Từ khóa: cá Rô đồng, mật độ, yếu tố môi trường, sinh trưởng, tỉ lệ sống... Cá Rô đồng Anabas testudineus có khả năng thích nghi tốt với môi trường sống có pH thấp, thiếu oxy, nhiệt độ và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔKHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔKHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌCCHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Trang 3-Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô - Khoa Sinh Học Ứng Dụng - Trường ĐạiHọc Tây Đô đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho em những kiến thức quý báo trongnhững năm học vừa qua, tạo dựng hành trang để em bước vào cuộc sống sau này.Xin cảm ơn tất cả các bạn đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ và đóng góp ý kiến bổ ích đểhoàn thành thực tập tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn và ghi nhớ!
Trương Bá Niên
Trang 4TÓM TẮT
Thí nghiệm ương cá Rô đồng (Anabas testudineus) với các mật độ khác nhau được
chia làm 2 giai đoạn và bố trí vào 9 thùng xốp (0,1m2) tại trường Đại Học Tây Đô từtháng 3 - 5 năm 2010, nhằm bổ sung thêm những kỹ thuật về ương cá Rô đồng trongcác dụng cụ ương có diện tích nhỏ, góp phần hoàn thiện quy trình ương cá Rô đồng.Giai đoạn 1 cá Rô đồng từ 2 ngày tuổi tới 21 ngày tuổi với 3 mật độ khác nhau(2000 con/m2, 4000 con/m2, 6000 con/m2), giai đoạn 2 cá Rô đồng từ 21 ngày tuổi tới
45 ngày tuổi với 3 mật độ khác nhau (500 con/m2, 1000 con/m2, 1500 con/m2).Kết quảthí nghiệm cho thấy trong quá trình ương, các yếu tố môi trường được ghi nhận thíchhợp cho sự phát triển của cá Rô đồng Giai đoạn 1 tốc độ tăng trưởng của cá Rô đồngsau 21 ngày ương khác nhau không có ý thống kê (p > 0,05), tỉ lệ sống khác nhau có ýnghĩa thống kê và trọng lượng cá đạt 0,461 – 0,581 g/con khi kết thúc giai đoạn, mật
độ ương thích hợp cho giai đoạn này là 2000 con/m2 Giai đoạn 2 tốc độ tăng trưởng,
tỉ lệ sống của cá Rô ương từ 21- 45 ngày khác nhau không có ý nghĩa thống kê(p > 0,05) và trọng lượng cá đạt 2,4 – 3 g/con khi kết thúc giai đoạn, mật độ ươngthích hợp cho giai đoạn này là 500 con/m2 đạt kết quả tốt
Từ khóa: cá Rô đồng, mật độ, yếu tố môi trường, sinh trưởng, tỉ lệ sống.
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG v
DANH SÁCH HÌNH vi
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Nội dung nghiên cứu 1
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
2.1 Đặc điểm sinh học của cá Rô đồng 2
2.1.1 Hình thái phân loại 2
2.1.2 Hình thái 3
2.1.3 Phân bố 3
2.1.4 Dinh dưỡng 3
2.1.5 Sinh trưởng 3
2.1.6 Sinh sản 4
2.2 Các nghiên cứu về cá Rô đồng 6
CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
3.1 Vật liệu nghiên cứu 9
3.2 Phương pháp nghiên cứu 9
3.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 9
3.2.2 Bố trí thí nghiệm 9
3.3 Phương pháp thu thập, tính toán và xử lý số liệu 10
3.3.1 Yếu tố môi trường 10
3.3.2 Các chỉ tiêu tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá 11
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 11
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 12
4.1 Giai đoạn 1: ương cá Rô đồng từ 2 ngày tuổi tới 21 ngày tuổi 12
4.1.1 Các yếu tố môi trường 12
4.1.1.1 Nhiệt độ 12
4.1.1.2 Oxy 13
4.1.1.3 pH 13
4.1.2 Sự tăng trưởng của cá từ ngày thả tới 21 ngày tuổi 14
4.1.2.1 Tăng trưởng về trọng lượng 14
4.1.2.2 Tăng trưởng về chiều dài 15
Trang 64.1.3 Tỉ lệ sống 16
4.2 Kết quả ương cá ở giai đoạn 2: ương cá Rô đồng từ 21 ngày tuổi tới 45 ngày tuổi 17
4.2.1 Các yếu tố môi trường 17
4.2.1.1 Nhiệt độ 17
4.2.1.2 Oxy 17
4.2.1.3 pH 17
4.2.2 Sinh trưởng của cá từ 21 ngày tuổi tới 45 ngày tuổi 18
