Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thương mại quốc tế nhằm điều tiết các lĩnh vực về công ăn việc làm, thương mại hàng hóa, khắc phục tình trạng hạn chế, ràng
Trang 1BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
-Bài Tiểu Luận
MÔN KINH TẾ ĐÔI NGOẠI
Đề Tài: Phân Tích Tác động của của việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và địa phương nói
riêng
Giảng viên: PGS TS Dương Văn Bạo
Họ và tên Học viên: Nguyễn Xuân Khánh
Mã Học viên: CH21311
Lớp: Quản Lý Kinh Tế 2021 –2 lớp 3
Hải Phòng, tháng năm 2022
Trang 2MỤC LỤC Nội Dung Trang LỜI MỞ ĐẦU ………2 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ WTO VÀ QUÁ TRÌNH VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
1 Sự hình thành và phát triển của WTO
2 Mục tiêu của WTO
3 Chức năng của WTO
4 Cơ cấu tổ chức WTO
5 Cơ chế vận hành WTO
6 Những nguyên tắc, luật lệ quy định cơ bản
7 Quá trình Việt Nam gia nhập WTO
CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
1 Gia nhập WTO- Cơ hội và thách thức
2 Tác động của WTO trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
3 Thực trạng Việt Nam sau 15 năm khi gia nhập WTO
4 Một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
KẾT LUẬN
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Cách đây 15 năm, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại quốc tế WTO, sau 11 năm chuẩn bị với 15 vòng đàm phán Hơn một thập kỷ qua, tư cách thành viên WTO không chỉ tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước mà còn mở cánh cửa để Việt Nam tham gia sân chơi toàn cầu rộng lớn
Gia nhập WTO là bước tiến quan trọng trong chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế theo chủ trươngcủa Đảng, Nhà nước và Chính phủ
Năm 1995, Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO Khoảng 5 năm 1997-2001 là giai đoạn “minh bạch hóa thể chế chính trị và kinh tế”, các cơ quan nhà nước phải trả lời hơn 1.500 câu hỏi của nhiều nước thành viên WTO về hiến pháp, luật pháp và tình hình thực tế của đất nước
Gần 6 năm tiếp theo (2002-2007) là quá trình đàm phán song phương với những nước có yêu cầu
và đa phương với WTO, đồng thời sửa đổi, hoàn thiện nhiều văn bản luật pháp để đáp ứng đòi hỏi của một quốc gia muốn gia nhập WTO Sau khi là thành viên WTO, hệ thống luật pháp nước
ta tiếp tục được hoàn thiện để thực hiện cam kết với WTO theo lộ trình đối với ngành và lĩnh vựckinh tế
Cả hai giai đoạn sửa đổi và hoàn thiện luật pháp trước và sau khi gia nhập WTO đã chứng minh rằng, đó là quá trình đấu tranh giữa đổi mới với bảo thủ, giữa tự do hóa thương mại với bảo hộ mậu dịch, giữa tôn trọng quyền kinh doanh của doanh nghiệp với duy trì “cơ chế xin-cho”, giữa phương thức điều hành của nhà nước điện tử, nhà nước kiến tạo với duy trì nhà nước tập trung-quan liêu Chính cuộc đấu tranh đó đã đưa lại kết quả bằng sự ra đời của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp 2014, là việc Chính phủ đòi hỏi phải áp dụng tiêu chuẩn của các nước OECD về thuế và các nước ASEAN-4 về hải quan
Với Dự án Hậu WTO, sự khởi động ngay sau khi gia nhập WTO đã được tiến hành đồng loạt ở tất cả các bộ, ngành và địa phương; các cơ quan chuyên trách về WTO đã được thành lập để làm
tư vấn cho doanh nghiệp Nhiều tài liệu, trong đó có cẩm nang về WTO đã được ấn hành Chưa bao giờ có không khí hào hứng, sôi nổi như những tháng sau khi Việt Nam gia nhập WTO, bởi chính sự kiện quan trọng đó đã được chuẩn bị khá tốt, đem lại lòng tin của người dân và doanh nghiệp vào tương lai của đất nước
Trang 4Vậy 15 năm gia nhập WTO, Việt Nam đã có những bước chuyển mình như thế nào? Tất cả đều
được gói gọn trong đề tài: “ Tác động của của việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và địa phương nói riêng”.
Đề tài được nghiên cứu trong thời gian ngắn nên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ WTO VÀ QUÁ TRÌNH VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
1 Sự hình thành và phát triển của WTO
WTO là chữ viết tắt của Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization) - tổ chức quốc tế duy nhất đưa ra những nguyên tắc thương mại giữa các quốc gia trên thế giới Trọng tâm của WTO chính là các hiệp định đã và đang được các nước đàm phán và ký kết
WTO được thành lập ngày 1/1/1995, kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại quốc tế của tổ chức tiền thân, GATT - Hiệp định chung về Thuế quan Thương mại GATT ra đời sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, khi mà trào lưu hình thành hàng loạt cơ chế đa biên điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế đang diễn ra sôi nổi, điển hình là Ngân hàng Quốc tế Tái thiết
và Phát triển, thường được biết đến như là Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) ngày nay
Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thương mại quốc tế nhằm điều tiết các lĩnh vực về công ăn việc làm, thương mại hàng hóa, khắc phục tình trạng hạn chế, ràng buộc các hoạt động này phát triển, 23 nước sáng lập GATT đã cùng một số nước khác tham gia Hội nghị về thương mại và việc làm và dự thảo Hiến chương La Havana để thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) với tư cách là chuyên môn của Liên Hiệp Quốc Đồng thời, các nước này đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lý những biện pháp bảo hộ mậu dịch đang áp dụng tràn lan trong thương mại quốc tế từ đầu những năm 30, nhằm thực hiện mục tiêu tự do hóa mậu dịch, mở đường cho kinh tế và thương mại phát triển, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân các nước thành viên
Hiến chương thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) nói trên đã được thỏa thuận tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và việc làm ở Havana từ 11/1947 đến 23/4/1948, nhưng do một số quốc gia gặp khó khăn trong phê chuẩn, nên việc hình thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) đã không thực hiện được.Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định, và với kết quả đáng khích lệ đã đạt được ở vòng đàm phán thuế quan đầu tiên là 45.000 ưu đãi về thuế áp dụng giữa các bên tham gia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lượng mậu dịch thế giới, 23 nước sáng lập đã cùng nhau ký hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lực vào 1/1948.Từ đó tới nay, GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán chủ yếu về thuế quan Tuy nhiên, từ thập kỷ 70 và đặc biệt từ hiệp định Uruguay(1986-1994) do thương mại quốc tế không ngừng phát triển, nên GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các hiệp định hình thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các hàng rào
Trang 6phi quan thuế, về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại, về thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ chế giải quyết tranh chấp Với diện điều tiết của hệ thống thương mại đa biên được mở rộng, nên Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) vốn chỉ là một sự thỏa thuận có nhiều nội dung ký kết mang tính chất tùy ý đã tỏ ra không thích hợp Do đó, ngày 15/4/1994, tại Marrkesh (Maroc), các bên đã kếtthúc hiệp định thành lập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) nhằm kế tục và phát triển sự nghiệp GATT WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống Liên Hợp Quốc và đi vào hoạt động từ 1/1/1995.
