Mục tiêu, câu hỏi nghiên cứuMục tiêu chung của đề tài là nhằm có được những đánh giá cụ thể về hiệu quả sản xuất Productive Efficiency và hiệu quả trung gian tài chính IntermediateEffici
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TP.HCM -
Nguyễn Thị Tuyết Mai
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH TÁI CẤU
TRÚC
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH
TẾ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TP.HCM
-Nguyễn Thị Tuyết Mai
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH TÁI CẤU
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứunghiêm túc của bản thân Số liệu trong luận văn được thu thập từ những nguồnthông tin đáng tin cậy Cơ sở lý luận được kế thừa, đúc kết từ các nghiên cứu có uytín trong nước và trên thế giới, được dẫn nguồn cụ thể, trung thực Các nhận định,kiến nghị trong khuôn khổ luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi và chưa từng đượccông bố Tôi xin cam đoan chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm
2016
Tác giả
Nguyễn Thị Tuyết Mai
Trang 4Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỤC LỤC
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ T ÀI 1
1.1.Lý do ch ọn đề t ài 1
1.2.M ục ti êu, câu h ỏi nghiên c ứu 2
1.3 Đối tượng n ghiên c ứu v à ph ạm vi nghi ên c ứu 2
1.4.Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Kết cấu đề tài 3
1.6.Ý ngh ĩa về khoa học v à th ực tiễn của đề t ài 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG QUÁ TRÌNH TÁI CẤU TRÚC 5
2.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả của ngân hàng thương mại 5
2.1.1 Khái niệm hiệu quả của ngân hàng thương mại 5
2.1.2 Phân loại hiệu quả của ngân hàng thương mại 8
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của ngân hàng thương mại 9
2.2 Cơ sở lý luận về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại 12
2.2.1 Khái niệm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại 12
2.2.2 Nội dung tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại 13
2.3 Hiệu quả của ngân hàng thương mại trong quá trình tái cấu trúc 17
2.4 Một số phương pháp nghiên cứu trong nước và trên thế giới về hiệu quả của ngân hàng thương mại trong quá trình tái cấu trúc 20
Kết luận chương 2 26
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH TÁI CẤU TRÚC 27
Trang 53.1 Sơ lược về quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai
đoạn 2011-2015 27
3.2 Thực trạng hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc 28
3.2.1 Thực trạng hiệu quả sản xuất của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc 29
3.2.1.1 Đối với các ngân hàng thương mại Nhà nước 29
3.2.1.2 Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần 34
3.2.2 Thực trạng hiệu quả trung gian tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc 43
3.2.2.1 Đối với các ngân hàng thương mại Nhà nước 43
3.2.2.2 Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần 45
Kết luận chương 3 51
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU QUẢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH TÁI CẤU TRÚC53 4.1 Giới thiệu về phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA 53
4.1.1 Phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA 53
4.1.2 Các biến được sử dụng trong phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA 57
4.2 Hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc 58 4.2.1 Hiệu quả sản xuất của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc 59
4.2.1.1 Đối với các ngân hàng thương mại Nhà nước 61
4.2.1.2 Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần 62
4.2.2 Hiệu quả trung gian tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc 66
4.2.2.1 Đối với các ngân hàng thương mại Nhà nước 66
4.2.2.2 Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần 69
Kết luận chương 4 71
Trang 6CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ VỀ HIỆU QUẢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH TÁI CẤU
TRÚC 73
5.1 Kết luận về hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc từ năm 2011-2014 73
5.2 Một số khuyến nghị 74
5.2.1 Khuyến nghị trong ngắn hạn 74
5.2.2 Khuyến nghị trong dài hạn 77
5.3 Mặt hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 79
5.3.1 Một số mặt hạn chế của đề tài 79
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT
TẮT
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
Quy mô không ảnh hưởng đến kết quả sản xuất
Phương pháp phân tích bao dữ liệu
Đơn vị ra quyết định
Tổng sản phẩm quốc nội
IMF : The International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ Quốc tế
Tỷ suất sinh lợi trên tài sản
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở
Trang 8VAMC : The Vietnam Asset Management Company
Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng
Quy mô ảnh hưởng đến kết quả sản xuất
Ngân hàng thế giới
Tổ chức Thương Mại Thế Giới
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 ROA của các NHTMNN Việt Nam trong quá trình tái cấu 0
trúcBảng 3.2 ROE của các NHTMNN Việt Nam trong quá trình tái cấu 30
trúc
trong quá trình tái cấu trúcBảng 3.4 NIE của các NHTMNN Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc 32
quá trình tái cấu trúcBảng 3.6 ROA của các NHTMCP trải qua tự tái cấu trúc bắt buộc hoặc 34
sáp nhập, hợp nhất trong quá trình tái cấu trúcBảng 3.7 ROE của các NHTMCP trải qua tự tái cấu trúc bắt buộc hoặc 35
sáp nhập, hợp nhất trong quá trình tái cấu trúcBảng 3.8 Tỷ lệ chi phí hoạt động/tài sản của các NHTMCP trải qua tự 36
tái cấu trúc bắt buộc hoặc sáp nhập, hợp nhất trong quá trìnhtái cấu trúc
Bảng 3.9 NIE của các NHTMCP trải qua tự tái cấu trúc bắt buộc hoặc 37
sáp nhập, hợp nhất trong quá trình tái cấu trúcBảng 3.10 Tỷ lệ chi tiêu/thu nhập của các NHTMCP trải qua tự tái cấu 37
trúc bắt buộc hoặc sáp nhập, hợp nhất trong quá trình tái cấutrúc
nhất trong quá trình tái cấu trúcBảng 3.12 Tỷ lệ chi phí hoạt động/tài sản của các NHTMCP chưa trải 40
qua sáp nhập, hợp nhất trong quá trình tái cấu trúc
Trang 10Bảng 3.13 NIE của các NHTMCP chưa trải qua sáp nhập, hợp nhất 41
trong quá trình tái cấu trúcBảng 3.14 Tỷ lệ chi tiêu/thu nhập của các NHTMCP chưa trải qua sáp 42
nhập, hợp nhất trong quá trình tái cấu trúcBảng 3.15 Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của các NHTMNN Việt Nam 44
trong quá trình tái cấu trúcBảng 3.16 Tỷ lệ cho vay trên huy động vốn của các NHTMNN Việt 45
Nam trong quá trình tái cấu trúcBảng 3.17 Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của các NHTMCP trải qua tự tái 47
cấu trúc bắt buộc hoặc sáp nhập, hợp nhất trong quá trình táicấu trúc
Bảng 3.18 Tỷ lệ cho vay trên huy động vốn của các NHTMCP trải qua 47
tự tái cấu trúc bắt buộc hoặc sáp nhập, hợp nhất trong quátrình tái cấu trúc
Bảng 3.19 Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của các NHTMCP chưa trải qua 49
sáp nhập, hợp nhất trong quá trình tái cấu trúcBảng 3.20 Tỷ lệ cho vay trên huy động vốn của các NHTMCP chưa trải 50
qua sáp nhập, hợp nhất trong quá trình tái cấu trúc
hình DEABảng 4.2 Tóm tắt kết quả phân tích bao dữ liệu DEA - Hiệu quả sản 60
xuất của các NHTM Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc
trong quá trình tái cấu trúcBảng 4.4 Hiệu quả sản xuất theo quy mô của các NHTMCP trải qua tự 64
tái cấu trúc bắt buộc hoặc sáp nhập, hợp nhất trong quá trìnhtái cấu trúc
Bảng 4.5 Hiệu quả sản xuất theo quy mô của các NHTM chưa trải qua 65
sáp nhập, hợp nhất Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc
Trang 11Bảng 4.6 Tóm tắt kết quả phân tích bao dữ liệu DEA - Hiệu quả trung 67
gian tài chính của các NHTM Việt Nam trong quá trình táicấu trúc
Bảng 4.7 Hiệu quả trung gian tài chính theo quy mô của các 68
NHTMNN Việt Nam trong quá trình tái cấu trúcBảng 4.8 Hiệu quả trung gian tài chính theo quy mô các NHTMCP 70
Việt Nam trải qua tự tái cấu trúc bắt buộc hoặc sáp nhập, hợpnhất trong quá trình tái cấu trúc
Việt Nam chưa trải qua sáp nhập, hợp nhất Việt Nam trongquá trình tái cấu trúc
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Biểu đồ 3.1 Số dư tín dụng của các NHTMNN Việt Nam trong 43
quá trình tái cấu trúc
tự tái cấu trúc bắt buộc hoặc sáp nhập, hợp nhất trongquá trình tái cấu trúc
qua sáp nhập, hợp nhất trong quá trình tái cấu trúc
quá trình tái cấu trúc
quá trình tái cấu trúc
Nam trong quá trình tái cấu trúc
Nam trong quá trình tái cấu trúc
Trang 13CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1 Lý do chọn đề tài
Hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đóng vai trò hết sứcquan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên, những thập kỷ gần đây, hệthống NHTM các nước trên thế giới đã diễn ra nhiều cuộc khủng hoảng Theo Caprio
và Klingebiel (2003), hơn hai phần ba các cuộc khủng hoảng hệ thống NHTM diễn ratại các nước đang phát triển Một trong những cuộc khủng hoảng khủng khiếp nhất lịch
sử tại các nước đang phát triển được Luc và Ariff (2008, 2009) nhắc đến như: tạiMexico 1994-1995, tại các nước Châu Á 1997-1998, tại các nước Đông Á 1997-1999,tại Bzazil 1999, tại Argentina 2001, tại Thổ Nhĩ Kỳ 2001-2002
Hiện nay, cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu kéo dài từnăm 2008 vẫn còn để lại hậu quả nặng nề mà nguyên nhân chính là sự kém hiệu quảcủa hệ thống NHTM lại tiếp tục đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc thực hiện tái cấu trúcnhằm khắc phục những yếu kém và khôi phục lại hiệu quả của các NHTM nói riêng,cũng như hệ thống NHTM nói chung
Tại Việt Nam, chủ trương tái cấu trúc hệ thống NHTM được nêu ra tại Hội nghịTrung Ương 3, khóa 11 (tháng 10/2011) thuộc một trong ba lĩnh vực chủ đạo, quantrọng nhất cần quyết tâm thực hiện nhằm đẩy lùi tác động, ảnh hưởng tiêu cực củakhủng hoảng, góp phần ổn định và phát triển kinh tế hiệu quả, bền vững Kể từ ngày01/03/2012, quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM được chính thức triển khai bằngquyết định phê duyệt đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015” của chính phủ Qua quá trình tái cấu trúc, hiệu quả của các NHTM Việt Nam đã
có nhiều thay đổi quan trọng, mang ý nghĩa to lớn trong sự phát triển chung của kinh tếđất nước Với tầm quan trọng đó, nhằm đánh giá hiệu quả của các NHTM Việt Namtrong quá trình tái cấu trúc giai đoạn 2011-2014 vừa qua, tác giả đã lựa chọn thực hiện
đề tài này
13
Trang 141.2 Mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu chung của đề tài là nhằm có được những đánh giá cụ thể về hiệu quả
sản xuất (Productive Efficiency) và hiệu quả trung gian tài chính (IntermediateEfficiency) của các NHTM Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc theo chủ trương củaChính phủ từ năm 2011-2014, từ đó đưa ra khuyến nghị
Mục tiêu cụ thể của đề tài:
- Có được những nhận định về thực trạng hiệu quả sản xuất và hiệu quả trung gian tài
chính của các NHTM Việt Nam trong quá trình tái cấu từ năm 2011-2014
- Đánh giá được về mức độ hiệu quả sản xuất và hiệu quả trung gian tài chính của các
NHTM Việt Nam trong giai đoạn này
- Đưa ra khuyến nghị nâng cao hiệu quả của các NHTM Việt Nam
Câu hỏi nghiên cứu tương ứng với từng mục tiêu cụ thể (nêu trên) như sau:
- Hiệu quả của NHTM và tái cấu trúc hệ thống NHTM là gì? Hiệu quả của NHTM
trong quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM như thế nào?
