1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

giáo trình nhập môn quản trị kinh doanh chương 1 2

50 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Cơ Sở Khoa Học Quản Lý
Người hướng dẫn TS. Đặng Văn Dựa
Trường học Trường Đại Học Xây Dựng
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Giáo Trình
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BẢN NHẬN XÉT TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG BỘ MÔN KINH TẾ XÂY DỰNG TS ĐẶNG VĂN DỰA (Biên soạn) GIÁO TRÌNH CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ XUẤT BẢN XÂY DỰNG Hà Nội 2020 2 LỜI NÓI ĐẦU Môn h.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG

BỘ MÔN KINH TẾ XÂY DỰNG

TS ĐẶNG VĂN DỰA (Biên soạn)

GIÁO TRÌNH

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ

NHÀ XUẤT BẢN XÂY DỰNG

Hà Nội - 2020

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU Môn học “Cơ sở khoa học quản lý” đã được Khoa Kinh tế và Quản lý xây dựng trường Đại học Xây dựng đưa vào chương trình giảng dạy từ hơn 20 năm trở lại đây, với tên môn học “Nhập môn quản trị kinh doanh” Giáo trình Cơ sở khoa học quản lý

do Bộ môn Kinh tế xây dựng, Khoa Kinh tế và Quản lý xây dựng biên soạn và xuất bản lần này dựa trên sự kế thừa cuốn “Lý luận cơ sở về quản trị kinh doanh” của GS.TSKH Nguyễn Văn Chọn, tham khảo các tài liệu trong và ngoài nước về quản lý học cũng như các bài giảng của đội ngũ giảng viên trong Khoa từ nhiều năm nay Giáo trình cung cấp những kiến thức cơ bản về quản lý một tổ chức, trong đó có các liên hệ chủ yếu là tổ chức doanh nghiệp Giáo trình được cấu trúc theo các chương sau:

Chương 1: Những vấn đề chung về khoa học quản lý: Chương này cung cấp cho người học khái niệm về một tổ chức, quản lý, nhà quản lý, người thừa hành trong một tổ chức; Các vấn đề như công việc của nhà quản lý, các hoạt động, mục tiêu của tổ chức, tính khoa học và nghệ thuật của hoạt động quản lý; Sự phát triển của các học thuyết quản lý; Cung cấp những khái niệm, bản chất của môi trường của quản lý; các yếu tố môi trường tác động đến tổ chức

Chương 2: Chức năng định hướng và kế hoạch hóa: Chương này trình bày khái niệm, vai trò, nội dung của công tác định hướng và kế hoạch trong quản lý; Cách xác định mục tiêu và các kỹ năng xây dựng mục tiêu; Các loại kế hoạch trong tổ chức; Các kỹ thuật và công cụ thường dùng trong định hướng và kế hoạch hóa

Chương 3: Chức năng tổ chức: Trong chương này đề cập đến khái niệm, vai trò của chức năng tổ chức trong quản lý; Một số cơ sở lý luận về công tác tổ chức; Vấn đề phân chia quyền hạn và ủy quyền trong hoạt động quản lý; Các mô hình cơ cấu tổ chức

Chương 4: Chức năng lãnh đạo, kích thích và động viên: Chương này giúp người học xác định được khái niệm, vai trò của lãnh đạo trong quản lý; Các lý thuyết về lãnh đạo, cán bộ lãnh đạo; Một số học thuyết kích thích, động viên; Các biện pháp kích thích, động viên

Chương 5: Chức năng kiểm soát: Chương này cung cấp khái niệm, vai trò và các nguyên tắc của kiểm soát; Nội dung chức năng kiểm soát; Quy trình kiểm soát; Các phương pháp kiểm soát

Chương 6: Thông tin và ra quyết định quản lý: Chương này đưa ra các khái niệm, vai trò, phân loại thông tin trong quản lý; Các khái niệm về quyết định, phân loại quyết định, các phương pháp ra quyết định, quy trình ra quyết định trong quản lý

Chương 7: Trách nhiệm xã hội và văn hóa của tổ chức: Chương này xác định trách

Trang 3

nhiệm xã hội và văn hóa của các tổ chức, nhất là doanh nghiệp ngày càng giữ một vai trò quan trọng

Giáo trình cung cấp những kiến thức cốt lõi về quản lý một tổ chức cho sinh viên năm thứ nhất, thứ hai làm cơ sở tiếp thu những môn học chuyên môn các năm sau và phục vụ phong trào Quốc gia khởi nghiệp (Startup) của Chính phủ

Tác giả trân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đồng nghiệp đã tham gia góp ý cho cuốn sách và cảm ơn các tác giả của các tài liệu đã được dùng để viết cuốn sách này Cuốn sách lần đầu xuất bản, không tránh khỏi sai sót, tác giả mong muốn nhận được góp ý để cuốn sách được hoàn thiện hơn

Tác giả

Trang 4

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHOA HỌC QUẢN LÝ 1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại tổ chức

Xã hội loài người là một xã hội của các tổ chức Phần lớn chúng ta đều đang là

thành viên của một hoặc một số tổ chức nào đó Các tổ chức tuy rất khác nhau về phương thức hoạt động, nhưng chúng đều mang những đặc trưng cơ bản của một loại hình hệ thống xã hội Hệ thống xã hội là tập hợp những người hay nhóm người có quan hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng, tác động tương hỗ lên nhau một cách có quy luật

Tổ chức thường được hiểu như sau:

Tổ chức là tập hợp của nhiều người (2 người trở lên) cùng làm việc vì mục đích

chung trong hình thái cơ cấu ổn định

Một tổ chức có thể là một cơ quan quản lý nhà nước, một doanh nghiệp, một trường học, một chi đoàn, một câu lạc bộ,

1.1.2 Các đặc điểm của một tổ chức

Một tổ chức là một đoàn thể hay một cơ quan quản lý nhà nước hay một doanh nghiệp đều mang các đặc điểm chung sau:

Mọi tổ chức đều mang tính mục đích chung rất rõ ràng: Tổ chức được các chủ thể tạo

ra như một công cụ để thực hiện những mục đích nhất định, là yếu tố cơ bản nhất của bất kỳ tổ chức nào Điều đó được phản ánh trong chính từ “tổ chức” Gốc của từ này xuất phát từ tiếng Hy Lạp-Organon, có nghĩa là công cụ Mục đích của các tổ chức rất khác nhau, nhưng tổ chức không có mục đích thì tổ chức đó sẽ không tồn tại và phát triển

Mọi tổ chức đều là hệ thống xã hội gồm nhiều người làm việc vì mục đích chung : Khi

vào một tổ chức, chúng ta đã cam kết hành động cùng mọi người vì mục đích chung Các thành viên phải được tuyển chọn, được xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và lợi ích thành viên phù hợp với mục đích chung

Mọi tổ chức đều là hệ thống mở: Tổ chức tương tác với môi trường trong quá trình

liên tục thu hút các nguồn lực đầu vào để chuyển đổi thành đầu ra để cung cấp cho khách hàng Hình 1.1 thể hiện cả người cung cấp nguồn lực và khách hàng đều thuộc môi trường bên ngoài tổ chức Phản hồi từ môi trường bên ngoài phản ánh tổ chức hoạt động tốt đến mức nào “Không có khách hàng trung thành, tổ chức không thể tồn

