, thực dân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cuộc vũ trang xâm lược và áp bức của chúng đối với dân tộc ta Chúng đã thi hành nhiều chính sách nguy hiểm và bằng mọi thủ đoạn độc ác, đê hèn để bóc lột nhân dân ta, đặc biệt là chính sách “chia để trị” Với chính sách đó kẻ thù hòng phân biệt, tách rời giữa đồng bào miền xuôi với đồng bào miền ngược, giữa đồng bào không theo đạo với đồng bào theo đạo… Nguy hiểm hơn, chúng đã chia đất nước ta thành ba miền: Bắc - Trung - Nam; mỗi miền có một chế độ cai trị khác nhau nhằm tập trung phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, một truyền thống có từ lâu đời của chúng ta Thực tế đó đặt ra cho cách mạng nước ta phải thực hiện chiến lược đoàn kết để tập hợp mọi lực lượng yêu nước có thể đoàn kết được, không phân biệt đảng phái, giai cấp, giàu nghèo thành một mặt trận thống nhất, tạo thành sức mạnh của toàn dân tộc Có vậy, mới giành được thắng lợi, đưa cách mạng tiến lên
Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, phong trào yêu nước Việt Nam đã diễn ra rất mạnh mẽ Từ phong trào Cần Vương, Yên Thế cuối thế kỷ XIX, đến các phong trào Đông Du, Duy Tân đầu thế kỷ XX, các thế hệ người Việt Nam yêu nước nối tiếp nhau đứng dậy chống ngoại xâm, nhưng đều thất bại Hồ Chí Minh nhận thấy được những hạn chế của các nhà yêu nước trong chủ trương tập hợp lực lượng và trong việc nắm bắt những đòi hỏi khách quan của lịch sử dân tộc trong giai đoạn này Đây cũng chính là lý do, là điểm xuất phát để Hồ Chí Minh quyết tâm ra nước ngoài tìm chân lý cách mạng, rồi trở về nước cùng với nhân dân cứu nước
Trang 16
sức mạnh vĩ đại; song cuộc đấu tranh của họ chưa đi đến thắng lợi, bởi vì các dân tộc bị
áp bức chưa biết tập hợp lại, chưa biết đoàn kết chặt chẽ với giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở “chính quốc”, chưa có tổ chức và chưa biết tổ chức Hồ Chí Minh nghiên cứu một cách thấu đáo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và những bài học kinh nghiệm quý báu mà cuộc cách mạng này đem lại cho phong trào cách mạng thế giới; đặc biệt là bài học về huy động, tập hợp lực lượng quần chúng công nông đông đảo
để giành chính quyền cách mạng
Đối với phong trào cách mạng của các nước thuộc địa và phụ thuộc, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến phong trào cách mạng ở Trung Quốc và ấn Độ là hai nước có thể đem lại cho Việt Nam nhiều bài học rất bổ ích về tập hợp các lực lượng yêu nước, tiến bộ để tiến hành cách mạng, như kinh nghiệm tập hợp lực lượng của Tôn Dật Tiên trong Cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc và của lãnh tụ đấu tranh đòi độc lập Mahatma Ganđi
ở ấn Độ
1.2.2 Quá trình hình thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã dành không ít tâm sức của mình vào công việc to tát, vĩ đại và hệ trọng bậc nhất là vận động, tổ chức và lãnh đạo quần chúng làm cách mạng Lý luận Dân vận của Hồ Chí Minh hoà làm một với thực hành công tác dân vận, một cuộc thực hành bền bỉ kéo dài trong suốt cuộc đời của Người Tư tưởng dân vận của Người được hình thành, phát triển và hoàn thiện gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng của Người; gắn liền với quá trình phát triển, thắng lợi của cách mạng Việt Nam
1.2.2.1 Thời kỳ thơ ấu đến năm 1920: tham gia hoạt động yêu nước và hình thành tư tưởng yêu nước, tư tưởng dân vận
Trong thời kỳ này, Hồ Chí Minh tiếp thu truyền thống yêu nước và lòng nhân ái từ gia đình và quê hương Tại quê hương, Hồ Chí Minh được khai tâm bằng chữ Hán, hấp thụ tinh thần yêu nước bất khuất của phong trào chống Pháp, cách đối nhân xử thế, nhân nghĩa thuỷ chung, khí khái của các nhà nho yêu nước Tại Huế (1895 - 1901 và 1906 - 1909), Hồ Chí Minh học được kiến thức về tự nhiên, xã hội, bước đầu tiếp xúc với văn minh phương Tây
Trang 17
Thời kỳ này, Hồ Chí Minh cũng đã chứng kiến cảnh đàn áp dã man của thực dân Pháp đối với những người yêu nước Việt Nam; cảnh sống cơ cực, đói rách của nhân dân lao động; cuộc sống xa hoa của bọn thực dân Pháp và quan lại tay sai Hồ Chí Minh tham gia phong trào biểu tình chống thuế của nhân dân Trung Kỳ, thấy được thất bại của phong trào Đông Du (1906 - 1908) do Phan Bội Châu tổ chức, lãnh đạo và phong trào “Đông kinh Nghĩa thục”(1907)
Tìm hiểu nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ, Hồ chí Minh nhận xét như sau: chủ trương dựa vào Nhật để đánh Pháp của Phan Bội Châu,
“Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau” [69, tr.13]; chủ trương của Phan Chu Trinh dựa vào Pháp để “Duy Tân” đất nước “chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương” [69, tr.12]; còn cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám
“Còn nặng cốt cách phong kiến” [69, tr.13]
Khi bị đuổi học khỏi trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành vào dạy học ở trường Dục Thanh (Phan Thiết) (9/1910 - 2/1911) Trong thời gian này anh đã phổ biến cho học
sinh những thơ ca yêu nước, như bài “Ca hớt tóc”:
Phen này cắt tóc đi tu,
Tụng kinh độc lập ở chùa Duy Tân,
Đêm ngày khấn vái chuyên cần,
Cầu cho ích nước lợi dân mới là,
Quyết tu sao phỉ chí dân nhà,
Tu sao độ được nước ta phú cường,
Lòng thành thắp một tuần nhang,
Nam mô phật tổ hồng bàng chừng tri [5, tr.38]
Ngày 5/6/1911 anh thanh niên Nguyễn Tất Thành ra nước ngoài tìm đường cứu nước, cứu dân Khi rời bến Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành có một tâm nguyện rằng: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta” [69, tr.13]
Trong thời gian làm việc trên tàu buôn của Pháp, Người gia nhập Hội viên Công hội, Hội những người thuỷ thủ Việt Nam ở nước ngoài Năm 1917, Hồ Chí Minh trở lại Pháp - một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá lớn ở Châu Âu lúc bấy giờ, sau đó tham gia Đảng Xã hội Pháp (1918) Năm 1919, Người thay mặt những người Việt Nam yêu
Trang 18
nước gửi đến Hội nghị Vecxây Bản Yêu sách của nhân dân An Nam, gồm 8 điểm đòi tự
do dân chủ đơn sơ, đòi có tiếng nói riêng của người bản xứ trong Quốc hội Pháp, đòi thay thế chế độ sắc lệnh bằng các đạo luật Mặc dù không được Hội nghị Vecxây xem xét, song bản yêu sách đã có tiếng vang lớn Từ thực tế này, Hồ Chí Minh đi đến kết luận về
Kế hoạch 14 điểm của Tổng thống Mỹ Uyn-Xơn rêu rao về quyền tự quyết dân tộc: “Chủ nghĩa Uyn - Xơn chỉ là trò bịp lớn”, và “muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình” [69, tr.33]
Trong thời gian này, Hồ Chí Minh qua nhiều nước ở châu á, châu Phi, châu Mỹ và châu Âu, chú ý xem xét tình hình các nước, suy nghĩ về thực tế đang diễn ra ở các nước
