Một báo cáo tài chính hoặc cáo bạch chưa được kiểm toán, thẩm định bởi các tổ chức độc lập, chuyên nghiệp, có uy tín và trình độ chuyên môn cao; một thông tin đến chậm hoặc bị cắt xén kh
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, kinh doanh Chứng khoán là một ngành nghề thương mại khá đặc thù
và còn tương đối mới mẻ Tuy nhiên, đây được coi là hoạt động trọng tâm, giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của thị trường Chứng khoán nói riêng và của nền kinh tế nước ta nói chung Kinh doanh chứng khoán là hoạt động mang tính hai mặt: vừa đem lại nhiều hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội (thu hút vốn đầu tư, tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm…) vừa tiềm ẩn trong đó nguy cơ gánh chịu rủi ro lớn cho các nhà kinh doanh, nhà đầu tư, thị trường chứng khoán,… Vì vậy, ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán có một ý nghĩa quan trọng giúp bảo vệ quyền lợi các nhà đầu tư, các
tổ chức kinh doanh chứng khoán trên thị trường, từ đó thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển
Với mong muốn tìm hiểu rõ hơn về rủi ro trong kinh doanh chứng khoán và các quy định của pháp luật Việt Nam nhằm hạn chế hiện tượng này, trong phạm vi bài tập lớn
học kỳ, em xin lựa chọn đề tài: “Rủi ro trong kinh doanh chứng khoán: phân loại, nguyên nhân và các quy định pháp luật để hạn chế, phòng ngừa rủi ro”.
NỘI DUNG I- Khái quát chung về rủi ro trong kinh doanh chứng khoán
1 Khái niệm rủi ro trong kinh doanh chứng khoán
Luật chứng khoán 2006 có quy định: “Kinh doanh chứng khoán là việc thực hiện
các nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán”.
Trong khi đó, rủi ro được hiểu là: “khả năng xảy ra sự cố bất lợi cho chủ thể”.
Như vậy, có thể hiểu rủi ro trong kinh doanh chứng khoán là khả năng xảy ra
những việc bất lợi cho các chủ thể kinh doanh chứng khoán khi thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán.
2 Đặc trưng của rủi ro trong kinh doanh chứng khoán
Cũng như rủi ro trong các hoạt động kinh doanh khác, rủi ro trong kinh doanh chứng khoán thường mang lại những yếu tố bất lợi cho các chủ thể tham gia hoạt động này Tuy nhiên, rủi ro trong kinh doanh chứng khoán cũng có những đặc trưng riêng:
Thứ nhất, rủi ro trong kinh doanh chứng khoán luôn gắn liền với đối tượng đặc
biệt- chứng khoán.
Theo Khoản 1- Điều 6- Luật chứng khoán 2006: chứng khoán là bằng chứng xác
nhận quyền sở hữu và các quyền liên quan của người sở hữu chứng khoán với phần tài sản đã góp vốn, đã cho vay đối với tổ chức phát hành chứng khoán và đây được coi là
loại hàng hóa đặc thù Khi các chủ thể tiến hành các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán của mình thì chứng khoán luôn có mặt ở tất cả các giai đoạn của hoạt động này
Thứ hai, rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán có phạm vi tác động rộng
lớn, ảnh hưởng tới nhiều chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán.
Khi phát sinh rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán, chủ thể chịu tác động đầu tiên là nhà đầu tư, các chủ thể kinh doanh chứng khoán, nếu rủi ro có tính hệ thống hoặc gây ra mức thiệt hại lớn có thể tác động tiêu cực cho cả thị trường chứng khoán, thị trường tài chính và sự phát triển của nề kinh tế nói chung
Thứ ba, rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán có thể dự báo trước hoặc
không thể dự báo trước.
Hoạt động kinh doanh chứng khoán chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Vì vậy, có những yếu tố có thể dự báo trước là sẽ mang lại rủi ro (tài
Trang 2chính khó khăn, an ninh chính trị bất ổn…) nhưng cũng có nhiều yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của con người Nên khi rủi ro ập đến, các chủ thể kinh doanh chứng khoán khó
có thể ứng phó kịp thời
3 Tác động của rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán
* Đối với các chủ thể kinh doanh chứng khoán:
Ở nước ta hiện nay, chưa có quy định thống nhất về các chủ thể kinh doanh chứng khoán Tuy nhiên, theo cách hiểu phổ biến nhất thì có hai chủ thể kinh doanh chứng khoán là: Công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ Khi rủi ro xảy ra, các chủ thể này phải chịu tổn thất khá lớn về tài chính: đã bỏ ra chi phí thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh nhưng lại không thu được khoản lợi nhuận bù đắp, hoặc không đủ, không có lãi…; uy tín kinh doanh bị suy giảm; mất niềm tin của khác hàng, nặng nề nhất là có thể ảnh hưởng tới sự tồn tại của công ty
* Đối với các nhà đầu tư:
Khi tham gia vào thị trường chứng khoán, mục tiêu chủ yếu mà họ hướng tới là lợi nhuận, tuy nhiên, đây lại là loại chủ thể ít có kinh nghiệm dự đoán thị thị trường, khả năng phân tích và dự báo rủi ro Vì thế, họ có thể phải gánh chịu những hậu quả nặng nề
về tài chính (không thu được khoản lợi nhuận mong đợi, không thu hồi được vốn đầu tư…) hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh (không huy động được lượng vốn cần thiết cho nhu cầu kinh doanh) khi rủi ro xảy ra
* Đối với thi trường chứng khoán nói riêng và nền kinh tế nói chung
Khi có rủi ro, các giao dịch trên thị trường giảm sút đáng kể do tâm lý lo sợ hoặc
“chờ” thị trường bình ổn trở lại nên hoạt động kinh tế diễn ra chậm chạp hơn, khả năng
huy động vốn qua kênh chứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu,… thấp hơn
Nếu rủi ro ở mức độ cao, khi không được kiểm soát kịp thời, sẽ dẫn đến nguy cơ sụp đổ của thị trường chứng khoán và có thể đến những hệ lụy không thể lường trước được đối với toàn bộ nền kinh tế và đơi sống xã hội của quốc gia