Trang 5

tại” Trong điều kiện nguồn lực hạn chế để tồn tại và phát triển, một tổ chức phải phục

vụ tốt khách hàng và sử dụng tốt các nguồn lực

Môi trường cung cấp Tổ chức Môi trường tiêu dùng

Hình 1.1: Tổ chức là một hệ thống mở Mọi tổ chức đều được quản lý: Hình ảnh của các nhà quản lý luôn gắn liền với những

tổ chức nhất định Vai trò đó được thể hiện từ khi xác định mục đích để hình thành đến khi vận hành một tổ chức nhằm thực hiện mục đích Một tổ chức với bản chất của nó, không thể tự hoạt động mà đều phải được quản lý nhằm đạt được mục đích đã xác định

1.1.3 Phân loại tổ chức

Các tổ chức đang tồn tại vô cùng đa dạng Chúng có thể khác nhau khi trả lời các câu hỏi: ai nắm quyền sở hữu tổ chức? Tổ chức được tạo nên vì mục đích gì? Vì vậy, cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau khi phân loại và sau đây là một số cách phân loại cơ bản

a Phân loại theo tính chất sở hữu

Tổ chức công là tổ chức thuộc quyền sở hữu của nhà nước hoặc không có chủ sở hữu

Nó tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ công-là những sản phẩm mà người sử dụng không phải cạnh tranh và loại trừ nhau để có quyền sử dụng

Ví dụ: Tổ chức công thuộc sở hữu nhà nước như các cơ quan công quyền Tổ chức công không có chủ sở hữu như các đoàn thể xã hội, các cơ sở tôn giáo

Tổ chức tư là tổ chức thuộc ở hữu tư nhân và được kiểm soát bởi tư nhân; hoạt động

vì mục tiêu cơ bản là tìm kiếm lợi nhuận

Tổ chức công tư hợp danh: ví dụ doanh nghiệp thực hiện hợp đồng đối tác công tư

PPP

b Phân loại theo mục đích hoạt động của tổ chức

Đầu vào: nhân

Đầu ra: Các

sản phẩm, dịch

vụ, thông tin,

Trang 6

Tổ chức vì lợi nhuận là tổ chức tồn tại chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận tối đa Yếu tố

được quan tâm nhất là bao nhiêu lợi nhuận được tạo ra từ khoản đầu tư Tổ chức đó là các doanh nghiệp, các hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể, v.v

Tổ chức phi lợi nhuận là tổ chức ra đời và tồn tại để cung cấp các sản phẩm, dịch vụ

phục vụ cộng đồng Đó là các cơ quan nhà nước, các viện bảo tàng, các tổ chức chính trị, các tôn giáo, các doanh nghiệp phi lợi nhuận, các tổ chức từ thiện,v.v

c Phân loại theo hình thức thành lập tổ chức

Tổ chức chính thức là tổ chức mà trong đó mọi người đều được xác định rõ ràng về

vị trí, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm và thường do cấp trên quyết định hoặc do bầu cử hoặc được pháp luật thừa nhận

Tổ chức phi chính thức là tổ chức của những người được hình thành thông qua các

mối quan hệ cá nhân, tồn tại trong “tổ chức” chính thức hoặc với bên ngoài “tổ chức”

do cùng sở thích, nguyện vọng, quan điểm, tư tưởng, Như hội Guitar, hội Cầu lông, Hoặc các phòng “cộng tác viên” của các doanh nghiệp

1.1.4 Các hoạt động cơ bản của tổ chức

Hoạt động của các tổ chức là muôn hình muôn vẻ, phụ thuộc vào mục đích tồn tại, lĩnh vực hoạt động trong đời sống xã hội, quy mô, phương thức hoạt động được chủ thể lựa chọn và các yếu tố ngoại lai khác Tuy nhiên, mọi tổ chức đều phải thực hiện các hoạt động theo một tiến trình liên hoàn trong mối liên hệ chặt chẽ với môi trường

Ví dụ tổ chức là một doanh nghiệp, tiến trình đó là:

- Nghiên cứu và dự báo môi trường để trả lời các câu hỏi: Môi trường đòi hỏi gì ở tổ chức? Môi trường tạo ra cơ hội và thách thức nào?

- Thiết kế các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng khách hàng

- Tìm kiếm và huy động các nguồn lực đáp ứng hoạt động của tổ chức

- Tiến hành tạo ra các sản phẩm và dịch vụ

- Làm cho khách hàng biết và hiểu sản phẩm và dịch vụ của tổ chức

- Thực hiện các dịch vụ hỗ trợ cho khách hàng khi sử dụng sản phẩm và dịch vụ,

1.2 Khái niệm và vai trò của quản lý

1.2.1 Khái niệm về quản lý

Đối tượng quản lý rất rộng bao gồm nhiều dạng, có thể phân thành 3 dạng chính:

- Quản lý các quá trình của thế giới vô sinh (nhà xưởng, ruộng đất, tài nguyên, hầm

mỏ, thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, sản phẩm );

- Quản lý các quá trình diễn ra trong cơ thể sống (cây trồng, vật nuôi, con người);

Trang 7

- Quản lý các quá trình diễn ra trong xã hội loài người (quản lý xã hội: đảng, nhà nước, đoàn thể quần chúng, kinh tế, các tổ chức )

Trong phạm vi môn học, chúng ta chỉ nghiên cứu ở dạng thứ ba quản lý xã hội Quản

lý xã hội là dạng quản lý phức tạp nhất, bao gồm nhiều lĩnh vực như: quản lý nhà nước, quản lý hành chính công, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý ngành, quản lý doanh nghiệp,

Quản lý nói chung theo nghĩa tiếng Anh là Administration vừa có nghĩa quản lý (hành chính, chính quyền), vừa có nghĩa quản trị (kinh doanh) Administration trong văn bằng thạc sỹ quản trị kinh doanh (MBA Master of Business Administration) Ngoài ra trong tiếng Anh còn có một thuật ngữ khác là Management vừa có nghĩa quản lý, vừa

có nghĩa quản trị Management có nguồn gốc từ tiếng La tinh: Manus có nghĩa là bàn tay Quản lý thể hiện việc con người tác động vào sự việc theo mục đích của mình thay

vì để sự việc tự xảy ra một cách tự nhiên

Trong thực tế, thuật ngữ "quản lý" và "quản trị" vẫn được dùng trong những hoàn cảnh khác nhau để nói lên những nội dung khác nhau, nhưng về cơ bản hai từ này đều có bản chất giống nhau Khi dùng theo thói quen, chúng ta coi thuật ngữ

"quản lý" gắn liền với quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý ở khu vực công cộng, tức là quản lý ở tầm vĩ mô, còn thuật ngữ "quản trị" được dùng ở phạm vi nhỏ hơn đối với một tổ chức, một doanh nghiệp (kinh tế)

Xét về từ ngữ, thuật ngữ “quản lý" (tiếng Việt gốc Hán 管理) có thể hiểu là hai quá trình tích hợp vào nhau; quá trình "quản" là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái "ổn định"; quá trình “ lý" là sửa sang, sắp xếp, đổi mới để đưa tổ chức vào thế “phát triển”

Có rất nhiều cách diễn đạt khái niệm về quản lý, sau đây là một số khái niệm:

quản lý đến đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội để đạt được mục tiêu đề ra, trong điều kiện biến động của môi trường [14] (Xem hình 1.2)

Trang 8

Hình 1.2: Mô hình hóa khái niệm về quản lý

Ghi chú: trong sơ đồ đường nét liền mảnh có mũi tên là đường chỉ đạo; đường nét đứt mảnh

có mũi tên là đường thông tin phản hồi

Quản lý là một thuộc tính vốn có của mọi tổ chức

cá thể riêng rẽ cộng lại (tìm cách tăng hiệu năng lao động chung)

