Nói đến Nguyễn Khoa Điềm, ai cũng dễ dàng hình dung ra một phong cách thơ đẫm chất triết luận xuất phát từ vốn tri thức uyên bác và bề sâu văn hoá trong mối liên tưởng vừa sắc sảo triết lý lại vừa huyền ảo thấp thoáng bóng dáng văn hoá cổ xưa của hồn dân tộc. “Thơ ca Nguyễn Khoa Điềm chứa … soan bai cau tran thuat don, soan van tim hieu chung ve phep lap luan giai thich, yhs-default, soạn sống chết mặc bay, vai trò của rừng đối với môi trường, Soạn văn bài Cầu Long Biên-chứng nhân lịch sử, phan tich hinh tuong cay xa nu qua tac pham rung xa nu cua nguyen trung thanh, ý nghia viec khac bia tien si trong bài Hien tai la, soan anh unit 14 lop 7, Văn8- bai soan NUOC DAI VIET TA
Trang 1Giá trị văn hóa truyền thống trong thơ Nguyễn Khoa Điềm
Nói đến Nguyễn Khoa Điềm, ai cũng dễ dàng hình dung ra mộtphong cách thơ đẫm chất triết luận xuất phát từ vốn tri thức uyên bác
và bề sâu văn hoá trong mối liên tưởng vừa sắc sảo triết lý lại vừahuyền ảo thấp thoáng bóng dáng văn hoá cổ xưa của hồn dân tộc
“Thơ ca Nguyễn Khoa Điềm chứa đựng nhiều chất liệu văn học
và văn hoá dân gian Câu thơ dù ở thể thơ truyền thống hay thơ tự dobao giờ cũng phảng phất phong vị của ca dao, tục ngữ Chất hiền minhcủa trí tuệ dân gian thấm đẫm trong từng từ” [9,tr.255] Nguyễn KhoaĐiềm lại được sinh ra và lớn lên giữa lòng chiếc nôi văn hoá Huế.Chính cái chất Huế thâm trầm, hoàng thành rêu phong ngả bóng làmnhuộm tím nước con sông Hương biếc xanh càng khiến thơ NguyễnKhoa Điềm sâu kín và loáng thoáng chút bí ẩn mơ hồ Nguyễn XuânNam đã có một nhận xét khá rõ nét: “Thơ Nguyễn KhoaĐiềm… có sức liên tưởng mạnh Anh thường dẫn người đọc đi
từ quá khứ đến tương lai, từ khổ đau đến hạnh phúc, từ sách vở đếnđời sống” [7,tr.125] Vâng, giàu vốn tri thức sách vở Đông Tây, ngồnngộn chất liệu đời thực là một thế mạnh tạo nên nhiều khoảnh khắcloé sáng trong những liên tưởng độc đáo của thơ Nguyễn Khoa Điềm.Trong phạm vi bài biết này, chúng tôi xin được đề cập đến nhữnggiá trị văn hoá truyền thống trong thơ anh
Trong đời sống văn học những năm gần đây đã xuất hiện rất nhiềunhững công trình nghiên cứu văn học trong mối quan hệ với vănhoá Điều này, phần nào mang yếu tố tất nhiên, vì suy cho cùng, vănhọc chính là một bộ phận chủ yếu của văn hoá Văn học bất kỳ mộtdân tộc nào cũng mang hồn vía của dân tộc ấy Tuy nhiên, làm cho
“tư liệu văn hoá” trong thơ sáng bừng lên giá trị thẩm mỹ mang tínhlay động cao không phải nhà thơ nào cũng thành công, chưa kể đếnviệc những vốn liếng văn hoá ấy phải được đan quyện vào và chungsống cùng hiện thực thời đại Trong thơ ca Việt Nam có không ít tácgiả đã sử dụng vốn văn hoá làm nền tảng sáng tạo nhằm làm mới vốn
cổ mà ai cũng biết rằng rất quý Nhưng sử dụng vốn văn hoá cổ đặttrong trường liên tưởng mạnh mẽ của hiện thực cuộc sống để tạo nêngương mặt thơ riêng, không phải ai cũng đạt được thành công
Trang 2như Nguyễn Khoa Điềm Qua nghiên cứu thơ Nguyễn Khoa Điềm,chúng tôi xin được rút ra những giá trị văn hoá truyền thống được anh
sử dụng khá nhiều trong các tác phẩm thơ lẻ và trường ca
Ai cũng biết, vật biểu (vật tổ) của dân tộc Việt Nam khác với các dântộc khác chính là yếu tố cặp đôi (hài hoà triết lý Âm Dương), vì thế,biểu tượng nòi giống Việt Nam không phải là một con vật duy nhất
mà là một cặp đôi Âm trước Dương sau (nòi giống Lạc Hồng, nòigiống Tiên Rồng) gắn liền với huyền thoại về những đàn chim Lạcthẳng cánh về phương Nam mở nước và truyền thuyết Lạc Long Quân– Âu Cơ đẻ ra trăm trứng Việt Chính điều này khiến Nguyễn KhoaĐiềm liên tưởng ngay đến đôi cánh tự do của loài chim tổ (Cần lưu
ý trong triết lý Âm Dương, vật biểu của phương Nam chính là Chim):
“Một đất nước
Từ buổi đầu tiên
Mang dấu hiệu cặp cánh tự do của bầy chim Lạc
Qua suốt bốn nghìn năm” (Nghĩ về một nhãn hiệu).