II- Phân loại và nguyên nhân của rủi ro trong kinh doanh chứng khoán
1 Phân loại rủi ro trong kinh doanh chứng khoán.
Việc phân loại các rủi ro trong Kinh doanh chứng khoán có ý nghĩa quan trọng giúp cho các chủ thể tham gia hoạt động này có sự chuẩn bị các phương án để hạn chế thấp nhất hậu quả mà các hoạt động rủi ro mang lại Điều này cũng giúp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc quản lý thị trường chứng khoán nói chung và hoạt động kinh doanh chứng khoán nói riêng có những phân tích chính xác để ngăn ngừa những rủi ro gây tác hại sâu rộng đến thị trường, ảnh hưởng đến nhiều cá thể tham gia
Đặc biệt, đây cũng là tiền đề để nhà nước đưa ra khung pháp lý hoàn thiện giúp ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong kinh doanh chứng khoán Bởi lẽ, thông qua cách phân loại rủi ro trong kinh doanh chứng khoán, các nhà làm luật sẽ có cái nhìn tổng quát nhất, cụ thể nhất về hoạt động kinh doanh này để rồi có thể dự đoán được nguyên nhân phát sinh rủi ro trong hoạt động (như các nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan) và từ
đó đưa ra các quy phạm pháp luật cấm, hạn chế các hành vi là nguyên nhân chính gây ra rủi ro
Hiện nay có khá nhiều tiêu chí để phân biệt các loại rủi ro có khả năng phát sinh trong hoạt động kinh doanh chứng khoán Cụ thể:
* Thứ nhất, Căn cứ vào mức độ tác động của rủi ro, rủi ro trong kinh doanh
chứng khoán được phân thành: Rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống.
- Rủi ro hệ thống là những rủi ro tác động chung đến hoạt động của thị trường và
bắt nguồn từ các yếu tố vĩ mô, các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh chứng khoán buộc phải chấp nhận Rủi ro hệ thống được chia thành 3 loại rủi ro chính:
Trang 3+ Rủi ro thị trường: Loại rủi ro này xuất hiện khi có những phản ứng của nhà đầu
tư trước sự kiện hữu hình hay vô hình (thường là phản ứng vượt quá những sự kiện đó)
Nó làm cho giá cổ phiếu có thể dao động mạnh trong một thời gian ngắn mặc dù thu nhập của công ty không thay đổi
Ví dụ: Các trào lưu mua bán theo tâm lý đám đông, đầy cảm tính và xúc cảm, làm
phá vỡ các quy luật vận động bình thường của thị trường Ta có thể thấy rõ tác động của các trào lưu này qua diễn biến của thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2007, khi mọi người đổ xô đi mua chứng khoán, chỉ số VN-INDEX liên tục phá vỡ những kỉ lục và đã vượt xa mốc 1000 điểm, vượt xa giá trị thực tế của thị trường.