Có thể hình dung một cách đơn giản về WTO như sau:
- WTO là nơi đề ra những quy định: Ðể điều tiết hoạt động thương mại giữa các quốc gia trên quy mô toàn thế giới hoặc gần như toàn thế giới Tính đến thời điểm 31/12/2005, WTO có 148 thành viên
- WTO là một diễn đàn để các nước, các thành viên đàm phán:Người ta thường nói, bản thân
sự ra đời của WTO là kết quả của các cuộc đàm phán Sau khi ra đời, WTO đang tiếp tục tổ chứccác cuộc đàm phán mới "Tất cả những gì tổ chức này làm được đều thông qua con đường đàm phán" Có thể nói, WTO chính là một diễn đàn để các quốc gia, các thành viên tiến hành thoả thuận, thương lượng, nhân nhượng nhau về các vấn đề thương mại, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ , để giải quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại giữa các bên
- WTO gồm những quy định pháp lý nền tảng của thương mại quốc tế:Ra đời với kết quả được ghi nhận trong hơn 26.000 trang văn bản pháp lý, WTO tạo ra một hệ thống pháp lý chung làm căn cứ để mỗi thành viên hoạch định và thực thi chính sách nhằm mở rộng thương mại, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống nhân dân các nước thành viên Các văn bản pháp lýnày bản chất là các "hợp đồng", theo đó các chính phủ các nước tham gia ký kết, công nhận (thông qua việc gia nhập và trở thành thành viên của WTO) cam kết duy trì chính sách thương mại trong khuôn khổ những vấn đề đã thoả thuận Tuy là do các chính phủ ký kết nhưng thực chất mục tiêu của những thoả thuận này là để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các nhà sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ, các nhà xuất nhập khẩu thực hiện hoạt động kinh doanh, buôn bán của mình
- WTO giúp các nước giải quyết tranh chấp: Nếu "mục tiêu kinh tế" của WTO là nhằm thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mại hàng hoá, dịch vụ, trao đổi các sáng chế, kiểu dáng, phát minh (gọi chung là quyền tài sản sở hữu trí tuệ) thì các hoạt động của WTO nhằm giải quyết
Trang 7các bất đồng và tranh chấp thương mại phát sinh giữa các thành viên theo các quy định đã thoả thuận, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế và luật lệ của WTO chính là mục tiêu chính trị của WTO Mục tiêu cuối cùng của các mục tiêu kinh tế và chính trị nêu trên là nhằm tới "mục tiêu xã hội" của WTO là nhằm nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm, tăng thunhập cho người dân, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường.
2 Mục tiêu của WTO
Lời mở đầu của Hiệp định thành lập WTO như sau:"Các bên ký kết Hiệp định này thừa nhận rằng: Tất cả những mối quan hệ của họ (tức các bên ký kết thành lập ra WTO) trong lĩnh vực kinh tế và thương mại phải được thực hiện với mục tiêu nâng cao mức sống, bảo đảm đầy đủ việc làm và một khối lượng thu nhập và nhu cầu thực tế lớn và phát triển ổn định; mở rộng sản xuất, thương mại hàng hoá và dịch vụ, trong khi đó vẫn đảm bảo việc sử dụng tối ưu nguồn lực của thế giới theo đúng mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ và duy trì môi trường và nâng cao các biện pháp để thực hiện điều đó theo cách thức phù hợp với những nhu cầu và mối quan tâm riêng rẽ của mỗi bên ở các cấp độ phát triển kinh tế khác nhau
Các bên ký kết Hiệp định thừa nhận thêm rằng: cần phải có nỗ lực tích cực để bảo đảm rằng các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là những quốc gia kém phát triển nhất, duy trì được tỷ phầntăng trưởng trong thương mại quốc tế tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế của quốc gia đó Các bên ký kết Hiệp định mong muốn đóng góp vào những mục tiêu này bằng cách tham gia vào những thoả thuân tương hỗ và cùng có lợi theo hướng giảm đáng kể thuế và các hàng rào cảntrở thương mại khác và theo hướng loại bỏ sự phân biện đối xử trong các mối quan hệ thương mại quốc tế
Do đó, (Các bên ký kết Hiệp định), quyết tâm xây dựng một cơ chế thương mại đa biên chặt chẽ, ổn định và khả thi hơn; quyết tâm duy trì những nguyên tắc cơ bản và tiếp tục theo đuổi những mục tiêu đang đặt ra cho cơ chế thương mại đa biên này
3 Chức năng của WTO
Theo ghi nhận tại Ðiều III, Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, WTO có 5 chức năng sau:
- WTO tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi, quản lý và điều hành và những mục tiêu khác của Hiệp định thành lập WTO, các hiệp định đa biên của WTO, cũng như cung cấp một khuôn khổ để thực thi, quản lý và điều hành việc thực hiện các hiệp định nhiều bên;
Trang 8- WTO là một diễn đàn cho các cuộc đàm phán giữa các nước thành viên về những quan hệ thương mại đa biên trong khuôn khổ những quy định của WTO WTO cũng là diễn đàn cho các cuộc đàm phán tiếp theo giữa các thành viên về những quan hệ thương mại đa biên; đồng thời WTO là một thiết chế để thực thi các kết quả từ việc đàm phán đó hoặc thực thi các quyết định
do Hội nghị Bộ trưởng đưa ra;
- WTO sẽ thi hành Thoả thuận về những quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp giữa các thành viên (Thoả thuận này được quy định trong Phụ lục 2 của Hiệp định thành lậpWTO)
- WTO sẽ thi hành Cơ chế rà soát chính sách thương mại (của các nước thành viên), Cơ chế này được quy định tại Phụ lục 3 của Hiệp định thành lập WTO;
- Ðể đạt tới sự thống nhất cao hơn về quan điểm trong việc tạo lập các chính sách kinh tế toàn cầu, khi cần thiết, WTO sẽ hợp tác với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới và các cơ quan trực thuộc của nó
4 Cơ cấu tổ chức WTO
4.1 Hội nghị bộ trưởng
Hội nghị bộ trưởng gồm đại diện của tất cả các nước thành viên của WTO Hội nghị bộ trưởng họp hai năm một lần Hội nghị bộ trưởng là cơ quan quyền lực cao nhất của WTO.Hội nghị bộ trưởng sẽ thực thi các chức năng của WTO và thực hiện hiện những hành động cần thiết để thực thi các chức năng này Khi một thành viên nào đó yêu cầu, Hội nghị bộ trưởng cũng có quyền đưa ra những quyết định về tất cả các vấn đề thuộc các hiệp định đa biên, theo trình tự ra quyết định được quy định tại Hiệp định thành lập WTO và các hiệp định đa biên
Tính đến thời điểm 12/2005, WTO đã tổ chức được 6 kỳ hội nghị Hội nghị bộ trưởng lần thứ nhất tổ chức tại Singapore vào tháng 12/1996; lần thứ hai tại Geneva, Thuỵ Sỹ, tháng 5/1998; lầnthứ 3 tại Seatle, Mỹ, tháng 12/1999; lần thứ 4 tại Doha, Qatar, tháng 11/2001; lần thứ 5 tại Cancun, Mehico, tháng 9/2003; lần thứ 6 tại Hongkong, tháng 12/2005
4.2 Ðại hội đồng
Ðại hội đồng gồm đại diện của tất cả các nước thành viên, sẽ họp khi cần thiết Trong thời gian giữa các khoá họp của Hội nghị bộ trưởng thì chức năng của Hội nghị bộ trưởng sẽ do Ðại hội đồng đảm nhiệm Như vậy, có thể hiểu Ðại hội đồng là cơ quan quyết định tối cao của WTO
Trang 9trong thời gian giữa các khoá họp của Hội nghị bộ trưởng Khi cần thiết, Ðại hội đồng sẽ được triệu tập để đảm nhiệm phần trách nhiệm của Cơ quan giải quyết tranh chấp.Khi cần thiết, Ðại hội đồng sẽ được triệu tập để đảm nhiệm phần trách nhiệm của Cơ quan rà soát chính sách thương mại.Như vậy, các hoạt động hàng ngày trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội nghị bộ trưởng thuộc trách nhiệm giải quyết của 3 cơ quan:
- Ðại hội đồng;
- Cơ quan giải quyết tranh chấp;
- Cơ quan rà soát chính sách thương mại
Nhưng theo như quy định của WTO, thực chất, cả 3 cơ quan này chỉ là một Tức là tuỳ theo từng trường hợp cụ thể: Ðại hội đồng nhóm họp với các chức năng và nhiệm vụ của Cơ quan giảiquyết tranh chấp hay là của Cơ quan rà soát chính sách thương mại Cơ quan giải quyết tranh chấp giám sát việc thực thi các thủ tục giải quyết tranh chấp giữa các thành viên (quy định tại Thoả thuận về những quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp).Cơ quan rà soát chính sách thương mại tiến hành việc phân tích các chính sách thương mại của các nước thành viên (quy định tại Cơ chế rà soát chính sách thương mại)
4.3 Các hội đồng; các uỷ ban; các nhóm công tác
Các hội đồng:
Các hội đồng trực thuộc Ðại hội đồng, hoạt động theo sự chỉ đạo chung của Ðại hội đồng Các hội đồng cũng bao gồm đại diện của tất cả các thành viên của WTO Ðại hội đồng có các hội đồng sau:
- Hội đồng thương mại hàng hoá
- Hội đồng thương mại dịch vụ
- Hội đồng về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
Chức năng của các hội đồng là giám sát việc thực hiện các hiệp định liên quan đến lĩnh vực củamình Các hội đồng sẽ nhóm họp khi cần thiết Các hội đồng này thành lập ra các cơ quan cấp dưới theo yêu cầu
Các uỷ ban:
Hội nghị bộ trưởng thành lập ra các uỷ ban Các uỷ ban cũng bao gồm các đại diện của tất cả các thành viên của WTO Các uỷ ban này đảm nhiệm các chức năng được quy định trong các hiệp định của WTO hoặc các chức năng do Ðại hội đồng giao cho Tuy cũng trực thuộc Ðại hội
Trang 10đồng nhưng thẩm quyền hoạt động của các uỷ ban hẹp hơn so với các hội đồng Ðại hội đồng có các uỷ ban sau:
- Uỷ ban về thương mại và môi trường;
- Uỷ ban về thương mại và phát triển;
- Uỷ ban về hiệp định thương mại khu vực;
- Uỷ ban về các hạn chế nhằm cân bằng cán cân thanh toán quốc tế;
- Uỷ ban về ngân sách, tài chính và quản trị;
=> Các nhóm công tác:
Các nhóm công tác cũng trực thuộc Ðại hội đồng nhưng cấp độ nhỏ hơn và hẹp hơn so với các
uỷ ban Ðại hội đồng có nhóm công tác sau:
- Nhóm công tác về gia nhập tổ chức;
- Nhóm công tác về quan hệ giữa thương mại và đầu tư;
- Nhóm công tác về tác động qua lại giữa thương mại và chính sách cạnh tranh;
- Nhóm công tác về minh bạch trong chi tiêu chính phủ;
- Nhóm công tác về thương mại, nợ và tài chính;
- Nhóm công tác về thương mại và chuyển giao công nghệ
4.4 Ban thư ký của WTO
Ban thư ký của WTO đặt tại Geneva Ban thư ký có khoảng 550 nhân viên Nhân viên của Ban thư ký do Ban thư ký tuyển dụng qua thi tuyển Ðiều kiện trước tiên là phải thông thạo 3 ngoại ngữ là ngôn ngữ chính thức của WTO là Anh, Pháp, Tây Ban Nha Ðứng đầu Ban thư ký là Tổnggiám đốc Tổng giám đốc của WTO do Hội nghị bộ trưởng bổ nhiệm, quy định về quyền hạn, nghĩa vụ, điều kiện phục vụ và thời hạn phục vụ của Tổng giám đốc Nhiệm kỳ của Tổng giám đốc là 4 năm.Tổng giám đốc sẽ bổ nhiệm các thành viên của Ban thư ký Dưới Tổng giám đốc là các Phó tổng giám đốc Các vụ chức năng của Ban thư ký trực thuộc Tổng giám đốc hoặc một Phó tổng giám đốc
Ban thư ký có nhiệm vụ:
- Trợ giúp về mặt hành chính và kỹ thuật cho các cơ quan chức năng của WTO (các hội đồng, các uỷ ban, ) trong việc đàm phán và thực thi các hiệp định;
- Trợ giúp kỹ thuật cho các nước đang phát triển và kém phát triển;
- Thống kê và đưa ra phân tích về tình hình, chính sách và triển vọng thương mại thế giới;
- Hỗ trợ các quá trình giải quyết tranh chấp và rà soát chính sách thương mại;
Trang 11- Tiếp xúc và hỗ trợ các nước thành viên mới trong quá trình đàm phán gia nhập; tư vấn cho các chính phủ muốn trở thành thành viên của WTO;
5 Cơ chế vận hành WTO
Tổ chức thương mại thế giới họp 2 năm một lần dưới hình thức Hội nghị Bộ trưởng các nước thành viên Ngoài các cuộc họp của Hội nghị bộ trưởng, còn có các cuộc họp của Ðại hội đồng Trong các cuộc họp của WTO, việc ra quyết định được tiến hành trên cơ sở đồng thuận Ðây là một thông lệ của GATT 1947 (tổ chức tiền thân của WTO) trước kia và được WTO tiếp tục sử dụng Cơ chế "đồng thuận" khác với cơ chế "biểu quyết" Ở cơ chế biểu quyết (có thể biểu quyết bằng bỏ phiếu, bằng giơ tay, bằng ấn nút điện tử ) quyết định được thông qua kể cả khi không
có được 100% số phiếu tán thành, mà tuỳ theo quy định của mỗi tổ chức, mỗi cuộc họp, khi đạt được một tỷ lệ phiếu thuận (tán thành) nhất định thì quyết định đã được thông qua
"Ðồng thuận" là cơ chế ra quyết định mà tại thời điểm thông qua quyết định đó không có thànhviên nào (có mặt tại phiên họp) chính thức phản đối quyết định được dự kiến Ví dụ, tại thời điểm 12/2005, WTO có 148 thành viên, nếu Hội nghị bộ trưởng họp và ra một quyết định nào
đó, quyết định được thông qua nếu tất cả 148 nước thành viên đều không phản đối về quyết định
đó thì gọi là đồng thuận
"Ðồng thuận" cũng khác với "nhất trí" Nhất trí là biểu quyết với 100% tán thành, tức là đạt được 100% số phiếu thuận Nếu không thể đạt được một quyết định trên cơ sở đồng thuận thì vấn đề cần giải quyết sẽ được quyết định bằng hình thức bỏ phiếu Tại các cuộc họp của Hội nghị
bộ trưởng và Ðại hội đồng, mỗi thành viên của WTO có một phiếu Cộng đồng châu Âu thực hiện quyền bỏ phiếu thì họ sẽ có số phiếu tương đương với số lượng thành viên của cộng đồng làthành viên của WTO Các quyết định của Hội nghị bộ trưởng và Ðại hội đồng được thông qua trên cơ sở đa số phiếu
6 Những nguyên tắc, luật lệ quy định cơ bản
Cho dù có đến gần 30.000 trang văn bản, bao gồm rất nhiều văn bản pháp lý quy định nhiều lĩnh vực kinh tế - thương mại khác nhau như: thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư, nông nghiệp, viễn thông, các biện pháp kiểm dịch động - thực vật, sở hữu trí tuệ song thực chất, tất cả các văn bản đó đều được xây dựng và chuyển tải các nguyên tắc cơ bản của WTO, hay nói cách khác, WTO hoạt động dựa trên một số nguyên tắc làm nền tảng cho hệ thống thương mại thế giới là:
a) Thương mại không phân biệt đối xử
Trang 12Nguyên tắc này thể hiện ở hai nguyên tắc: đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia.
- Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN):
"Tối huệ quốc" có nghĩa là "nước (được) ưu đãi nhất", "nước (được) ưu tiên nhất" Nội dung của nguyên tắc này thực chất là việc WTO quy định rằng, các quốc gia không thể phân biệt đối
xử với các đối tác thương mại của mình Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này như sau: mỗi thành viên của WTO phải đối xử với các thành viên khác của WTO một cách công bằng như những đối tác "ưu tiên nhất" Nếu một nước dành cho một đối tác thương mại của mình một hay một số ưu đãi nào đó thì nước này cũng phải đối xử tương tự như vậy đối với tất cả các thành viên còn lại của WTO để tất cả các quốc gia thành viên đều được "ưu tiên nhất" Và như vậy, kết quả là không phân biệt đối xử với bất kỳ đối tác thương mại nào
Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT):
"Ðối xử quốc gia" nghĩa là đối xử bình đẳng giữa sản phẩm nước ngoài và sản phẩm nội địa Nội dung của nguyên tắc này là hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá tương tự sản xuất trong nước phải được đối xử công bằng, bình đẳng như nhau Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này như sau:bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào, sau khi đã qua biên giới, trả xong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa khẩu, bắt đầu đi vào thị trường nội địa, sẽ được hưởng sự đối xử ngang bằng (không kém ưu đãi hơn) với sản phẩm tương tự được sản xuất trong nước
Có thể hình dung đơn giản về hai nguyên tắc nêu trên như sau: Nếu nguyên tắc "tối huệ quốc" nhằm mục tiêu tạo sự công bằng, không phân biệt đối xử giữa các nhà xuất khẩu hàng hoá, cung cấp dịch vụ của các nước A, B, C khi xuất khẩu vào một nước X nào đó thì nguyên tắc "đãi ngộ quốc gia" nhằm tới mục tiêu tạo sự công bằng, không phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch
vụ của doanh nghiệp nước A với hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp nước X trên thị trường nước X, sau khi hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp nước A đã thâm nhập (qua hải quan, đã trả thuế và các chi phí khác tại cửa khẩu) vào thị trường nước X
b) Thương mại ngày càng tự do hơn (từng bước và bằng con đường đàm phán):
Ðể thực thi được mục tiêu tự do hoá thương mại và đầu tư, mở cửa thị trường, thúc đẩy trao đổi, giao lưu, buôn bán hàng hoá, việc tất nhiên là phải cắt giảm thuế nhập khẩu, loại bỏ các hàng rào phi thuế quan (cấm, hạn chế, hạn ngạch, giấy phép ) Trên thực tế, lịch sử của GATT
và sau này là WTO đã cho thấy đó chính là lịch sử của quá trình đàm phán cắt giảm thuế quan, rồi bao trùm cả đàm phán dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan, rồi dần dần mở rộng sang đàm phán
cả những lĩnh vực mới như thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ
Trang 13Tuy nhiên, trong quá trình đàm phán, mở cửa thị trường, do trình độ phát triển của mỗi nền kinh tế của mỗi nước khác nhau, "sức chịu đựng" của mỗi nền kinh tế trước sức ép của hàng hoá nước ngoài tràn vào do mở cửa thị trường là khác nhau, nói cách khác, đối với nhiều nước, khi
mở cửa thị trường không chỉ có thuận lợi mà cũng đưa lại những khó khăn, đòi hỏi phải điều chỉnh từng bước nền sản xuất trong nước Vì thế, các hiệp định của WTO đã được thông qua với quy định cho phép các nước thành viên từng bước thay đổi chính sách thông qua lộ trình tự do hoá từng bước
Sự nhượng bộ trong cắt giảm thuế quan, dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan được thực hiện thôngqua đàm phán, rồi trở thành các cam kết để thực hiện
c) Dễ dự đoán nhờ cam kết, ràng buộc, ổn định và minh bạch
Ðây là nguyên tắc quan trọng của WTO Mục tiêu của nguyên tắc này là các nước thành viên
có nghĩa vụ đảm bảo tính ổn định và có thể dự báo trước được về các cơ chế, chính sách, quy định thương mại của mình nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, kinh doanh nước ngoài có thể hiểu, nắm bắt được lộ trình thay đổi chính sách, nội dung các cam kết về thuế, phi thuế của nước chủ nhà để từ đó doanh nghiệp có thể dễ dàng hoạch định kế hoạch kinh doanh, đầu tư của mình mà không bị đột ngột thay đổi chính sách làm tổn hại tới kế hoạch kinh doanh của họ Nói cách khác, các doanh nghiệp nước ngoài tin chắc rằng hàng rào thuế quan, phi thuế quan của một nước sẽ không bị tăng hay thay đổi một cách tuỳ tiện Ðây là nỗ lực của hệ thống thương mại đa biên nhằm yêu cầu các thành viên của WTO tạo ra một môi trường thương mại ổnđịnh, minh bạch và dễ dự đoán
Nội dung của nguyên tắc này bao gồm các công việc như sau:
- Về các thoả thuận cắt giảm thuế quan:Bản chất của thương mại thời WTO là các thành viên dành ưu đãi, nhân nhượng thuế quan cho nhau Song để chắc chắn là các mức thuế quan đã đàm phán phải được cam kết và không thay đổi theo hướng tăng thuế suất, gây bất lợi cho đối tác của mình, sau khi đàm phán, mức thuế suất đã thoả thuận sẽ được ghi vào một bản danh mục thuế quan Ðây gọi là các mức thuế suất ràng buộc Nói cách khác, ràng buộc là việc đưa ra danh mục
ấn định các mức thuế ở mức tối đa nào đó và không được phép tăng hay thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài Một nước có thể sửa đổi, thay đổi mức thuế đã cam kết, ràng buộc chỉ sau khi đã đàm phán với đối tác của mình và phải đền bù thiệt hại do việctăng thuế đó gây ra
Trang 14Về các biện pháp phi thuế quan: Biện pháp phi thuế quan là biện pháp sử dụng hạn ngạch hoặc hạn chế định lượng khác như quản lý hạn ngạch Các biện pháp này dễ làm nảy sinh tệ nhũng nhiễu, tham nhũng, lạm dụng quyền hạn, bóp méo thương mại, gây khó khăn cho doanh nghiệp, làm cho thương mại thiếu lành mạnh, thiếu minh bạch, cản trở tự do thương mại Do đó, WTO chủ trương các biện pháp này sẽ bị buộc phải loại bỏ hoặc chấm dứt Ðể có thể thực hiện được mục tiêu này, các hiệp định của WTO yêu cầu chính phủ các nước thành viên phải công bố thật
rõ ràng, công khai ("minh bạch") các cơ chế, chính sách, biện pháp quản lý thương mại của mình Ðồng thời, WTO có cơ chế giám sát chính sách thương mại của các nước thành viên thôngqua Cơ chế rà soát chính sách thương mại
d) Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn
Trên thực tế, WTO tập trung vào thúc đẩy mục tiêu tự do hoá thương mại song trong rất nhiều trường hợp, WTO cũng cho phép duy trì những quy định về bảo hộ Do vậy, WTO đưa ra nguyêntắc này nhằm hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp hoặc các biện pháp bảo hộ khác
Ðể thực hiện được nguyên tắc này, WTO quy định trường hợp nào là cạnh tranh bình đẳng, trường hợp nào là không bình đẳng từ đó được phép hay không được phép áp dụng các biện phápnhư trả đũa, tự vệ, chống bán phá giá
e) Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế bằng cách dành ưu đãi hơn cho các nước kém phát triển nhất
Các nước thành viên, trong đó có các nước đang phát triển, thừa nhận rằng tự do hoá thương mại và hệ thống thương mại đa biên trong khuôn khổ của WTO đóng góp vào sự phát triển của mỗi quốc gia Song các thành viên cũng thừa nhận rằng, các nước đang phát triển phải thi hành những nghĩa vụ của các nước phát triển Nói cách khác, "sân chơi" chỉ là một, "luật chơi" chỉ là một, song trình độ "cầu thủ" thì không hề ngang nhau Trong khi đó, hiện số thành viên của WTO là các nước đang phát triển và các nước đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế chiếmhơn 3/ 4 số nước thành viên của WTO Do đó, WTO đã đưa ra nguyên tắc này nhằm khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi bằng cách dành cho những nước này những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt để đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của các nước này vào hệ thống thương mại đa biên
Ðể thực hiện nguyên tắc này, WTO dành cho các nước đang phát triển, các nước có nền kinh tếđang chuyển đổi những linh hoạt và ưu đãi nhất định trong việc thực hiện các hiệp định của
Trang 15WTO Chẳng hạn, WTO cho phép các nước này một số quyền và không phải thực hiện một số quyền cũng như một số nghĩa vụ hoặc cho phép các nước này một thời gian linh động hơn trong việc thực hiện các hiệp định của WTO, cụ thể là thời gian quá độ thực hiện dài hơn để các nước này điều chỉnh chính sách của mình Ngoài ra, WTO cũng quyết định các nước kém phát triển được hưởng những hỗ trợ kỹ thuật ngày một nhiều hơn.
7 Quá trình Việt Nam gia nhập WTO
Cách đây 14 năm, ngày 11-1-2007, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam chínhthức phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Việc trở thành thành viên đầy đủ của WTO đã giúp kinh tế Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ, ngày càng khẳng định vị thế quốc gia trên trường quốc tế Thế nhưng, để trở thành thành viên của tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh này, chúng ta đã trải qua một hành trình đàm phán vô cùng gian nan
WTO là một tổ chức lớn với hầu hết thành viên đều là thành viên của Liên hợp quốc Đây là một
“sân chơi” lớn có tiếng nói, ảnh hưởng mang tính quyết định tới hoạt động kinh tế, thương mại, đầu tư toàn cầu Để gia nhập tổ chức này, vì thế, không hề đơn giản Tất cả các nước sau khi có đơn xin gia nhập đều phải tiến hành các cuộc đàm phán
Quá trình đàm phán gia nhập WTO của mỗi nước được tiến hành theo 2 giai đoạn: Giai đoạn đầu nhằm minh bạch hóa chính sách thương mại Giai đoạn 2 là đàm phán về mở cửa thị trường Việc đàm phán được tiến hành theo 2 phương thức song song: Đa phương và song phương Đàm phán đa phương tập trung vào vấn đề thể chế, chính sách thương mại của nước xin gia nhập, được tiến hành tại các phiên họp của Ban Công tác về việc gia nhập WTO Đàm phán song phương tập trung vào vấn đề mở cửa thị trường của nước xin gia nhập, được tiến hành giữa nướcxin gia nhập với từng thành viên WTO có yêu cầu đàm phán
Các mốc quan trọng trong việc gia nhập WTO của Việt Nam
- Tháng 1-1995: Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO
- Tháng 8-1996: Việt Nam nộp “Bị vong lục về chính sách thương mại”
- 1998 - 2000: Tiến hành 4 phiên họp đa phương với Ban Công tác về Minh bạch hóa các chínhsách thương mại vào tháng 7-1998, 12-1998, 7-1999, và 11-2000 Kết thúc 4 phiên họp, Ban Công tác của WTO đã công nhận Việt Nam cơ bản kết thúc quá trình minh bạch hóa chính sách
và chuyển sang giai đoạn đàm phán mở cửa thị trường
Trang 16- Tháng 4-2002: Tiến hành phiên họp đa phương thứ 5 Bắt đầu tiến hành đàm phán song phương.
- 2002 - 2006: Đàm phán và hoàn thành đàm phán song phương với một số thành viên WTO, trong đó có EU và Mỹ
- Ngày 26-10-2006: Kết thúc phiên đàm phán đa phương, toàn bộ hồ sơ gia nhập WTO của Việt Nam được thông qua
- Ngày 7-11-2006: WTO triệu tập phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng tại Geneva để chính thức kết nạp Việt Nam vào WTO
- Ngày 11-1-2007: WTO nhận được quyết định phê chuẩn chính thức của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Kể từ đây, Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của WTO
Trang 17CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
1 Gia nhập WTO- Cơ hội và thách thức
1.1 Cơ hội
Từ khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộngvới khu vực và thế giới Việc mở cửa nền kinh tế trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần không nhỏ để duy trì tốc độ tăng trưởng cao hàng năm của nền kinh tế Việt Nam Sau đây là những cơ hội dành cho Việt Nam khi gia nhập WTO:
Được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụ mà các nước mở cửa theo các Nghị định thư gia nhập của các nước này, không bị phân biệt đối xử Điều đó, tạo điều kiện cho chúng ta mở rộng thị trường xuất khẩu và trong tương lai - với sự lớn mạnh của doanh nghiệp và nền kinh tế nước
ta - mở rộng kinh doanh dịch vụ ra ngoài biên giới quốc gia Với một nền kinh tế có độ mở lớn như nền kinh tế nước ta, kim ngạch xuất khẩu luôn chiếm trên 60% GDP thì điều này là đặc biệt quan trọng, là yếu tố bảo đảm tăng trưởng
Với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công khai minh bạch các thiết chế quản lý theo quy định của WTO, môi trường kinh doanh của nước ta ngày càng được cải thiện Đây là tiền đề rất quan trọng để không những phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế trong nước mà còn thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, qua đó tiếp nhận vốn, công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bảo đảm tốc độ tăng trưởng và rút ngắn khoảng cách phát triển Thực tế trong những năm qua đã chỉ rõ, cùng với phát huy nội lực, đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta và xu thế này ngày càng nổi trội: năm 2006, đầu tư nước ngoài chiếm 37% giá trị sản xuất công nghiệp, gần 56% kim ngạch xuất khẩu và 15,5% GDP, thu hút hơn một triệu lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Gia nhập WTO chúng ta có được vị thế bình đẳng như các thành viên khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội để đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, có điều kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp Đương nhiên kết quả đấu tranh còn tuỳ thuộc vào thế và lực của ta, vào khả năng tập hợp lực lượng và năng lực quản lý điều hành của ta
Mặc dầu chủ trương của chúng ta là chủ động đổi mới, cải cách thể chế kinh tế ở trong nước đểphát huy nội lực và hội nhập với bên ngoài nhưng chính việc gia nhập WTO, hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của
ta đồng bộ hơn, có hiệu quả hơn
Cùng với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử sau 20 năm đổi mới, việc gia nhập WTO sẽnâng cao vị thế của ta trên trường quốc tế, tạo điều kiện cho ta triển khai có hiệu quả đường lối đối ngoại theo phương châm: Việt Nam mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới vì hoà bình, hợp tác và phát triển
1.2 Thách thức
Trang 18Trong khi nhận thức rõ những cơ hội có được do việc gia nhập WTO mang lại, cần thấy hết những thách thức mà chúng ta phải đối đầu, nhất là trong điều kiện nước ta là một nước đang phát triển ở trình độ thấp, quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém và bất cập, doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân còn nhỏ bé Những thách thức này bắt nguồn từ sự chênh lệch giữa năng lực nội sinh của đất nước với yêu cầu hội nhập, từ những tác động tiêu cực tiềm tàng của chính quá trìnhhội nhập.
Những thách thức này gồm:
- Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên bình diện rộng hơn, sâu hơn Đây là sự cạnh tranh giữa sản phẩm của ta với sản phẩm các nước, giữa doanh nghiệp nước ta với doanh nghiệp các nước, không chỉ trên thị trường thế giới và ngay trên thị trường nước ta do thuế nhập khẩu phải cắt giảm từ mức trung bình 17,4% hiện nay xuống mức trung bình 13,4% trong vòng 3 đến 5 năm tới, nhiều mặt hàng còn giảm mạnh hơn Cạnh tranh không chỉ diễn ra ở cấp độ sản phẩm với sản phẩm, doanh nghiệp với doanh nghiệp Cạnh tranh còn diễn ra giữa nhànước và nhà nước trong việc hoạch định chính sách quản lý và chiến lược phát triển nhằm phát huy nội lực và thu hút đầu tư từ bên ngoài Chiến lược phát triển có phát huy được lợi thế so sánhhay không, có thể hiện được khả năng “phản ánh vượt trước” trong một thế giới biến đổi nhanh chóng hay không Chính sách quản lý có tạo được chi phí giao dịch xã hội thấp nhất cho sản xuấtkinh doanh hay không, có tạo dựng được môi trường kinh doanh, đầu tư thông thoáng, thuận lợi hay không? Tổng hợp các yếu tố cạnh tranh trên đây sẽ tạo nên sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế, sức cạnh tranh quốc gia
- Trên thế giới sự “phân phối” lợi ích của toàn cầu hoá là không đồng đều Những nước có nền kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn Ở mỗi quốc gia, sự “phân phối” lợi ích cũng khôngđồng đều Một bộ phận dân cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá; nguy cơ phá sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng lên, phân hoá giàu nghèo sẽ mạnh hơn Điều đó đòi hỏi phải có chính sách phúc lợi và an sinh xã hội đúng đắn; phải quán triệt và thực hiện thật tốt chủ trương của Đảng: “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”
- Hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới toàn cầu hoá, tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước sẽ tăng lên Sự biến động trên thị trường các nước sẽ tác động mạnh đến thị trường trong nước, đòi hỏi chúng ta phải có chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn, có năng lực dự báo và phân tích tình hình, cơ chế quản lý phải tạo cơ sở để nền kinh tế có khả năng phản ứng tích cực, hạn
Trang 19chế được ảnh hưởng tiêu cực trước những biến động trên thị trường thế giới Trong điều kiện tiềm lực đất nước có hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thị trường chưa nhiều thì đây là khó khăn không nhỏ, đòi hỏi chúng ta phải phấn đấu vươn lên mạnh mẽ, với lòng tự hào và trách nhiệm rất cao trước quốc gia, trước dân tộc.
- Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những vấn đề mới trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền
- Như vậy, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, hội nhập kinh tế quốc tế vừa có cơ hội lớn, vừa phải đối đầu với thách thức không nhỏ Cơ hội tự nó không biến thành lực lượng vật chất trên thị trường mà tuỳ thuộc vào khả năng tận dụng cơ hội của chúng ta Thách thức tuy là sức éptrực tiếp nhưng tác động của nó đến đâu còn tuỳ thuộc vào nỗ lực vươn lên của chúng ta Cơ hội
và thách thức không phải “nhất thành bất biến” mà luôn vận động, chuyển hoá và thách thức đối với ngành này có thể là cơ hội cho ngành khác phát triển Tận dụng được cơ hội sẽ tạo ra thế và lực mới để vượt qua và đẩy lùi thách thức, tạo ra cơ hội mới lớn hơn Ngược lại, không tận dụng được cơ hội, thách thức sẽ lấn át, cơ hội sẽ mất đi, thách thức sẽ chuyển thành những khó khăn dài hạn rất khó khắc phục Ở đây, nhân tố chủ quan, nội lực của đất nước, tinh thần tự lực tự cường của toàn dân tộc là quyết định nhất
Với thành tựu to lớn sau 20 năm đổi mới, quá trình chuyển biến tích cực trong cạnh tranh và hội nhập kinh tế những năm vừa qua, cùng với kinh nghiệm và kết quả của nhiều nước gia nhập
Tổ chức Thương mại Thế giới trước ta, cho chúng ta niềm tin vững chắc rằng: Chúng ta hoàn toàn có thể tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức Có thể có một số doanh nghiệp khó khăn, thậm chí lâm vào cảnh phá sản nhưng phần lớn các doanh nghiệp sẽ trụ vững và vươn lên, nhiều doanh nghiệp mới sẽ tham gia thị trường và toàn bộ nền kinh tế sẽ phát triển theo mục tiêu và định hướng của chúng ta
2 Tác động của WTO trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tóm tắt: Dù phải đối mặt với nhiều trở ngại khi thực hiện các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới, nhưng việc gia nhập tổ chức này đã tạo động lực cho Việt Nam hoàn thiện thể chế kinh
tế thị trường định hướng XHCN, thu hẹp được khoảng cách phát
Trang 20Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là một tổ chức kinh tế quốc tế có tính toàn cầu, là một thiết chế quốc tế liên quan đến các quy định, quy tắc, luật chơi của thương mại, kinh doanh toàn cầu Hạt nhân của thiết chế pháp lý quốc tế này là các hiệp định của WTO được các nước, các nền kinh tế tham gia quan hệ thương mại quốc tế xây dựng và cam kết thực hiện Các hiệp định này
đã tạo lập một khung pháp lý vững chắc cho thương mại đa biên, là khuôn khổ ràng buộc Chính phủ các nước, các nền kinh tế đàm phán và ký kết với nhau, nhưng đích cuối cùng là trợ giúp cácnhà sản xuất hàng hóa và cung ứng dịch vụ, các nhà xuất khẩu và nhập khẩu trong điều chỉnh cáchành vi thương mại, kinh doanh
Gia nhập WTO có nghĩa là tham gia vào sân chơi toàn cầu, tham gia thị trường tự do thế giới Thực hiện cam kết của WTO, về thực chất là thực hiện các cam kết về thị trường, bởi vì các nguyên tắc của WTO là nguyên tắc thị trường Chính vì vậy, để tận dụng tốt cơ hội và chủ động đối phó với thách thức khi gia nhập WTO, Việt Nam cần đẩy nhanh quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, hoàn thiện thị trường trong nước đầy đủ hơn theo cam kết WTO Bởi vì, cho dù đã là thành viên của WTO nhưng nếu như chưa được công nhận là nền kinh
tế thị trường thì sẽ bị phân biệt đối xử, ở vào tình thế bất lợi cho thương mại như bị kiện về bán phá giá, bị trả đũa thương mại Các nước gia nhập WTO thành công do đã xây dựng một thể chế thị trường có chất lượng cao, như: thể chế về sở hữu, thể chế quản lý, thể chế ổn định kinh tế vĩ
mô và thể chế giải quyết xung đột thương mại Sự yếu kém về thể chế thị trường đã hạn chế phầnnào hiệu quả khai thác các nhân tố sản xuất, làm nảy sinh các hành vi gian lận thương mại, gây
ra các chi phí nội sinh và làm méo mó thông tin về thị trường Đặc biệt, trong tình hình thế giới hiện nay, khi đa số các nước trên thế giới đã gia nhập WTO, các nước tư bản chủ nghĩa chi phối các thiết chế quốc tế về tài chính, kinh tế và thương mại, có trong tay những lực lượng khoa học, công nghệ, quân sự hàng đầu thế giới, thì nước ta phải mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế để tạo động lực trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
2.1 Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và các tiêu chí để Việt Nam trở thành nền kinh tế thị trường đầy đủ do WTO đề xuất
Lý luận về thể chế nói chung và thể chế kinh tế nói riêng rất phong phú và được phát triển dựa trên nhiều tư tưởng, nhiều học thuyết, trải qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau và cho đến nay vẫn đang được hoàn thiện Hiểu theo một nghĩa chung nhất thì thể chế là những luật lệ, quy tắc,
bộ máy quản lý và cơ chế vận hành nhằm điều chỉnh hoạt động của con người Còn thể chế kinh