Thứ ba, vay nợ trong thu NSNN là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phải tuân theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, điều kiện, cách thức thu, quản lý, sử dụng và giám
Trang 1I MỞ BÀI
Trong lịch sử hoạt động tài chính Nhà nước, bội chi NSNN là hiện tượng khó tránh khỏi và để
bù đắp thiếu hụt NSNN, Nhà nước phải chọn một trong hai giải pháp: Một là, phát hành tiền giấy (giải pháp này tuy nhanh giải quyết dễ dàng nhất để cân đối NSNN, nhưng nó lại không gắn với lưu thông hàng hóa và là một nguyên nhân dẫn đến lạm phát, làm ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế
- xã hội) Hai là, vay nợ, nếu làm tốt công tác này thì đây sẽ là giải pháp hữu hiệu nhất, không những giải quyết được vấn đề tập trung vốn nhằm cân đối NSNN mà còn hạn chế, khắc phục tình trạng lạm phát và tác động tích cực đến phát triển kinh tế quốc dân Nhiều nước trên thế giới đã có chính sách huy động vốn trong nước và vay nợ nước ngoài một cách triệt để và hiệu quả bao gồm
cả những nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản và các nước đang phát triển trong đó có cả Việt Nam
II.NỘI DUNG
1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỪ CÁC KHOẢN VAY NỢ
Ở VIỆT NAM
1.1 Các văn bản pháp lý
- Luật Ngân sách nhà nước ngày 16 tháng 12 năm 2002;
- Luật Quản lý nợ công ngày 17 tháng 6 năm 2009;
- Pháp lệnh Ngoại hối ngày 21 tháng 12 năm 2005;
- Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
- Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước;
- Nghị định 134/2005/NĐ-CP Ban hành Quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài;
- Nghị định 01/2011/NĐ-CP Về phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương;
- Nghị định 90/2011/NĐ-CP Về phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Và nhiều văn bản hướng dẫn khác
1.2 Khái niệm, đặc điểm và phân loại các khoản vay nợ trong thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam
1.2.1 Khái niệm
Ngân sách nhà nước (NSNN) vừa là một thuật ngữ kinh tế, vừa là một khái niệm pháp lý Theo
Điều 1 Luật NSNN năm 2002 thì “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ
quan có thẩm quyền của Nhà nước quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”
Các khoản thu cùng các khoản chi là một phần của dự toán ngân sách nhà nước Trong đó, các khoản thu của NSNN được hiểu là những nguồn vốn tiền tệ do Nhà nước huy động từ trong hoặc từ bên ngoài nền kinh tế quốc nội, thông qua nhiều phương thức khác nhau; để tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu rất lớn của Nhà nước về kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng và quản lý nhà nước
Trong các phương thức thu NSNN, vay nợ được coi là nguồn thu khác theo quy định của pháp luật, bởi đây không phải là nguồn thu chủ yếu trong cơ cấu các khoản thu, có tính chất bổ sung bởi trong quá trình quản lý xã hội và nền kinh tế, trong từng giai đoạn nhất định, khi các khoản thu truyền thống như thuế, phí, lệ phí không đáp ứng được các nhu cầu chi tiêu, cân đối và ổn định thu – chi
Trang 2trong NSNN, thì Nhà nước cần huy động nguồn lực nhiều hơn từ trong và ngoài nước và biện pháp
là Nhà nước phải quyết định vay nợ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình và chịu trách
nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó Trong kinh tế học cũng như khoa học pháp lý, các khoản vay này được gọi là Nợ chính phủ, hay nợ công, là tổng giá trị các khoản tiền vay của chính quyền thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt NSNN (bội chi NSNN)
1.2.2 Đặc điểm:
Thứ nhất, vay nợ là một hoạt động có tính hoàn trả, theo đó người đi vay phải trả cho người cho
vay nợ gốc kèm với tiễn lãi khi đến hạn trả nợ
Thứ hai, trong cơ cấu NSNN, các khoản vay là nguồn thu bổ sung và chiếm tỷ trọng không lớn
nhưng có vai trò quan trọng
Thứ ba, vay nợ trong thu NSNN là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phải
tuân theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, điều kiện, cách thức thu, quản lý, sử dụng và giám
sát, được quy định trong Luật Ngân sách nhà nước 2002 và Luật Quản lý nợ công năm 2009