+ Rủi ro lãi suất: là loại rủi ro phản ánh sự không ổn định trong giá trị thị trường
và số tiền thu nhập trong tương lai Nguyên nhân chính và cốt lõi của loại rủi ro này là
sự lên xuống của lãi suất trái phiếu Chính phủ, khi đó sẽ có sự thay đổi trong mức sinh lời kỳ vọng của các loại chứng khoán khác (cổ phiếu và trái phiếu công ty)
+ Rủi ro sức mua: rủi ro sức mua là tác động của lạm phát đối với khoản đầu tư,
biến động giá càng cao thì sức mua càng tăng
Với những loại rủi ro này, các chủ thể kinh doanh chứng khoán khó có thể tránh được mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp làm giảm mức độ tác động của rủi ro
- Rủi ro phi hệ thống: là phần rủi ro mà các chủ thể kinh doanh có thể loại bỏ được
trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh Loại rủi ro này là kết quả của những biến cố ngẫu nhiên hoặc không kiểm soát được, nó chỉ tác động đến một hoặc một nhóm chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán
+ Rủi ro từ tính thanh khoản thấp của chứng khoán đầu tư
Tính thanh khoản thấp mà chủ thể kinh doanh chứng khoán đang sở hữu có thể do chứng khoán đó khó và thậm chí không thể bán được hoặc không được phép bán hay chuyển nhượng nhằm thu hồi vốn đầu tư Hàng hóa thông thường không thể bán được phần nhiều do: chất lượng và tiện ích của hàng hóa không đáp ứng nhu cầu; không phù hợp với “gu” của người mua; cung vượt quá cầu; có hàng hóa khác thay thế tương đương, thậm chí có sức hấp dẫn hơn
+
Rủi ro từ thông tin chứng khoán và thị trường
Có thể thấy hiếm có hoạt động kinh doanh nào mà sự thành bại của nhà đầu tư lại gắn bó mật thiết, thậm chí phụ thuộc vào sự đa dạng, hệ thống, toàn diện, cập nhật và chính xác các thông tin có liên quan trực tiếp và gián tiếp như đầu tư chứng khoán
Một báo cáo tài chính hoặc cáo bạch chưa được kiểm toán, thẩm định bởi các tổ chức độc lập, chuyên nghiệp, có uy tín và trình độ chuyên môn cao; một thông tin đến chậm hoặc bị cắt xén không đầy đủ, không chính xác về hoạt động kinh doanh của công
ty phát hành cổ phiếu, về môi trường pháp lý và về các nhà đầu tư khác trên cùng “sân chơi”, hoặc đơn giản là về tình hình thời tiết hay dịch bệnh nào đó… đều có thể trở thành đầu mối trực tiếp gây ra các thiệt hại khôn lường cho nhà đầu tư chứng khoán
+
Rủi ro từ lựa chọn đối nghịch
Trên thị trường chứng khoán, lựa chọn đối nghịch xuất hiện khi nhà đầu tư không biết thông tin về các loại cổ phiếu của các công ty khác nhau do đó có thể mua phải cổ phiếu của một công ty hoạt động kém, rủi ro cao Vấn đề lựa chọn đối nghịch cũng xuất hiện trong nhiều hoạt động khác của nền kinh tế Nói một cách tổng quát, lựa chọn đối nghịch là những quyết định sai lầm của một bên tham gia giao dịch mà nguyên nhân là
do cac rủi ro về thông tin Ví dụ, công ty chứng khoán A mua cổ phiếu N trong lĩnh vực
bất động sản từ nhà đầu tư C, C biết rõ khả năng kinh doanh sinh lời của công ty X nhưng A thì không Kết quả là C sẵn sàng bán ở mức giá có lợi và không bao giờ bán ở
Trang 4mức giá bất lợi cho anh ta Và khi A mua cổ phiếu N từ C với mức giá bất lợi cho mình,
C đã thực hiện một lựa chọn đối nghịch do thiếu thông tin
+
Rủi ro từ đạo đức
Rủi ro đạo đức cũng là một hậu quả của thông tin không cân xứng trên thị trường
xuất hiện sau cuộc giao dịch khi một bên thực hiện những hành động ẩn giấu và có ảnh
hưởng đến lợi ích của phía đối tác Có nhiều cách định nghĩa về rủi ro đạo đức: Rủi ro
đạo đức là tình trạng một bên tham gia thị trường không thể giám sát hoạt động của phía bên kia Rủi ro đạo đức phát sinh khi những người sở hữu thông tin riêng thực hiện
những hành động có ảnh hưởng đối lập đến xác suất đưa đến những hậu quả xấu:
(.) Có sự xuất hiện của hành động ẩn giấu (hidden action)
(.) Bên có hành động ẩn giấu, vô tình hay cố ý, sẽ làm tăng xác suất xảy ra hậu quả xấu
Ví dụ: Hành vi đi ngược lại lợi ích của các cổ đông của người lãnh đạo công ty.
người quản lý công ty có thể theo đuổi những chiến lược của công ty nhằm đề cao quyền lực cá nhân mà không làm tăng lợi ích của công ty.
Tùy thuộc vào từng loại rủi ro mà chủ thể kinh doanh chứng khoán có thể phòng tránh hoặc làm giảm mức độ tác động của rủi ro
* Thứ hai, Căn cứ vào nguyên nhân dẫn đến rủi ro, bao gồm: Rủi ro phát sinh từ
nguyên nhân khách quan và rủi ro phát sinh từ nguyên nhân chủ quan:
Rủi ro từ nguyên nhân khách quan: là những rủi ro xảy ra ngoài tầm kiểm soát
của chủ thể tham gia kinh doanh chứng khoán, đây là yếu tố khó có thể hạn chế được
Ví dụ: động đất, thiên tai, khủng hoảng kinh tế, chính trị,… khi xảy ra thường ảnh
hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh chứng khoán
Rủi ro từ nguyên nhân chủ quan: là những rủi ro phát sinh do lỗi của các chủ thể
tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán
Ví dụ: rủi ro về pháp lý xuất hiện do việc soạn thảo hợp đồng không phù hợp với
các văn bản pháp luật hoặc tiến hành các hành vi kinh doanh vi phạm điều cấm của pháp luật, rủi ro xảy ra trong quá trình thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán do các chủ thể không thực hiện nghĩa vụ của mình…
* Thứ ba, căn cứ vào nghiệp vụ của hoạt động kinh doanh chứng khoán, có thể
chia thành: rủi ro trong môi giới chứng khoán, rủi ro trong bảo lãnh phát hành chứng khoán, rủi ro trong hoạt động tự doanh chứng khoán, rủi ro trong tư vấn đầu tư chứng khoán, rủi ro trong lưu ký chứng khoán và rủi ro trong quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
2 Nguyên nhân của rủi ro trong kinh doanh chứng khoán
* Nguyên nhân khách quan
- Môi trường kinh tế không ổn định:
Hoạt động kinh doanh chứng khoán luôn diễn ra trong một bối cảnh kinh tế cụ thể, chịu sự chi phối của nhiều yếu tố Trong điều kiện kinh tế bất ổn, chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, lạm phát khó kiểm soát, lãi suất ngân hàng tăng, mối nguy hại từ khủng hoảng tài chính toàn cầu,… hoạt động kinh doanh chứng khoán khó có thể phát triển ổn định
Ví dụ: Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 bắt nguồn từ Mĩ và lan rộng ra khắp
thế giới đã kéo chỉ số VN-INDEX xuống mức thấp kỉ lục, nhà đầu tư ào ạt rút vốn khỏi thị trường, tính thanh khoản giảm mạnh, rất nhiều công ty chứng khoán làm ăn thua lỗ.