4.2.2.1 Tăng trưởng về trọng lượng 18
4.2.2.2 Tăng trưởng về chiều dài 19
4.2.3 Tỉ lệ sống 20
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 22
5.1 Kết luận 22
5.2 Đề xuất 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
PHỤ LỤC 25
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Tuổi thành thục của cá Rô đồng theo một số tác giả 5
Bảng 2.2: Mùa vụ sinh sản của cá Rô đồng ngoài tự nhiên theo một số tác giả 5
Bảng 2.3: Sức sinh sản cá Rô đồng theo một số tác giả 6
Bảng 4.1: Các yếu tố môi trường ở giai đoạn 1 12
Bảng 4.2: Tăng trưởng khối lượng của cá ở giai đoạn 1 14
Bảng 4.3: Tăng trưởng chiều dài của cá ở giai đoạn 1 15
Bảng 4.4: Tỉ lệ sống của cá ở giai đoạn 1 16
Bảng 4.5: Các yếu tố môi trường ở giai đoạn 2 17
Bảng 4.6: Tăng trưởng khối lượng của cá ở giai đoạn 2 18
Bảng 4.7: Tăng trưởng chiều dài của cá ở giai đoạn 2 19
Bảng 4.8: Tỉ lệ sống của cá ở giai đoạn 2 21
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1: Hình dạng ngoài của cá Rô đồng (Anabas testudineus, Bloch, 1972) 2
Hình 3.1: Bộ dụng cụ kiểm tra môi trường 10
Hình 4.1: Tỉ lệ sống cá ở giai đoạn 1 16
Hình 4.2: Tỉ lệ sống cá ở giai đoạn 2 21
Trang 9CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những vùng kinh tế trọng điểmquan trọng của Việt Nam, vùng trù phú nhất của Đông Nam Á Nơi đây có hệ thốngsông ngòi, kênh rạch chằng chịt, nhiều ao đầm, ruộng trũng kết hợp với điều kiện tựnhiên thuận lợi cho nhiều loài thủy sản làm nơi sinh sống và phát triển, rất thích hợpvới nghề nuôi trồng thủy sản
Hiện nay nghề nuôi trồng thủy sản đang phát triển với tốc độ cao, đem lại lợi nhuậnđáng kể trong thu nhập, cải thiện hiệu quả đời sống người dân Những năm trước đây,
cá Tra vốn được xem là chủ lực của vùng, nhưng đã gặp một số vấn đề nghiêm trọngnhư: dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, thoái hóa giống, giá cá, thị trường tiêu thụ, làmảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế nước nhà, từ đó cá Tra mất đi vị thế của nó
Việc tìm loài cá khác thay thế là một hướng đi thích hợp cho tình hình này Trong đó
cá Rô đồng được xem là thế mạnh với những đặc tính ưu việt như: phẩm chất thịtngon, dễ nuôi…nên thu hút được sự quan tâm lớn của người dân Cá Rô đồng
(Anabas testudineus) có khả năng thích nghi tốt với môi trường sống có pH thấp, thiếu
oxy, nhiệt độ và mật độ cao Đặc biệt cá Rô đồng có cơ quan hô hấp khí trời nên cóthể sống rất lâu ngoài không khí trong điều kiện bất lợi (Phạm Minh Thành vàNguyễn Văn Kiểm, 2009)
Trong 2 năm gần đây, tổng diện tích nuôi cá Rô đồng tăng lên rất nhanh ở nhiều địaphương thuộc vùng ĐBSCL, dẫn đến tình trạng thiếu nguồn giống cung cấp mà để cónguồn giống chất lượng tốt và tỉ lệ sống cao Được như vậy, người ương nuôi phải cómột quy trình ương cá Rô đồng với mật độ thích hợp Xuất phát từ thực tế đó, đề tài
“Thử nghiệm ương cá Rô đồng với các mật độ khác nhau” được thực hiện.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bổ sung thêm những kỹ thuật về ương cá Rô đồng với mật độ cao ở diện tích nhỏ
Góp phần hoàn thiện quy trình ương cá Rô đồng
1.3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu sự ảnh hưởng của mật độ ương lên tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của
cá Rô đồng
Theo dõi một số yếu tố môi trường nước ương
Trang 10CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của cá Rô đồng
2.1.1 Hình thái phân loại
Theo Mai Đình Yên (1992), cá Rô đồng được phân loại khoa học như sau:Ngành: Vertebrata
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Percifomes
Phân bộ: AnabantoideiHọ: AnabantidaeGiống: Anabas
Loài: Anabas testudineus, Bloch, 1972.