Thao giáo sư Kenzo BaBa (Nhật Bản):

Quản lý có nghĩa 1+1 > 2 (1.1)

Khoa học quản lý mang tính tự nhiên được phát triển ở khắp nơi, nhưng gần đây được phát triển mạnh ở phương Tây; nhất là Mỹ và Anh (Hầu hết (trên 90%) giải thưởng Noben về kinh tế thuộc 2 nước Mỹ và Anh)

Mỗi nước phải phát triển Khoa học quản lý (KHQL) của riêng mình, nhưng có thể rút ra công thức tổng quát từ sự thành công của nước Nhật thời kỳ phục hồi nền kinh tế sau chiến tranh thế giới lần II như sau:

Thành công = Học tập KHQL phương Tây + Giá trị truyền thống (1.2)

Nước Nhật phục hồi nền kinh tế sau chiến tranh Thế giới lần II nhanh chóng tới mức gây ngạc nhiên cho thế giới là do họ du nhập học thuyết Quản lý chất lượng toàn bộ (TQM) của W Deming (Mỹ) từ năm 1946 đến nay và duy trì, phát huy bản sắc dân tộc, truyền thống văn hóa Nhật Bản Hiện nay, đường lối phát triển đất nước Việt Nam đã được Đảng, Nhà nước vạch ra từ năm 1996 cũng theo công thức trên

Mục tiêu của tổ chức

Môi trường

Tổ chức

1 TC

Chủ thể quản lý

Đối tượng quản lý

Trang 9

Khái niệm 3: Quản lý là một quá trình nhằm hoàn thành các hoạt động một cách

hữu hiệu với con người và thông qua con người

khác [13]

nguồn lực và hoạt động của hệ thống xã hội nhằm đạt được mục đích của hệ thống với hiệu lực và hiệu quả một cách bền vững trong điều kiện môi trường biến động

1.2.2 Vai trò của quản lý

Từ các khái niệm trên của quản lý ta thấy quản lý là một thuộc tính vốn có của mọi

tổ chức Xã hội loài người là một xã hội của các tổ chức Xã hội càng phát triển thì vai trò của quản lý càng trở nên quan trọng Sau chiến tranh Thế giới lần thứ II Viện Nghiên cứu kinh tế quốc tế của Mỹ đã nhận định: Trong các nước Đông Nam Á, Bắc

Á có 2 nước Philipine và Mianma ít bị ảnh hưởng của chiến tranh và giàu tài nguyên

có khả năng phát triển mạnh và trở thành ngọn cờ đầu về kinh tế khu vực Nhưng thực

tế sau 30 năm thì các nước nghèo tài nguyên, bị ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh lại phát triển trở thành 5 “Con rồng” châu Á đó là Singapo, Malaixia, Hồng Công; Đài Loan và Hàn Quốc Lý do thành công của họ là do áp dụng khoa học quản lý trong công tác quản lý toàn diện từ quản lý nhà nước, xã hội đến doanh nghiệp, còn Philipine và Mianma quản lý tồi gây tham ô, tham nhũng lớn nên chậm phát triển

Có thể kết luận: Ở đâu quản lý tốt thì ở đó phát triển và ngược lại

1.2.3 Các yếu tố cơ bản của quản lý một tổ chức

Những khái niệm về quản lý giúp chúng ta làm rõ các yếu tố quan trọng của quản lý

như sau:

a Yếu tố thứ nhất: Mục tiêu của quản lý

Đạt mục tiêu theo cách tốt nhất trong điều kiện môi trường biến động và nguồn lực hạn chế là lý do tồn tại của quản lý Đó cũng chính là căn cứ quan trọng nhất để chủ thể tiến hành các tác động quản lý

b Yếu tố thứ hai: Chủ thể quản lý

Mọi tổ chức đều phải có chủ thể quản lý và chủ thể quản lý thực hiện các chức năng quản lý bao gồm: định hướng và kế hoạch hóa, tổ chức, điều hành, kích thích động viên, kiểm soát, trong đó:

Trang 10

+ Chức năng Định hướng và kế hoạch hóa: là quá trình thiết lập các mục tiêu và các phương thức hành động thích hợp để đạt mục tiêu

+ Chức năng Tổ chức là quá trình tạo thành các bộ phận và xác lập mối quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức

+ Chức năng Điều hành, kích thích động viên là quá trình tác động đến các bộ phận của tổ chức hoạt động và đánh thức sự nhiệt tình, tạo động lực cho con người để họ làm việc một cách tốt nhất

+ Chức năng Kiểm soát là quá trình giám sát, đo lường, đánh giá và điều chỉnh hoạt động để đảm bảo sự thực hiện theo kế hoạch, phòng ngừa và hạn chế rủi ro

c Yếu tố thứ ba: Đối tượng của quản lý

Quản lý tác động lên các nguồn lực và hoạt động của tổ chức Trong các yếu tố trên,

đối tượng chủ yếu và trực tiếp của quản lý là con người và các mối quan hệ con người bên trong và bên ngoài hệ thống tổ chức

d Yếu tố thứ tư: Quá trình quản lý

Quản lý là việc lập ra các quá trình và thực hiện các quá trình liên tục theo thời gian nhằm đạt được mục tiêu

e Yếu tố thứ năm: Môi trường quản lý

Môi trường tác động lên tổ chức và luôn biến động Nhà quản lý cần hiểu biết về môi trường và kỹ thuật phân tích môi trường Chủ thể quản lý điều chính, đổi mới cơ cấu, phương pháp, công cụ và hoạt động của tổ chức cho phù hợp

1.2.4 Các đặc điểm của quản lý

a.Quản lý là một khoa học

Quản lý là một ngành khoa học đã phát triển dựa trên toàn bộ kiến thức cùng sự hiểu biết về quản lý được tích luỹ bởi nhân loại và được chứa đựng trong các quan niệm, lý thuyết, nguyên tắc, phương pháp và hình thức quản lý Khoa học quản lý gồm một bộ phận của tri thức đã được tích lũy qua nhiều năm, thừa hưởng kết quả từ các ngành khoa học khác: toán học, kinh tế học, điều khiển học,… Quản lý là một ngành khoa học phát triển muộn, nó được coi là một ngành khoa học độc lập từ đầu thế kỷ

XX và phát triển mạnh mẽ từ sau chiến tranh thế giới thứ II kết thúc

Tính khoa học của quản lý thể hiện ở các yêu cầu sau đây:

Trang 11

- Quản lý phải đảm bảo phù hợp với sự vận động của các quy luật khách quan Điều

đó, đòi hỏi việc quản lý phải dựa trên sự hiểu biết sâu sắc các quy luật chung và riêng của tự nhiên và xã hội Trên cơ sở am hiểu các quy luật khách quan mà vận dụng tốt nhất các thành tựu khoa học Trước hết là triết học, kinh tế học, tâm lý học, xã hội học, toán học, tin học, điều khiển học, công nghệ học … cùng với những kinh nghiệm trong thực tế vào thực hành quản lý

- Quản lý phải đảm bảo phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi tổ chức trong từng giai đoạn cụ thể Điều đó, đòi hỏi các nhà quản lý vừa kiên trì các nguyên tắc vừa phải vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp, hình thức và các kỹ năng quản lý phù hợp cho từng điều kiện hoàn cảnh nhất định