- Thực trạng hiệu quả sản xuất và hiệu quả trung gian tài chính của các NHTM Việt
Nam trong quá trình tái cấu trúc từ năm 2011-2014 như thế nào?
- Hiệu quả sản xuất và hiệu quả trung gian tài chính của các NHTM Việt Nam trong
quá trình tái cấu trúc từ năm 2011-2014 được đánh giá ra sao?
- Những kiến nghị nào cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và hiệu quả trung
gian tài chính của các NHTM Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc?
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả sản xuất và hiệu quả trung gian tài chính của
các NHTM Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc theo chủ trương của Chính phủ từnăm 2011-2014
Phạm vi nghiên cứu bao gồm hoạt động của 29 NHTM Việt Nam (Phụ lục 01)
từ năm 2011-2014, không bao gồm NHTM 100% vốn Nhà nước, NHTM 100% vốnnước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã, chinhánh-văn phòng đại diện các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
Trang 151.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài tương ứng với từng mục tiêu nghiên cứu cụthể (nêu trên) như sau:
- Tham khảo, tổng hợp lại lý thuyết, cơ sở lý luận từ các nghiên cứu về hiệu quả của
NHTM trong quá trình tái cấu trúc đã có trong nước và trên thế giới
- Thu thập số liệu, so sánh, thống kê, mô tả để phân tích về thực trạng hiệu quả sản xuất
và hiệu quả trung gian tài chính của các NHTM Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc
từ năm 2011-2014
- Ứng dụng phương pháp bao dữ liệu DEA (Data Envelopment Analysis) để ước lượng
hiệu quả sản xuất và hiệu quả trung gian tài chính của các NHTM Việt Nam trongquá trình tái cấu trúc từ năm 2011-2014
- Tổng kết kết quả nghiên cứu của đề tài để nêu ra một số khuyến nghị nâng cao hiệu quả
của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn sắp tới
1.5 Kết cấu đề tài gồm 5 chương
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận về hiệu quả của NHTM trong quá trình tái cấu trúc Chương 3: Thực trạng hiệu quả của các NHTM Việt Nam trong quá trình tái
cấu trúc
Chương 4: Kết quả nghiên cứu về hiệu quả của các NHTM Việt Nam trong quá
trình tái cấu trúc
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị về hiệu quả của các NHTM Việt Nam
trong quá trình tái cấu trúc
1.6 Ý nghĩa về khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đề tài đã tổng hợp lại các sơ sở lý luận về hiệu quả của NHTM và tái cấu trúc hệ thống
NHTM, giới thiệu một số phương pháp nghiên cứu phổ biến được sử dụng trên thếgiới Các kiến thức nền tảng này có thể được tham khảo để tiếp tục sử dụng trongviệc nghiên cứu đối với các đề tài khác có liên quan
Trang 16- Đề tài đã trình bày một cách tổng quan về thực trạng hiệu quả sản xuất, hiệu quả trung
gian tài chính của các NHTM Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc theo chủtrương của Chính phủ từ năm 2011-2014 và đưa ra nhận định về mức độ hiệu quả sảnxuất và hiệu quả trung gian tài chính của các NHTM Việt Nam trong thời gian này
- Đề tài đóng góp các khuyến nghị cụ thể về hiệu quả của các NHTM Việt Nam trong
quá trình tái cấu trúc
Trang 17CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CỦA NHTM TRONG QUÁ TRÌNH TÁI CẤU TRÚC
2.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả của NHTM
2.1.1 Khái niệm hiệu quả của NHTM
Theo lý thuyết kinh tế doanh nghiệp, hoạt động của ngân hàng cũng như mộtdoanh nghiệp bất kỳ đều diễn ra trong một môi trường kinh doanh mà tại đó các nhàquản lý đều cố gắng để tối đa hóa lợi nhận bằng cách cố gắng điều hành hoạt động sảnxuất theo cách hiệu quả nhất có thể (Evanoff và Israilevich, 1991)
Theo Kablan (2010), hiệu quả là khả năng tạo ra kết quả với nguồn lực tối thiểu,được đo lường bằng cách so sánh với đường biên sản xuất Nói cách khác, đó là khảnăng kết hợp tối ưu các yếu tố đầu vào để tạo ra một đơn vị đầu ra NHTM sử dụng cácnguồn lực như: lao động, cơ sở vật chất (vốn vật chất), nguồn tài chính (vốn tài chính)cho hoạt động: nhận tiền gửi, cho vay, đầu tư và cung cấp dịch vụ
Tương tự như vậy, trong nghiên cứu của mình về tái cấu trúc và hiệu quả hoạtđộng các NHTM Đài Loan, Chang và cộng sự (2010) cũng nêu rằng hiệu quả thể hiệnkhả năng quản lý trong việc kiểm soát chi phí và sử dụng nguồn lực để tạo ra đầu ra
Trong các nghiên cứu về hoạt động ngân hàng, một số tác giả theo cách tiếp cậnsản xuất coi ngân hàng như các đơn vị sản xuất: Benston (1965), Ferrier và cộng sự(1990), Schaffinit và cộng sự (1997), Zenios và cộng sự (1999); một số tác giả theocách tiếp cận trung gian xem ngân hàng như các trung gian tài chính: Sealey vàLindley (1977), Maudos và cộng sự (2002), Casu và cộng sự (2003); và một số kháctheo cách tiếp cận hiện đại cho rằng ngân hàng đóng cả hai vai trò này: Frexias vàRochet (1997), Denizer và cộng sự (2000), Athanassopoulos và Giokas (2000)
Tóm lại, theo các cách tiếp cận này, hiệu quả của ngân hàng bao gồm hai khíacạnh cơ bản là hiệu quả sản xuất (Productive efficiency) và hiệu quả trung gian tàichính (Intermediate efficiency)
Theo cách tiếp cận sản xuất: Các NHTM cũng được xem như là các nhà cung
cấp dịch vụ cho khách hàng Các đầu vào thiết lập theo cách tiếp cận này bao gồm các
Trang 18yếu tố có trạng thái vật lý (lao động, vật liệu, không gian, các thông tin hệ thống, ),các chi phí cần thiết để thực hiện giao dịch tài chính hoặc cung cấp dịch vụ cho kháchhàng Các đầu ra theo cách tiếp cận này thể hiện các dịch vụ tài chính ngân hàng cungcấp cho khách hàng và được đo lường bởi số lượng và loại giao dịch, số lượng văn bản
xử lý được hoặc các dịch vụ chuyên cung cấp trong một khoảng thời gian nhất định.Trong trường hợp không có số liệu lưu lượng giao dịch chi tiết thì thay thế bằng các dữliệu về tiền gửi, thu nhập cho vay, dịch vụ được cung cấp Cách tiếp cận này chủ yếuđược sử dụng trong nghiên cứu hiệu quả của các ngân hàng cụ thể (Benston, 1965)
Theo cách tiếp cận trung gian: Các lý thuyết kinh tế vi mô truyền thống cho
rằng ngân hàng và công ty chỉ khác nhau ở đặc điểm hoạt động Các ngân hàng sảnxuất dịch vụ trung gian tài chính thông qua huy động vốn từ nền kinh tế để đầu tư vàocác tài sản sinh lãi Cách tiếp cận này bao gồm cả chi phí hoạt động và lãi suất là yếu
tố đầu vào, trong khi các khoản vay và tài sản lớn khác được tính là kết quả đầu ra.Tuy nhiên, có nhiều tranh luận về phương pháp này trong việc xác định tiền gửi phảiđược coi là đầu vào hay đầu ra (Sealey và Lindley, 1977)
Theo Elyasiani và Mehdian (1990a, 1990b) và Mester (1987), đầu ra trong hoạtđộng trung gian tài chính là tài sản của ngân hàng, trong khi các khoản tiền gửi, vốn,lao động và được xem như là yếu tố đầu vào Khoản mục quan trọng nhất trong cơ cấulợi nhuận của ngân hàng là thu nhập lãi, phụ thuộc vào lượng cho vay Do đó, khả năngphát triển tín dụng của ngân hàng là rất quan trọng trong các giai đoạn trung gian tàichính Nếu vốn cho vay được xem như là một sản phẩm thì đơn giá sản phẩm là lãisuất cho vay Ngoài ra, nguồn vốn đi vay là các khoản tiền gửi của các chủ sở hữuvốn Do đó, tiền gửi có thể được xem như là đầu vào để tạo ra các khoản vay như mộtsản phẩm trong giai đoạn sản xuất Đơn giá là lãi suất tiền gửi, và chi phí kinh doanh