Trang 5Đặc biệt, với những thay đổi ngoài tầm kiểm soát ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường, rủi ro là khó tránh khỏi
Trong số các tác động từ môi trường kinh tế, ảnh hưởng từ thị trường chứng khoán
là nguyên nhân có tác động trực tiếp và rõ ràng hơn cả đến hoạt động kinh doanh chứng khoán Nếu thị trường phát triển bấp bênh, thiếu tính công khai, minh bạch, thiếu sự quản lý, giám sát, hệ thống cơ sở vật chất phục vụ giao dịch lỗi thời,… thì khả năng xảy
ra rủi ro trong kinh doanh chứng khoán là rất cao
- Môi trường chính trị bất ổn, hệ thống chính sách, pháp luật của nhà nước còn chưa được hoàn thiện:
Thị trường chứng khoán khá nhạy cảm với các yếu tố chính trị, pháp luật Các yếu
tố này nếu không được đảm bảo an toàn và thuận lợi thì thị trường chứng khoán không thể phát triển một các ổn định và bền vững, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực dẫn đến rủi ro
Ở nước ta, thị trường luôn được định hướng phát triển dựa vào những chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước Vì thế, chỉ cần có sự thay đổi trong các chính sách tài chính, tiền tệ, thu nhập… của nhà nước sẽ dẫn đến sự thay đổi của lãi suất, tỷ giá hối đoái, điều kiện mở rộng hoặc thu hẹp tín dụng Đây là những yếu tố tạo nên sự bếp bênh cho hoạt động kinh doanh chứng khoán Nếu hệ thống các quy định của pháp luật điều chỉnh các hoạt động của thị trường chứng khoán chồn chéo, mâu thuẫn, xa rời thực tế thì hoạt động kinh doanh chứng khoán khó có thể phát triển thuận lợi, nguy có phát sinh rủi ro luôn thường trực
Ngoài ra, tác động từ các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh của công ty chứng khoán hoạt động trên thị trường; sự quản lý và giám sát thị trường lỏng lẻo tạo điều kiện cho các hành vi tiêu cực phát sinh,… là một trong những yếu tố làm rủi ro phát sinh
- Bản chất của hoạt động kinh doanh chứng khoán Tính rủi ro thể hiện ngay ở bản chất của hoạt động đầu tư vốn Cũng như bất kì hoạt
động đầu tư, kinh doanh nào khác, việc kinh doanh chứng khoán là “ đầu tư một lượng
tiền trong hiện tại và chỉ có thể thu hồi trong tương lai” thì cả quãng thời gian đó cũng
chính là thời gian chưa đựng rủi ro Mức độ rủi ro tiềm tàng đến đâu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, như thời gian đầu tư, chủ thể nhận vốn cùng các cam kết khác chính là những yếu tố cơ bản ảnh hướng tới độ rủi ro Mức độ rủi ro của chứng khoán có mối quan hệ chặt chẽ tới tính sinh lời và tính thanh khoản của chứng khoán
- Tính thanh khoản thấp của chứng khoán được kinh doanh:
Tính thanh khoản thấp của chứng khoán do một số nguyên nhân sau: Tình trạng tài chính và triển vọng thị trường của công ty, tổ chức phát hành chứng khoán không tốt
Trên thị trường chứng khoán hiện nay, vẫn đang tiếp tục diễn ra tình trạng công khai và nô nức đấu giá mua cổ phiếu của cả những công ty trên thực tế đã bị phá sản vì trình trạng tài chính âm, không thể trả nợ, hoặc của những công ty, quỹ đầu tư thậm chí mới có quyết định thành lập, chưa hề triển khai hoạt động trên thực tế…
Lựa chọn không đúng cơ cấu chứng khoán đầu tư Nhà đầu tư chứng khoán có thể
chịu rủi ro từ việc “bỏ hết trứng vào một giỏ” Việc sở hữu thuần túy các cổ phiếu ưu
đãi mà không được chuyển nhượng trong thời hạn nhất định (thường từ 3-5 năm) cũng
có thể khiến nhà đầu tư gặp rủi ro liên quan đến tính thanh khoản thấp của các chứng khoán này, nhất là khi họ cần tiền để trả lãi vay ngân hàng hoặc muốn rút vốn về để đầu
tư vào nơi khác có lãi hơn, an toàn hơn…
Sự cạnh tranh khốc liệt và biến động khôn lường của thị trường Khó có thể giữ vững được vị thế của mình một cách ổn định, lâu dài trước sự cạnh tranh và biến động tới chóng mặt của thị trường trong xu thế toàn cầu hóa Điều này cũng đồng nghĩa với
Trang 6việc các nhà đầu tư chứng khoán có thể phải hứng chịu cả hai dạng thiệt hại “khấu hao
hữu hình” và “khấu hao vô hình” giá trị và tính thanh khoản của các chứng khoán mà họ