Cũng theo văn hoá học, vật biểu của phương Đông lại là Rồng,
vì thế để khơi mào cho một khái niệm Đất Nước hoàn chỉnh, NguyễnKhoa Điềm liên tưởng ngay rằng:
“Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng” (Mặt đường khát vọng).
Từ những liên tưởng ấy, Nguyễn Khoa Điềm lập tức kéoquá khứ nối về hiện tại của thời mình đang sống và chiến đấu(thời đánh Mỹ):
“Chắc những đứa con của Âu Cơ từng lên rừng và xuống biển
Trang 3Cũng không nhớ thương nhau nhiều như ta nhỉ?
Anh nhớ em làm mỗi ngọn lửa cũng nhớ em
Lửa cháy trong rừng Trường Sơn bao đêm” (Trên núi sông).
Và vì thế, cội nguồn dân tộc, gốc gác tổ tiên luôn nhắc nhở mọingười Việt rằng:
“Hàng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ” (Mặt đường khát vọng).
Bái vọng tổ tiên, yêu quê cha đất tổ, chính là những yếu tố góp phầnlàm nên truyền thống yêu nước Việt nam
của loại hình văn hoá gốc nông nghiệp (loại hình văn hoá gốc dumục điển hình là phương Tây) Chính cái gốc văn hoá nông nghiệpnày đã chi phối rất lớn đến mọi sinh hoạt và đời sống Việt Nam.Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm gốc văn hoá nông nghiệp gắn liền vớinghề trồng lúa nước được thể hiện ở nhiều góc độ
mạnh mẽ đến đời sống văn hoá Việt Nam, đó chính là: luôn phải đắp
đê chống lũ và tồn tại bên cạnh một nước lớn luôn muốn thâu tómmình Đúng vậy, một đất nước sinh tồn bằng sản xuất nông nghiệp thì,đắp đê ngăn lũ như một mệnh lệnh thiêng liêng để mà tồn tại:
Trang 4Phải phá nhà, chặt cây vườn vác ra mà giữ lấy
của dân tộc luôn đối đầu với nước lũ và đối mặt với nước lớn để mà giữ nước:
liên tưởng ngay đến nhân vật Sơn Tinh trong cuộc chiến vớiThuỷ Tinh Quá khứ đang hướng về hiện tại đánh Mỹ của toàn dântộc, về chống “cơn lũ dữ” Đế quốc Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm, từ hiệntại còn mở rộng thời gian liên tưởng đến cả tương lai và không giantoàn nhân loại:
Trang 5Ngợp trước con đê sông Hồng lên cao, lên cao…
văn hoá làng (xã) chiếm một ví trí vô cùng quan trọng Nó được xem
là một đơn nguyên điển hình của nền văn hoá gốc nông nghiệp Haiđặc trưng cơ bản của văn hoá nông thôn là tính cộng đồng và tính tựtrị Khi vượt ra khỏi phạm vi Làng để vươn đến phạm vi Nước, tínhcộng đồng của làng (xã) nông thôn sẽ nâng lên thành tinh thần đoànkết dân tộc, và tính tự trị của làng (xã) sẽ nâng lên thành ý thức độclập dân tộc ở phạm vi Nước Đối với người Việt các đơn vị trung giangiữa Làng và Nước đều không quan trọng, họ chỉ biết “sống ở làng,sang ở nước” Vì vậy, khi xong nhiệm vụ với Nước, họ trở lại nơi
“chôn nhau cắt rốn” của mình: “Đánh xong giặc trở về ngôi làng lạicần cù lam lũ với cái cày, con trâu Nhưng sự vĩ đại của nhân dânchính là ở đó” [6, tr.276] Chính những sản phẩm nhỏ nhoi họ làm rahàng ngày đã góp phần hình thành Đất Nước:
nên cái nền móng văn hoá nông nghiệp nông thôn Việt Nam:“Có tổ tiên ta cầm cuốc, cầm cày” Và mãi mãi muôn đời con cháu về sau
luôn ghi khắc trong sâu thẳm lòng mình hình dáng cha ông trên ruộngđồng làng, trên những cánh đồng làng bạt ngàn màu xanh của lúa:
Trang 6Cũng có dáng một ngày cha ông khăn gói bước ra” (Mặt đường
khát vọng)
quan trọng Nó gắn chặt với đời sống người dân quê Việt Nam “chân đất đầu trần”:
Nguyễn Khoa Điềm, họ đã làm nên Đất Nước Đất nước hình thànhqua những sinh hoạt mang đậm nét văn hoá làng (xã) truyền thốngViệt Nam:
(Mặt đường khát vọng)
nghề trồng lúa trên toàn thế giới Chính vì thể, yếu tố sông nước cũng
là một điển hình của loại hình văn hoá gốc nông nghiệp Việt Nam Tổquốc, Quốc gia đối với nhiều dân tộc có thể là những khái niệm trừu
Trang 7tượng, nhưng với những người dân nông nghiệp Việt Nam, nhữngkhái niệm ấy là vô cùng đơn giản và gần gũi Đó chính là hai yếu tốchính của nền sản xuất nông nghiệp: Đất và Nước Nhưng vì là nềnnông nghiệp lúa nước, sống trong môi trường sông nước nên lúc cần
họ chỉ cần gọi Tổ quốc là “Nước”, cũng là yếu tố đầu tiên trong bốnyếu tố quan trọng: “Nước, phân, cần, giống” của cư dân nông nghiệp.Bản thân Nguyễn Khoa Điềm cũng đã lý giải: “Vì khi làm nôngnghiệp, số phận nhân dân đã gắn chặt với số phận dòng sông Vậy thìvăn hoá ắt phải mang gương mặt dòng sông” [6, tr.177]:
một trường từ ngữ sông nước đúc kết từ lâu đời Ta gọi “Mặt trờimọc” chính là ngôn ngữ của hạt mầm nông nghiệp, gọi “Mặt trờilặn” chính là ngôn ngữ sông nước Và vân vân những trường nghĩasông nước trong ngôn ngữ Việt Nam: “ngụp lặn giữa dòng đời”,
“chìm trong bể khổ”, “chìm đắm trong suy tư”, “hồ sơ bị ngâm lâu”…
Và có lẽ cũng xuất phát từ nền văn minh sông nước mà tất cả cácphong tục tập quán cũng vì sự tồn tại với môi trường tự nhiên và từngbước định hình thành truyền thống:
Trang 8con người, mỗi vùng đất Hẳn cậu bé Nguyễn Khoa Điềm cũng đãtừng gắn chặt tuổi thơ mình cùng những trò chơi nên cái sức mạnh vănhoá truyền thống ấy đã là hành trang không thể thiếu của đời người
Đó là trò thả diều, một trò chơi dân gian nổi tiếng của xứ Huế mà chođến bây giờ “diều Huế” trở thành một thứ “đặc sản” văn hoá rất riêng:
đồng dao đi cùng động tác:
giá trị văn hoá truyền thống thì nó chứa một sức mạnh vô song: mộttình yêu tiếng nói dân tộc đến nặng lòng Và trò chơi “đánh trận giả”thuở ấu thơ lại cũng hiện về làm nền tảng sức mạnh trên bước đường
ta ra trận thật – trận đọ sức mất còn cùng siêu cường quốc Mỹ:
Trang 9Những trận giả trẻ con ta từng chơi, buổi ấy” (Gửi anh Tường).