Cách tiếp cận hiện đại kết hợp và cải tiến từ hai cách tiếp cận trên khi đưa một
số hoạt động cụ thể của ngân hàng vào lý thuyết cổ điển Nghiên cứu về việc xác địnhcác đầu ra trong hoạt động của NHTM đã hình thành nên nhiều phương pháp tiếp cậnhiện đại cụ thể hơn như: (i) Tiếp cận theo tài sản; (ii) Tiếp cận theo chi phí sử dụng;
Trang 19(iii) Tiếp cận theo giá trị gia tăng; (iv) Tiếp cận theo phương diện hoạt động (Frexias
và Rochet, 1997)
(i) Tiếp cận theo tài sản (Sealy & Lindley, 1977) tương tự như cách tiếp cận trung gian
trong lý thuyết cổ điển khi tập trung vào vai trò trung gian tài chính giữa người gửitiền và người sử dụng tài sản cuối cùng của ngân hàng Tiền gửi và các khoản nợkhác, cùng với nguồn lực thực tế (lao động, vốn ) được xác định là đầu vào, trong khiđầu ra bao gồm các tài sản của ngân hàng như cho vay, hoặc tiền đi gửi
(ii) Tiếp cận theo chi phí sử dụng (Hancock, 1985) xác định liệu một sản phẩm tài chính là
một đầu vào hay đầu ra dựa trên cơ sở mức độ đóng góp của vào doanh thu ròng củangân hàng Nếu lợi nhuận tài chính trên một tài sản lớn hơn chi phí cơ hội của vốn,hoặc nếu các chi phí tài chính của các khoản nợ phải trả ít hơn chi phí cơ hội thì nóđược coi là kết quả đầu ra Ngược lại, nó được coi là yếu tố đầu vào
(iii) Tiếp cận giá trị gia tăng (Berger, Hanweck & Humphrey, 1987) xác định rằng các số
liệu trên bảng cân đối kế toán (tài sản hoặc nợ phải trả) như là đầu ra, đóng góp vàogiá trị gia tăng của ngân hàng Ví dụ như, kinh doanh gắn liền với những nhu cầu vềnguồn lực thực Nói chung, theo cách tiếp cận này, các hạng mục chính của cáckhoản tiền gửi (ví dụ: tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn) và cho vay (ví dụ: chovay khách hàng, cho vay các TCTD, tiền gửi tại các TCTD khác) được xem như là kếtquả đầu ra vì chúng thể hiện giá trị gia tăng của ngân hàng Các phương pháp tiếp cậnhiện đại tìm cách tích hợp thêm một số biện pháp đo lường rủi ro, chi phí đại diện vàchất lượng của các dịch vụ ngân hàng Một trong những sáng tạo của phương pháp này
là đề cập đến chất lượng tài sản và xác suất thất bại của ngân hàng trong tính toán cácchi phí bằng việc áp dụng một số chỉ tiêu của phương pháp CAMELS
(iv) Tiếp cận hoạt động (hoặc tiếp cận dựa trên thu nhập) (Leightner và Lovell, 1998)
tương tự như cách tiếp cận sản xuất trong lý thuyết cổ điển khi xem ngân hàng là đơn
vị kinh doanh với mục tiêu cuối cùng là tạo thu nhập từ tổng chi phí phát sinh cho hoạtđộng kinh doanh Theo đó, cách tiếp cận này định nghĩa các đầu ra của ngân hàng
Trang 20là tổng doanh thu (từ lãi vay hoặc từ các hình thức cung cấp dịch vụ phi lãi suất khác)
và các đầu vào như tổng chi phí (lãi suất và chi phí hoạt động)
Từ các nghiên cứu trên, theo tác giả có thể khái quát khái niệm hiệu quả của
NHTM như sau: Hiệu quả của NHTM là khả năng kết hợp tối ưu nhằm tối thiểu hóa
các yếu tố đầu vào như nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, nhân lực và các yếu tố khác trong các hoạt động trung gian tài chính và kinh doanh của bản thân NHTM như huy động vốn, cho vay, đầu tư và cung cấp dịch vụ, để đạt được kết quả đầu ra tối đa.
2.1.2 Phân loại hiệu quả của NHTM
- Phân loại hiệu quả của NHTM theo quan điểm hoạt động: Theo quan điểm hoạt
động, hiệu quả của NHTM tập trung vào hai hoạt động chính của NHTM: (i) Hiệu quả
sản xuất (Productive Efficiency) và (ii) Hiệu quả trung gian tài chính (IntermediateEfficiency) (Das và Ghosh, 2006)
(i) Hiệu quả sản xuất (Productive Efficiency) là sự kết hợp tối ưu nhằm tối đa hóa sản
phẩm đầu ra với một lượng tối thiểu yếu tố đầu vào trong bản thân các hoạt độngkinh doanh của NHTM Đo lường hiệu quả sản xuất bao gồm việc xác định và đánhgiá hiệu quả chuyển hóa các yếu tố đầu vào (như chi phí hoạt động, chi phí lãi vay,các chi phí vốn khác) thành các yếu tố đầu ra (thu nhập lãi, thu nhập phi lãi)
(ii) Hiệu quả trung gian tài chính (Intermediate Efficiency) là mức độ hiệu quả trong
chức năng trung chuyển tài chính của NHTM giữa người gửi và người vay thông quađánh giá hiệu quả chuyển hóa các yếu tố đầu vào (như tiền gửi, chi phí hoạt động, chiphí lãi vay, các chi phí vốn có liên quan) thành các yếu tố đầu ra (các khoản chovay, các tài sản tài chính khác)
- Phân loại hiệu quả của NHTM theo quan điểm kinh tế: Theo quan điểm kinh tế,
hiệu quả của NHTM cũng như doanh nghiệp nói chung có hai thành phần là (i) Hiệuquả kỹ thuật (Technical Efficiency) và (ii) Hiệu quả phân bổ (Allocative Efficiency)(Farrell, 1957; Lovell, 1993)
(i) Hiệu quả kỹ thuật (Technical Efficiency) là tính hiệu quả trong quá trình sản xuất kinh
doanh bằng cách tối đa hóa đầu ra với một lượng đầu vào nhất định hoặc tối
Trang 21thiểu hóa đầu vào để sản xuất ra một lượng đầu ra theo kế hoạch Hiệu quả kỹ thuậtbao gồm hiệu quả theo kỹ thuật thuần túy (Pure Technical Efficiency-PTE) và hiệu quảtheo quy mô (Scale Efficiency-SE)
(ii) Hiệu quả phân bổ (Allocative Efficiency) là tính hiệu quả trong việc phân bổ các loại
chi phí đầu vào cùng lúc cho nhiều sản phẩm đầu ra trong hoạt động của NHTMtheo tỷ lệ tối ưu dựa trên cơ sở giá cả hiện hành
- Phân loại hiệu quả của NHTM theo quan điểm quản lý: Theo quan điểm quản lý,
Maudos và cộng sự (2002) nghiên cứu hiệu quả của NHTM theo (i) Hiệu quả về chiphí (Cost Efficiency) và (ii) Hiệu quả về lợi nhuận (Profit Efficiency)
(i) Hiệu quả về chi phí (Cost Efficiency) thể hiện hiệu quả quản lý của NHTM trong tối
thiểu hóa chi phí đầu vào, và được đo lường bằng cách so sánh chi phí thực hiện vớichi phí tối thiểu có thể được dùng để sản xuất ra một lượng đầu ra nhất định
(ii) Hiệu quả về lợi nhuận (Profit Efficiency) thể hiện hiệu quả quản lý của NHTM
trong việc tối đa hóa lợi nhuận và cũng được đo lường bằng cách so sánh lợi nhuậncủa NHTM với lợi nhuận tối đa có thể thực hiện được trong điều kiện cụ thể về giá cảđầu vào và giá cả đầu ra
Như đã nêu trên, phân loại hiệu quả theo quan điểm hoạt động phù hợp với cáckhía cạnh hoạt động cơ bản của NHTM Trong khuôn khổ của đề tài lựa chọn đánh giáhiệu quả các NHTM Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc từ năm 2011-2014 theo quanđiểm hoạt động, bao gồm: Hiệu quả sản xuất (Productive Efficiency), và Hiệu quảtrung gian tài chính (Intermediate Efficiency)
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của NHTM
Theo Gul và cộng sự (2011), hiệu quả của NHTM chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu
tố và được phân thành hai nhóm: Các yếu tố nội tại (Internal Factors) và các yếu tố bênngoài (External Factors) Theo đó, các yếu tố nội tại thể hiện các đặc điểm riêng củaNHTM, chủ yếu bị chi phối bởi các quyết định về quản lý và mục tiêu chính sách củabản thân mỗi ngân hàng Trong khi đó, Các yếu tố bên ngoài phản ánh các mối liên hệ
Trang 22giữa NHTM với các thành phần kinh tế khác, ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ môđến nền kinh tế cũng như môi trường pháp lý hoạt động của NHTM.