nắm giữ
- Vấn đề không cân xứng thông tin Trong các giao dịch tài chính luôn xuất hiện một mâu thuẫn cơ bản và cố hữu, một mâu thuẫn tạo nên cơ sở tồn tại của các điều kiện cho vay trong các tổ chức tài chính, đó
là sự không cân xứng về thông tin giữa người cho vay và người đi vay Người cho vay đóng vai trò cung cấp vốn trong giao dịch tài chính và thường không có sự khác biệt lớn
về đồng vốn giữa những người cho vay (sự khác biệt chủ yếu nằm ở thời hạn cho vay và các ràng buộc liên quan) Nói cách khác, những thông tin về phía đối tác của mình mà người đi vay có được là tương đối đồng nhất Người đi vay có thể huy động từ một trong những người cung cấp vốn mà không cần quan tâm nhiều đến bên cho vay vì chỉ cần vay được vốn là họ đã đạt được gần như hoàn toàn mục đích của một giao dịch tài chính
Trong khi đó người cho vay có quyền lựa chọn một trong số những người hỏi vay, lúc này họ có cả quyền sử dụng và định đoạt đối với vốn, nghĩa là họ có quyền sở hữu đầy đủ Nhưng ngay sau khi giao dịch tài chính diễn ra, quyền sở hữu đó bị chia đôi, quyền sử dụng vốn đã được chuyển sang phía người vay vốn! Nếu không có vật thế chấp hoặc bảo lãnh của một tổ chức tài chính mạnh, người cho vay chỉ còn sự thừa nhận về mặt pháp lý đối với khoản tiền đó, họ không cầm giữ và cũng không sử dụng nó Điều này đồng nghĩa với việc rủi ro thu hồi vốn tăng lên và mức độ rủi ro phụ thuộc hoàn toàn vào người vay vốn
Do vậy, biện pháp để người cho vay phải làm để hạn chế rủi ro là phải thu thập và phân tích các thông tin liên quan đến người vay vốn Họ cần biết người đi vay sử dụng đồng vốn như thế nào, mức độ rủi ro cao hay thấp, sức mạnh tài chính, mức độ tin tưởng, nguy cơ dẫn đến việc sử dụng vốn không đúng cam kết của người vay, … Tuy nhiên những thông tin như thế đến với người cho vay thường không đầy đủ hoặc thiếu chính xác sẽ dẫn đến những lựa chọn của người cho vay có thể là một “lựa chọn đối nghịch”, hay phải gánh chịu những “rủi ro đạo đức”
* Nguyên nhân chủ quan
- Về phía các chủ thể kinh doanh chứng khoán:
+ Khả năng tài chính của một số chủ thể kinh doanh chứng khoán còn hạn chế: Khi tiến hành các hoạt động kinh doanh chứng khoán, các chủ thể kinh doanh phải có lượng cần thiết Nếu các chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh trong tinh trạng tiềm lực tài chính hạn chế, lượng vốn sẵn có và khả năng khai thác, sử dụng các nguồn lực tài chính không đủ mạnh, không đáp ứng các nhu cầu giao dịch thì các chủ thể này sẽ luôn phải đối mặt với khó khăn, đối mặt với mọi nguy cơ rủi ro có thể xảy ra
+ Năng lực của các chủ thể kinh doanh chứng khoán nói chung, đội ngũ nhân viên nói riêng còn có nhiều hạn chế: Kinh doanh chứng khoán là một lĩnh vực đặc thù, chịu tác động lớn từ nhân tố con người Trình độ kiến thức, kỹ thuật hành nghề, đạo đức nghề nghiệp của các chủ thể kinh doanh chứng khoán, nhân viên của các công ty tiến hành hoạt động kinh doanh này là yếu tố quan trọng quyết định trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh chứng khoán Nếu kinh nghiệm, phẩm chất, năng lực… của người hành nghề còn hạn chế thì đây là một nguyên nhân làm phát sinh rủi ro, gây thiệt hại đến lợi nhuận của nhà đầu tư Ngoài ra, còn có một bộ phận chủ thể tuy hiểu biết về pháp luật
nhưng vì lợi nhuận nên đã “lách luật”, không chấp hành các quy định của pháp luật, vì
vậy cũng dễ tạo ra những rủi ro pháp lý, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
Trang 7- Về phía khách hàng: Rủi ro rất có thể được bắt nguồn từ khách hàng Chẳng hạn như trường hợp khách hàng bị mất khả năng thanh toán (không đủ tiền hoặc chứng khoán khi đến hạn thanh toán)., hoặc không đủ trình độ, thông tin để đánh giá tình hình hoạt động của các doanh nghiệp có chứng khoán niêm yết, do đó có những quyết định đầu tư chưa thực sự chính xác,…
III- Các quy định của pháp luật Việt Nam để hạn chế, phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh chứng khoán