Thứ tư, Mục đích vay nợ: là để đầu tư phát triển kinh tế, xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân
sách trung ương theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước; Vay ngắn hạn để bù đắp thiếu hụt
tạm thời của ngân sách nhà nước; Cơ cấu lại danh mục nợ Chính phủ và nợ được Chính phủ bảo
lãnh; cho vay lại các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, chính quyền địa phương theo quy định tại Luật
này; Cho các mục đích khác nhằm đảm bảo an ninh tài chính quốc gia
Không được sử dụng các khoản vay nợ để sử dụng cho tiêu dùng, chỉ được sử dụng cho mục đích phát triển và bảo đảm bố trí ngân sách để chủ động trả hết nợ khi đến hạn (khoản 2 Điều 8
Luật Ngân sách nhà nước 2002)
1.2.3 Phân loại:
Thứ nhất, căn cứ vào đối tượng đi vay, vay nợ trong thu NSNN được chia làm nợ Chính phủ,
nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương
Thứ hai, căn cứ vào đối tượng cho vay thì có vay trong nước (đối tượng cho vay là cá nhân, tổ
chức trong nước) và vay nước ngoài (đối tượng cho vay cư trú ngoài phạm vi quốc gia, bao gồm cả những khoản nợ trong nước do người không cư trú tại quốc gia đó nắm giữ)
Thứ ba, Căn cứ vào hình thức vay, có thể chia thành vay trực tiếp và vay gián tiếp (thông qua
trái phiếu…); vay tiền hoặc vay hàng hóa; Vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn;…
2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỪ CÁC KHOẢN VAY NỢ
2 1 Cơ chế thu các khoản vay nợ trong thu ngân sách nhà nước
Chúng ta sẽ tiếp cận quy định của pháp luật cơ chế thu nguồn thu này theo tiêu chí đối tượng cho vay, bởi nguồn gốc của hai đối tượng này có sự khác nhau cơ bản, dẫn đến có sự khác biệt khá
rõ ràng trong quy định của pháp luật về các vấn đề có liên quan đến cơ chế thu như thẩm quyền,
hình thức, cách thức…
2.1.1 Vay nợ nước ngoài
Vay nước ngoài của Chính phủ: là các khoản vay ưu đãi hỗ trợ phát triển chính thức (ODA),
vay thương mại hoặc tín dụng xuất khẩu và vay từ thị trường vốn quốc tế (dưới hình thức phát hành trái phiếu ra nước ngoài), do cơ quan được uỷ quyền của Nhà nước hoặc Chính phủ Việt Nam ký
Trang 3vay dưới danh nghĩa Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với người cho
vay nước ngoài1
a Hình thức
Ngay trong định nghĩa đã liệt kê ra ba hình thức vay nước ngoài, đó là
- Vay Hỗ trợ Phát triển Chính thức (ODA): theo khoản 8, Điều 3 Luật quản lý nợ công năm
2009 thì đây là các khoản vay nhân danh Nhà nước, Chính phủ từ các nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ có yếu tố
không hoàn lại (thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với
các khoản vay không ràng buộc
Theo Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức được ban hành kèm theo Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ thì hình thức cung cấp ODA bao gồm:
ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ;
ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): là khoản vay với các điều kiện ưu đãi về lãi
suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm “yếu tố không hoàn lại” (còn gọi là “thành tố hỗ
trợ”) đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng
buộc;
ODA vay hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi được cung
cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại, nhưng tính chung lại có “yếu tố không hoàn lại”
đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc ODA là nguồn vay quan trọng nhất trong vay nợ nước ngoài, thường chiếm tỷ trọng đến khoảng 90% trong cơ cấu vay nợ nước ngoài Từ quy định của pháp luật, ta thấy rằng
+ Vốn ODA mang tính ưu đãi: Vốn ODA có thời gian cho vay( hoàn trả vốn dài), có thời gian
ân hạn dài Chẳng hạn, vốn ODA của WB, ADB, JBIC có thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian
ân hạn là 10 năm
+ Vốn ODA mang tính ràng buộc: ODA có thể ràng buộc ( hoặc ràng buộc một phần hoặc không ràng buộc) nước nhận về địa điểm chi tiêu Ngoài ra mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều có những ràng buộc khác và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nước nhận Ví dụ, Nhật Bản quy định vốn ODA của Nhật đều được thực hiện bằng đồng Yên Nhật
+ ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ: đặc biệt là hình thức vay ưu đãi và vay hỗn hợp
ODA ngoài việc bản thân nó là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho phát triển, nó còn có tác dụng nâng cao trình độ khoa học, công nghệ, điều chỉnh cơ cấu kinh tế và làm tăng khả năng thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài
- Vay thương mại hoặc tín dụng xuất khẩu: Vay thương mại là các khoản vay, phát hành theo
các điều kiện thị trường Tín dụng xuất khẩu được hiểu là khoản tín dụng người xuất khẩu cấp cho
người nhậu khẩu (còn được cọi là tín dụng thương mại) hoặc khoản cho vay trung và dài hạn, dùng
để tài trợ cho các dự án và cung cấp vốn cho hoạt động xuất khẩu hàng hóa
Đây là khoản vay trực tiếp mà không phải là ODA Trong đó, các bên thực hiện việc vay nợ với lãi suất, cách thức, như trên thị trường giao dịch quốc tế, nhưng đối tượng của bên đi vay nợ là cơ
1 Khoản 4, Điều 2 Nghị định 134/2005/NĐ-CP;
Trang 4quan được uỷ quyền của Nhà nước hoặc Chính phủ Việt Nam ký vay dưới danh nghĩa Nhà nước
hoặc Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và đối tác là người cho vay nước ngoài
- Vay từ thị trường vốn quốc tế (dưới hình thức phát hành trái phiếu ra nước ngoài): Hình thức vay này được quy định tại chương 3 Phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế, tại Nghị định số 01/2011/NĐ-CP ngày 05/01/2011 về phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương, có thể hiểu là chủ thể có thẩm quyền bán trái phiếu cho
đối tượng mua là cá nhân, tổ chức nước ngoài
b Thẩm quyền
Nợ nước ngoài chỉ được thực hiện bởi ngân sách cấp trung ương Thẩm quyền của các cá nhân, chức danh trong việc vay nợ nước ngoài được pháp luật quy định trong luật quản ly nợ công năm
2009 bao gồm:
- Chủ tịch nước: Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp quy định trong việc tiến hành
đàm phán, ký kết và phê chuẩn các điều ước quốc tế về vay nợ nhân danh Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (khoản 1 Điều 10)
- Chính phủ: Trình Quốc hội phê duyệt tổng mức vay, trả nợ của Chính phủ hàng năm (khoản 2
Điều 11)
Trong đó Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền Phê duyệt kế hoạch vay, danh mục yêu cầu tài trợ vốn ODA, các khoản vay thương mại của Chính phủ và bảo lãnh Chính phủ (khoản 2 Điều 12)
- Bộ Tài chính: đây là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về nợ
công, điều hành và hướng dẫn thực hiện hạn mức nợ công, hạn mức vay thương mại và bảo lãnh của Chính phủ Trong quá trình thu NSNN từ các khoản vay nợ, Bộ tài chính có nhiệm vụ: Chuẩn
bị các dự án luật, pháp lệnh, nghị định về quản lý nợ công trình Chính phủ, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền về quản lý nợ công; Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan khác liên quan xây dựng chiến lược nợ dài
hạn, chương trình quản lý nợ trung hạn, hệ thống các chỉ tiêu giám sát nợ vĩ mô, kế hoạch vay, trả
nợ Chính phủ hàng năm trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư: cơ quan này có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tổ chức thu vốn
ODA, theo quy định tại Điều 14 Luật quản lý nợ công năm 2009, Bộ kế hoạch và Đầu tư có thẩm quyền chủ trì xây dựng danh mục yêu cầu tài trợ vốn ODA trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
Tổ chức vận động ngồn vốn ODA, chủ trì đàm phán và ký kết các Điều ước quốc tế khung về ODA theo sự uỷ quyền hoặc phân công của Thủ tướng Chính phủ
Tham gia với Bộ Tài chính trong việc Xây dựng chiến lược nợ dài hạn và Xây dựng các đề án phát hành trái phiếu quốc tế
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan chuẩn bị
nội dung, tiến hành đàm phán, ký kết các thỏa thuận vay, là đại diện cho Người vay tại các thỏa
thuận vay này hoặc gia nhập các điều ước quốc tế về ODA theo ủy quyền của Chủ tịch nước, Chính phủ
- Bộ Ngoại giao: có thẩm quyền Hướng dẫn và theo dõi việc thực hiện Luật Ký kết, gia nhập và
thực hiện điều ước quốc tế trong lĩnh vực vay nợ nước ngoài; Trong các trường hợp cần thiết, tham gia ý kiến về các thoả thuận vay nợ của Chính phủ với các đối tác nước ngoài; Thực hiện các thủ