đó và nhận định rằng: trên thế giới này chỉ có hai giống người: bị bóc lột và bóc lột mà thôi Người kết luận giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở đâu cũng là bạn; chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là thù Từ đó đã làm nảy nở ở Người tình cảm và ý thức giai cấp cũng như tình đoàn kết quốc tế Người cũng đã tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới, khảo sát cuộc sống, tình cảnh của nhân dân bị áp bức và ảnh hưởng về con đường Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, một cuộc cách mạng đã thành công đến nơi, vì “Cách mạng rồi quyền giao cho dân chúng số nhiều” Bằng những hoạt động tích cực ấy, Hồ Chí Minh đã đi trước một đoạn đường khá thành công của công tác dân vận Năm 1920, đọc Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Hồ Chí Minh tìm thấy con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước, tìm thấy lực lượng cách mạng hùng hậu cho thắng lợi của cách mạng thuộc địa Tháng 12/1920, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp họp tại thành phố Tua, Hồ Chí Minh bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III Tiếp đó, Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên Sự kiện đó đánh dấu bước chuyển biến về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người Từ đây, khát vọng giải phóng dân tộc của Người được soi sáng bởi một hệ tư tưởng cách mạng và khoa học Đó là chủ nghĩa Mác - Lênin
1.2.2.2 Thời kỳ từ năm 1921 đến năm 1930: hình thành cơ bản tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam và tư tưởng dân vận
Thời kỳ này Hồ Chí Minh vừa tiếp tục hoạt động cách mạng, vừa đi sâu nghiên cứu
tư tưởng Mác- Lênin, từng bước xây dựng tư tưởng, chiến lược, sách lược, phương pháp
và lực lượng cách mạng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam Năm 1921, Hồ Chí
Trang 19
Minh cùng một số chiến sỹ cách mạng ở nhiều nước lập ra tổ chức “Hội Liên hiệp thuộc địa” và xuất bản báo Le Paria Tháng 12/1921, theo kiến nghị của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Pháp thành lập Ban Nghiên cứu thuộc địa Hồ Chí Minh được cử làm trưởng Tiểu ban nghiên cứu Đông Dương
Năm 1923, trong bức "Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp” trước khi rời nước Pháp, Nguyễn ái Quốc viết: “Chúng ta phải làm gì?
Chúng ta không thể đặt vấn đề ấy một cách máy móc
Điều đó tuỳ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi dân tộc chúng ta
Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập” [43, tr.192] Những lời của Người trong bức thư ngắn gọn nêu trên cho thấy tư tưởng, quan điểm của Người với những nội dung hết sức rõ ràng cụ thể về cuộc vận động quần chúng làm cách mạng, từ giáo dục, tuyên truyền, tổ chức, tập hợp lực lượng và thực hành tranh đấu ở đây có hai điểm: 1) Phải gắn bó mật thiết với quần chúng, sống và tranh đấu cùng quần chúng; 2) Đoàn kết quần chúng
*Tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh ở thời kỳ này định hướng cho cách mạng thuộc địa Sự định hướng đó thể hiện ở chỗ: “Giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản” Đánh giá sức mạnh của nhân dân thuộc địa, Người viết:
Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để
gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn [43, tr.36] Trong những năm 1925-1927, Hồ Chí Minh hoạt động Quảng Châu (Trung Quốc)
ở đây, Ngườivận động, tổ chức Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng, ra báo Thanh niên
và viết tác phẩm “Đường Kách mệnh”, mở các lớp huấn luyện chính trị đào tạo cán bộ rồi đưa họ về nước hoạt động.Trong “Đường Kách mệnh”, Hồ Chí Minh nói rõ mục đích
“Vì sao phải viết sách này” Người viết:
5 Mục đích sách này là để nói cho đồng bào ta biết rõ: (1) Vì sao chúng
ta muốn sống thì phải cách mệnh (2) Vì sao cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người (3) Đem lịch sử cách mệnh các
Trang 20Sách này chỉ ước ao sao đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết nhau mà làm cách mệnh
Văn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ “Cách mệnh! Cách mệnh!! Cách mệnh !!! [44, tr.262]
Đây làcách đặt vấn đề xuất phát từ quan điểm thực tiễn rất tiêu biểu của Chủ tịch
Hồ Chí Minh Quan điểm này là nền tảng của dân vận, của khoa học chính trị vận động quần chúng
Tác phẩm “Đường Kách mệnh” là ngọn cờ chỉ đạo; là bước chuẩn bị rất cơ bản về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ 6/1 đến 7/2/1930, Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và các đoàn thể cách mạng Việt Nam như Thanh niên Cộng sản Đoàn, Hội Phụ nữ, Công hội, Hội Cứu tế đỏ, Hội Nông dân và Hội Phản đế đồng minh Hội nghị Hợp nhất đã thông qua “Chánh cương vắn tắt của Đảng”,
“Sách lược vắn tắt của Đảng”, “Chương trình tóm tắt của Đảng” và “Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam” Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Hồ Chí Minh khởi thảo là bản cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Văn kiện này đã thể hiện sự nhận thức sâu sắc và đúng đắn của Hồ Chí Minh và của Đảng ta về nhiều vấn đề cơ bản nhất của cách mạng; trong đó có vấn đề dân vận
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, Hồ Chí Minh còn viết "Lời kêu gọi"; trong đó, Hồ Chí Minh phân tích tình hình thế giới, tình hình trong nước và nêu lên đường lối, mục tiêu trước mắt và lâu dài của cách mạng Việt Nam, cổ vũ các tầng lớp nhân dân đứng lên đấu ranh dưới ngọn cờ cứu nước của Đảng Cộng sản Việt Nam để giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc
Như vậy, thông qua những tác phẩm như: “Bản án chế độ thực dân Pháp”, “Đường Kách mệnh”, “Chánh cương vắn tắt của Đảng”, "Sách lược vắn tắt của Đảng", “Điều lệ vắn tắt của Đảng”, “Lời kêu gọi”, tổ chức Đảng và các tổ chức quần chúng của Đảng ra
Trang 21Mùa hè năm 1933, Hồ Chí Minh sang Liên Xô ở đây Người vào học tại trường Đại học Lênin và sau đó làm nghiên cứu sinh ở Ban sử của Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Quốc tế Cộng sản Người tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận
cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và kinh nghiệm phong trào cách mạng thế giới Trong thời gian này, Người tiếp tục bảo vệ và phát triển những tư tưởng, quan điểm đúng đắn của mình về cách mạng vô sản, chống lại những biểu hiện tả khuynh và biệt phái trong phong trào cộng sản và phong trào công nhân quốc tế
Tháng 7/1935, Đại hội lần thứ 7 Quốc tế Cộng sản được tổ chức ở Mátxcơva, Hồ Chí Minh tham gia đoàn đại biểu Đảng ta với tư cách là đại biểu tư vấn Căn cứ vào tình hình quốc tế lúc này, Đại hội 7 Quốc tế Cộng sản đã thay đổi sự chỉ đạo chiến lược và chủ trương mở rộng mặt trận thống nhất nhằm tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, đấu tranh chống phát xít, bảo vệ tự do, dân chủ, hoà bình Đại hội 7 Quốc tế Cộng sản đã khắc phục được một bước quan trọng xu hướng tả khuynh trong phong trào cộng sản và phong trào quốc tế, tạo điều kiện để cách mạng nhiều nước có bước tiến mới