- Các yếu tố nội tại (Internal Factors) của NHTM như:
(i) Năng lực tài chính thể hiện ở tính quy mô và khả năng mở rộng tài sản, nguồn vốn của
NHTM Theo đó, năng lực tài chính của NHTM ảnh hưởng tích cực tới hoạt độngkinh doanh cũng như trung gian tài chính của NHTM như: huy động vốn, cho vay,đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ tài chính, (Gul và cộng sự, 2011)
(ii) Khả năng sinh lời: Theo Dziobek và Pazarbasioglu (1997 và 1998), khả năng sinh lời
của NHTM được thể hiện bằng một số chỉ tiêu như tỷ lệ chi phí hoạt động/tài sản, thunhập lãi/tài sản và lợi nhuận/tài sản Tái cấu trúc hoạt động tác động đến khả năngsinh lời của NHTM bằng các biện pháp nhằm giảm chi phí, tăng thu nhập lãi và tănglợi nhuận, qua đó các ngân hàng có thể tăng vốn và khả năng phát triển của mình
(iii) Khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro của NHTM thể hiện qua việc tuân thủ theo
các quy định về trích lập dự phòng rủi ro, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và các quyđịnh kiểm soát rủi ro để đảm bảo hoạt động của NHTM ở mức an toàn, ổn định(Gul và cộng sự, 2011)
(iv) Năng lực quản trị, điều hành phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, trình độ
lao động và cơ chế điều hành của bản thân NHTM để có thể ứng phó tốt trước nhữngdiễn biến phức tạp của thị trường Năng lực quản trị, điều hành được phản ánh bằngkhả năng giảm thiểu chi phí họat động trong kinh doanh để nâng cao năng suất sửdụng các yếu tố đầu vào nhằm tạo ra hiệu quả tốt nhất (Gul và cộng sự, 2011)
(v) Khả năng tiếp cận các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ: Mỗi NHTM phải không ngừng
cải tiến nền tảng công nghệ thông tin để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh Khảnăng tiếp cận các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ của ngân hàng thể hiện ở khả năngtrang bị công nghệ mới gồm thiết bị và con người, tính liên kết công nghệ giữa cácngân hàng và tính độc đáo của mỗi ngân hàng (Gul và cộng sự, 2011)
(vi) Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất trong hoạt động của bất kỳ tổ chức nào.
Chất lượng của nguồn nhân lực phải được nâng cao để đáp ứng kịp thời nhu cầu
Trang 23kinh doanh của ngân hàng Việc sử dụng nguồn nhân lực có đạo đức nghề nghiệp,chuyên môn cao sẽ giúp ngân hàng mở rộng quy mô khách hàng, ngăn ngừa đượcnhững rủi ro có thể xảy ra trong các hoạt động kinh doanh, đầu tư và đây cũng là nhân
tố giúp các ngân hàng giảm thiểu được các chi phí họat động (Gul và cộng sự, 2011)
- Các yếu tố bên ngoài (External Factors) như:
(i) Nền tảng, cở sở pháp lý hoạt động của hệ thống NHTM thể hiện ở tính đồng bộ, đầy
đủ và phổ cập của hệ thống luật, văn bản dưới luật, việc chấp hành luật pháp và trình
độ dân trí (Gul và cộng sự, 2011) Khác với các nước có nền kinh tế thị trường pháttriển, tại Việt Nam, mặc dù đã chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch tập trung sang kinh tếthị trường nhưng hệ thống luật pháp còn nhiều thiếu sót, do đó có thể tạo ra sự thiếuniềm tin vào hệ thống NHTM Môi trường pháp lý đóng vai trò cực kỳ quan trọng đốivới các họat động kinh tế nói chung và đối với họat động của NHTM nói riêng, là cơ
sở tiền đề cho sự phát triển ổn định và bền vững của hệ thống NHTM
(ii) Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước: NHTM là trung gian tài
chính giữa khu vực tiết kiệm và đầu tư của nền kinh tế, do vậy những biến độngcủa môi trường kinh tế, chính trị, xã hội có những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt độngcủa NHTM Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợicho các NHTM, vì đây cũng là điều kiện giúp cho sản xuất của nền kinh tế diễn rabình thường, đảm bảo khả năng hấp thụ vốn và hoàn trả vốn của các doanh nghiệp Khinền kinh tế có tăng trưởng và ổn định, các khu vực trong nền kinh tế đều có nhu cầu
mở rộng họat động sản xuất, kinh doanh, do đó nhu cầu vay vốn tăng, từ đó các NHTM
dễ dàng mở rộng họat động tín dụng của mình đồng thời giảm nợ xấu vì năng lực tàichính của các doanh nghiệp được nâng cao Ngược lại, khi môi trường kinh tế, chínhtrị, xã hội bất ổn làm giảm hiệu quả của các NHTM
(iii) Ngoài các nhân tố bên ngoài nêu trên, các yếu tố khác như: tập quán, tâm lý, xã hội,
khuynh hướng tiết kiệm, đầu tư, trình độ dân trí… cũng là những nhân tố bênngoài tác động đến hiệu quả của các NHTM
Trang 242.2 Cơ sở lý luận về tái cấu trúc hệ thống NHTM
2.2.1 Khái niệm tái cấu trúc hệ thống NHTM
Thuật ngữ “Tái cấu trúc” trong nguồn gốc Tiếng Anh là “Restructuring” được
sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu trên thế giới từ thập niên 90 đến nay Tronglĩnh vực ngân hàng, phần lớn các đề tài thống nhất áp dụng theo cách sử dụng thuậtngữ từ các nghiên cứu, báo cáo do Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới(WB) đã công bố
Theo Waxman (1998) tại báo cáo “The legal framework for systemic bankrestructuring” của WB, thuật ngữ “Bank Restructuring” được sử dụng phổ biến khi nói
về tái cấu trúc của một ngân hàng cụ thể, còn thuật ngữ “Systemic Bank Restructuring”
là “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng” Theo đó, đối tượng của tái cấu trúc có thể baogồm: Hệ thống NHTM, NHTW, một NHTM hoặc chi nhánh ngân hàng cụ thể, hoặc tất
cả các thành phần của hệ thống ngân hàng Cách sử dụng này cũng phù hợp với các đềtài khác do WB hay IMF công bố của các tác giả như: Sheng (1996), Alexander vàcộng sự (1997), Dziobek và Pazarbasioglu (1998) Thống nhất với quan điểm củaAlexander và cộng sự (1997), cũng tại báo cáo này Waxman (1998) cho rằng, khinhững thất bại trong hệ thống ngân hàng có dấu hiệu lây lan làm ảnh hưởng đến hơn20% tổng lượng tiền gửi của hệ thống ngân hàng, gói giải pháp về thể chế và quy địnhdùng để giải quyết các ngân hàng yếu kém và đưa hệ thống ngân hàng trở nên mạnh
mẽ, bền vững hơn được gọi là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
Tương tự như vậy, Dziobek và Pazarbasioglu (1997) cũng cho rằng, một nướcđược coi là đang trong một cuộc khủng hoảng ngân hàng nếu ít nhất một phần nămtổng số tiền gửi trong hệ thống ngân hàng bị ảnh hưởng Tái cấu trúc hệ thống ngânhàng không giống như tái cấu trúc một ngân hàng cụ thể mà theo Waxman (1998), táicấu trúc hệ thống ngân hàng là một quá trình lâu dài bao gồm thực hiện hàng loạt cácgiải pháp tiến bộ nhằm duy trì hệ thống thanh toán quốc gia và khả năng tiếp cậnnguồn tín dụng, đồng thời xử lý những vấn đề của hệ thống tài chính do khủng hoảng
Trang 25hoặc có thể tác động lên tình trạng khủng hoảng Đặc biệt là đối với các nước đangphát triển, việc kết hợp thực hiện các giải pháp với nhau có vai trò rất quan trọng.
Phạm vi các chương trình, kế hoạch của Chính phủ trong tái cấu trúc hệ thốngngân hàng bao gồm cả xác định ở tầm vĩ mô những nguyên nhân cơ bản của các vấn đềmang tính hệ thống cũng như nỗ lực ở tầm vi mô để cải thiện giám sát ngân hàng, sửachữa những điểm yếu trong khung kế toán, pháp lý và quy định, và phục hồi chức nănghoặc giải quyết các ngân hàng mất khả năng thanh toán Sự thành công hay thất bại củatái cấu trúc hệ thống ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào việc thiết kế một chiến lược toàndiện để giải quyết tất cả những vấn đề này (Waxman, 1998)
Theo Dziobek và Pazarbasioglu (1998) tại báo cáo “Lessons from Systemicbank restructuring” của IMF, Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng nhằm mục tiêu cải thiệnhiệu quả của cả hệ thống ngân hàng, đó là khôi phục thanh khoản và khả năng sinh lời,cải thiện năng lực của hệ thống ngân hàng trong vai trò trung gian tài chính giữa ngườigửi tiền và người đi vay, và khôi phục lòng tin của công chúng đối với hệ thống ngânhàng Theo đó, về cơ bản tái cấu trúc hệ thống ngân hàng bao gồm: Tái cấu trúc tàichính (Financial Restructuring), tái cấu trúc hoạt động (Operational Restructuring) vànền tảng về cơ chế, thể chế cho tái cấu trúc (Legal Framework for Restructuring) Bêncạnh đó, theo Nyberg (1997), tái cấu trúc hệ thống ngân hàng có liên quan chặt chẽ vớitình kinh tế vĩ mô, một số vấn đề của hệ thống ngân hàng cũng có thể được giải quyếtthông qua các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tiền tệ hay chủ trương tái cấutrúc doanh nghiệp
Như vậy, từ những nghiên cứu trên, theo tác giả có thể khái quát về khái niệm
tái cấu trúc hệ thống NHTM như sau: Tái cấu trúc hệ thống NHTM là một quá trình
lâu dài bao gồm nhiều biện pháp về thể chế và quy định được áp dụng để khôi phục thanh khoản, khả năng sinh lời, cải thiện năng lực trung gian tài chính, và khôi phục lòng tin của công chúng đối với hệ thống NHTM nhằm mục tiêu giải quyết các NHTM yếu kém và đưa hệ thống NHTM trở nên mạnh mẽ, bền vững hơn.