Tên tiếng Anh: Climbing-perch
Tên địa phương: Cá Rô đồng
Hình 2.1: Hình dạng ngoài của cá Rô đồng (Anabas testudineus, Bloch, 1972)
Trang 112.1.2 Hình thái
Cơ thể cá Rô đồng có hình oval rất cân đối, toàn thân phủ vẩy lược, mép ngoài củavẩy có chấm sắc tố đen, xám tro, xám nhạt Mắt lớn và ở phía trước hai bên đầu Vâychẳn và vây lẻ đều có gai cứng, xương nấp mang có răng cưa, vây đuôi tròn và khôngchia thùy Giữa cuống đuôi có một đám sắc tố đen, khi trưởng thành màu sắc của đámsắc tố này nhạt hơn khi còn nhỏ Cá có cơ quan hô hấp phụ trên mang nên có thể sốngtrong môi trường có oxy hòa tan thấp (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm,2009)
2.1.3 Phân bố
Cá Rô đồng là loài cá nước ngọt, phân bố rộng trên thế giới, chủ yếu sống ở vùngnhiệt đới Ở Đông Nam Á chủ yếu phân bố ở Lào, Thái Lan, Campuchia, Mianma,Việt Nam Cá rô đồng thích sống nơi có mực nước nông (0,5 - 1,5m), tĩnh, nhiều cây
cỏ thủy sinh và chất đáy giàu mùn bả hữu cơ (Phạm Văn Khánh, 1999)
Ở ĐBSCL cá phân bố nhiều ở những khu vực trũng, ngập nước quanh năm như: nôngtrường Phương Ninh (Cần Thơ), rừng U Minh Hạ (Cà Mau) U Minh Thượng (KiênGiang), vùng tứ giác Long Xuyên (An Giang), thường gặp ở kênh thủy lợi, ao, hồ,mương vườn (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009)
Trang 12đạt 13 – 14 cm, cá 4 năm tuổi đạt 14 – 15 cm Trong quần thể cá ở đồng ruộng, cá
2 - 3 tuổi chiếm ưu thế (60 - 70%), loại cao tuổi rất ít (Bộ Thủy Sản, 2001)
Tuy có tính ăn rộng nhưng tốc độ sinh trưởng của cá Rô đồng tương đối chậm hơn sovới các loài cá khác, cá đực nhỏ hơn cá cái Trong ao nuôi có bổ sung thức ăn (cám,bột cá, kết hợp phân cút, thóc ngâm), sau 3 tháng cá đạt trọng lượng 30 - 35 g/con.Sau 6 tháng nuôi cá đạt trọng lượng 60 - 80 g/con Nhưng theo Mangklamanee (1986)thì cá Rô đồng có tỉ lệ tăng trưởng 0,5 - 0,9 g/ngày khi nuôi trong ao đất có bổ sungthức ăn (trích bởi Trần Thị Mỹ Phương, 2004)
Khi nghiên cứu về hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) và hệ số chuyển hóa thức ăn (PER)của cá Rô đồng, các kết quả thu được như sau: FCR: 2 - 2,5 và PER > 2 Về sinhtrưởng của cá, các tác giả cho rằng nếu thức ăn không đủ hàm lượng đạm cần thiết thì
cá sẽ sinh trưởng chậm và giảm khối lượng Nếu thừa cá chỉ sử dụng một phần vàphần còn lại sẽ chuyển sang dạng năng lượng làm chi phí thức ăn tăng lên
2.1.6 Sinh sản
Tuổi thành thục
Tuổi thành thục tính từ khi cá nở đến khi cá mang sản phẩm sinh dục lần đầu trongvòng đời của chúng Mỗi loài cá có tuổi thành thục riêng và thay đổi theo từng điềukiện cụ thể Theo quy luật chung, cá sống ở vĩ độ cao, nhiệt độ thấp thì tuổi thành thụclần đầu cao hơn so với cá cùng loài sống ở vĩ độ thấp, nhiệt độ cao Chế độ dinhdưỡng cũng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục, những nơi có đủ dinh dưỡng, cáthành thục nhanh hơn và hệ số thành thục cao hơn, những loài cá ăn tạp và phiêu sinhthì ảnh hưởng không rõ ràng như những loài cá ăn mồi sống và phổ thức ăn hẹp(Nguyễn Thành Trung, 1998).Tùy theo môi trường sống, dinh dưỡng, chất lượng congiống, điều kiện chăm sóc thì tuổi thành thục của cá Rô đồng có thể khác nhau Ngoài