Trang 5tục thông báo uỷ quyền đàm phán hoặc ký kết các thoả thuận về vay nợ, bảo lãnh của Chính phủ
theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Ngoài ra, trong cơ chế thu các khoản vay nợ nước ngoài, còn có Bộ Tư pháp có thẩm quyền, nhiệm vụ tham gia vào các vấn đề pháp lý trong các thỏa thuận vay, tư cách pháp lý của các bên;
Bộ ngoại giao
2.1.2 Vay nợ trong nước
a Hình thức
Cách phổ biến nhất để huy động vốn vay trong nước là phát hành trái phiếu Hiện tại, ở nước ta Nghị định 01/2011/NĐ-CP Về phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh
và trái phiếu chính quyền địa phương quy định khá rõ về vấn đề này Theo đó, có các loại trái phiếu sau:
- “Trái phiếu Chính phủ” là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho chương trình, dự án đầu tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của nhà nước
- “Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh” là loại trái phiếu do doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng, ngân hàng chính sách của nhà nước thuộc đối tượng quy định tại Điều 32 Luật Quản lý nợ
công phát hành và được Chính phủ bảo lãnh thanh toán
- “Trái phiếu chính quyền địa phương” là loại trái phiếu do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) phát hành nhằm huy động vốn cho công trình, dự án đầu tư của địa phương
b Thẩm quyền
- Cấp ngân sách trung ương: khi nói đến thẩm quyền trong thu ngân sách từ vay nợ trong nước phải kể đến vai trò của Bộ Tài chính Theo quy định tại Luật quản lý nợ công năm 2009 thì Bộ tài chính là cơ quan Tổ chức phát hành trái phiếu Chính phủ và thực hiện vay để bù đắp thiếu hụt tạm
thời của ngân sách trung ương từ các nguồn tài chính hợp pháp ở trong nước
Các đề án của Bộ Tài chính về huy động ngân sách trong nước phải được Thủ tướng Chính phủ thông qua
- Cấp ngân sách địa phương: theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Luật Ngân sách nhà nước 2002 thì chỉ có trường hợp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khi có nhu cầu đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh bảo đảm, thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5 năm đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, nhưng vượt quá khả năng cân đối của
ngân sách cấp tỉnh năm dự toán, thì được phép huy động vốn trong nước Như vậy, ngân sách cấp huyện và cấp xã không được vay trong nước để bổ sung ngân sách
c Chủ thể ban hành
- Trái phiếu Chính phủ: Bộ Tài chính
- Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh: doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng, ngân hàng chính sách của nhà nước thuộc đối tượng quy định tại Điều 32 Luật Quản lý nợ công phát hành
- Trái phiếu địa phương: do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phát hành
2.2 Cơ chế quản lý, giám sát các khoản vay nợ trong thu ngân sách nhà nước
Trang 6Theo Luật quản lý nợ công năm 2009, Chính phủ sẽ quản lý toàn diện nợ công thông qua 4 công cụ Đó là: chiến lược dài hạn về nợ công; chương trình quản lý nợ trung hạn; kế hoạch vay và trả nợ chi tiết hàng năm của Chính phủ; các chỉ tiêu an toàn và giám sát nợ công
Thứ nhất, Chiến lược dài hạn về nợ công gồm các nội dung như đánh giá thực trạng nợ công và
công tác quản lý nợ công trong giai đoạn thực hiện Chiến lược trước đó; mục tiêu, định hướng huy
động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công, Căn cứ để xây dựng chiến lược dài hạn về nợ công là
kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm và 10 năm, các kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thổ cũng như các nghị quyết, quyết định về chủ trương huy động, sử dụng vốn vay và quản lý
nợ của Đảng, Nhà nước và Chính phủ,
Thứ hai, chương trình quản lý nợ trung hạn gồm các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp về huy
động, sử dụng vốn vay, trả nợ và cơ chế, chính sách, tổ chức quản lý nợ trong giai đoạn 3 năm liền
kề để thực hiện các chỉ tiêu an toàn về nợ đã được Quốc hội xác định trong mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công
Thứ ba, kế hoạch vay, trả nợ chi tiết hàng năm của Chính phủ có nội dung gồm: kế hoạch vay