2.2.2 Nội dung tái cấu trúc hệ thống NHTM
Trang 26Theo Dziobek và Pazarbasioglu (1998), nội dung của tái cấu trúc hệ thốngNHTM bao gồm: (i) Tái cấu trúc tài chính; (ii) Tái cấu trúc hoạt động, (iii) Nền tảng về
cơ chế, thể chế cho tái cấu trúc
Theo đó, Dziobek và Pazarbasioglu (1998) cho rằng tái cấu trúc tài chính nhằmkhôi phục khả năng thanh toán là bước đầu tiên trong quá trình tái cấu trúc hệ thốngngân hàng Tuy nhiên, để tránh tình trạng mất khả năng thanh toán lặp lại một lần nữathì phải thực hiện tái cấu trúc hoạt động để khôi phục khả năng sinh lời của ngân hàng,đồng thời trong quá trình đó cần thiết phải xây dựng nền tảng cơ chế, thể chế để cókhung pháp lý, quản lý, giám sát, tuân thủ phù hợp cho tái cấu trúc
(i) Tái cấu trúc tài chính nhằm khôi phục khả năng thanh toán của hệ thống NHTM.
Cụ thể:
- Đối với NHTM: Tái cấu trúc tài chính nhằm cố gắng khôi phục khả năng thanh toán (giá
trị ròng-Net Worth) bằng cách cải thiện bảng cân đối kế toán của NHTM Việcquản lý tài sản không hiệu quả có thể làm tăng chi phí tái cấu trúc, do đó cần thiết phảiphân cấp, tập trung quản lý để tối đa hóa giá trị thu hồi các tài sản có vấn đề (như cáckhoản nợ xấu), đồng thời duy trì giá trị tài sản hiện tại Các giải pháp tái cấu trúc tàichính NHTM để cải thiện bảng cân đối kế toán bằng cách tăng vốn hoặc xử lý tàisản kém hiệu quả
+ NHTM có thể tăng vốn bằng cách: Phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông hiệnhữu, cổ đông mới, hoặc cho chính phủ; Sáp nhập vào ngân hàng khác; Hợp tác với cácngân hàng nước ngoài có tiềm lực mạnh (Twinning) (Dziobek và Pazarbasioglu, 1998)
+ NHTM xử lý tài sản kém hiệu quả bằng cách: Nghiêm túc thực hiện quản lýchất lượng nợ, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro, xử lý nợ xấu bằng nhiều nỗ lựcnhư bán nợ, thu hồi nợ, xử lý tài sản (Dziobek và Pazarbasioglu, 1998)
- Đối với hệ thống NHTM: Dziobek và Pazarbasioglu (1998) nêu một số giải pháp tái
cấu trúc tài chính nhằm khôi phục khả năng thanh toán của hệ thống NHTM như: Sự
hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống NHTM từ NHTW hoặc cho phép vay của cộngđồng hay ngân hàng khác; Đóng cửa các ngân hàng mất khả năng thanh toán; Tư
Trang 27nhân hóa; Quản lý, định hướng, chỉ đạo việc sáp nhập, hợp nhất trong hệ thốngNHTM; Tái cấu trúc doanh nghiệp để tăng khả năng trả nợ; Chứng khoán hóa nợ xấu;Thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản.
(ii) Tái cấu trúc hoạt động nhằm duy trì khả năng sinh lời một cách ổn định của hệ thống
NHTM Cụ thể:
- Đối với NHTM: Tái cấu trúc hoạt động đối với từng NHTM để tăng khả năng sinh lời
bằng các giải pháp cụ thể như đổi mới cơ chế chính sách, chiến lược kinh doanh,cải thiện năng lực quản trị điều hành, hệ thống kế toán và những kỹ thuật thẩm địnhtín dụng và cho vay tốt hơn, chi phí hoạt động có thể được cắt giảm bằng cách đóngcửa các chi nhánh và sa thải bớt nhân viên (Dziobek và Pazarbasioglu, 1998)
- Đối với hệ thống NHTM: Theo Nyberg (1997), các vấn đề trong hoạt động của hệ thống
NHTM ảnh hưởng và có thể làm trì trệ sự phục hồi của nền kinh tế Do vậy, thôngqua đánh giá toàn diện về hoạt động và rủi ro đối với hệ thống NHTM, có thể xemxét đóng cửa một số NHTM yếu kém (tuy nhiên các vấn đề liên quan cần được cânnhắc cẩn thận) Bên cạnh đó, Nyberg (1997) cũng nêu rằng, giải pháp đóng cửaNHTM có thể gây nhiều hệ lụy, vì vậy tái cấu trúc hệ thống NHTM cần thiết khuyếnkhích các NHTM lớn (ưu tiên các NHTM tốt) thể hiện được sự đóng góp của mìnhtrong quá trình tái cấu trúc thông qua việc tham gia hỗ trợ về vốn, nhân sự, kỹ thuậthoặc cho phép nhận sáp nhập đối với các NHTM yếu kém Nyberg (1997) đánh giá cao
sự tác động qua lại giữa hệ thống NHTM đối với nền kinh tế nói chung, theo đó tái cấutrúc hệ thống NHTM cần được thực hiện cùng với tái cấu trúc hoạt động doanh nghiệp
(iii) Xây dựng, hoàn thiện nền tảng cơ chế, thể chế cho tái cấu trúc:
- Đối với NHTM: cần đáp ứng tính tuân thủ trong thực hiện chủ trương, chỉ đạo của
NHTW về tái cấu trúc hệ thống NHTM bằng cách kiện toàn và nâng cao vai trò củakiểm tra kiểm soát nội bộ, đảm bảo tính tuân thủ quy trình, quy định của Nhà nước vàkịp thời báo cáo tình trạng, tiến độ thực hiện tái cấu trúc của NHTM
- Đối với hệ thống NHTM: xây dựng, hoàn thiện nền tảng cơ chế, thể chế cho tái cấu trúc
nhằm hỗ trợ thực hiện chức năng trung gian tài chính của hệ thống NHTM với
Trang 28các nội dung cụ thể như: tăng cường hoạt động giám sát ngân hàng, ứng dụng tiêuchuẩn quốc tế về kế toán và kiểm toán, ngăn chặn tình trạng vỡ nợ, xây dựng nền tảngpháp lý cho tái cấu trúc hệ thống NHTM như quy định về việc cấp phép, giám sát vàđóng cửa các ngân hàng, khung pháp lý cho tái cấu trúc hệ thống tài chính, tái cấu trúcdoanh nghiệp vay vốn, xử lý tài sản bảo đảm và việc thực thi một cách minh bạch,công bằng Đôi khi một vài biện pháp khác như cung cấp bảo hiểm tiền gửi và ngườicho vay cuối cùng cũng cần thiết (Dziobek và Pazarbasioglu, 1998)
Nền tảng cơ chế, thể chế cho tái cấu trúc là yếu tố thiết yếu để thực hiện nhữngchỉ đạo điều hành của Chính phủ Theo Waxman (1998), thách thức đối với Chính phủtrong tái cấu trúc hệ thống NHTM là làm thế nào để giải quyết các cuộc khủng hoảngtrước mắt mà không làm ảnh hưởng xấu đến khả năng giải quyết các vấn đề trong dàihạn Chính vì vậy, các bước ban đầu của tái cấu trúc nhằm khôi phục lại niềm tin củacông chúng đối với toàn bộ hệ thống NHTM chứ không phải chủ trương cải cách toàndiện ngay từ đầu Để đạt được những thành công trong dài hạn thì tái cấu trúc hệ thốngNHTM nên sử dụng các giải pháp có chi phí hợp lý, đơn giản dễ thực hiện, giảm thiểugánh nặng cho khu vực công, tránh tạo ra rủi ro đạo đức trong tương lai và đề cao quảntrị điều hành Với quan điểm như vậy, nền tảng pháp lý liên quan đến tái cấu trúc hệthống NHTM bao gồm: (i) Khôi phục lại niềm tin vào hệ thống NHTM; (ii) Thiết lập
cơ chế cho sự can thiệp của Chính Phủ; (iii) Xây dựng cơ sở pháp lý cho việc can thiệpvào các NHTM yếu kém; (iv) Xây dựng các cơ sở pháp lý xử lý nợ xấu
Theo Dziobek và Pazarbasioglu (1997), hai mặt hoạt động của hệ thống NHTMbao gồm khả năng thanh toán và khả năng sinh lời có mối liên hệ mật thiết với nhau.Tái cấu trúc tài chính giúp cải thiện khả năng thanh toán bằng các giải pháp tác độnglên bảng cân đối kế toán và lưu chuyển tiền tệ Trong khi đó tái cấu trúc hoạt động ảnhhưởng đến thu nhập của NHTM, hay nói cách khác là ảnh hưởng đến báo cáo kết quảkinh doanh Qua mối liên hệ này, tái cấu trúc tài chính và tái cấu trúc hoạt động có ảnhhưởng qua lại và đều tác động lên BCTC của NHTM, hay nói cách khác về gián tiếp
Trang 29thì tái cấu trúc tài chính cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và tài cấu trúc hoạtđộng cũng ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của hệ thống NHTM.