Như vậy, khoa học quản lý cho ta hiểu biết về các nguyên tắc, quy luật, phương pháp,

kỹ thuật để trên cơ sở đó biết cách giải quyết các vấn đề quản lý

độ, cá tính, hoàn cảnh và nhu cầu

Nghệ thuật quản lý chính là những kỹ năng, kỹ xảo, bí quyết, “mưu mẹo” và

“biết làm thế nào” để sử dụng các nguồn lực đạt được mục tiêu mong muốn với hiệu quả cao Nghệ thuật quản lý luôn gắn với các tình huống, các trường hợp cụ thể Nghệ thuật quản lý thường được biểu hiện trong một số lĩnh vực như:

- Nghệ thuật sử dụng người: Nói về thuật dùng người, Khổng Tử đã có câu: “Dụng nhân như dụng mộc” Mỗi con người đều có những ưu, nhược điểm khác nhau, nếu biết sử dụng thì người nào cũng đều có ích, họ sẽ cống hiến nhiều nhất cho tổ chức, cho xã hội, cho cộng đồng mà họ đang sinh sống Điều đó, đòi hỏi nhà quản lý phải am hiểu đặc điểm năng lực và tâm lý của từng người, nên sử dụng họ vào việc gì, ở đâu là phù hợp nhất Có như vậy, mỗi cá nhân mới có điều kiện, cơ hội phát huy hết khả năng của mình, cống hiến nhiều nhất cho tổ chức

- Nghệ thuật giáo dục con người: Để giáo dục con người, thông thường người ta sử dụng các hình thức: khen, chê, thuyết phục, tự phê bình và phê bình, khen thưởng

và kỷ luật… Với ai, nên áp dụng hình thức nào, biện pháp gì, mức độ cao hay thấp, và được tiến hành ở đâu, khi nào đều là những vấn đề mang tính nghệ thuật

Trang 12

Cùng một vấn đề nhưng mỗi đối tượng khác nhau có khi phải giải quyết khác nhau Nếu áp dụng không phù hợp chẳng những không giúp cho con người phát triển theo chiều hướng tích cực mà trái lại sẽ làm tăng thêm tính tiêu cực trong tư tưởng lẫn hành vi của họ

- Nghệ thuật ứng xử: Được thể hiện trong quá trình giao tiếp Sự lựa chọn lời nói, cách nói và thái độ phù hợp với người nghe là nghệ thuật ứng xử trong giao tiếp

Ca dao Việt Nam có câu: “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” đó là tư tưởng cơ bản của thuật lựa lời trong giao tiếp Thái độ tôn trọng, thành

ý, khiêm tốn, hoà nhã,… là nghệ thuật giao tiếp không thể thiếu trong quá trình giao tiếp Cuốn “Đắc nhân tâm” của Dele Carnegie do Trần Hiếu Lê dịch tiếng Việt gần đây đã được tái bản nhiều lần tại Việt Nam là một minh chứng về sự quan tâm của các nhà quản lý về nghệ thuật ứng xử

c) Quản lý là một nghề

Sau năm 1950 quản lý được coi là một nghề, đã xuất hiện nhiều cơ sở dạy nghề quản lý, người ta có thể đi học để tham gia hoạt động quản lý, đã có thể kiếm sồng bằng nghề quản lý Theo thời gian, việc bổ nhiệm các nhà quản lý được đào tạo dần thay thế các nhà quản lý theo kinh nghiệm Ngày nay, các nước đều chú trọng đào tạo nghề quản lý, trên thế giới đã hình thành những trung tâm đào tạo các nhà quản lý nổi tiếng như Đại học Oxford (Vương quốc Anh), Đại học Harvard (Mỹ),v.v

1.3 Khái niệm, phân loại nhà quản lý trong một tổ chức

1.3.1 Khái niệm về nhà quản lý

Nhà quản lý là người lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát công việc của những người khác để tổ chức đạt mục tiêu

1.3.2 Phân loại nhà quản lý

a Phân loại theo cấp quản lý

Theo sơ đồ hình 1.3, các nhà quản lý một tổ chức được chia ra các cấp sau:

Nhà quản lý cấp cao (Top managers): Hoạt động ở bậc cao nhất trong tổ chức, họ

chịu trách nhiệm về những thành quả cuối cùng của tổ chức Họ đưa ra các quyết định chiến lược, tổ chức thực hiện chiến lược, duy trì và phát triển tổ chức

Ví dụ: Chủ tịch hội đồng quản tri, thành viên hội đồng quản trị; Ban giám đốc là những nhà quản lý cấp cao của tổ chức là doanh nghiệp

Trang 13

Hình 1.3: Sơ đồ phân loại nhà quản lý theo các cấp quản lý trong tổ chức

Nhà quản lý cấp trung gian (Middle Managers): Những nhà quản lý hoạt động dưới

cấp cao và trên cấp cơ sở Nhiệm vụ của họ là đưa ra các quyết định chiến thuật, thực hiện các kế hoạch và chính sách của tổ chức, phối hợp các hoạt động, các công việc để đạt được mục tiêu chung

Ví dụ: Những nhà quản lý cấp trung gian thường có các chức danh như trưởng, phó các phân xưởng, các xí nghiệp của tổ chức là doanh nghiệp

Nhà quản lý cấp cơ sở (First-lines managers): Những nhà quản lý ở cấp bậc cuối

cùng, nhiệm vụ của họ là đưa ra các quyết định tác nghiệp nhằm đốc thúc, hướng dẫn, điều khiển các nhân viên trong hoạt động, tác nghiệp hàng ngày theo kế hoạch tháng, tuần

Ví dụ: Chức danh của họ là những người đốc công, trưởng ca, đội trưởng, tổ trưởng, nhóm trưởng của tổ chức là doanh nghiệp

Cần chú ý trong trường hợp tổ chức quy mô nhỏ có thể không có nhà quản lý cấp trung gian

b Phân loại theo phạm vi quản lý

Nhà quản lý chức năng là người chịu trách nhiệm đối với một chức năng hoạt động

của tổ chức

Nhà quản lý tổng hợp là người chịu trách nhiệm đối với những tổ chức phức tạp, qui

mô lớn địa bàn rộng, hoạt động độc lập, mà những đơn vị, chi nhánh đó hoạt động gồm nhiều chức năng của tổ chức Ví dụ ông Nguyễn Văn A- Giám đốc chi nhánh tại

Nhà quản lý cấp cao

Trang 14

TP Hồ Chí Minh Công ty CP Xây dựng Thành Bắc (Công ty CP Xây dựng Thành Bắc

có trụ sở chính tại Hà Nội)

c Phân loại theo mối quan hệ trong của tổ chức

Nhà quản lý theo tuyến (đường mệnh lệnh)

Nhà quản lý tham mưu

Chi tiết xem mục 3.2.1

d Phân loại theo loại hình tổ chức

Nhà quản lý trong các tổ chức kinh doanh;

Nhà quản lý trong các tổ chức phi lợi nhuận;

Nhà quản lý trong các cơ quan quản lý nhà nước

1.3.3 Vai trò của nhà quản lý

Theo Henry Mintzbezg các nhà quản lý tổ chức có những vai trò cơ bản sau:

1.3.3.1 Các vai trò liên cá nhân

Từ cơ sở quyền lực chính thức của nhà quản lý, vai trò liên cá nhân nhà quản lý thông qua 3 vai trò cụ thể sau:

- Vai trò người đại diện (Figurehead role): là người đại diện cho tổ chức trong các nghi

lễ, giao tiếp, giao dịch

- Vai trò người lãnh đạo (Leader role): là người ra quyết định và tổ chức thực hiện

quyết định, phối hợp và kiểm tra công việc của nhân viên dưới quyền

- Vai trò người liên hệ (Liaison role): quan hệ với người khác ở bên trong hay bên

ngoài của tổ chức

1.3.3.2 Vai trò thông tin liên lạc

- Giám sát thông tin (Monitor role): thường xuyên xem xét, phân tích bối cảnh xung

quanh tổ chức để nhận ra tin tức, những hoạt động và những sự kiện nhận dạng, những

cơ hội hay đe doạ đối với tổ chức

- Phân phối thông tin (Disseminator role): chuyển tải thông tin nhằm tác động đến

nhân viên Phổ biến thông tin đến những người có liên quan

- Phát ngôn viên (Spokesperson role): giải thích, bảo vệ hay tranh luận, tranh thủ

thêm sự ủng hộ cho tổ chức, nói lên tiếng nói của tổ chức đối với bên ngoài

Trang 15

1.3.3.3 Vai trò làm quyết định

- Vai trò thủ lĩnh (leader role): xuất hiện khi nhà quản lý tìm cách cải tiến hoạt động

của tổ chức, tạo ra bước chuyển biến tốt trong tổ chức hoặc khi xuất hiện một dự án mới

- Giải quyết khủng hoảng (Disturbance handler role): giải quyết những xáo trộn, biến

cố bất ngờ, những vấn nạn xảy ra đối với tổ chức So với các vai trò khác thì vai trò này được ưu tiên hơn trong các quyết định mà nhà quản lý phải giải quyết

- Sử dụng nguồn lực (Resource allocator role): xác định, phân bổ và định vị các nguồn

lực, quyết định phân phối tài nguyên cho bộ phận nào, với số lượng như thế nào, khi nào? Thông thường, khi nguồn lực dồi dào thì nhà quản lý sẽ thực hiện vai trò này một cách dễ dàng, nhưng khi tài nguyên khan hiếm thì quyết định của nhà quản lý trong vấn đề này sẽ khó khăn hơn

- Nhà thương thuyết (Negotiator role): thương lượng, thuyết phục, đàm phán thay mặt

cho tổ chức trong quá trình hoạt động Mục đích của thương thuyết phải tìm ra giải pháp chấp nhận được cho tất cả các bên hữu quan và điều hiển nhiên là có lợi nhất cho

tổ chức của mình

1.4 Các chức năng quản lý

1.4.1 Khái niệm về chức năng quản lý

Chức năng quản lý là những hoạt động riêng biệt được chuyên môn hóa hoạt động quản

lý, thể hiện những phương thức tác động của nhà quản lý đến các lĩnh vực quản lý của tổ chức

Hoặc chức năng quản lý là những phương diện hoạt động cơ bản, mỗi chức năng bao gồm

một tập hợp hoạt động tương đối giống nhau về mục đích hoặc cách thức tiến hành

Hoặc chức năng quản lý là những lĩnh vực, những phương diện hoạt động cơ bản mà các nhà quản lý phải thực hiện trong các loại hình tổ chức khác nhau (nhà nước, tổ chức sản

xuất, tổ chức kinh doanh, )

1.4.2 Phân loại các chức năng quản lý

Vào đầu thế kỷ XX, một nhà công nghiệp Pháp là Henry Fayol đề xuất 5 chức năng: Hoạch định, tổ chức, phối hợp, chỉ huy, kiểm soát Hai tác giả L Gulick và L Wrwich

đề xuất 7 chức năng: Hoạch định, tổ chức, nhân sự, chỉ huy, phối hợp, báo cáo, ngân sách Theo H Koontz và C O’Donnell [9] đưa ra 4 chức năng: Hoạch định, tổ chức,

điều hành, kiểm soát

Trang 16

Ngày nay, theo các sách giáo khoa về quản lý học phổ biến nhất, thì quản lý có 4 chức năng được khái quát theo sơ đồ sau:

Định hướng và

kế hoạch hóa

kích thích động viên

hệ giữa các bộ phận của tổ chức

Điều khiển, động viên và giải quyết các mâu thuẫn

Theo dõi hoạt động, điều chỉnh đảm bảo thực hiện

kế hoạch

Hình 1.4: Mô tả các chức năng quản lý một tổ chức

1.5 Các phương pháp chung trong quản lý

1.5.1 Khái niệm về phương pháp

Phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động có thể có và có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và các khách thể để đạt được mục tiêu đã đề

ra

1.5.2 Các phương pháp chung trong quản lý

Chủ thể quản lý thường tác động lên đối tượng quản lý (là các bộ phận và các hoạt động hoặc con người trong tổ chức) bằng một trong các phương pháp hoặc kết hợp các phương pháp sau đây

1.5.2.1 Phương pháp hành chính

a Khái niệm: Phương pháp hành chính là phương pháp tác động dựa vào các mối

quan hệ tổ chức của hệ thống quản lý và kỷ luật của tổ chức

Phương pháp hành chính là sự tác động trực tiếp lên những người thừa hành dưới quyền bằng các quyết định dứt khoát, mang tính bắt buộc, nếu vi phạm sẽ bị xử lý

b Vai trò của phương pháp: Phương pháp hành chính xác lập kỷ cương làm việc

trong tổ chức và giải quyết nhanh chóng các vấn đề đột xuất đặt ra cho tổ chức

c Yêu cầu:

Các quyết định phải dựa trên luận cứ khoa học; có nghĩa là khi ra quyết định phải có

đủ thông tin, tính toán đầy đủ các lợi ích và hậu quả của quyết định

Mục tiêu của

tổ chức

Trang 17

Khi sử dụng phương pháp hành chính phải gắn chặt quyền hạn và trách nhiệm của

người ra quyết định Khi đó người ra quyết định mới chịu khó tìm tòi quyết định đúng, đồng thời có trách nhiệm đôn đốc cấp dưới thực hiện quyết định, chịu trách nhiệm về kết quả qui định của mình

đ.Nội dung:

Về mặt tổ chức: Chủ thể quản lý ban hành các quy định về quy mô, cơ cấu của các bộ

phận, điều lệ của tổ chức,… nhằm thiết lập tổ chức và xác lập mối quan hệ hoạt động trong nội bộ tổ chức;

Tác động điều chỉnh: Nhà quản lý ra các chỉ thị, mệnh lệnh hành chính bắt buộc cấp

dưới phải thực hiện để giải quyết những bất thường của tổ chức

1.5.2.2 Phương pháp kinh tế

a Khái niệm: Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động gián tiếp lên đối tượng bị

quản lý thông qua lợi ích kinh tế

b Vai trò:

Tạo động lực thúc đẩy con người tích cực lao động;

Cho phép người lao động lựa chọn phương án hành động có hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ;

Mở rộng quyền hành động cho cấp dưới, tăng cường tính chủ động, sáng tạo tăng trách nhiệm kinh tế cho họ

c Nội dung:

Xây dựng mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức: là những chỉ tiêu cụ thể từng thời gian cho từng bộ phận của tổ chức;

Xây dựng các định mức kinh tế-kỹ thuật, các đòn bẩy kinh tế của tổ chức;

Xây dựng chế độ thưởng phạt vật chất, trách nhiệm vật chất cho từng bộ phận, từng

cá nhân trong tổ chức

d.Điều kiện:

Luôn luôn gắn liền với việc sử dụng các đòn bẩy kinh tế như lãi suất, tiền lương, tiền thưởng,…

Phải thực hiện phân công đúng đắn giữa các cấp quản lý;

Cán bộ quản lý phải có đủ trình độ và năng lực nhiều mặt;

Có định mức kinh tế - kỹ thuật khoa học và hiện thực;

Tăng cường công tác kiểm tra

1.5.2 3 Phương pháp tâm lý, giáo dục

Trang 18

a.Khái niệm: Phương pháp tâm lý, giáo dục là phương pháp tác động vào nhận thức

và tình cảm của thành viên trong tổ chức nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình làm việc của họ

b.Vai trò: Đối tượng quản lý là con người, nên nhà quản lý tác đông vào yếu tố tâm

lý, tình cảm làm tăng sức mạnh tinh thần của các thành viên trong tổ chức

c.Nội dung: Trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý

Đặt trưng của phương pháp là thuyết phục, làm cho người lao động phân biệt được đúng - sai, phải - trái, lợi - hại, đẹp - xấu, thiện - ác Từ đó, nâng cao tính tự giác, phát huy mặt mạnh, khắc phục mặt yếu của người lao động

Tóm lại, trong quản lý các nhà quản lý có thể sử dụng các phương pháp khác nhau cho các công việc, tình huống khác nhau Thông thường, các vấn đề mang tính chiến lược của tổ chức thì nên sử dụng phương pháp hành chính, còn các vấn đề cụ thể thì nên áp dụng phương pháp kinh tế Còn phương pháp tâm lý giáo dục được sử dụng thường xuyên trong công việc

1.6 Môi trường quản lý

1.6.1 Khái niệm về môi trường quản lý

Môi trường quản lý là tập hợp các yếu tố, các điều kiện bao quanh bên ngoài và có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động của tổ chức

Các yếu tố, các điều kiện cấu thành môi trường quản lý luôn có mối quan hệ tương tác với nhau, đồng thời tác động đến hoạt động của tổ chức, nhưng mức độ và chiều hướng tác động của các yếu tố, điều kiện lại khác nhau Trong cùng một thời điểm, cùng một đối tượng có yếu tố tác động thuận, nhưng lại có yếu tố trở thành lực cản đối với sự phát triển của tổ chức

Các yếu tố, điều kiện tác động đến hoạt động của tổ chức không cố định, tĩnh tại mà thường xuyên vận động, biến đổi Bởi vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động, các nhà quản lý phải nhận biết được một cách nhạy bén và dự báo đúng được và những xu hướng và mức độ thay đổi của môi trường quản lý

1.6.2 Phân loại môi trường quản lý

Trang 19

Hình 1.5: Phân loại môi trường của tổ chức a) Môi trường vĩ mô (hay môi trường chung)

- Khái niệm: Môi trường vĩ mô hay còn gọi là môi trường chung (general

environment) là mọi yếu tố môi trường bao quanh bên ngoài tổ chức như yếu tố chính trị, yếu tố kinh tế, và tác động đến tổ chức

- Các loại môi trường chung

Môi trường chính trị - pháp luật

Ảnh hưởng ngày càng lớn đến các hoạt động của tổ chức, bao gồm hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách của chính phủ, hệ thống luật pháp hiện hành, các xu hướng ngoại giao của chính phủ, những diễn biến chính trị trong nước, trong khu vực và trên toàn thế giới Tổ chức là doanh nghiệp phải tuân theo các quy định về thuê mướn, thuế, cho vay, an toàn, vật giá, quảng cáo nơi đặt nhà máy và bảo vệ môi trường,

Môi trường kinh tế

Các ảnh hưởng chủ yếu về kinh tế gồm các yếu tố như lãi suất ngân hàng, giai đoạn của chu kỳ kinh tế, cán cân thanh toán, chính sách tài chính và tiền tệ, tình trạnh công

ăn việc làm Vì các yếu tố này tương đối rộng nên cần chọn lọc để nhận biết các tác động cụ thể ảnh hưởng trực tiếp nhất đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng lớn đến các doanh nghiệp kinh doanh

Môi trường văn hoá - xã hội

Tổ chức Tổ chức

Môi trường

vi mô Môi trường vĩ mô (CT,KT, XH, )

Trang 20

Môi trường văn hóa - xã hội bao gồm những chuẩn mực và giá trị được chấp nhận và tôn trọng bởi một xã hội hoặc một nền văn hóa cụ thể Sự thay đổi của các yếu tố văn hóa - xã hội một phần là hệ quả của sự tác động lâu dài của các yếu tố vĩ mô khác, do vậy nó thường biến đổi chậm hơn so với các yếu tố khác

Các khía cạnh hình thành môi trường văn hóa - xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ, trên diện rộng và lâu dài đến các họat động của tổ chức như: những quan niệm về đạo đức, thẩm mỹ, lối sống, về nghề nghiệp, những phong tục, tập quán, truyền thống; những quan tâm ưu tiên của xã hội; trình độ nhận thức, học vấn chung của xã hội,v.v

Tất cả các tổ chức cần phân tích rộng rãi các yếu tố xã hội nhằm nhận biết các cơ hội

và nguy cơ có thể xảy ra Khi một hay nhiều yếu tố thay đổi chúng có thể tác động đến

tổ chức, như xu hướng nhân chủng học, sở thích vui chơi giải trí, chuẩn mực đạo đức

và quan điểm về mức sống, cộng đồng kinh doanh và lao động nữ

Môi trường công nghệ

Đây là một trong những yếu tố rất năng động, chứa đựng nhiều cơ hội và đe dọa đối với các doanh nghiệp Những áp lực và đe dọa từ môi trường công nghệ có thể là: sự

ra đời của công nghệ mới làm xuất hiện và tăng cường ưu thế cạnh tranh của các sản phẩm thay thế, đe dọa các sản phẩm truyền thống của ngành hiện hữu Sự bùng nổ của công nghệ mới làm cho công nghệ hiện tại bị lỗi thời và tạo ra áp lực đòi hỏi các tổ chức là doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ để tăng cường khả năng cạnh tranh Sự

ra đời của công nghệ mới làm tăng thêm áp lực đe dọa các doanh nghiệp hiện có trong ngành

Môi trường tự nhiên

Điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, bệnh dịch, đất đai, sông biển, các nguồn tài nguyên khoáng sản trong lòng đất, tài nguyên rừng biển, sự trong sạch của môi trường nước, không khí, Tác động của các điều kiệu tự nhiên đối với các quyết sách trong kinh doanh từ lâu đã được các doanh nghiệp thừa nhận Trong rất nhiều trường hợp, chính các điều kiện tự nhiên trở thành một yếu tố rất quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ Tuy nhiên, cho tới nay các yếu tố về duy trì môi trường tự nhiên mới đang được chú ý tới Sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách của nhà nước ngày càng tăng vì công chúng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng môi trường tự nhiên

Các nhóm quyền lợi của công chúng làm phát sinh nhiều vấn đề về yếu tố môi trường khiến chính phủ và công chúng phải chú ý tới Các vấn đề ô nhiễm môi trường, sản

Trang 21

phẩm kém chất lượng, lãng phí tài nguyên thiên nhiên cùng với nhu cầu ngày càng lớn đối với các nguồn lực khan hiếm khiến công chúng cũng như các nhà doanh nghiệp phải thay đổi các quyết định và biện pháp hoạt động liên quan