Kinh doanh chứng khoán là ngành nghề kinh doanh khá nhạy cảm, luôn gắn với nguy cơ rủi ro, có khả năng gây ra những tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế cũng như lợi ích của các chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán
Xuất phát từ thực tế đó, hiện nay Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp lý nhằm hạn chế, phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán ở mức thấp nhất Pháp luật về hạn chế, phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng khoán là tổng hợp các quy phạm nằm trong Luật chứng khoán 2006 và một số văn bản khác như: Nghị định 11/2007/NĐ-CP của Chính Phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán; các Quyết định của Bộ tài chính về quy chế tổ chức và hoạt động của công ty Chứng khoán (Quyết định 27/2007/QĐ-BTC), công ty quản lý quỹ (Quyết định 26/2007BTC), Qũy đầu tư chứng khoán (Quyết định số 45/2007/ QĐ-BTC),… Nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong kinh doanh chứng khoán được thể hiện qua một số nội dung cơ bản như sau:
1 Pháp luật quy định những hành vi bị cấm trong kinh doanh chứng khoán
Nhằm hạn chế các rủi ro trong kinh doanh chứng khoán, pháp luật Việt Nam đã có các quy định cấm đối với các chủ thể tham gia vào hoạt động này Cụ thể:
1 Trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện các hành vi gian lận, lừa đảo, tạo dựng thông tin sai sự thật hoặc bỏ sót thông tin cần thiết gây hiểu nhầm nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán, dịch vụ về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
2 Công bố thông tin sai lệch nhằm lôi kéo, xúi giục mua, bán chứng khoán hoặc công bố thông tin không kịp thời, đầy đủ về các sự việc xảy ra có ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán trên thị trường.
3 Sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán chứng khoán cho chính mình hoặc cho người khác; tiết lộ, cung cấp thông tin nội bộ hoặc tư vấn cho người khác mua, bán chứng khoán trên cơ sở thông tin nội bộ.
4 Thông đồng để thực hiện việc mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo; giao dịch chứng khoán bằng hình thức cấu kết, lôi kéo người khác liên tục mua, bán
để thao túng giá chứng khoán; kết hợp hoặc sử dụng các phương pháp giao dịch khác để thao túng giá chứng khoán (Điều 9- Luật chứng khoán 2006).
Việc quy định các hành vi bị cấm đã góp phần tạo ra cơ sở pháp lý cho các công ty kinh doanh chứng khoán, các nhà đầu tư tham gia các giao dịch kinh doanh có những định hướng kinh doanh và tiến hành các giao dịch đúng với quy định của pháp luật
Trong văn bản sửa đổi bổ sung Luật chứng khoán 2010, các nhà làm luật đã đưa thêm một hành vi bị cấm đối với hoạt động Kinh doanh chứng khoán vào tronng quy
định Đó là hành vi: “Thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán khi chưa được Uỷ
ban chứng khoán nhà nước cấp phép hoặc chấp thuận”.
Quy định này đã góp phần hạn chế được rủi ro đối với các doanh nghiệp kinh doanh Bởi việc thực hiện các nghiệp vụ này phải được sự chấp thuận của cơ quan quản
lý nhà nước- Uỷ ba chứng khoán nhà nước Để có sự cho phép này, các chủ thể phải trải qua những thủ tục chặt chẽ và quy trình cấp phép nghiêm ngặt của nhà nước
Trang 82 Những quy định về quản lý nhà nước trong kinh doanh chứng khoán
Để ngăn ngừa rủi ro trong kinh doanh chứng khoán, cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán đóng vai trò rất quan trọng Nhận thấy được điều này, pháp luật phòng ngừa hạn chế rủi ro trong kinh doanh chứng khoán nước ta đã có những quy định cụ thể
về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán và từng nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán
Ngay từ những điều đầu tiên của Luật chứng khoán 2006 đã quy định: “Nhà nước
có chính sách quản lý, giám sát bảo đảm thị trường chứng khoán hoạt động công bằng,
công khai, minh bạch, an toàn và hiệu quả” (Khoản 2- Điều 5).