Kinh nghiệm tái cấu trúc ngân hàng trên thế giới cho thấy, tùy vào tình hình của
hệ thống NHTM mỗi quốc gia để có những chính sách cụ thể thích hợp, tuy nhiênnhững giải pháp đúng đắn được đưa ra kịp thời để khắc phục khó khăn sẽ là chìa khóacho sự thành công của quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM của quốc gia đó Như vậy
có thể thấy, nếu như tái cấu trúc tài chính là điều kiện cần thì tái cấu trúc hoạt động và
cơ chế, thể chế cho tái cấu trúc là điều kiện đủ cho sự thành công của tái cấu trúc hệthống NHTM của một quốc gia Kinh nghiệm từ các nước thành công trên thế giới chothấy, việc tập trung tái cấu trúc hoạt động ảnh hưởng đáng kể đến sự thành công của
quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM Ngược lại, kinh nghiệm từ các nước thất bại cho
thấy nền tảng cơ chế, thể chế yếu kém lại là nguyên nhất thất bại của quá trình tái cấutrúc hệ thống NHTM (Dziobek và Pazarbasioglu, 1998)
2.3 Hiệu quả của NHTM trong quá trình tái cấu trúc
Vấn đề hiệu quả của các NHTM trong quá trình tái cấu trúc đã được thảo luậnsôi nổi trước đây tại nhiều nghiên cứu trong nước và trên thế giới
Trong nghiên cứu về hiệu quả của các ngân hàng tại 04 nước Đông Á(Indonesia, Hàn Quốc, Philippine và Thái Lan) được thực hiện cho quá trình kéo dài từtrước đến sau khi IMF triển khai các chương trình hỗ trợ tái cấu trúc 1991-2005, Arrif
và Luc (2008) nhận thấy sau tái cấu trúc hiệu quả của các ngân hàng Đông Á không có
sự cải thiện đáng kể, kết luận này phù hợp với nhận định của William và Nguyen(2005) Theo đó, hiệu quả của các ngân hàng trải qua sáp nhập, hợp nhất không có sựkhác biệt đáng kể so với các ngân hàng khác, đặc biệt là trong ngắn hạn hiệu quả củacác ngân hàng này cho thấy sự kém hiệu quả Nguyên nhân có thể xuất phát từ sựkhông hòa hợp về văn hóa doanh nghiệp và thực tế quản lý của ngân hàng sau sápnhập, phát hiện này cũng phù hợp với Shih (2003) Bên cạnh đó, Arrif và Luc (2008)cũng nhận định, hậu quả của khủng hoảng tài chính ảnh hưởng tiêu cực và lâu dài đếncác ngân hàng Đông Á Arrif và Luc (2008) cũng cho rằng có sự khác biệt không đáng
Trang 30kể về hiệu quả giữa ngân hàng quốc doanh và tư nhân, giữa ngân hàng niêm yết vàkhông niêm yết sau quá trình tái cấu trúc tại Đông Á.
Trong khi đó, theo nghiên cứu của Das và Gosh (2006) về hiệu quả sản xuất vàtrung gian tài chính của các ngân hàng Ấn Độ trong các thời kỳ tái cấu trúc từ năm1992-2002, khác với các ngân hàng quốc doanh thì các NHTM Ấn Độ sau thời kỳ táicấu trúc hoạt động kém hiệu quả hơn Nghiên cứu này đã đưa ra các kết quả tích cựcđối với các ngân hàng có quy mô trung bình, Das và Gosh (2006) cho rằng các ngânhàng có quy mô quá lớn hoặc quá nhỏ đều có thể gặp vấn đề kém hiệu quả do quy mô,nghĩa là các ngân hàng nhỏ cần tăng quy mô để tăng khả năng sinh lợi, trong khi cácngân hàng lớn cần cân đối lại quy mô để khắc phục những mặt không hiệu quả về kỹthuật Tính lành mạnh của một ngân hàng được thể hiện qua tỷ lệ an toàn vốn (CAR)
và các ngân hàng Ấn Độ có CAR cao thì hoạt động có hiệu quả hơn sau tái cấu trúc.Ngược lại, các kết quả thực nghiệm cũng cho thấy rằng các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấuthấp hơn sẽ hoạt động có hiệu quả hơn
Theo một nghiên cứu khác về hiệu quả của các NHTM (bao gồm cả NHTMNN
và NHTMCP) Ấn Độ do Bhattacharyya và Pal (2011) thực hiện trong giai đoạn
1989-2009, hiệu quả của các NHTM Ấn Độ nhìn chung giảm sau tái cấu trúc Theo đó, hiệuquả của các NHTM Ấn Độ được cải thiện trong thời kỳ đầu của tái cấu trúc, nhưng có
xu hướng giảm trong giai đoạn sau Tuy nhiên, tương đồng với kết quả nghiên cứu củaDas và Gosh (2006), nghiên cứu của Bhattacharyya và Pal (2011) trong giai đoạn nàycũng cho thấy hiệu quả của các NHTMNN cao hơn so với các NHTMCP
Trong nghiên cứu của Fadzlan (2004) về hiệu quả của các NHTM tại Malaysiatrước và sau sáp nhập, hợp nhất giai đoạn 1998-2003 cho thấy hiệu quả tăng đối vớicác ngân hàng có quy mô vừa và nhỏ do có được lợi thế kinh tế nhờ sự gia tăng quy
mô, ngược lại, các ngân hàng có quy mô lớn cần cân nhắc về quyết định này vì những
hệ lụy sau sáp nhập, hợp nhất có thể làm giảm hiệu quả
Trong nghiên cứu của Chang và cộng sự (2010) về ảnh hưởng của tái cấu trúcđến hiệu quả hoạt động của các NHTM trong giai đoạn từ trước đến sau khi thực hiện
Trang 31tái cấu trúc tại Đài Loan giai đoạn năm 2000-2004 cho thấy, hiệu quả trong giai đoạntái cấu trúc năm 2002-2003 kém hơn so với giai đoạn trước tái cấu trúc 2000-2002 vàđược cải thiện trong giai đoạn sau tái cấu trúc năm 2004.
Tại diễn đàn kinh tế mùa thu 2014, Đặng Ngọc Đức và Nguyễn Đức Hiển(2014) đã sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA để tính toán hiệu quả của 7NHTM Việt Nam từ trước khi tái cấu trúc hoặc tự tái cấu trúc năm 2011 đến năm 2013.Kết quả cho thấy: các ngân hàng có sự chuyển biến về hiệu quả rất khác nhau do mỗingân hàng có đặc điểm, điều kiện và nguồn lực khác nhau
Theo Trần Hoàng Ngân và cộng sự (2014) trong nghiên cứu về ảnh hưởng củatái cấu trúc đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam, chỉ số hiệu quả của cácNHTM thực hiện sáp nhập và hợp nhất giảm đáng kể do phải gánh vác các NHTM nhỏ
và yếu kém, các NHTM sau khi có sự can thiệp của chính phủ thì sử dụng đầu vào vàđầu ra vượt trội hơn tuy nhiên mức độ hiệu quả trong hoạt động của các NHTMNNthấp hơn so với kỳ vọng, các NHTMNN sau cổ phần hóa hoạt động hiệu quả hơn sovới ngân hàng chưa được cổ phần hóa
Qua các nghiên cứu nên trên về hiệu quả của các NHTM trong quá trình tái cấutrúc hệ thống NHTM, có thể khái quát như sau: Hầu hết các nghiên cứu cho thấy, hậuquả của khủng hoảng ảnh hưởng tiêu cực và lâu dài đến hiệu quả của các NHTM.Trong quá trình tái cấu trúc, các NHTM có sự chuyển biến về hiệu quả rất khác nhau
do mỗi NHTM có đặc điểm, điều kiện và nguồn lực khác nhau Tuy nhiên, nhìn chungtái cấu trúc được thực hiện nhằm khôi phục hiệu quả của các NHTM trong giai đoạnđầu thường không mang lại kết quả như mong muốn, ngược lại, hiệu quả thậm chí cóthể giảm Các NHTM có quy mô quá lớn hoặc quá nhỏ đều có thể gặp vấn đề kém hiệuquả do quy mô, chính vì vậy các NHTM trải qua sáp nhập, hợp nhất cũng có thể có sựthay đổi về hiệu quả khác nhau tùy thuộc vào quy mô của NHTM, tuy nhiên trongngắn hạn vẫn cho thấy sự kém hiệu quả Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu chothấy,qua giai đoạn tái cấu trúc, so với các NHTMCP và các NHTM có mức độ an toàntài chính thấp thì các NHTMNN và các NHTM có tình hình tài chính lành mạnh cóhiệu quả hoạt
Trang 32động cao hơn Mặc dù nhiều nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn tái cấu trúc hiệu quảhoạt động của các NHTM có thể không cải thiện như kỳ vọng, tuy nhiên điều nàykhông hẳn là tiêu cực hoàn toàn bởi vì tác động tích cực của tái cấu trúc có độ trễ vàgiai đoạn sau tái cấu trúc hiệu quả của NHTM qua nghiên cứu cho thấy có sự cải thiện.