Môi trường toàn cầu

Các rào cản thuế quan Thuế quan (tariff) là một rào cản thương mại nhằm bảo vệ sản xuất trong nước Tự do thương mại (Free trade): trong một thỏa thuận tự do thương mại các nước nhắm đến chuyên biệt hóa những gì mà họ cho là có hiệu quả nhất Các rào cản văn hóa và khoảng cách địa lý: trong các năm trở gần đây, công nghệ truyền thông và vận tải (nhất là hàng không) đã được cải thiện đáng kể, chính điều đó cũng làm giảm những sự khác biệt về văn hóa

b) Môi trường vi mô (hay Môi trường đặc thù)

b1 Khái niệm: Môi trường vi mô hay còn gọi là môi trường đặc thù (specific

environment) là một phần của môi trường, có liên quan đến từng tổ chức và tác động mạnh vào tổ chức làm ảnh hưởng đến kết quả hoàn thành mục tiêu của tổ chức

Người mua có ưu thế có thể làm cho lợi nhuận của hàng hóa hoặc dịch vụ giảm bằng cách ép giá xuống hoặc đòi hỏi chất lượng cao hơn và phải làm nhiều công việc dịch

vụ hơn

Người mua có nhiều thế mạnh hơn khi họ có các điều kiện sau:

• Lượng hàng người mua chiếm tỷ lệ lớn trong khối lượng hàng bán ra của doanh nghiệp, như lượng bán hàng mà hãng General Motors mua của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện nhỏ

Trang 22

• Việc chuyển sang mua hàng của người khác không gây nhiều tốn kém;

• Người mua đưa ra tín hiệu đe dọa đáng tin cậy sẽ mua hàng của các bạn hàng cung ứng khác, như các hãng sản xuất ô tô thường làm;

• Sản phẩm của người bán ít ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm của người mua Nếu sự tương tác của các điều kiện nói trên làm cho doanh nghiệp không đạt được mục tiêu của mình thì doanh nghiệp phải cố gắng thay đổi vị thế của mình trong việc thương lượng giá bằng cách thay đổi một hoặc nhiều điều kiện nói trên hoặc là phải tìm khách hàng ít có ưu thế hơn

Đối thủ cạnh tranh

Sự hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng đối với các tổ chức

do nhiều nguyên nhân Thứ nhất là các đối thủ cạnh tranh quyết định tính chất và mức

độ tranh đua hoặc thủ thuật giành lợi thế trong ngành

Mức độ cạnh tranh dữ dội phụ thuộc vào mối tương tác giữa các yếu tố như số lượng doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, mức độ tăng trưởng của ngành, cơ cấu chi phí cố định và mức độ đa dạng hóa sản phẩm Sự hiện hữu của các yếu tố này có xu hướng làm tăng nhu cầu hoặc nguyện vọng của doanh nghiệp muốn đạt được và bảo vệ thị phần của mình Vì vậy chúng làm cho sự cạnh tranh thêm gay gắt

Các doanh nghiệp cần nhận thấy rằng quá trình cạnh tranh không ổn định Chẳng hạn, trong các ngành công nghiệp phát triển chín muồi thường sự cạnh tranh mang tính chất

dữ dội khi mức tăng trưởng và lợi nhuận bị suy giảm Ngoài ra các đối thủ cạnh tranh mới và các giải pháp công nghệ mới cũng thường làm thay đổi mức độ và tính chất cạnh tranh

Các doanh nghiệp cần phân tích từng đối thủ cạnh tranh để nắm và hiểu được các biện pháp phản ứng và hành động mà họ có thể thông qua

Các nhà cung ứng

Các doanh nghiệp cần phải quan hệ với các tổ chức cung cấp các nguồn hàng khác nhau, như vật tư, thiết bị, lao động và tài chính Bao gồm người bán vật tư, thiết bị; người cung cấp vốn; và nguồn lao động

Doanh nghiệp có thể sử dụng một trong 2 phương pháp quản lý đối với các nhà cung ứng:

Phương pháp cạnh tranh cách kéo giữa các nguồn hàng

Trang 23

Phương pháp này được tiến hành thông qua các biện pháp kinh tế như giá cả, lựa chọn nhà cung ứng theo phương thức chào hàng cạnh tranh hay đấu thầu Ưu điểm là tìm được nguồn hàng giá thấp Nhược điểm (theo W Deming) là nếu doanh nghiệp kéo dài chính sách tìm kiếm mọi thứ mua vào giá rẻ mà ít chú ý đến chất lượng và dịch vụ

có thể dẫn đến đẩy những nhà cung ứng tốt ra khỏi hệ thống sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Phương pháp lựa chọn và xây dựng quan hệ bạn hàng lâu dài (lý thuyết về chuỗi giá

trị)

Phương pháp này có ưu điểm là sử dụng ít nguồn cung ứng, có được sự cam kết cao

và loại trừ được sự biến động chất lượng sản phẩm do yếu tố đầu vào, giảm thủ tục hành chính và kế toán Đây là phương pháp phổ biến của các doanh nghiệp hiện đại

Các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan

Các chính sánh của các cơ quan quản lý nhà nước có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Vì vậy, doanh nghiệp cần sử dụng các phương pháp sau: Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ, không đối đầu với pháp luật

Tạo niềm tin đối với cơ quan quản lý nhà nước để giành được nhiều hợp đồng từ nguồn vốn nhà nước

Nắm vững chủ trương, đường lối, nhiệm vụ của nhà nước trong từng thời kỳ để tìm hướng phát triển doanh nghiệp

1.7 Sơ lược lịch sử các học thuyết về quản lý

Các hoạt động quản lý đã có từ hàng ngàn năm trước Các Kim tự tháp Ai Cập và Vạn Lý trường Thành của Trung Quốc là chứng tích của các dự án quy mô lớn Điều

đó cho thấy rằng các tổ chức đã xuất hiện từ hàng ngàn năm trước và quản lý đã được thực hiện cùng trong thời gian đó [8,11,12] Nhưng chưa được đúc kết thành lý thuyết Giai đoạn này lý thuyết quản lý chưa tách khỏi triết học Mà chủ yếu là thứ triết học - quản lý xã hội (lý thuyết cai trị) Giai đoạn này có một số trường phái sau:

1.7.1 Các tư tưởng quản lý cổ đại

a.Tư tưởng quản lý cổ đại Trung Hoa [8]

Tiêu biểu là 2 trường phái “Đức trị” mà đại diện là Khổng Tử (551- 479 TCN) Có

thể nói Khổng Tử là một nhà lý luận về quản lý-cai trị xuất sắc Những tư tưởng quản lý của ông thể hiện một triết lý sâu sắc và nhân văn, được xem như nền tảng văn hóa cho hậu thế về quản lý xã hội ở nhiều quốc gia theo mô hình “Ổn định, kỷ

Trang 24

cương và phát triển” Tư tưởng quản lý của Khổng Tử xuất phát từ quan niệm con người vốn có tính thiện, có lòng nhân từ, “Nhân chi sơ, chí bản thiện”, “Dĩ dân vi bản-Dân là gốc nước” Từ đó công cụ cai trị chủ yếu là “đức” Các nhà quản lý chủ yếu là nêu gương và giáo dục Ông phân chia các giá trị xã hội thành ngũ thường: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Dũng

Trường phái thứ hai là “Pháp trị” mà đại diện là Hàn Phi Tử Xuất phát từ quan

niệm con người vốn có tính ác Ông chủ trương dùng hình phạt để ngăn ngừa những hành động có hại cho nước Ông đưa ra 3 khái niện cơ bản trong quản lý - cai trị là