Điều 7- Luật chứng khoán đã nêu rõ: “Chính phủ, Bộ tài chính và Ủy ban chứng
khoán nhà nước là các cơ quan quản lý nhà nước được chuyển giao quyền trong việc
quản lý hoạt động kinh doanh chứng khoán
Đặc biệt, để đảm bảo sự quản lý chặt chẽ của nhà nước đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán, Uỷ ban chứng khoán nhà nước- cơ quan trực thuộc Bộ tài chính- là
cơ quan trực tiếp quản lý hoạt động kinh doanh chứng khoán nói riêng và thị trường chứng khoán nói chung
Theo Điều 8 Luật chứng khoán thì Uỷ ban chứng khoán nhà nước giữ vai trò quản
lý xuyên suốt tất cả mọi lĩnh vực của thị trường chứng khoán (thể hiện thông qua chức năng, quyền hạn của Uỷ ban chứng khoán…)
Quy định này thể hiện sự thống nhất trong quản lý hoạt động kinh doanh chứng khoán ở nước ta Với việc phân cấp rõ ràng giữa các cơ quan chức năng, pháp luật phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong kinh doanh chứng khoán đã tránh được hiện tượng chồng chéo về chức năng cũng như quyền hạn của các cơ quan trong việc giải quyết các vấn đề xảy ra trong hoạt động kinh doanh chứng khoán, điều này giúp cho việc quản lý hoạt động kinh doanh chứng khoán diễn ra dễ dàng và gọn nhẹ hơn
Tuy nhiên, pháp luật phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong kinh doanh chứng khoán còn một số hạn chế trong các quy định về quản lý nhà nước Cụ thể:
Một là, các quy định về hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan này
chưa đầy đủ: Không có quy định ghi nhận thế nào là vi phạm pháp luật, thanh tra không gây được tính bất ngờ,…
Hai là, pháp luật phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong kinh doanh chứng khoán khi
quy định về công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền không đề cập đến việc cơ quan này có được tiến hành hoạt động điều tra hay không Sự thiếu sót này của pháp luật đã hạn chế hiệu quả của công tác thanh tra, giám sát
3 Các quy định về điều kiện trở thành chủ thể kinh doanh chứng khoán
Để tránh những rủi ro do sự không phân định rõ ràng chức năng và nhiệm vụ được thực hiện của các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh chứng khoán, và đảm bảo về khả năng giải quyết các tình huống khi rủi ro xảy đến trong ho ạt động kinh doanh chứng khoán, pháp luật đã có những quy định khá rõ ràng về vấn đề này Hiện nay, pháp luật quy định có ba chủ thể được phép kinh doanh chứng khoán là: Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và công ty đầu tư chứng khoán Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn cho kinh doanh chứng khoán, các công ty trên phải đáp ứng những điều kiện nghiêm ngặt mà pháp luật đặt ra:
3.1 Điều kiện về tổ chức và hoạt động của chủ thể kinh doanh chứng khoán Thứ nhất, điều kiện về hình thức pháp lý:
Đối với loại Công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, Luật
chứng khoán 2006 quy định chúng phải được “tổ chức dưới hình thức công ty trách
nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp” (Khoản
Trang 91-Điều 59) Bởi lẽ, đây là loại hình công ty đối vốn, có tư cách pháp nhân, có chế độ trách nhiệm hữu hạn, cơ chế huy động vốn hiệu quả và mô hình quản trị kinh doanh chặt chẽ… những đặc điểm ày hoàn toàn phù hợp với hoạt động kinh doanh chứng khoán-nơi có những diễn biến thất thường và tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi các chủ thể có khả năng ứng phó với các rủi ro ấy một cách nhanh nhất và có hiệu quả, không ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường chứng khoán của nhà nước
Với một thị trường mới được hình thành và đang trong quá trình phát triển đầy biến động, việc pháp luật quy định như trên là hoàn toàn phù hợp với thực tế khách quan, hạn chế một số rủi ro nhất định
Thứ hai, điều kiện về vốn pháp định:
Vốn pháp định là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến kế hoạch đầu
tư cũng như khả năng xử lý những rủi ro của một doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động kinh doanh trên thị trường Chính vì vậy, điều kiện về vốn pháp định của các chủ thể kinh doanh chứng khoán được pháp luật quy định khá chi tiết tại Nghị định số 14/2007/NĐ-CP:
- Đối với công ty chứng khoán mức vốn pháp định cụ thể như sau: Môi giới chứng
khoán: 25 tỉ VNĐ; Tự doanh chứng khoán: 100 tỉ VNĐ; Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỉ VNĐ; Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỉ VNĐ (Điều 18- Nghị định số
14/2007) Như vậy, theo quy định tại Nghị định này thì số vốn pháp định đối với từng loại hình kinh doanh đã được nâng lên cao hon so với quy định trước đây (Nghị định 144/2003) Việc quy định tăng mức vốn điều lệ là phù hợp với tình hình phát triển kinh
tế ở Việt Nam hiện nay
- Đối với công ty quản lý quỹ: Mức vốn pháp định mà pháp luât yêu cầu là 25 tỷ đồng với cả hai nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư và quản lý quỹ đầu tư
Như vậy, với những quy định chi tiết về quy mô số vốn pháp định của từng nghiệp
vụ kinh doanh chứng khoán , ta có thể thấy sự cẩn trọng của các nhà làm luật Việt Nam trong việc ngăn ngừa và hạn chế rủi ro có thể xảy đến trong quá trình kinh doanh của các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh chứng khoán