tự nhiên đã thấy trọng lượng cá thành thục nhò nhất là 25 g/con
Trang 13Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả thì tuổi thành thục của cá Rô đồng đượctrình bày qua bảng sau:
Bảng 2.1: Tuổi thành thục của cá Rô đồng theo một số tác giả
thành (tháng tuổi)
Kích cỡ (cm)
5 – 6
13 - 13,8
12 - 1312
8 – 10
Nguyễn Ngọc Phúc, 2000Trần Thị Trang, 2001
Lê Hoàng Yến, 1983Potongkam 1971, Doolgindachabaporn, 1998
Mùa vụ sinh sản
Ở ĐBSCL cá Rô đồng sinh sản vào mùa mưa, tập trung từ tháng 6 - 9 dương lịch
Cá Rô đồng để tập trung sau những trận mưa lớn Khi đẻ cá tìm tới những nơi có dòngnước mát, chảy chậm, dòng nước là yếu tố kích thích quá trình hưng phấn và đẻ trứngcủa cá Rô đồng Mực nước thích hợp cho sinh sản cá Rô đồng là 0,3 - 0,4 m Trứng cá
Rô đồng thuộc loại trứng nổi, cá không có tập tính giữ trứng
Bảng 2.2: Mùa vụ sinh sản của cá Rô đồng ngoài tự nhiên theo một số tác giả
Trang 14 Sức sinh sản
Các pha của tế bào trứng trong noãn hoàng cá Rô đồng không hoàn toàn đồng nhất,đây là đặc điểm của loài cá đẻ nhiều lần trong năm Sức sinh sản của cá Rô đồng tăngtheo kích cỡ và trọng lượng cá Cá Rô đồng có sức sinh sản cao, đạt300.000 - 700.000 trứng/kg cá cái Cá có khả năng tái thành thục sau thời gian ngắn(1 tháng) Trứng cá Rô đồng thành thục có màu trắng ngà hoặc hơi vàng, đường kínhtrứng sau khi trương nước là 1,2 - 1,3 mm
Bảng 2.3: Sức sinh sản cá Rô đồng theo một số tác giả
STT Trọng lượng cá cái
(g/ con)
Luợng trứng (1000 trứng/ con)
và trọng lượng cá Ở điều kiện nuôi vỗ đầy đủ thức ăn, cá sẽ có sức sinh sản cao hơn
cá ngoài tự nhiên (Nguyễn Thành Trung, 1998)
2.2 Các nghiên cứu về cá Rô đồng
Các công trình nghiên cứu cá Rô đồng chủ yếu là về hình thái, phân loại để định danh
và trình bày các đặc điểm sinh học của: Mai Đình Yên (1973, 1987); Mai Đình Yên(1992); Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) Nghiên cứu đặc điểm sinhhọc của cá cho thấy cá Rô đồng là loài thích ứng rộng với điều kiện khí hậu nhiệt đới,vào mùa khô, thậm chí lúc thời tiết khô hạn cá cũng có thể sống chui rúc dưới bùn haythoát ra khỏi mặt nước để tìm thức ăn ở các vùng đất ẩm thấp (Potongkam, 1971)hoặc di chuyển một đoạn khá xa nhằm tìm điều kiện thích hợp để sống và sinh sản
Do khả năng thích nghi rất tốt với điều kiện môi trường, đặc biệt là khả năng hô hấpkhí trời qua cơ quan hô hấp phụ (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993 ;
Trang 15với mật độ 30 con/m2đã đạt chất lượng tốt (Dương Nhựt Long và csv, 2006) Đàm Bá
Long (2005) nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm cho đẻ nhân tạo cá