“Thế” chỉ quyền lực, “Pháp” chỉ luật pháp và “Thuật” chỉ phương pháp, cách thức quản lý

b Tư tưởng quản lý cổ đại Phương Tây

Democrit (460-370 TCN): Để quản lý đất nước, có thể lựa chọn 3 phương pháp cơ

bản: (1) Phương pháp dân chủ đối với con người, (2) Phương pháp dùng hình phạt đối với các hành vi vi phạm chuẩn mực đạo đức xã hội, (3) Phương pháp tác động lên nhu cầu và lợi ích của con người, qua đó khiến con người tuân thủ

Platon (427-347 TCN): Ông đưa ra các giải pháp quản lý xã hội: (1)Phải giáo dục

tất cả trẻ em và đưa chúng về vùng nông thôn Trong quá trình học sẽ có 3 kỳ thi tuyển ứng với trình độ và ngành nghề sau này.(2) Phải xây dựng luật pháp, coi luật pháp là tối thượng, bất di bất dịch và chiếm vai trò hàng đầu (3) Phải tin vào một đấng tối cao (4) Về phát triển kinh tế, ông chú trọng phát triển nghề nông

Agristot (384-322 TCN): là người có tư tưởng quản lý tương đối hiện đại và khá

hoàn thiện Các tư tưởng cơ bản của ông là (1) Ông quan niệm con người là loài sinh vật xã hội, sống cộng đồng Do vậy, tất yếu phải được quản lý bằng một thể chế, thiết chế đặc biệt- đó là nhà nước Quyền lực nhà nước chia làm 3 nhánh: lập pháp, hành pháp và phân xử Đây là tư tưởng quan trọng sau này hình thành quan điểm nhà nước pháp quyền với “tam quyền phân lập” (2) Nhiệm vụ cơ bản của nhà nước là làm cho mọi người sống hạnh phúc và giữ gìn trật tự xã hội

1.7.2 Các tư tưởng quản lý cổ điển

1.7.2.1 Trường phái cổ điển[14]

Là thuật ngữ được dùng chỉ những ý kiến về tổ chức và quản lý được đưa ra vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 Bao gồm, lý thuyết quản lý khoa học, lý thuyết quản lý quan liêu và quản lý tổng quát

a Lý thuyết quản lý theo khoa học

Trang 25

Bao gồm các đại diện: Frederick Winslow Taylor, Henry L.Gantt, Frank Gilbreth và Lillan Gilbreth

Frederick Winslow Taylor (1856-1915) được xem là "cha đẻ" của phương pháp

quản lý theo khoa học Taylor nói về quản lý theo khoa học trong tác phẩm "Các nguyên tắc quản lý một cách khoa học (Principles of Scientific Management)" xuất bản ở Mỹ lần đầu vào năm 1911 là: biết chính xác cái bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu rằng họ đã làm một cách tốt nhất và ít tốn nhất

Quản lý khoa học tập trung vào lao động cá nhân, các công cụ và máy móc họ sử dụng Triết lý của nó là thực hành quản lý nên dựa trên những cơ sở của quan sát và thực tế chứ không phải là sự suy đoán hay nghe người khác nói

Tư tưởng quản lý của F.W.Taylor được thể hiện trong tác phẩm "Shop Management" năm 1903 và "Principles of Scientific Management" năm 1911 và tóm tắc ở bốn nguyên tắc cơ bản:

(1) Phát triển phương pháp làm việc khoa học thay thế cho làm việc dựa vào kinh nghiệm, những quy tắc thao tác cũ;

(2) Xác định chức năng hoạch định của nhà quản lý thay vì để cho công nhân tự ý lựa chọn phương pháp làm việc riêng;

(3) Lựa chọn và huấn luyện công nhân một cách khoa học, phát triển tinh thần hợp tác thay vì khuyến khích những nỗ lực cá nhân riêng lẻ;

(4) Phân chia công việc giữa nhà quản lý và công nhân Công tác quản lý tương ứng với bốn nguyên tắc trên là:

Nghiên cứu thời gian và thao tác hợp lý nhất để thực hiện công việc Thu thập thông tin về chi tiết, thời gian và quy trình; thử các phương pháp khác để xem cách nào là tốt nhất;

Trả lương theo nguyên tắc khuyến khích theo sản lượng, đảm bảo an toàn lao động bằng dụng cụ thích hợp;

Dùng cách mô tả công việc để lựa chọn công nhân, thiết lập hệ thống tiêu chuẩn và huấn luyện chính thức;

Thăng tiến trong công việc, chú trọng công tác lập kế hoạch và tổ chức hoạt động

Henry L.Gantt (1861-1919)

Henry Lawrence Gantt vốn là cộng sự rất gần gũi với Taylor và là kỹ sư chuyên

Ngày đăng: 19/10/2022, 00:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Tổ chức là một hệ thống mở - giáo trình nhập môn quản trị kinh doanh chương 1 2
Hình 1.1 Tổ chức là một hệ thống mở (Trang 5)
Hình 1.2: Mô hình hóa khái niệm về quản lý - giáo trình nhập môn quản trị kinh doanh chương 1 2
Hình 1.2 Mô hình hóa khái niệm về quản lý (Trang 8)
Hình 1.3: Sơ đồ phân loại nhà quản lý theo các cấp quản lý trong tổ chức - giáo trình nhập môn quản trị kinh doanh chương 1 2
Hình 1.3 Sơ đồ phân loại nhà quản lý theo các cấp quản lý trong tổ chức (Trang 13)
Hình 1.4: Mô tả các chức năng quản lý một tổ chức - giáo trình nhập môn quản trị kinh doanh chương 1 2
Hình 1.4 Mô tả các chức năng quản lý một tổ chức (Trang 16)
Hình 1.5: Phân loại môi trường của tổ chức  a) Môi trường vĩ mô (hay môi trường chung) - giáo trình nhập môn quản trị kinh doanh chương 1 2
Hình 1.5 Phân loại môi trường của tổ chức a) Môi trường vĩ mô (hay môi trường chung) (Trang 19)
Hình 2.1 Sơ đồ mô tả chức năng định hướng, kế hoạch hóa  2.1.2 Vai trò của chức năng định hướng và kế hoạch hóa - giáo trình nhập môn quản trị kinh doanh chương 1 2
Hình 2.1 Sơ đồ mô tả chức năng định hướng, kế hoạch hóa 2.1.2 Vai trò của chức năng định hướng và kế hoạch hóa (Trang 32)
Hình 2.3: Mô hình cạnh tranh “Năm lực lượng” của M.Porter - giáo trình nhập môn quản trị kinh doanh chương 1 2
Hình 2.3 Mô hình cạnh tranh “Năm lực lượng” của M.Porter (Trang 38)
Hình 2.4: Ma trận SWOT  2.3.4.2 Mô hình và công cụ phân tích lựa chọn các loại chiến lược [12,14,15] - giáo trình nhập môn quản trị kinh doanh chương 1 2
Hình 2.4 Ma trận SWOT 2.3.4.2 Mô hình và công cụ phân tích lựa chọn các loại chiến lược [12,14,15] (Trang 40)
Hình 2.6: Quy trình lập kế hoạch tác nghiệp - giáo trình nhập môn quản trị kinh doanh chương 1 2
Hình 2.6 Quy trình lập kế hoạch tác nghiệp (Trang 46)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w