Như vậy, thực tiễn cách mạng thế giới và cách mạng Việt Nam đã chứng minh những quan điểm của Hồ Chí Minh về sự cần thiết phải tổ chức mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, tập trung mũi nhọn chống đế quốc là đúng đắn và sáng tạo
Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam Người chủ trì Hội nghị Trung ương VIII, cụ thể hoá đường lối do Người vạch ra trong
Trang 22
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc cao hơn hết Trong
bài "Kính cáo đồng bào", Người chỉ rõ: "Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng
cao hơn hết thảy" [45, tr.198] Người chủ trương thành lập Việt Minh, vận động toàn dân thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam, tiến tới giành chính quyền, giải phóng dân tộc Nhờ những chủ trương đúng đắn, sáng tạo đó của Người, cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi Đó là thắng lợi đầu tiên của tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng dân vận của Người và tư tưởng đó có sức sống mãnh liệt trong thực tiễn đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc
1.2.2.4 Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1969: phát triển toàn diện tư tưởng dân vận Hồ Chí Minh
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đưa đến sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - Nhà nước công nông đầu tiên ra đời từ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công vì có những bước đi thích hợp và vì Việt Minh có những chính sách phù hợp với lợi ích của nhân dân, được nhân dân cả nước nhiệt tình ủng hộ, tham gia
Nhưng ngay từ khi mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phải đương đầu với nhiều khó khăn, thử thách hiểm nghèo ở miền Bắc, 20 vạn quân Tưởng và sau chúng
là bè lũ Việt gian phản động chống phá cách mạng quyết liệt, mưu toan bóp chết chính quyền cách mạng non trẻ ở miền Nam, 6 vạn quân Anh giúp Pháp quay trở lại nổ súng xâm lược nước ta lần thứ hai Trong khi đó tình hình kinh tế - tài chính của Nhà nước mới cực kỳ khó khăn, kho bạc trống rỗng; hơn nữa, nạn đói do hậu quả của chính sách vơ vét của Pháp và Nhật trước đó vẫn diễn ra gay gắt
Đứng trước tình thế vô cùng khó khăn, nguy hiểm đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh bình tĩnh, khôn khéo đề ra nhiều biện pháp linh hoạt, phát huy được sức mạnh của
cả dân tộc để giải quyết những vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp thiết của cách mạng; nhờ đó từng bước đẩy lùi giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, bảo vệ được chính quyền cách mạng
và chuẩn bị lực lượng kháng chiến
Thực dân Pháp vốn dã tâm cướp bằng được nước ta, chúng từng bước đơn phương xoá bỏ những điều khoản đã ký kết với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946 Trước tình hình đó, Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn
Trang 23
quốc kháng chiến”, quyết tâm chống thực dân Pháp đến cùng Người viết: “Chúng ta thà
hy sinh tất cả, chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” [46, tr.480]
Trong lời kêu gọi lịch sử này, Hồ Chí Minh vạch ra đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn của đất nước; do đó đã vận động, tập hợp, đoàn kết
và huy động cả dân tộc Việt Nam vào cuộc trường chinh vĩ đại, bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc và từng bước xây dựng chế độ dân chủ nhân dân
Năm 1947, Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Qua tác phẩm này, Người ý thức cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân sự cần thiết phải có phương pháp và cách thức làm việc, cách thức giải quyết các vấn đề trong điều kiện kháng chiến Hơn thế nữa, tác phẩm còn nêu lên những phẩm chất cần có của người cách mạng để tập hợp sức mạnh của quần chúng, đưa sự nghiệp kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công
Năm 1949, Hồ Chí Minh viết tác phẩm: “Dân vận” ở tác phẩm này Người đã nêu lên những quan điểm và phương pháp chỉ đạo công tác dân vận với một tầm nhìn rộng lớn, khoáng đạt; với cách nghĩ, cách làm dân vận hết sức mới mẻ, hiện đại Đây là một trong những tác phẩm ít chữ mà nhiều ý nghĩa Với một lượng tối thiểu ngôn từ, Người chuyển tải
và biểu cảm một cách tối đa tư tưởng và triết lý của Người về công tác dân vận
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Mặt trận Dân tộc thống nhất đòi hỏi phải được mở rộng để thu hút tối đa các thành phần dân tộc vì những lý do khác nhau không tham gia Việt Minh Vì vậy, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam ra đời Công tác dân vận trong thời kỳ Đảng cầm quyền không phải là nhiệm vụ riêng của Đảng như thời kỳ Đảng hoạt động bí mật, bất hợp pháp Theo Hồ Chí Minh, khi chính quyền đã về tay nhân dân, nước ta là nước dân chủ thì “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ Đoàn thể và tất cả
hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh…) đều phải phụ trách dân vận”
[47, tr.699] Người cũng chỉ rõ những thiếu sót về dân vận, rằng “Khuyết điểm to ở nhiều
nơi là xem khinh việc dân vận” [46, tr.699] Người nhắc nhở toàn Đảng, toàn quân, toàn
dân hiểu rằng “Dân vận kém thì việc gì cũng kém Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” [47, tr.700]
Từ sau tác phẩm “Dân vận” của Người, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân chú tâm vào công tác dân vận, động viên nhân dân thi đua ái quốc, giết giặc lập công, tăng gia sản
Trang 24
xuất Tư tưởng dân vận của Người đã đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi và cổ vũ nhân dân giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Năm 1954, cuộc kháng chiến của nhân dân ta giành được thắng lợi to lớn, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về lập lại hoà bình ở Đông Dương (20/7/1954) Theo hiệp định này đất nước ta tạm chia làm hai miền và sau hai năm sẽ tổng tuyển cử để thống nhất đất nước Song đế quốc Mỹ lợi dụng sự thất bại của Pháp, nhảy vào xâm lược miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta
Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, Đảng ta và Hồ Chí Minh dành nhiều công sức, trí tuệ để
có đường lối đúng đắn cho giai đoạn cách mạng mới Đó là Cách mạng Xã hội chủ nghĩa
ở miền Bắc và Cách mạng Dân chủ nhân dân ở miền Nam Trong thời gian này Hồ Chí Minh có hàng trăm bài viết, bài nói chuyện để giải thích, tuyên truyền đường lối của Đảng, đồng thời cổ vũ động viên cán bộ và nhân dân ta hăng hái xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Để vận động quần chúng, động viên, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tiến lên đánh thắng hoàn toàn đế quốc Mỹ và tay
sai, ngày 17/7/1966, Hồ Chí Minh với tư cách là Chủ tịch nước ra Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước Trong văn kiện quan trọng này, Người nêu lên chân lý bất hủ “Không có gì