2.4 Một số phương pháp nghiên cứu trong nước và trên thế giới về hiệu quả của
NHTM trong quá trình tái cấu trúc
Trong nghiên cứu về hiệu quả của các ngân hàng Đông Á trong giai đoạn từtrước đến sau tái cấu trúc hệ thống ngân hàng dưới hỗ trợ của IMF, Luc và Arrif (2008,2009) đã sử dụng phương pháp DEA theo cách tiếp cận trường hợp quy mô không ảnhhưởng đến kết quả sản xuất CRS (Constant Return to Scale) và trường hợp quy mô ảnhhưởng đến kết quả sản xuất VRS (Variable Return to Scale), kết hợp với phương phápphân tích đa biến để đánh giá hiệu quả các ngân hàng tại 4 nước Đông Á chịu ảnhhưởng nặng nề nhất của khủng hoảng (Indonesia, Hàn Quốc, Philippine và Thái Lan)sau tái cấu trúc, qua đó đánh giá hiệu quả sự hỗ trợ của IMF tại các nước này
Trong nghiên cứu thực nghiệm của mình về hiệu quả của các ngân hàng Ấn Độtrong giai đoạn tái cấu trúc từ năm 1992-2002, Das và Gosh (2006) đã sử dụng phươngpháp DEA kết hợp với mô hình Tobit để ước lượng hiệu quả theo ba cách tiếp cận: tiếpcận trung gian, tiếp cận theo giá trị tăng thêm và tiếp cận hoạt động của các NHTM đểphân biệt mức độ hiệu quả sẽ thay đổi như thế nào khi thay đổi đầu vào và đầu ra
Chang và cộng sự (2010) đã ứng dụng phương pháp DEA để nghiên cứu về hiệuquả của các NHTM Đài Loan trong giai đoạn từ trước đến sau tái cấu trúc tài chính
Eken và Kale (2011) cũng ứng dụng phương pháp DEA-SBM (Slacks BasedModel) đo lường rủi ro và hiệu quả hoạt động của 128 chi nhánh của 20 trên tổng số 32ngân hàng tại Istanbul và Thrace của Thổ Nhĩ Kỳ theo hai cách tiếp cận sản xuất và lợinhuận trong giai đoạn 2007-2010
Tại diễn đàn kinh tế mùa thu 2014, Đặng Ngọc Đức và Nguyễn Đức Hiển(2014) đã sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA để tính toán hiệu quả về lợi
Trang 33nhuận và hiệu quả sản xuất của 7 NHTM Việt Nam từ trước khi tái cấu trúc hoặc tự tái cấu trúc năm 2011 đến năm 2013.
Trong nghiên cứu về ảnh hưởng của tái cấu trúc đến hiệu quả hoạt động của cácNHTM Việt Nam, Trần Hoàng Ngân và cộng sự (2014) đã sử dụng mô hình phi tham
số DEA kết hợp với phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên SFA theo ba giai đoạn đểđánh giá về ảnh hưởng của ba phương pháp tái cấu trúc phổ biến hiện nay là cổ phầnhóa NHTMNN, hợp nhất và sáp nhập, sự can thiệp của Chính phủ đến hiệu quả hoạtđộng của các NHTM Việt Nam
Hầu hết các nghiên cứu áp dụng phương pháp tiếp cận biên tham số hoặc phi tham số để đánh giá hiệu quả thông qua lượng đường biên hiệu quả chung Phương pháp tiếp cận tham số (phổ biến là phương pháp ước lượng biên ngẫu nhiên SFA- Stochastic Frontier Analysis) thường được áp dụng trong đo lường kinh tế lượng hiệu quả về chi phí (Cost Efficiency) hay lợi nhuận (Profit Efficiency) Phương pháp phân tích phi tham số (cụ thể là phương pháp bao dữ liệu DEA-Data Envelopment Analysis) phổ biến để đánh giá hiệu quả kỹ thuật (Technique Efficiency-TE) theo các mặt hoạt động của NHTM như hiệu quả sản xuất (Productive Efficiency), và trung gian tài chính (Intermediate Efficiency) Mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm riêng Đề tài giới thiệu một số phương pháp phổ biến về hiệu quả của NHTM tại Bảng 2.1 như sau:
Bảng 2.1 Một số phương pháp nghiên cứu về hiệu quả của NHTM
Phương pháp tham số
SFA
Châu Á
Tiểu vùng
Sahara
Kablan (2010) Banking Efficiency and Financial
Trang 34Châu Phi Africa
Nhiều
quốc gia
Sector Restructuring in TransitionEconomies
Hồi quy dữliệu chéo và dữliệu bảng
Phương pháp phi tham số
Đài Loan
Chang và cộng sự(2010)
First Financial Restructuring andOperating Efficiency: Evidencefrom Taiwan Commercial Banks
DEA
Malaysia
Fadzlan (2004) The Efficiency Effects of Bank
Mergers and Acquisitions in aDeveloping Economy: Evidencefrom Malaysia
DEA
Pakistan
Kontorovich (2004)
Financial Sector Reforms and the
Uganda
Hauner và Peiris(2005)
Bank Efficiency and Competition
in Low-Income Countries:The Case
of Uganda
DEA
sự (2013)
A Data Envelopment Analysis of
Charyulu (2011)
Trang 35Cases of Pakistan Bank Mergers
Kết hợp phương pháp tham số và phi tham số
và cộng sự (2015)
Ảnh hưởng của tái cấu trúc đến hiệu quả hoạt động của các NHTMViệt Nam
DEA/SFA bagiai đoạn
Các nước
Credit Risk and Efficiency in the European Banking Systems: A Three-stage Analysis
DEA/SFA bagiai đoạn
DEA hai giai đoạn kết hợp
Phương phápDEA kết hợp
mô hình Tobit
(2006)
Efficiency: An Empirical Analysis
of Indian Banks During The PostReform Period
Phương phápDEA kết hợp
mô hình Tobit
Trang 36Nguồn: Tác giả tổng hợp.
Với mục tiêu đánh giá về hiệu quả sản xuất (Productive Efficiency) và hiệu quảtrung gian tài chính (Intermediate Efficiency) các NHTM Việt Nam trong quá trình táicấu trúc từ 2011-2014, đề tài lựa chọn phương pháp DEA vì những ưu điểm sau:
(i) Thứ nhất, khác với phương pháp tham số dựa vào lý thuyết thống kê hoặc kinh tế lượng,
giới hạn tập trung vào một biến phụ thuộc DEA là phương pháp phi tham số dựa vàophương trình tuyến tính toán học để ước lượng cận biên sản xuất, cho phép thựchiện các mô hình phân tích có nhiều đầu vào và nhiều đầu ra
(ii) Thứ hai, đánh giá hiệu quả bằng phương pháp phi tham số có thể thực hiện mà không
nhất thiết phải có các thông tin về giá cả thị trường, yếu tố này được cho là khôngthể thiếu trong các kỹ thuật phân tích tham số Tại các nước đang phát triển như ViệtNam thì yếu tố này có thể không được phản ánh đúng bản chất do những chênh lệch
về quy định và những điểm chưa phù hợp khác của thị trường
(iii) Thứ ba, như Cooper và cộng sự (2000) đã mô tả, trong phương pháp DEA đơn vị đo
lường của các đầu vào và đầu ra khác nhau không nhất thiết phải tương đồng, nhờ đóphương pháp DEA có thể giải quyết cả dữ liệu định lượng và định tính trong cùng
mô hình
(iv) Thứ tư, phương pháp tiếp cận phi tham số cũng cung cấp những ước lượng hiệu quả kỹ
thuật vô hướng có ý nghĩa và có thể áp dụng đối với những mẫu nghiên cứu nhỏ
Mặc dù vậy, phương pháp DEA cũng có nhiều điểm hạn chế như sau:
(i) Thứ nhất, trong phương pháp DEA các biến đưa vào mô hình không qua kiểm
định
(ii) Thứ hai, theo Coelli và cộng sự (1998, 2005) hạn chế lớn nhất của phương pháp DEA đó
là phương pháp này chỉ cho phép so sánh hiệu quả tương đối của những đơn vị sảnxuất trong cùng một mẫu hoặc tổng thể Nghĩa là hiệu quả của đơn vị sản xuất củamẫu hoặc tổng thể này không thể so sánh với những đơn vị sản xuất khác của mẫuhoặc tổng thể khác Thí dụ như, phương pháp DEA không ứng dụng được khi dùng để
Trang 37so sánh nhóm các NHTM, nhóm các ngân hàng quốc doanh, nhóm ngân hàng 100%vốn nước ngoài với nhau Bên cạnh đó, nếu kết quả định lượng cho thấy một đơn vịsản xuất có chỉ số hiệu quả bằng 1 không có nghĩa là đơn vị sản xuất đó hoạt động cóhiệu quả tối ưu mà chỉ xét trong mẫu nghiên cứu đã thực hiện Do vậy, tại nội dung đềtài này lựa chọn mẫu nghiên cứu bao gồm các NHTM đang hoạt động tại Việt Nam,không bao gồm NHTM 100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng chínhsách, ngân hàng hợp tác xã, chi nhánh-văn phòng đại diện các ngân hàng nước ngoàitại Việt Nam, và ngoại trừ NHTM 100% vốn Nhà nước là Agribank.