Thứ ba, Điều kiện về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật:
Kinh doanh chứng khoán là hoạt động kinh doanh đòi hỏi kỹ thuật tiên tiến và đồng
bộ, bởi thế, yêu cầu về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật với các chủ thể này là khá cao Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì các chủ thể kinh doanh chứng khoán phải có trụ sở đáp ứng được yêu cầu theo quy định tại Nghị quyết số 27/2007/QĐ-BTC và Nghị quyết số 35/2007/QĐ-BTC
Thứ tư, điều kiện về cán bộ, công nhân viên:
Đội ngũ nhân viên là nhân tố quan trọng quyết định đến sự phát triển của Doanh nghiệp, đặc biệt là các chủ thể kinh doanh chứng khoán
Theo đó, pháp luật của chúng ta đã có nhiều quy định cụ thể về điều kiện đối với đội ngũ nhân viên này Cụ thể:
Đối với những cá nhân giữ vai trò là cổ đông sáng lập hoặc sáng lập viên, họ “phải
là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc các trường hợp đang chấp hành hành phạt tù hoặc bị Tòa án cấm ngành nghề kinh doanh” (Khoản 2- Điều
62-Luật chứng khoán); đồng thời họ phải sử dụng chính nguồn vốn của mình để góp vốn thành lập doanh nghiệp
Đối với các cá nhân nắm chức vụ cao trong công ty (Tổng giám đốc, giám đốc, nhân viên thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán…) thì còn phải có chứng chỉ hành nghề chứng khoán (theo Khoản 1- Điều 62- Luật chứng khoán) và một số điều kiện
cụ thể khác
Trang 10Việc pháp luật phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong kinh doanh chứng khoán quy định về điều kiện đội ngũ nhân viên là tất yếu Bởi lẽ, đây là những chủ thể trực tiếp điều hành, thực hiện, giải quyết những vấn đề phát sinh trong hoạt động kinh doanh chứng khoán Họ chính là nhân tố quan trọng giúp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong kinh doanh chứng khoán
3.2 Điều kiện về giấy phép:
Để được tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán, các chủ thể còn phải đáp ứng điều kiện về giấy phép kinh doanh chứng khoán
Hiện nay ở nước ta tồn tại nhiều loại giấy phép kinh doanh chứng khoán khác nhau với những điều kiện nhất định (giấy phép thành lập và hoạt động công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, chứng chỉ hành nghề chứng khoán,…)
Với mỗi loại chủ thể kinh doanh chứng khoán, khi thực hiện một, một số hoặc tất cả các nghiệp vụ kinh doanh được phép sẽ phải có một, một số hoặc tất cả các loại giấy phép kinh doanh mà pháp luật Việt Nam quy định Những loại giấy phép trên được coi như văn bản chứng thực của cơ quan quản lý nhà nước về khả năng kinh doanh chứng khoán của các chủ thể cũng như khả năng giải quyết và vượt qua các rủi ro có thể xảy đến trong kinh doanh
4 Quy định về các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán mà các chủ thể được phép tiến hành
Nhận thức được vai trò của các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán trong sự phát triển của thị trường, pháp luật phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong kinh doanh chứng khoán đã có nhiều quy phạm điều chỉnh các vấn đề của từng nghiệp vụ, tạo nên hành lang pháp lý để các chủ thể tiến hành theo đúng khuôn khổ pháp luật quy định, tránh được rủi ro hoặc khắc phục những hậu quả ma các rủi ro này mang đến
Cụ thể các nghiệp vụ: Nghiệp vụ môi giới chứng khoán, Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán, bảo lãnh, phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý doanh mục đầu tư chứng khoán
5 Các quy định về nghĩa vụ thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro của các chủ thể kinh doanh chứng khoán.
Để đảm bảo hoạt động kinh doanh chứng khoán được diễn ra thông suốt và không gặp phải những rủi ro, các chủ thể kinh doanh (vì lợi ích của chính mình) phải là những người đầu tiên thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro Tuy nhiên, trên thực tế, có một số chủ thể vì lợi nhuận hay vì một số lý do khác mà không thực hiện các biện pháp phòng ngừa đó Chính vì thế, pháp luật phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong kinh doanh chứng khoán đã tạo nên một khung pháp lý làm nền tảng buộc chủ thể kinh doanh phải thực hiện theo các quy định này để hạn chế rủi ro xảy ra
5.1 Quy định về cơ chế quản lý vốn:
Vốn kinh doanh là một điều kiện tiên quyết đối với mỗi doanh nghiệp, mỗi nhà kinh doanh riêng lẻ khi tiến hành hoạt động, đầu tư và tham gia vào bất cứ một dự án nào
Kinh doanh chứng khoán mang đặc thù là một loại hình kinh doanh được thực hiện trên một thị trường- đó là thị trường chứng khoán- chứa đựng nhiều rủi ro và nhiều biến cố bất ngờ nên đòi hỏi các chủ thể kinh doanh khi tham gia vào loại hình kinh doanh này cần phải có một số vốn pháp định nhất định và cơ chế quản lý vốn thật chặt chẽ Có như vậy, họ mới có thể làm chủ được các hoạt động của mình và hạn chế được những rủi ro xảy ra Pháp luật phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong kinh doanh chứng khoán đã có những quy định rất chặt chẽ về cơ chế quản lý vốn của các chủ thể kinh doanh Theo đó:
Đối với công ty chứng khoán thì “giao dịch làm thay đổi quyền sở hữu từ 10% trở
lên vốn điều lệ của công ty chứng khoán, trừ trường hợp cổ phiếu của công ty chứng