quý hơn độc lập tự do!” [54, tr.108] Tinh thần ấy đã cổ vũ, thúc giục quân dân ta vượt qua muôn vàn gian khổ, quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược
Một trong những tác phẩm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn của Người trong giai đoạn này là tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” Bằng những lời lẽ sâu sắc và đầy sức thuyết phục, Hồ Chí Minh chỉ ra cho cán bộ, đảng viên thấy sự cần thiết phải thường xuyên rèn luyện tu dưỡng, nâng cao đạo đức cách mạng, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân Người coi chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù hung
ác của chủ nghĩa xã hội, là nguồn gốc của mọi sự sai lầm khuyết điểm Người viết: “Do
cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa
Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh” [54, tr.438-439] Theo Người, để chống chủ nghĩa cá nhân có hiệu quả mỗi người cần ra sức trau dồi đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, gắn bó mật thiết với quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân Bởi vì theo Người, “đảng viên đi
Trang 25
trước, làng nước theo sau" [54, tr.438]; “Đó cũng là một việc làm cần thiết để giúp tất cả cán bộ, đảng viên đều tiến bộ, góp sức hơn nữa cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước toàn thắng và xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công” [54, tr.439]
Năm 1968, Người đặt vấn đề về cuộc vận động “Người tốt việc tốt”; gặp gỡ, nói chuyện với công nhân và cán bộ ngành than; sửa Điều lệ Hợp tác xã nông nghiệp Trước
khi vĩnh biệt chúng ta, Hồ Chí Minh để lại bản Di chúc thiêng liêng, thể hiện tình cảm
sâu nặng của Người đối với dân, với nước, nói lên niềm tin tất thắng của Người đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và đề ra những phương sách lớn để đưa sự nghiệp kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn; đồng thời nêu lên những suy ngẫm, những chỉ dẫn quý báu của Người về những chủ trương, biện pháp lớn cần thực hiện trong cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội Người viết: “Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân” [54, tr.505]
Lịch sử hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng dân vận của Người nói riêng cho chúng ta thấy tư tưởng của Người là một hệ thống lý luận gắn chặt với thực tiễn, có tác dụng to lớn đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam cũng như của nhân loại tiến bộ chống lại mọi hình thức áp bức, nô dịch để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận là sự phát triển sáng tạo luận điểm “Cách mạng
là sự nghiệp của quần chúng” của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin vào giải quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam và đã đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Đảng ta nhận định, trong giai đoạn đổi mới và công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng dân vận của Người nói riêng vẫn “soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tình thần to lớn của Đảng và dân tộc ta” [14, tr.82]
1.3 Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận
1.3.1 Vị trí, vai trò của công tác dân vận
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, ông cha ta luôn biết dựa vào dân, phát huy lực lượng to lớn của toàn dân để tiến hành cuộc đấu tranh chống thiên tai và chống giặc ngoại xâm Bài học “Nước lấy dân làm gốc” đã
Trang 26Hồ Chí Minh diễn đạt chân lý ấy bằng những lời giản dị Bác nói: “Trong bầu trời không
gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [50, tr.276];
"Nước lấy dân làm gốc
Gốc có vững cây mới bền,
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" [47, tr.409-410]
Người coi dân là chủ xã hội, là gốc của nước, mọi quyền hành và lực lượng đều phải
ở nơi dân Người luôn luôn tin ở nhân dân, và đánh giá đúng vai trò của nhân dân Người nói: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân” [52, tr.197]; “Kinh nghiệm trong nước và các nước cho chúng
ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được Không có, thì việc gì làm cũng không xong” [47, tr.295] Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn xem công tác dân vận
là nhiệm vụ cốt yếu của Đảng và của cả hệ thống chính trị Theo Người, muốn làm cách mạng thành công thì phải làm tốt công tác dân vận
Trong bài “Dân vận” đăng trên báo Sự thật ngày 15 tháng 10 năm 1949 thể hiện rất rõ nét sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác vận động nhân dân trong đấu tranh cách mạng, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong bài viết này Hồ Chí Minh nêu lên những quan điểm, tư tưởng, phương châm, nội dung và mục tiêu công tác vận động nhân dân rất sâu sắc, có tính chỉ đạo chiến lược và có thể xem đây là một cương lĩnh trong công tác dân vận Trước hết, Người khẳng định vai trò cực kỳ to lớn, quan trọng của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng nước ta Người viết: “quyền hành và lực lượng đều nơi dân” [47, tr.698] Sau đó, Người chỉ rõ thế nào là công tác dân vận và chỉ rõ tầm quan trọng của công tác này Người viết: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân ” [47, tr.698]
là làm cho dân được làm chủ, được hưởng quyền dân chủ Người còn khẳng định: “Lực
Trang 271.3.2 Tư tưởng và phương thức cơ bản chỉ đạo công tác dân vận
1.3.2.1 Tư tưởng chỉ đạo công tác dân vận của Hồ Chí Minh
- Tất cả vì lợi ích của nhân dân
Lợi ích của nhân dân là một vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh Tư tưởng này đã trở thành mục tiêu duy nhất của Đảng do Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Người nói: “Ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác” [52, tr.4] Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, ngay từ đầu Người đã đặt vấn
đề vận động quần chúng vì ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, trước hết là cho nhân dân lao động Sau khi nước nhà độc lập, Người chỉ rõ rằng: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [46, tr.56] "Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ" [46, tr.152] Từ đó, Người dạy rằng:
Chúng ta phải thực hiện ngay:
1 Làm cho dân có ăn
2 Làm cho dân có mặc
3 Làm cho dân có chỗ ở
4 Làm cho dân có học hành
Cái mục đích chúng ta đi đến là 4 điều đó [46, tr.152]
Đường lối dân vận của Hồ Chí Minh đã cổ vũ, động viên toàn dân tiến lên đánh thắng các đế quốc to, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Theo Hồ Chí Minh, muốn vận động quần chúng thì mọi chủ trương, chính sách, mọi quy định của luật pháp đều phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân, lợi ích trước mắt cũng như lâu dài, lợi ích cá nhân cũng như của xã hội; có vậy, nhân dân mới sẵn sàng hưởng ứng và tham gia tích cực; mới tập hợp được quần chúng và tạo được phong trào quần