gian Đó là nền văn chương truyền miệng tự xa xưa còn lưu mãi đếnngày nay mà không cần chữ viết Văn học dân gian Việt Nam cũng đadạng, phong phú không kém bất kỳ một nền văn học dân gian lâu đờinào trên thế giới Đó là những thần thoại, truyền thuyết, những ca dao,tục ngữ:
Và: “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn” (Mặt đường
khát vọng) để rồi vận vào tục ngữ, ca dao hình thành nên tính cách của
con người Việt Nam hiện đại: “O phó bí thư mười bảy tuổi/ “ăn chưa
no, lo chưa tới” mẹ ơi” (Người con gái chằm nón bài thơ) Đó còn là
Đất nước của hàng ngàn pho chuyện cổ tích có tự thời “ngày xửa ngày
xưa”: “Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể” (Mặt đường khát vọng) và:
Tường)
Hay: “Em nghe không trái thị đã rơi xuống tay Người…
Trang 10Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước được phô bày với tất
cả vẻ đẹp lung linh của truyền thống văn hóa vừa gần gũi, cụ thể lạivừa thiêng liêng, huyền ảo
tổ chức đời sống cá nhân của người Việt Đó là những phong tục, tậpquán được truyền nối từ thế hệ này sang thế hệ khác Theo nguờiViệt, khi một sinh linh được sự tác hợp Âm Dương của Cha
và Mẹ vừa mới hình thành như một hạt máu, bản thân nó đã có
sự sống riêng trong lòng người mẹ Người mẹ lúc này không chỉ sốngcho riêng mình mà sống cả vì sự sống của thai nhi trong bụng Vì thế,cái phong tục tính “tuổi mụ” trở thành một phong tục thiêng liêngtrong quan niệm tín ngưỡng về mười hai bà mụ:
Hùng dựng nước bằng câu chuyện “Trầu cau” ăm ắp nghĩa tình vừamang yếu tố truyền thuyết lại vừa đậm yếu tố đời thường của cổ
tích: “Đất nước bắt đầu với miếng trầu bà ăn” Đó là tập quán thể
hiện quan niệm “cái răng cái tóc là góc con người” của người Việt cổ
xưa: “Tóc mẹ thì bới sau đầu” (Mặt đường khát vọng) Đó còn là tín
ngưỡng sùng bái con người thể hiện qua một thứ “tôn giáo” đặc sắcViệt Nam: Đạo thờ cúng tổ tiên Người Việt Nam quan niệm, khi chết
đi chỉ có phần vật chất (thể xác) là tiêu tan còn tinh thần (linh hồn) thìtồn tại vĩnh viễn và thường xuyên đi về trần gian thăm nom, phù trìcon cháu Vì thế, bái vọng tổ tiên là điều không thể thiếu thể hiện sựtôn trọng đầy thiêng liêng của người sống đối với người đã khuất:
Trang 11Mười lăm năm, mới có mặt trên bàn thờ
thiêng, quyến rũ vừa căng đầy sức mạnh của hiện thực cuộc đời
nhất Tất cả mọi giá trị văn hóa vật chất và tinh thần đều phải
có bề dài lịch sử Và từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử dân tộc chỉ có ý nghĩa khi gắn liền với những giá trị văn hóa từ quá khứ đến thời
kỳ lịch sử ấy Truyền thống lịch sử dân tộc trong thơ Nguyễn KhoaĐiềm được thể hiện ở nhiều góc độ khác nhau
cuộc mở cõi về phương Nam
đất nước bởi nhiều lý do, song lịch sử một giai đoạn thường bị chiphối bởi thế lực chính trị của giai đoạn lịch sử ấy mà thôi, còn văn hóa
sử thì lại tồn tại vượt thời gian, vì thế nó trở thành sợi dây nối thiêngliêng, dù vô hình, làm nên sự thống nhất của dân tộc:
Trang 12Huyết thống ta trôi trên bán đảo âm thầm
nhưng khi vì lợi quyền mở mang và thống nhất giang san, họ sẵn
sàng vui vẻ rời quê làm kẻ lưu đày, lao ra chiến trận: “Cầm giáo, cầm khiên và cất tiếng hát lưu đày” (Mặt đường khát vọng) Lưu đày mà