trong nước (gồm kế hoạch huy động vốn cho ngân sách nhà nước và kế hoạch huy động vốn cho đầu tư phát triển); kế hoạch vay nước ngoài, được thực hiện thông qua các hình thức huy động, gồm
vay ODA, vay ưu đãi, vay thương mại và được chi tiết theo chủ nợ nước ngoài; kế hoạch trả nợ,
được chi tiết theo chủ nợ, có phân định trả nợ gốc và trả nợ lãi, trả nợ trong nước và trả nợ nước ngoài
Thứ tư là các chỉ tiêu an toàn và giám sát nợ công Các chỉ tiêu giám sát nợ công, nợ nước
ngoài của quốc gia bao gồm: nợ công so với tổng sản phẩm quốc dân (GDP), nợ nước ngoài của
quốc gia so với GDP, nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu, nợ chính phủ so với GDP
Thẩm quyền quản lý, giám sát được trao cho chính các cơ quan thực hiện vay và sử dụng nguồn thu từ các khoản vay nợ Ngoài ra còn có vai trò điều tiết và quản lý lượng thu – chi do Kho bạc
Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước và vai trò giám sát đặc biệt quan trọng của Tổng kiểm toán Nhà
nước
2.3 Cơ chế sử dụng các khoản vay nợ trong thu Ngân sách nhà nước
Khi vay nợ để bổ sung NSNN thì đối với mỗi hình thức vay, sẽ có quy định riêng về mục đích
sử dụng, hay đây chính là điều kiện để giải ngân, phát hành các công cụ vay nợ đó Theo đó, có hai hình thức vay nợ là vay nợ nước ngoài 9quan trọng nhất là ODA) và vay nợ trong nước (phát hành trái phiếu) Pháp luật Việt Nam đã quy định mục đích sử dụng cho các loại khoản vay đó như sau:
- Về nguồn vốn từ vay ODA: ODA là nguồn vốn quan trọng của ngân sách nhà nước, được sử dụng để hỗ trợ thực hiện các chương trình, dự án ưu tiên về phát triển kinh tế - xã hội của Chính
phủ Theo Điều 3 Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức được ban hành
kèm theo Nghị định số 131/2006/NĐ-CP thì Vốn ODA được ưu tiên sử dụng cho những chương
trình, dự án thuộc các lĩnh vực:
1 Phát triển nông nghiệp và nông thôn (bao gồm nông nghiệp, thuỷ lợi, lâm nghiệp, thủy sản) kết hợp xoá đói, giảm nghèo
2 Xây dựng hạ tầng kinh tế đồng bộ theo hướng hiện đại.
Trang 73 Xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục đào tạo, dân số và phát triển và một số lĩnh vực khác).
4 Bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên
5 Tăng cường năng lực thể chế và phát triển nguồn nhân lực; chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai.
6 Một số lĩnh vực khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
- Về phát hành trái phiếu: Điều 4, Nghị định 01/2011/NĐ-CP quy định về mục đích phát hành trái phiếu như sau:
1 Trái phiếu Chính phủ được phát hành cho các mục đích sau:
a) Đầu tư phát triển kinh tế – xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước;
b) Bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước từ vay trái phiếu ngắn hạn;
c) Cơ cấu lại khoản nợ, danh mục nợ Chính phủ;
d) Cho doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng, chính quyền địa phương vay lại theo quy định của pháp luật;
đ) Các mục đích khác nhằm bảo đảm an ninh tài chính quốc gia.
2 Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh được phát hành để đầu tư cho các chương trình, dự án sau:
a) Chương trình, dự án đầu tư được Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư, bao gồm cả phương án tái cơ cấu nợ của các chương trình, dự án này;
b) Chương trình, dự án ứng dụng công nghệ cao, dự án trong lĩnh vực năng lượng, khai thác, chế biến khoáng sản hoặc sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ xuất khẩu do Thủ tướng Chính phủ quyết định phù hợp với định hướng phát triển kinh tế – xã hội của đất nước;
c) Chương trình, dự án thuộc lĩnh vực, địa bàn được nhà nước khuyến khích đầu tư theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
d) Chương trình tín dụng có mục tiêu của nhà nước do Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách Xã hội hoặc tổ chức tài chính, tín dụng thực hiện theo quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
3 Trái phiếu chính quyền địa phương được phát hành cho các mục đích sau:
a) Đầu tư phát triển kinh tế – xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước;
b) Đầu tư vào các dự án có khả năng hoàn vốn tại địa phương.
Tuy nhiên không được sử dụng các khoản vay nợ để sử dụng cho tiêu dùng, chỉ được sử dụng cho mục đích phát triển và bảo đảm bố trí ngân sách để chủ động trả hết nợ khi đến hạn (khoản 2
Điều 8 Luật Ngân sách nhà nước 2002)
3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỪ CÁC KHOẢN VAY
NỢ Ở VIỆT NAM
Cơ cấu vay nợ trong và ngoài nước đã có sự thay đổi theo hướng tỷ trọng nợ nước ngoài giảm
và tỷ trọng nợ trong nước tăng lên (là xu hướng chuyển đổi cơ cấu vay nợ nước ngoài sang vay nợ
trong nước của các nước đang phát triển, nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào nợ nước ngoài của quốc
gia) đây là chỉ tiêu an toàn Ngày 27/7/2012, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 958/QĐ-TTg
Trang 8phê duyệt Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn
2030 Theo đó, quan điểm được nêu rõ trong quyết định là trong bối cảnh nhu cầu vốn cho phát
triển kinh tế - xã hội lớn, khả năng huy động nguồn nội lực chưa đáp ứng đầy đủ nên việc huy động
từ các nguồn vốn vay nợ trong và ngoài nước là cần thiết và có vai trò hết sức quan trọng Về chỉ tiêu cụ thể, vay trong và ngoài nước để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước theo hướng giảm dần
bội chi ngân sách nhà nước, phấn đấu đến năm 2015 (tính cả trái phiếu Chính phủ) dưới 4,5% GDP, giai đoạn 2016 - 2020 tương đương khoảng 4% GDP và giai đoạn sau năm 2020 bình quân khoảng
3% GDP
3.1 Thực tiễn áp dụng thu NSNN từ vay nợ nước ngoài:
Theo tin từ Bộ Tài chính, tính đến ngày 31-12-2011, nợ nước ngoài của Việt Nam ước tính ở mức khoảng 1.042 nghìn tỷ đồng (khoảng 50 tỷ USD), bằng 41,5% GDP năm 2011
Xét về khía cạnh bền vững, Bộ Tài chính khẳng định trong cơ cấu nợ của Việt Nam thì nợ vay ODA là chủ yếu ( thường chiếm tỷ trọng đến khoảng 90% trong cơ cấu vay nợ nước ngoài) Theo báo cáo từ Vụ Kinh tế đối ngoại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện Việt Nam có 51 nhà tài trợ, gồm 28 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đa phương với các chương trình ODA thường xuyên Tổng vốn ODA cam kết mà các nhà tài trợ dành cho Việt Nam tính đến thời điểm tháng 12/2011 đạt trên 64,322 tỷ USD Mức cam kết này cho thấy, sự đồng tình và ủng hộ chính trị mạnh mẽ của
cộng đồng quốc tế đối với công cuộc Đổi mới của Việt Nam Theo Quyết định 958/QĐ-TTg phê
duyệt Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn 2030,
cơ cấu dư nợ nước ngoài của Chính phủ trong tổng số dư nợ của Chính phủ phải giảm xuống dưới 50%, đảm bảo duy trì cơ cấu dư nợ cho vay ODA tối thiểu đạt khoảng 60% so với tổng dư nợ nước
ngoài của Chính phủ vào năm 2020 Đồng thời, gắn với việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, không để xảy ra tình trạng nợ quá hạn, làm ảnh hưởng đến các cam kết quốc tế của Chính phủ Đến năm 2030dự kiến nợ nước ngoài của quốc gia không quá 45% GDP
Bên cạnh đó, để tăng thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, trong những năm gần đây Chính phủ đã tích cực vay các khoản vay từ các chủ nợ tư nhân,các ngân hàng thương mại
Hơn nữa, Chính phủ đã mạnh dạn phát hành trái phiếu quốc tế Trong báo cáo theo dõi thị trường trái phiếu châu Á ngày 26/04/2012 Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) đưa ra khẳng định: “Thị trường trái phiếu Việt Nam tăng trưởng nhanh nhất khu vực” Theo đó, ADB cho biết, năm 2011, thị trường trái phiếu Việt Nam tăng 16,5%, đạt tỷ lệ tăng trưởng nhanh nhất khu vực
Mặc dù vậy, theo đánh giá của ADB, với 17 tỷ USD, Việt Nam vẫn còn là một trong những thị
trường nhỏ nhất khu vực, trong đó, Tổng lượng phát hành của nợ chính phủ năm 2011 đạt 15 tỷ
USD, tăng 9,7% Ngày 26/01/2010, Việt Nam đã phát hành thành công 1 tỷ USD trái phiếu Chính Phủ thời hạn 10 năm trên thị trường quốc tế với lợi tức 6,95% Số tiền thu được từ đợt phát hành 1
tỷ USD trái phiếu quốc tế này được tập trung vào các mục tiêu: (i) hoàn trả vốn ngân sách Nhà Nước, (ii) giao Bộ Kế hoạch & Đầu tư phối hợp Bộ Tài chính lựa chọn dự án phù hợp (dự kiến cho các Tập đoàn Dầu khí, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty Sông Đà và Tổng Công ty
lắp máy Việt Nam đầu tư bổ sung các dự án lọc hóa dầu Dung Quất, dự án xây dựng thủy điện Xê
Ca Mản 3, nhà máy thủy điện Hủa Na và mua tàu vận tải biển)
BẢNG SỐ LIỆU DƯ NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA CHÍNH PHỦ ĐƯỢC PHÂN THEO NHÓM NGƯỜI CHO VAY VÀ LOẠI CHỦ NỢ (2006-2010)
Trang 9(Đơn vị: Triệu USD)
Nợ của Chính phủ 14,610 15 17,270.60 18,916.05 23,942.51 27,857.76 Các chủ nợ chính thức 13,392.37 15,968.82 17,529.22 22,464.54 25,420.61
Song phương 7,292.26 8,418.00 9,481.16 11,565.56 12,999.10
Đa phương 6,100.11 7,550.82 8,048.07 10,898.98 12,421.51 Các chủ nợ tư nhân 1,217.78 1,301.79 1,286.82 1,477.97 2,437.15
Người nắm dữ trái phiếu 1,094.59 1,075.89 1,057.18 1,038.47 2,019.76 Các Ngân hàng thương
Các chủ nợ tư nhân
Biểu đồ dư nợ nước ngoài của Chính phủ và được Chính phủ bảo lãnh 2006-2010.
(Đơn vị: Triệu USD)
BẢNG MỘT SỐ CHỈ TIÊU GIÁM SÁT VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI (2006-2010)
(Đơn vị: %)
Tổng số dư nợ nước ngoài so với GDP (%) 31,4 32,5 29,8 39,9 42,2
Nợ nước ngoài khu vực công so GDP (%) 26,7 28,2 25,1 29,3 31,1
Trang 10(Biểu đồ về chỉ tiêu giám sát về nợ nước nước ngoài 2006-2010)
(Đơn vị: %)
3.2 Thực tiễn áp dụng thu NSNN từ vay nợ trong nước:
3.2.1 Thực tiễn áp dụng thu NSNN từ phát hành trái phiếu Chính phủ
Thu NSNN từ phát hành trái phiếu đã được bắt đầu triển khai ngay trong giai đoạn kháng chiến, tiếp tục được thực hiện trong giai đoạn xây dựng đất nước và phát triển cho đến hiện nay
Hiện nay, theo kế hoạch năm 2012, KBNN được giao nhiệm vụ huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ là 100 nghìn tỷ đồng và trái phiếu Chính phủ bảo lãnh là 59 nghìn tỷ
đồng Thực tế, trong 6 tháng đầu năm đã thu được 54,8 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ
(tương đương 55% kế hoạch); 32,6 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ bảo lãnh (tương đương 55%
kế hoạch) Bộ Tài chính vừa mới công khai số liệu về tổng thu phát hành trái phiếu Chính phủ tính
đến ngày 25/7/2012 đạt 67,482 tỷ đồng bằng 95,8 % thực hiện năm 2011, bằng 56,2% kế hoạch nhiệm vụ phát hành năm 2012 Theo số liệu vừa thống kê mới nhất của Bộ Tài chính thì trong tháng 8/2012 việc huy động vốn qua phát hành trái phiếu Chính phủ rất thuận lợi, kết quả huy động