Rô đồng tại Khánh Hòa đã kết luận: Cá Rô đồng thành thục ngoài tự nhiên có khốilượng trung bình 26,89g ở cá cái và 16,16g ở cá đực Mùa sinh sản của cá Rô đồngngoài tự nhiên kéo dài quanh năm, hệ số thành thục sinh dục của cá cái đạt6,27±2,34% và ở cá đực là 1,09±0,24%, sức sinh sản tuyệt đối là 16.016±3.767trứng/cá cái Cá nuôi vỗ trong giai với mật độ 0,5 – 1 kg/m3 thành thục sau 20 – 25ngày nuôi, thời gian nuôi tái phát là từ 12 – 15 ngày, tỉ lệ thành thục đạt 95,24% ở cáđực và 76,50% ở cái Với liều lượng 50 μg LRHa + 5 mg DOM/kg cá cái, những cácái đẻ trong bể xi măng có thời gian hiệu ứng kích dục tố dao động từ 7h– 7h30’ Sứcsinh sản thực tế của cá Rô đồng thành thục ngoài tự nhiên là 935 trứng/g cá cái saikhác có ý nghĩa (p < 0,05) sức sinh sản thực tế của cá Rô đồng thành thục trong điềukiện nhân tạo (đạt 807 trứng/g cá cái) Cá Rô đồng thành thục ngoài tự nhiên cũng chocác chỉ tiêu; tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ nở của trứng cao hơn cá Rô đồng thành thục trong điềukiện nhân tạo
Tất cả các loài cá con mới nở trong giai đoạn đầu đều có tính ăn rất hẹp và thức ănchủ yếu là sinh vật phù du cở nhỏ Sau khi nở được 2 - 3 tuần mới bắt đầu có sựchuyển hóa dần thức ăn Đối với những loài ăn đáy thì lượng thức ăn phải đảm bảođầy đủ nếu không tỉ lệ sống và khả năng thích ứng với môi trường thấp Do các cơquan cá chưa hoàn thiện chức năng nên mọi sự thay đổi về điều kiện sống đều có ảnhhưởng Do đó giữ vai trò chủ đạo và có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại, sinh trưởng
và phát triển của cá là thức ăn Sự thiếu hụt thức ăn là nguyên nhân chính làm cho cá
có tỉ lệ sống thấp ở cả trong tự nhiên và trong nhân tạo (Phạm Minh Thành và NguyễnVăn Kiểm, 2009)
Ở giai đoạn đầu ương nuôi ngoài thức ăn là động vật, thực vật, chúng ta có thể cho cá
ăn thức ăn như: bột đậu nành, bột cá, động vật phù du, cám Đặc biệt trong nhữngngày đầu mới nở có thể cho cá ăn lòng đỏ trứng gà Khi ương cá, sử dụng thức ăn tựnhiên có nhiều trở ngại, như các địch hại của cá, do việc sử dụng phân bón làm xuấthiện nhiều bọ gạo gây hại cho cá Bên cạnh đó việc sử dụng thức ăn nhân tạo có chấtlượng cao đã thu được kết quả khả quan Mật độ ương cá Rô đồng thích hợp từ 300 -
600 con/m2(Lý Hồng Nga, 2003)
Theo số liệu quy hoạch phát triển nuôi thủy sản năm 2010, Cần Thơ có tổng diện tíchmặt nước khoảng 180.000 ha (có thể nuôi thủy sản 109.000 ha, gồm nhiều loại hìnhthủy vực như: ruộng lúa, ao mương, sông rạch) Riêng thành phố Cần Thơ có 1.050 hanuôi cá ao, cá ruộng 1.060 ha, cá bè 229 bè
Trang 16Ở Cần Thơ chỉ mới phát triển nghề nuôi cá Rô đồng với diện tích khoảng 5 ha (1997),năm 1998 là 27,5 ha, cao nhất là 150 ha (2001) Đến năm 2002 do không có lợi nhuậncao, diện tích nuôi cá Rô đồng chỉ còn 87 ha Vào năm 2003, ngành Nông nghiệp củatỉnh đã xây dựng cá mô hình trình diễn với quy mô là 64 ha tôm, 30,5 ha cá đồng, 1 ha
cá Rô phi đơn tính, 1 ha cá Thát lát và 5 mô hình nuôi cá Rô đồng (Sở Nông NghiệpCần Thơ, trích dẫn Trần Thị Mỹ Phương, 2004) Trong chiến lược phát triển lâu dài,
cá đồng đặc biệt là cá Rô đồng vẫn được phát triển mạnh nhằm đa dạng hóa sản xuất,góp phần tăng kinh tế, cải thiện thu nhập cho người dân