Trang 28Việc ấy hợp thời: khao quân vào ngày kỷ niệm độc lập
Rất hợp lòng dân: đồng bào ta luôn luôn sẵn sàng hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ bộ đội” [47, tr.703]
Trong bài viết nhan đề “Sao cho được lòng dân? ”, Người phê bình những ông chủ tịch, các ông uỷ viên “ngông nghênh cậy thế cậy quyền” để dân khinh, dân ghét và Người chỉ thị cán bộ chính quyền các cấp:
Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dẫu khó khăn đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ tới đời sống của dân Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới Phải chăm
lo việc cứu tế nạn nhân cho chu đáo, phải chú ý trừ nạn mù chữ cho dân Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được đặc biệt chú ý Nói tóm lại, muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải
có một tinh thần chí công vô tư [46, tr.47-48]
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, muốn được dân yêu, cán bộ, đảng viên phải thể hiện rõ trách nhiệm của mình đối với dân Người còn căn dặn: “Dân không đủ muối Đảng phải
lo Dân không có gạo ăn đủ no, dân không có vải mặc đủ ấm, Đảng phải lo Các cháu bé không có trường học, Đảng phải lo Tất cả mọi việc, Đảng phải lo” [52, tr.463-464] Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết: “Kinh nghiệm của Đảng ta trong quá trình cách mạng đã chỉ
rõ là nơi nào, lúc nào cán bộ ta giải quyết tốt lợi ích thiết thân của nông dân, nắm vững nguyên tắc liên minh công nông, thì nơi đó, lúc đó cách mạng đều tiến mạnh” [43, tr.18]
Hồ Chí Minh chỉ rõ làm công tác dân vận là lãnh đạo nhân dân thực hiện lợi ích và quyền hành của dân; xây dựng Đảng xứng đáng với sứ mệnh lịch sử của mình là lãnh đạo, xây dựng chính quyền của dân, do dân vì dân, thu hút được lực lượng đông đảo các tầng lớp, các giai cấp và cả dân tộc để thực hiện tốt lợi ích, trách nhiệm và quyền hạn của từng người và của cả cộng đồng dân tộc Về phương thức lãnh đạo phải giữ gìn tăng
Trang 29
cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân; coi trọng tác phong sâu sát thực tế, gần dân, nghe dân, hiểu dân và có trách nhiệm với dân Người chỉ rõ, Đảng phải:
Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;
Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;
Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;
Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh
nhân dân phê bình mình;
Sẵn sàng học hỏi nhân dân;
Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo
[48, tr.293]
Đồng thời, Người cũng cảnh tỉnh cho tất cả cán bộ, đảng viên về nguy cơ thoát ly lợi ích của nhân dân, làm biến chất và mất nguồn sức mạnh của Đảng Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công chưa được bao lâu, ngày 17/10/1945 Hồ Chí Minh gửi thư phê bình cán bộ trong cơ quan chính quyền của “các kỳ, tỉnh, huyện, làng”
về các lỗi lầm mà họ phạm phải như: “trái phép”, “cậy thế”, “hủ hoá”, “tù túng”, “chia sẻ”, “kiêu ngạo” Người căn dặn: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật” [46, tr.56] Đây thực sự là một vấn đề lớn mà Bác đã đặt ra trong một nước dân chủ mới;
và cho thấy rằng, Đảng phải coi công tác dân vận là một nhiệm vụ chiến lược của mình
Hồ Chí Minh cho rằng việc quan tâm lợi ích quần chúng phải rất thiết thực, cụ thể, không thể nói chung chung được Người dặn: “Nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc) Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông” [48, tr.292]
Hồ Chí Minh dạy cán bộ, đảng viên, công chức và các tổ chức cơ quan của Đảng, chính quyền Nhà nước phải vì lợi ích của nhân dân, vì cần cho nhân dân mà tìm ra những cách tổ chức, cách làm việc cho thiết thực, bổ ích, sinh động và vừa tầm Những hình thức, cách tổ chức và cách làm việc nào không xuất phát từ lợi ích của quần chúng nhân dân, không cần thiết đối với nhân dân, hình thức chủ nghĩa, “ba hoa”, “hẹp hòi”, quan liêu, mệnh lệnh hành chính đều bị dân từ chối, xa lánh, phản đối, thậm chí nổi giận Người viết:
Trang 30
Bao nhiêu cách tổ chức và cách làm việc, đều vì lợi ích của quần chúng,
vì cần cho quần chúng Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị cấp trên mà đặt ra Nếu cần làm thì cứ đặt ra, rồi báo cáo sau, miễn là được việc [47, tr.246]
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng dân vận của Người nói riêng, việc quan tâm đến lợi ích của nhân dân còn có nghĩa là phải luôn luôn chăm lo hướng dẫn, giúp đỡ nhân dân về mọi mặt để nhân dân đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, văn hoá nhằm cải thiện và nâng cao đời sống Người viết:
Lâu nay, chúng ta đòi hỏi nhân dân đóng góp Từ đây, chúng ta phải ra sức hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân hơn nữa trong việc sản xuất và tiết kiệm,
để cải thiện đời sống của bộ đội và nhân dân, để làm cho dân giàu, nước mạnh
Có như thế nhân dân mới càng thấy Chính phủ hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, Chính phủ là Chính phủ của nhân dân Như thế, nhân dân sẽ càng hăng hái đoàn kết và kháng chiến [48, tr.441]
Trước khi đi xa, viết Di chúc, Người dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” [54, tr.511]
- Dân chủ là tư tưởng cơ bản, xuyên suốt của công tác dân vận:
Theo Hồ Chí Minh, muốn phát huy vai trò to lớn của các tầng lớp nhân dân, đoàn kết được mọi lực lượng của dân thì phải phát huy dân chủ, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong tất cả các lĩnh vực, bởi vì, “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân làm chủ" [48, tr.515]
Đây là một vấn đề thuộc bản chất của chế độ ta Vận động nhân dân thực hành dân chủ và tạo điều kiện cần thiết để bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục đích cao nhất và cũng là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của công tác dân vận Thực tiễn cách mạng Việt Nam cũng cho thấy ở đâu việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được tiến hành theo quy trình dân chủ "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", thì ở đó công tác dân vận có hiệu quả rõ rệt; ở đâu phát huy được
Trang 31Cũng theo Hồ Chí Minh, dân chủ và dân vận quan hệ chặt chẽ với nhau, cụ thể: dân vận phải được đặt trên cơ sở một chế độ dân chủ thực sự, mục tiêu dân vận là thực sự vì dân và do dân, ngoài ra không có mục tiêu nào khác Dân vận là vì lợi ích, quyền hạn, trách nhiệm của nhân dân và phải do nhân dân thực hiện
Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh, cần phát huy mạnh mẽ động lực dân chủ để động viên mọi sáng kiến của nhân dân và cán bộ, đưa sự nghiệp cách mạng của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng đến thắng lợi hoàn toàn Hồ Chí Minh viết: “Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên” [51, tr.592]; “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến” [47, tr.244] “Thực hành dân chủ là chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn” [54, tr.249]
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất dân chủ của Nhà nước ta không chỉ thể hiện ở việc nhân dân tổ chức nên bộ máy nhà nước, mà còn thể hiện đậm nét, đa dạng ở việc huy động được sự tham gia đông đảo của nhân dân vào quản lý các công việc của Nhà nước Trong bài “Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại Kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá
I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”, trong phần “Tổ chức Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
Để thực hiện tốt nhiệm vụ cách mạng, Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực và sức sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc Nhà nước, ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà [51, tr.590]
Trang 32
Xét từ gốc độ công tác dân vận, việc đảm bảo cho nhân dân tham gia quản lý các công việc nhà nước là một hình thức thể hiện dân chủ, thể hiện bản chất tiến bộ của nhà nước ta và nhằm tập hợp sức mạnh của toàn dân cho sự nghiệp cách mạng
Khi phát huy quyền dân chủ, huy động sự tham gia của nhân dân vào công việc quản lý nhà nước thì vấn đề niềm tin của dân đối với chính quyền và niềm tin của chính quyền đối với dân là vô cùng cần thiết Tuy nhiên, trong thực tế vấn đề hoàn toàn không đơn giản, ngoài những lí do nhận thức sai lệch, còn có tình trạng như Hồ Chí Minh đã chỉ ra:
Đối với cơ quan lãnh đạo, đối với những người lãnh đạo, các đảng viên và
các cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình
Thành thử cấp trên với cấp dưới cách biệt nhau Quần chúng với Đảng xa rời nhau Trên thì tưởng cái gì cũng tốt đẹp Dưới thì có gì không dám nói ra
Họ không nói, không phải vì họ không có ý kiến, nhưng vì họ nghĩ nói ra cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị “trù” là khác
Họ không dám nói ra thì họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản Rồi sinh ra thói “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”, “trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm”, sinh ra thói “thậm thà thậm thụt” và những thói xấu khác [47, tr.243]
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, nói dân chủ thì phải làm dân chủ, phải lắng nghe ý kiến của người dân Đó là một tiêu chuẩn quan trọng trong công tác vận động quần chúng Chính Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gương sáng ngời về phong cách lãnh đạo dân
chủ, tập thể, đi đúng đường lối quần chúng, đi tận nơi, xem tận chốn, "làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm"
[54, tr.223]
Trong suốt những năm tháng giữ cương vị đứng đầu Đảng và Nhà nước, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đi rất nhiều nơi, từ miền xuôi đến miền ngược, từ nhà máy đến nông thôn, bệnh viện, trường học tiếp xúc với đủ các giai tầng xã hội, các tôn giáo, các thành phần dân tộc Mục đích các chuyến đi của Người không gì khác là làm công tác dân vận Người tìm hiểu đời sống, sản xuất, sinh hoạt của nhân dân, phát hiện những điển hình
Trang 33
tiên tiến làm lợi cho dân, cổ vũ toàn dân học tập làm theo và kịp thời ngăn chặn những việc làm sai trái có hại cho dân
- Đoàn kết, tập hợp lực lượng là nhiệm vụ cơ bản của công tác dân vận:
Hồ Chí Minh là nhà chiến lược thiên tài, một nhà tổ chức vĩ đại, đặc biệt trong đó, Người kết nối khối đại đoàn kết toàn dân, hình thành sức mạnh toàn dân tộc Người luôn luôn khẳng định tầm quan trọng của đại đoàn kết toàn dân tộc Trong vận động cách mạng, Người coi đoàn kết, đại đoàn kết như một mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu Vận động quần chúng để thu hút quần chúng thực hiện nguyên tắc: "trên vì nước, dưới vì nhà, một là ích nước, hai là lợi dân", để đoàn kết mọi người, tạo ra động lực phát triển kinh tế
- xã hội và văn hoá
Ngay từ năm 1927 trong tác phẩm: "Đường kách mệnh" Hồ Chí Minh đã viết:
"Cách mệnh thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình, chứ không phải chỉ nhờ 5, 7 người giết 2, 3 anh vua, 9, 10 anh quan mà được" [44, tr.276] Do đó, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề đại đoàn kết và có rất nhiều bài nói, bài viết về vấn đề này Tư tưởng Hồ Chí Minh về vận động quần chúng, đại đoàn kết toàn dân tộc được thể hiện rõ ngay trong những ngày đầu thành lập Đảng Người chủ trương, trên cơ sở liên minh công nông, đoàn kết tất cả các giai cấp, tầng lớp, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, lứa tuổi, giới tính; đoàn kết tất cả những ai tán thành đánh đuổi đế quốc, tay sai, giành độc lập dân tộc, lôi kéo, phân hoá, cô lập cao độ kẻ thù Chủ trương
đó được trình bày rõ trong Chính cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng
Tư tưởng đó của Hồ Chí Minh được phát triển, hoàn thiện ở Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương tháng 5-1941 Theo sự lãnh đạo của Người, Hội nghị này quyết định thành lập Việt Nam Độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh) Chương trình Việt Minh gồm 10 chính sách rất phù hợp với nguyện vọng giành độc lập, tự do, dân chủ của nhân dân ta Việt Minh chủ trương liên hợp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già, trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng và xu hướng chính trị, cùng nhau mưu cuộc giải phóng và sinh tồn
Do có đường lối đúng, phù hợp với nguyện vọng của mọi giai cấp, tầng lớp nhân dân từ mục tiêu, hình thức tổ chức, phương thức hoạt động, nên ngay sau khi thành lập, Việt Minh đã nhanh chóng phát triển thành một tổ chức đông đảo thu hút mọi người Việt Nam yêu nước trong và ngoài nước tham gia Chưa bao giờ trên đất nước ta, cho đến thời
Trang 34Qua các đối tượng mà Người kêu gọi, cho thấy không phải chỉ gồm công, nông mà
là mọi tầng lớp nhân dân Hơn nữa, tổ chức, đoàn thể thành viên của Mặt trận Việt Minh đều mang cái tên chung cứu quốc: Hội Nông dân cứu quốc, Hội Công nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc Cái tên cứu quốc đó có sức lay động mạnh mẽ tình cảm yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân, tạo thành sức mạnh to lớn Như vậy nhiệm
vụ cơ bản của công tác dân vận, theo Hồ Chí Minh là "vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân" [47, tr.698] Thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã chứng minh một điều, như chân lý là: khi quần chúng nhân dân được thức tỉnh, được tổ chức, đoàn kết, tự giác tham gia cách mạng thì sẽ trở thành sức mạnh vô địch Trong bài nói chuyện tại buổi bế mạc Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ngày 10-9-1955, Hồ Chí Minh tổng kết: "Lịch sử trong những năm qua đã tỏ rõ lực lượng đoàn kết của nhân dân ta là vô địch" [50, tr.68] Tháng 7-1956, viết Thư gửi đồng bào cả nước, Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: "Đại đoàn kết là một lực lượng tất thắng" [50, tr.198]
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất rộng rãi là một tư tưởng và một thành công lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác vận động quần chúng Người đã tập hợp được những tổ chức cách mạng chân chính về một mối, quy tụ được sức mạnh của toàn dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân, xây
Trang 35
dựng tình đoàn kết quốc tế Đó là kết quả của nhà tổ chức vĩ đại Hồ Chí Minh, biến khẩu hiệu nổi tiếng:
"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công" [52, tr.607]
Thành hiện thực, thành sức mạnh tinh thần và sức mạnh vật chất cực kỳ to lớn đánh thắng những thế lực thù địch hung bạo, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng XHCN, mãi mãi là một lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam
Hồ Chí Minh coi sức mạnh của nhân dân được tổ chức lại một cách khoa học là sức mạnh vô địch; vì vậy trọng tâm của công tác dân vận là phải đoàn kết, tổ chức được nhân dân trong các đoàn thể nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
1.3.2.2 Phương thức cơ bản chỉ đạo công tác dân vận
* Trên cơ sở nhận thức sâu sắc dân là chủ, do đó phương thức cơ bản của công tác dân vận phải là phương thức dân chủ, không phải là những thủ thuật chính trị Dân chủ và dân vận là không tách rời nhau, dân chủ tất yếu đòi hỏi công tác dân vận phải đi vào chiều sâu, dân vận tốt thì dân chủ càng thuận lợi, càng được nâng cao một cách có ý thức Dân chủ là cơ sở và bản chất của dân vận Vì vậy phương thức cơ bản của công tác dân vận là "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"
Sinh thời, Hồ Chí Minh không nói "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", nhưng cách nói của Người trong bài báo "Dân vận" (15-10-1949) cũng đầy đủ những nội dung như vậy:
Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót
một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân
Dân vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ
Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho
kỳ được
Trang 36
Điểm thứ hai là bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành
Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân
Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng [47, tr.698-699]
Như vậy, từ quan niệm tất cả "lực lượng đều ở nơi dân", nhìn thấy và tin tưởng ở sức mạnh của dân và để nhân dân có điều kiện tham gia trực tiếp vào việc thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh đã đưa ra một quy trình rất khoa học của công tác dân vận Quy trình đó như sau:
- Trước hết phải làm cho dân biết: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để phát huy đầy
đủ vai trò, trí tuệ, khả năng to lớn của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước cũng như mọi cán bộ, đảng viên phải biết làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, hướng dẫn, giúp đỡ và vận động quần chúng nhân dân thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; phải giúp nhân dân hiểu đầy đủ, sâu sắc về quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của người công dân đối với Đảng, với Tổ quốc và với dân tộc, từ đó
họ tích cực, chủ động, tự giác phấn đấu và cống hiến cho sự nghiệp cách mạng Người dặn: "cần phải chịu khó tìm đủ cách giải thích cho họ hiểu rằng: những việc dó, là vì lợi ích của họ mà phải làm" [47, tr.246] Vì rằng "dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được" [47, tr.293] Nước ta là nước dân chủ, dân là chủ và dân làm chủ Cho nên "dân biết" tức là quyền được thông tin Dân chủ "giả" hay dân chủ "thật" cũng từ khâu này Vì vậy, trong nội hàm khái niệm "dân biết", "dân hiểu", Hồ Chí Minh như muốn làm cho mỗi người tự thấy rõ, hiểu thấu ý nghĩa lớn lao của vị thế "là chủ" của người dân, nhất là
bà con nông dân, những người vốn có trình độ học vấn thấp lại chiếm số đông trong xã hội Hồ Chí Minh dạy rằng: "làm sao cho bà con nông dân hiểu mình là người chủ tập thể, làm chủ hợp tác xã, làm chủ nhà nước" [52, tr.404]; do đó, "chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ" [47, tr.246]
- Khi dân được biết, được hiểu thì phải tạo mọi điều kiện cho dân được bàn, được bàn thật sự, bàn tất cả mọi công việc và mọi người đều được tham gia bàn bạc Hồ Chí Minh nhấn
Trang 37
mạnh: "Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương" [47, tr.698-699]; cần hiểu rõ nguyện vọng của dân; họ muốn được tôn trọng, được bày tỏ ý kiến; họ rất tốt, rất khôn khéo; họ biết rất nhiều điều mà chúng ta không biết, phải bàn với dân để giải quyết mọi việc
Vì rằng: "dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên" [47, tr.293]; "Việc gì cũng hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc Giải thích cho dân chúng hiểu rõ Được dân chúng đồng ý Do dân chúng vui lòng ra sức làm" [47, tr.294], "Kinh nghiệm các địa phương cho biết: nơi nào công việc kém, là vì cán bộ xa dân chúng, không cùng dân chúng bàn bạc, không giải thích Nơi nào kha khá, là vì cán bộ biết giải thích, biết cùng dân chúng bàn bạc, nhưng chưa hoàn toàn Nơi nào khá lắm là việc gì to nhỏ, cán bộ cũng biết giải thích, biết cùng dân chúng bàn bạc đến nơi đến chốn, dựa vào dân chúng" [47, tr.295]
Phải chăng để phát huy sức mạnh của nhân dân, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của mọi công việc đều có nguồn gốc từ đây; bởi ở đây, nhân dân đã phát huy được quyền làm chủ bằng năng lực và sức sáng tạo của mình
- Khi dân được biết, được hiểu, được bàn bạc công việc chung, họ sẽ tự giác tham gia thực hiện Lúc này nhiệm vụ của cán bộ lãnh đạo là "động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân" [47, tr.699]; phải biết "đem hết sức dân, tài dân, của dân làm cho dân" [47, tr.61]; có như vậy mới động viên được đông đảo nhân dân tích cực tham gia thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước
- "Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng" [47, tr.699] Đây là công đoạn cuối cùng của quy trình tiến hành công tác dân vận Hồ Chí Minh cho rằng việc kiểm tra, rút kinh nghiệm là vô cùng quan trọng và cần thiết, giúp chúng ta tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ khác Dân kiểm tra cán bộ, cán bộ kiểm tra dân, dân và cán bộ cùng kiểm tra mọi hoạt động và lề lối làm việc phải dân chủ
Những lời dạy trên đây của Bác là bài học kinh nghiệm quý báu cho cán bộ, đảng viên của Đảng, Nhà nước trong công tác dân vận, một công tác quan trọng của cách mạng
* Cách tổ chức, các làm việc phải phù hợp với quần chúng: Theo Hồ Chí Minh mọi phương pháp tiếp cận và vận động quần chúng đều phải phù hợp với tâm tư, nguyện
Trang 38
vọng của quần chúng; đồng thời phải xuất phát từ thực tế trình độ dân trí và văn hoá, theo
cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, bao gồm cả phong tục, tập quán và cụ thể đối với từng địa phương, từng đối tượng của nhân dân Thực chất của dân vận là như vậy Muốn vận động nhân dân, thì đừng quên rằng chính mình là người dân, chứ không phải là người đứng trên nhân dân để dìu dắt hay để chỉ huy nhân dân Dân vận không phải là bảo ban cho dân làm theo ý mình, mà phải thực sự là dân để cùng hiểu, rồi cùng làm với dân
Trong kháng chiến, kiến quốc chúng ta có Phong trào ba cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân Thực ra đây là công việc của công tác dân vận Phải về với dân, phải biết dân ăn ở thế nào, gặp những khó khăn gì và có những sáng kiến gì để vượt qua Cán bộ lãnh đạo nhân dân phải biết rõ như thế Cán bộ cũng là người dân, không khác gì quần chúng cả Ngay trong cuộc sống dân dã, ta phát hiện được tài năng, thâu góp được kinh nghiệm, để biến thành chủ trương, kế hoạch làm cho công tác cách mạng được tiến
bộ, có kết quả tốt đẹp Vậy là phải thành dân, phải là dân mới làm dân vận được Từ những phong trào thực tế, chúng ta nắm được tình hình, thu được nhiều kinh nghiệm và
có những sáng kiến mới Phải làm sao, để cho những người dân hào hứng, phấn khởi, thực hiện những nhiệm vụ cách mạng một cách nhiệt tình, tự giác Người dân thấy mình
có thành tích, không phải bị lãnh đạo, mà được cùng với lãnh đạo làm nên những thành quả cách mạng lớn lao Hồ Chí Minh nói: "cách làm việc, cách tổ chức, nói chuyện, tuyên truyền, khẩu hiệu, viết báo v.v của chúng ta, đều phải lấy câu này làm khuôn phép: "Từ trong quần chúng ra Về sâu trong quần chúng" [47, tr.248]
Chủ nghĩa duy ý chí có nguồn gốc sâu xa về nhận thức và thực tiễn: thoát ly đời sống xã hội, lấy ý muốn chủ quan thay quy luật khách quan, đem nguyện vọng và tình cảm chủ quan của một số người thay cho hiện thực đời sống và nguyện vọng của đông đảo quần chúng Trong trường hợp đó, vận động quần chúng thực sự chỉ còn là áp đặt, cưỡng chế dưới nhiều hình thức Hồ Chí Minh đã chỉ ra những sai lầm đó: "Vụ Sơn Hà: máy móc, ép buộc đồng bào, nhiều việc quá trình độ dân, dân không hiểu, không thích
Việc động viên: động viên vét đến tài sản gốc sinh kế của dân như ruộng đất, trâu
bò, vốn liếng" [48, tr.118]
Thực ra trong điều kiện nào đó, duy ý chí cũng có thể trở thành một "phong trào", thậm chí một "cao trào" của quần chúng Trong trường hợp như vậy thì hậu quả xấu về kinh tế, chính trị, xã hội xảy ra khó có thể lường được Những "phong trào", "cao trào" đó
Trang 39
sớm muộn cũng sẽ bị tàn lùi; bởi vì nó trái ngược với quy luật, đi ngược với quyền lợi của quần chúng Cho nên, Hồ Chí Minh đòi hỏi người lãnh đạo cần "hết sức tránh bệnh quan liêu, bệnh mệnh lệnh" [48, tr.129] Người còn khẳng định:
Bất cứ việc to việc nhỏ, chúng ta phải xét rõ và làm cho hợp trình độ văn hoá, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng Do đó mà định cách làm việc, cách
tổ chức Có như thế, mới có thể kéo được quần chúng
Nếu không vậy, nếu cứ làm theo ý muốn, theo tư tưởng, theo chủ quan
của mình, rồi đem cột vào cho quần chúng, thì khác nào "khoét chân cho vừa giầy [47, tr.248]
Như vậy, trong phương thức chỉ đạo công tác dân vận, ngoài phương thức "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh: cách tổ chức, cách làm việc cũng phải phù hợp với quần chúng; có vậy mới tập hợp được sức mạnh, tính sáng tạo, tự giác của quần chúng cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng
1.3.3 Lực lượng làm công tác dân vận
Công tác dân vận có tầm quan trọng chiến lược trong các thời kỳ cách mạng, là một trong những nhân tố góp phần quyết định thắng lợi của dân tộc Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của công tác này, trong bài "Dân vận", Người chỉ rõ: "Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ Đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt
Minh, v.v ) đều phải phụ trách dân vận" [47, tr.699] Có lẽ không cần giải thích gì thêm
chúng ta cũng hiểu rõ rằng: công tác dân vận là trách nhiệm của tất cả cán bộ Đảng, cán
bộ chính quyền, cán bộ Mặt trận, đoàn thể nhân dân và của tất cả hội viên, đoàn viên của các tổ chức nhân dân Theo chức năng, nhiệm vụ của mình, mỗi thành viên trong hệ thống chính trị phải làm công tác dân vận theo những phương thức khác nhau, và phải luôn luôn phối hợp chặt chẽ với nhau trong công tác này
- Đảng phải có đường lối, chính sách và phương thức lãnh đạo các giai cấp, tầng lớp nhân dân một cách phù hợp để đường lối, chính sách của Đảng đi vào được từng người, khơi dậy và phát huy tính tích cực, sáng tạo của họ để mỗi người có thể đem tài, đem sức, đem của thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Muốn vậy,
Trang 40
mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trước khi thông qua, ban hành, cần trưng cầu dân ý; nghĩa là thực hiện đúng lời dạy của Bác là:
- Luôn luôn gần gũi nhân dân
- Ra sức nghe ngóng và hiểu biết nhân dân
- Học hỏi nhân dân
- Lãnh đạo nhân dân bằng cách tuyên truyền, giải thích, cổ động, giáo dục, tổ chức nhân dân, dựa vào nhân dân để thực hiện nguyện vọng chính đáng của nhân dân
Bốn điều ấy cần phải đi song song với nhau Vì không gần gũi dân thì không hiểu biết dân Không hiểu biết dân thì không học hỏi được những kinh nghiệm và sáng kiến của dân
Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân
Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân" [48, tr.88-89]
Chúng ta thấy rõ rằng, làm được như lời Bác dạy sẽ khắc phục được bệnh chủ quan duy ý chí, quan liêu, xa thực tế; đồng thời thu hút được trí tuệ của toàn dân, của toàn xã hội vào việc hoạch định chính sách sát với thực tế, mang tính khả thi Quan điểm
đó của Hồ Chí Minh còn giúp cho Đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên luôn luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực chủ động, sáng tạo để có biện pháp vận động quần chúng phù hợp, thiết thực, hiệu quả
- Dân vận không chỉ là việc riêng của Đảng, mà còn là việc của chính quyền Nhà nước, nhân viên Nhà nước phải coi trọng và tham gia công tác dân vận Theo Hồ Chí Minh, mọi tổ chức, mọi quyền lực, mọi cán bộ nhân viên Nhà nước đều không được quên rằng:
Nhiệm vụ của Chính quyền ta và Đoàn thể ta là phụng sự nhân dân Nghĩa là làm đầy tớ cho dân
Đã phụng sự nhân dân, thì phải phụng sự cho ra trò Nghĩa là việc gì lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh [48, tr.88]
Như vậy, theo Hồ Chí Minh Nhà nước làm việc là vì lợi ích của nhân dân Nhà nước phải là người đại diện trung thành cho nhân dân Mọi cán bộ, nhân viên Nhà nước không thể là "quan cách mạng", mà phải là "đầy tớ" của nhân dân, mà đầy tớ "làm việc