(iii) Thứ ba, Theo Eken và Kale (2011), khi đánh giá hiệu quả bằng mô hình DEA có thể
xuất hiện đơn vị ngoại lai Nếu một đơn vị ngoại lai được sử dụng như một điểm chuẩncho các đơn vị khác thì các phép đo có thể không phản ánh thực tế
(iv) Thứ tư, Trong nghiên cứu của mình nhằm cải tiến phương pháp đánh giá hiệu quả
bằng DEA, Avkiran và Rowlands (2008) cũng đã nêu ra mặt hạn chế của DEA là cóthể bị sai lệch do tác động của yếu tố môi trường và độ nhiễu thống kê
Bên cạnh việc ứng dụng các phương pháp phân tích định lượng được giới thiệutrên, dựa theo các chỉ tiêu của phương pháp CAMELS Dziobek và Pazarbasioglu(1997,1998) đã đánh giá hiệu quả sản xuất và trung gian tài chính của các ngân hàngtrải qua tái cấu trúc thông qua phân tích xu hướng biến động tăng/giảm các chỉ tiêu về(i) Ảnh hưởng của tái cấu trúc đến khả năng sinh lợi và (ii) Ảnh hưởng của tái cấu trúcđến hoạt động trung gian tài chính
(i) Đánh giá hiệu quả sản xuất của NHTM, Dziobek và Pazarbasioglu (1997 và 1998) sử
dụng nhóm các chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng của tái cấu trúc đến khả năng sinh lợibền vững của NHTM, cụ thể như: tỷ lệ chi phí hoạt động/tài sản, thu nhập lãi/tàisản, lợi nhuận/tài sản (ROA)
(ii) Đánh giá hiệu quả trung gian tài chính của NHTM bằng các chỉ tiêu phản ánh ảnh
hưởng của tái cấu trúc đến hoạt động trung gian tài chính như: tăng trưởng tíndụng, tỷ lệ tín dụng trên huy động vốn, khoảng cách giữa lãi suất huy động và cho vay,
tỷ lệ tái cấp vốn của NHTW trên huy động vốn và sự lặp lại các vấn đề của NHTM
Trang 38Tại kỷ yếu Diễn đàn kinh tế mùa thu 2014, Đặng Ngọc Đức và Nguyễn ĐứcHiển (2014) có trình bày về tác động của tái cấu trúc đến hiệu quả sản xuất thông quaphân tích các chỉ tiêu về khả năng sinh lợi của NHTM như: ROA, ROE, thu nhập thuần
từ cho vay (NIE) và tỷ lệ chi tiêu/thu nhập Bên cạnh đó, theo Heffernan và Fu (2005),Các chỉ số của khả năng sinh lợi bao gồm ROA, ROE là những chỉ số quan trọng đểđánh giá sự cải thiện của NHTM sau tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
Kết luận chương 2:
Hiệu quả của NHTM là khả năng kết hợp tối ưu để tối thiểu hóa các yếu tố đầuvào nhằm đạt được kết quả đầu ra tối đa và thường được đo lường bằng cách so sánhvới đường biên sản xuất chung Hiệu quả của NHTM có thể được xem xét theo quanđiểm hoạt động, quan điểm kinh tế và quan điểm quản lý Phân tích phi tham số theophương pháp bao dữ liệu DEA thích hợp để đánh giá hiệu quả kỹ thuật theo quan điểmhoạt động và là phương pháp khá phổ biến trong các nghiên cứu trên thế giới về hiệuquả của các NHTM trong quá trình tái cấu trúc
Tái cấu trúc hệ thống NHTM là một quá trình lâu dài nhằm mục tiêu cải thiệnhiệu quả của cả hệ thống NHTM, đó là khôi phục thanh khoản, khả năng sinh lời, cảithiện năng lực trung gian tài chính, và khôi phục lòng tin của công chúng đối với hệthống NHTM Trải qua giai đoạn tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam 2011-2014vừa qua, hiệu quả của các NHTM Việt Nam đã có nhiều thay đổi quan trọng, mang ýnghĩa to lớn trong sự phát triển chung của kinh tế đất nước
Tại chương này gợi ý một số chỉ tiêu có thể sử dụng để phân tích về thực trạnghiệu quả hiệu quả sản xuất và hiệu quả trung gian tài chính Đồng thời, đề tài lựa chọnứng dụng phương pháp DEA để đánh giá hiệu quả của các NHTM quá trình tái cấutrúc hệ thống NHTM Việt Nam từ năm 2011-2014
Trang 39CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH TÁI CẤU TRÚC
3.1 Sơ lược về quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2011- 2015
Quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam được chính thức triển khai từnăm 2012 theo Quyết định số 254/QÐ-TTG ngày 01/03/2012 (Phụ lục 02) của Thủtướng Chính phủ phê duyệt đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn2011-2015" (gọi chung là đề án 254) Một số nội dung cơ bản của đề án như sau:
- Đối với các NHTM, đề án phân thành 02 nhóm đối tượng: NHTM Nhà nước
(NHTMNN) và NHTM Cổ phần (NHTMCP) Trong đó, NHTMCP lại được chia thành
03 nhóm: (i) NHTMCP lành mạnh; (ii) NHTMCP thiếu thanh khoản tạm thời và (iii)NHTMCP yếu kém Từ năm 2012, trong số các NHTMCP, Chính phủ đã đưa ra 09NHTMCP thanh khoản yếu kém, thuộc diện bắt buộc tái cấu trúc là: SCB, Đệ Nhất,Tín Nghĩa, Habubank, Tienphongbank, GP Bank, Navibank, Trust Bank và WesternBank Đến cuối năm 2014, 08/09 đề án tái cấu trúc được Chính phủ phê duyệt và thựchiện thông qua mua bán, sáp nhập trên tinh thần tự nguyện hoặc tự tái cấu trúc Chi tiết
về các giải pháp thực hiện tái cấu trúc đối với từng nhóm đối tượng được trình bày tạiMục I và III thuộc Phần B của đề án 254/QÐ-TTG (Phụ lục 02)
- Định hướng tái cấu trúc đối với các NHTMNN là “nâng cao vai trò, vị trí chi phối của
các NHTMNN” Theo đó, đến năm 2015 sẽ hình thành được 02 NHTMNN đạt trình
độ khu vực về quy mô, quản trị, công nghệ và khả năng cạnh tranh
- Định hướng tái cấu trúc đối với các NHTMCP là “đảm bảo hoạt động an toàn,
lành mạnh, hiệu quả, đúng pháp luật và cùng với NHTMNN giữ cho hệ thống các tổchức tín dụng ổn định và phát triển vững chắc” Đề án hướng đến xây dựng môitrường cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch để các NHTMCP lành mạnh cóđiều kiện phát triển và kiên quyết xử lý đối với các ngân hàng thiếu thanh khoản tạmthời, yếu kém Dựa trên cơ sở đánh giá hiệu quả của từng NHTMCP, Chính phủ kiểmsoát quy mô, tốc độ tăng trưởng và phạm vi hoạt động kinh doanh của ngân hàng đó
Trang 40phù hợp với điều kiện tài chính và năng lực quản trị Qua đó, mỗi NHTMCP cụ thểcũng cần chủ động đưa ra phương án tái cấu trúc phù hợp với năng lực của mình.
- Lộ trình thực hiện tái cấu trúc theo bốn giai đoạn:
Năm 2011-2012: Khôi phục khả năng chi trả của toàn hệ thống NHTM, đồng
thời xác định, kiểm soát được tình hình của các NHTM yếu kém để làm cơ sở cho việc
áp dụng các biện pháp tái cấu trúc ở giai đoạn sau
Năm 2013: Loại bỏ nguy cơ đổ vỡ hệ thống, các NHTM yếu kém được xử lý về
cơ bản Kỷ cương, kỷ luật trong lĩnh vực ngân hàng được lập lại và củng cố
Năm 2014: Hoàn thành căn bản tái cấu trúc tài chính, tiếp tục tái cấu trúc hoạt
động và quản trị, tiến hành sáp nhập, hợp nhất, mua lại theo nguyên tắc tự nguyện
Năm 2015: Hoàn thành tái cấu trúc hoạt động và quản trị
Như vậy, theo quan điểm, chủ trương tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Namcủa Chính Phủ, hiệu quả của các NHTMNN và NHTMCP được kỳ vọng sẽ cải thiện
3.2 Thực trạng hiệu quả của các NHTM Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc
Mẫu nghiên cứu của đề tài gồm 29 NHTM trong giai đoạn từ trước tái cấu trúcnăm 2011 đến cuối năm thứ ba thực hiện tái cấu trúc là năm 2014, theo cách phân loạiđối tượng của đề án 254/QÐ-TTG gồm có: 04 NHTMNN và 25 NHTMCP Phù hợpvới quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam, đề tài lựa chọn đánh giá hiệu quảcủa các NHTM theo hai nhóm đối tượng chính là NHTMNN và NHTMCP
Trong số 25 NHTMCP này có: (i) 04 NHTMCP trải qua tự tái cấu trúc bắt buộchoặc sáp nhập, hợp nhất và (ii) 21 NHTMCP còn lại chưa trải qua sáp nhập, hợp nhất.Như đã trình bày tại tại Chương 2, các NHTM có sự chuyển biến về hiệu quả rất khácnhau do mỗi NHTM có đặc điểm, điều kiện và nguồn lực khác nhau So với cácNHTMCP còn lại thì các NHTMCP trải qua tự tái cấu trúc bắt buộc hoặc sáp nhập,hợp nhất có sự thay đổi rất mạnh mẽ về các đặc điểm nội tại này Chính vì vậy, đối vớicác NHTMCP, đề tài lựa chọn đánh giá hiệu quả phân theo hai nhóm đối tượng: (i)
04 NHTMCP trải qua tự tái cấu trúc bắt buộc hoặc sáp nhập, hợp nhất và (ii) 21NHTMCP còn lại chưa trải qua sáp nhập, hợp nhất