cầm giáo, cầm khiên; lưu đày mà ra đi trong vang ca tiếng hát thì quả
là một cuộc lưu đày đầy thi vị và lạc quan Đây cũng chính là nét vănhóa truyền thống quý báu của người dân Việt
nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre và đánh giặc” Lịch sử dân
tộc gắn liền với lịch sử đánh giặc giữ nước và vì thế:
trong đó có không ít những người mẹ anh hùng trực tiếp tham giađánh giặc:
Trang 13Chúng con xin đón mẹ vào đội ngũ
chiến thắng quân Nguyên Mông của quân dân thời Trần ngày trước:
Và: “Trong lặng im ai đó trả lời:
nhất giang sơn:
Nam trở về nguồn cội:
Trang 14Thế hệ này nối tiếp thế hệ kia, máu hòa trong máu làm nên sợichỉ đỏ vô hình xuyên suốt chiều dài lịch sử:
“chiến thuật trái mù u” thô sơ nhưng không kém thông minh khiến kẻthù bao phen khiếp vía:
làm nên sức mạnh:
đường khát vọng)
của nhân dân
hỏi về quan niệm Đất Nước trong trường ca “Mặt đường khát vọng”, ông bảo: “ý tưởng xuyên suốt của tôi trong chương này là thể hiệnmột Đất nước của nhân dân, do đó, từ ngữ, hình ảnh, chất liệuthơ được sử dụng đều nhằm làm rõ ý tưởng này” [6, tr 274] Tácgiả đã khái quát về nhân dân, đó là những người:
Trang 15“Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
là “Đất Nước của Nhân dân” thì nhất định phải là “Đất Nước của ca dao, thần thoại” Nhân Dân trong thơ Nguyễn Khoa Điềm vừa khái
quát lại vừa cụ thể Nhưng dẫu có thế nào họ vẫn là nhân vật trungtâm làm nên Đất Nước:
Vọng Phu
cảnh
Bà Điểm
văn hoá - lịch sử để làm nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc,chính là danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh Vì sao? Vì:
Trang 16“Có Người, chúng tôi có lại Hùng Vương
lại
Trang 17Chúng tôi sống bằng Tương lai một nửa” ((Mặt đường khát vọng).
đường Người đã chọn làm nên giá trị trường tồn bền vững của truyềnthống văn hóa nước nhà
thơ Nguyễn Khoa Điềm thấm đẫm hồn Huế, chính vì thấm nhuần nềnvăn hóa dân gian nơi chôn nhau cắt rốn nên khi khái quát về ĐấtNước, Nguyễn Khoa Điềm nghĩ ngay đến những câu ca dao bình dâncủa xứ sở:
khát vọng)
giặc, câu dân ca trữ tình cũng đứt đoạn nỗi niềm đau:
khu phố buồn đau”, rồi:
lanh sắc màu giữa chợ Gia Lạc:
Trang 18Mặt trời vàng long lanh trên chợ Gia Lạc” (Con gà đất, cây kèn và
khẩu súng); là dòng Hương thơ mộng, bao đời trở thành chứng nhânlịch sử của vùng đất kinh thành, là dòng sông tri âm của nhiều danhnhân tên tuổi:
công
cha vào Huế học:
hùng, danh nhân dân tộc Không đơn giản là những tên đường, tuổitên họ đã làm sống dậy truyền thống hào hùng trong những ngày Huếsục sôi xuống đường tranh đấu:
Trang 19Vào đại nội có Mai Thúc Loan, Đoàn Thị Điểm
vì thế những vạn chài ven sông trở thành một thứ văn hóa đầy
ám ảnh:
Đá là mỗi một lần chứng kiến đời sống vạn chài lênh đênh sông
nước: “Ôi những cuộc đời sụt lở dần theo con nước mỗi năm lùa vô Đập Đá” Và từ cái chuyện văn hóa bến sông, bãi cồn ấy, tác giả liên
tưởng ngay về mẹ, về lời mẹ dạy con xuất phát từ sự cần thiết củanước ngọt trên những bãi ngô ven thôn Vĩ Dạ:
Nguyễn Khoa Điềm nắm bắt được rất nhiều những tư tưởng triết học,những giá trị văn minh nhân loại Chính vì thế, trường liên tưởng củathơ ông thường được tiếp sức bởi những tri thức văn hóa – lịch
sử nhiều lớp, nhiều tầng: