Chñ ®Ò 3 14 Chủ đề 3 Ý THỨC NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT VÀ KẾT CẤU Mục đích, yêu cầu Làm rõ mặt tự nhiên và mặt xã hội trong nguồn gốc của ý thức Làm rõ bản chất của ý thức; phê phán quan điểm sai trái về v.
Trang 1Chủ đề 3
Ý THỨC - NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT VÀ KẾT CẤU
* Mục đích, yêu cầu:
- Làm rõ mặt tự nhiên và mặt xã hội trong nguồn gốc của ý thức
- Làm rõ bản chất của ý thức; phê phán quan điểm sai trái về vấn đề này
- Phân tích kết cấu của ý thức
- Rút ra ý nghã phương pháp luận và ý nghĩa vận dụng
* Nội dung bố cục:
I Nguồn gốc của ý thức
II Bản chất của ý thức
III Kết câú của ý thức
* Thời gian: 4 tiết (160’ – 180’).
* Phương pháp:
- Phương pháp thuyết trình kết hợp gợi mở nêu vấn đề và sử dụng sơ đồ đèn chiếu
- Có thể sử dụng trình chiếu Power Point
* Tài liệu tham khảo:
1 C Mác và Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, H.1994
2 V I Lênin toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, M 1980
3 Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nxb CTQG, H 1999
4 CNDVBC lý luận và vận dụng, Nxb SGK Mác - Lênin, H 1985
5 Triết học Mác - Lênin (Phần II), Nxb QĐND, H 1995
6 Câu hỏi và bài tập triết học, tập 1, 2 , Nxb SGK Mác - Lênin, H 1986
7 lê Hữu Tầng, Bàn thêm về phạm trù vật chất, Triết học, 12-1988
Trang 2Mở đầu: Vấn đề nguồn, bản chất của ý thức là một vấn đề hết sức phức tạp
của triết học, là trung tâm của cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT trong lịch
sử triết học Quán triệt quan điểm của triết học Mác – Lênin về vấn đề này có ý nghĩa to lớn cả về mặt lý luận và về thực tiễn
I Nguồn gốc của ý thức:
1 Khái niệm ý thức:
- C.Mác: “ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại
được ý thức” 1 “Điều đó có nghĩa, ý thức là sự phản ánh tồn tại”.
- V I Lênin: “Cảm giác (ý thức) là hình ảnh chủ quan của thế giới khách
quan”2 Nghĩa là, ý thức được nảy sinh trong mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn
Từ những tư tưởng trên cho thấy:
Một là, ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong óc người.
Hai là, ý thức tồn tại chủ quan trong óc người; là hình ảnh chủ quan của thế
giới khách quan
Do đó có thể hiểu:
ý thức là phạm trù triết học dùng để chỉ hình thức phản ánh cao nhất, riêng
có của óc người về hiện thực khách quan trên cơ sở thực tiễn.
- ý thức là hình thức phản ánh cao nhất của TGVC
+ Phản ánh của ý thức là hình thức cao nhất của thế giới vật chất, là kết quả của quá
trình tiến hoá lâu dài của các hệ thống vật chất, các tổ chức vật chất cùng sự phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của các hình thức phản ánh
+ Điều này được V I Lênin trình bày trong học thuyết phản ánh, nội dung như sau: Thứ nhất, mọi hệ thống vật chất đều có sự phản ánh 1: đó là năng lực giữ lại, tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác
trong quá trình tác động qua lại giữa chúng
Ví dụ: vết chân in trên cát; sắt gỉ.
1
Hệ tư tưởng Đức, C Mác và Ph Ăngghen toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H 1995, tr 37
2
V I Lênin toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, M 1981, tr 138.
1
V I Lênin toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, M 1981, tr 104.
Trang 3Thứ hai, sự tác động giữa hai hệ thống vật chất bao giờ cũng gây ra một sự biến đổi nhất định, sự biến đổi này phụ thuộc cả vào vật tác động và vật bị tác động
(Điều này có ý nghĩa khi giải quyết tính độc lập tương đối của ý thức)
Ví dụ: khi soi gương, phụ thuộc vào cả cấu tạo của gương (phẳng, lồi, lõm, cầu,
hài…), phụ thuộc cả vào người (tư thế) soi và môi trường (ánh sáng, mầu sắc), v.v
Thứ ba, quá trình phản ánh bao gồm quá trình thông tin Nghĩa là vật nhận tác động
bao giờ cũng mang thông tin (dấu vết) của vật tác động (Điều này có ý nghĩa khi khẳng định ý thức là phản ánh của thế giới vật chất, mang nội dung vật chất khách quan)
Ví dụ: nhìn thớ gỗ biết được tuổi cây; nhìn rễ cây biết được nguồn nước; nhìn
dấu vết tìm ra tội phạm
Thứ tư, cùng với tiến hoá của thế giới vật chất là sự phát triển của các hình thức phản
ánh tương ứng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Trong đó, ý thức là hình thức
phản ánh cao nhất của thế giới vật chất (xem sơ đồ đèn chiếu).
ý thức là thuộc tính của bộ nào người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào
óc người Bộ não người (cơ quan phản ánh thế giới xung quanh) và thế giới bên
ngoài tác động lên bộ não - đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
- ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
2 Quan niệm của CNDT và CNDVtrước Mác về nguồn gốc của ý thức:
* Quan niệm của CNDT:
ý thức là một thực thể duy nhất, có trước, tồn tại vĩnh viễn và là nguyên nhân sinh ra vật chất, chi phối sự tồn tại và biến đổi của thế giới vật chất
+ CNDT khách quan:
Cái tồn tại trước, khách quan là “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối”, “tinh thần thế
giới” ý thức của con người chỉ là sự “hồi tưởng” hoặc “tự ý thức” của “ý niệm,
“ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới”
+ CNDT chủ quan:
ý thức là do cảm giác sinh ra Cảm giác, theo họ, là cái vốn có, tách biệt với
thế giới bên ngoài, chứ không phải là sự phản ánh thế giới bên ngoài vào trong đầu óc con người
Trang 4- Thực chất của quan niệm duy tâm trong vấn đề này là tách ý thức ra khỏi vật chất, phủ nhận sự tồn tại khách quan của vật chất, lấy ý thức làm xuất phát điểm
để giải thích thế giới Tiêu biểu là: Platôn, Khổng Tử, Béccơli, Hêghen
* Quan niệm CNDV trước Mác:
- Nhiều nhà triết học duy vật bác bỏ tính chất thần bí, siêu tự nhiên của ý thức, thừa nhận nội dung khách quan của ý thức Song ở họ (CNDV tầm thường)
còn lẫn lộn, đồng nhất vật chất với ý thức, xoá nhoà ranh giới giữa CNDV với
CNDT
+ Đê môcrít: ý thức là do các nguyên tử đặc biệt (hình cầu, nhẹ, linh động…) cấu thành + Phôgơtơ: óc tiết ra ý thức như gan tiết ra mật, thận tiết ra nước tiểu
+ Phoiơbắc (1804-1872): thừa nhận ý thức là sản phẩm đặc biệt của óc người Song do không thấy được bản chất xã hội của con người, nên ông không thấy được yế tố xã hội - lịch sử của ý thức Ông hiểu ý thức một cách chung chung, trừu tượng, không thấy được bản chất xã hội của ý thức
+ Vật hoạt luận đem đồng nhất ý thức (một hình thức phản ánh) với phản ánh,
- một thuộc tính của vật chất Họ cho rằng, mọi SVHT đều có ý thức, ý thức là
thuộc tính của mọi dạng vật chất, từ giới vô cơ đến con người
Việt Nam có thuyết “Vạn vật hữu linh” (Vạn vật hữu thần) tương tự thuyết trên
- Nguyên nhân của những hạn chế trên, một mặt, do các khoa học lúc đó còn
kém phát triển, mặt khác, do sự chi phối của phương pháp siêu hình
- Những hạn chế của CNDV trước Mác và những sai lầm của CNDT đều được các giai cấp thống trị bóc lột lợi dụng làm công cụ nô dịch đời sống tinh thần quần chúng nhân dân
3 Quan niệm của CNDVBC:
CNDVBC khẳng định: ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử – xã hội Do đó, để hiểu nguồn gốc, bản chất ý thức cần xét trên hai mặt tự nhiên và xã hội
* Xét về mặt tự nhiên:
- ý thức là thuộc tính (đặc tính) riêng của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ
óc người, được hình thành từ thuộc tính phản ánh có ở mọi dạng vật chất.
Trang 5+ ý thức không phải là vật chất, cũng không phải là một hiện tượng thần bí, nó chỉ
là một thuộc tính đặc biệt của vật chất: thuộc tính phản ánh.
Khẳng định trên khắc phục được sai lầm của CNDV tầm thường đồng nhất vật chất
với ý thức; đồng thời chỉ ra nguồn gốc vật chất của ý thức: ý thức là một thuộc tính
của vật chất, phản ánh vật chất,- do đó, có ý nghĩa chống CNDT, tôn giáo
V I Lênin viết:
Hết thảy mọi vật chất đều có một đặc tính gần giống với cảm giác, đặc tính phản ánh1
+ Song không phải mọi dạng vật chất đều có ý thức, chỉ có óc người với tư
các là sản phẩm có tổ chức cao nhất của vật chất sống mới có khả năng phản
ánh ý thức
Khoa học đã chứng minh và rút ra kết luận:
Thứ nhất, bộ não người là sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài của thế giới vật
chất, có cấu tạo rất phức tạp và đặc biệt Sự cấu tạo đặc biệt của óc người là tiền
đề tạo ra khả năng có sự phản ánh ý thức 2
Thứ hai, trong óc người, quá trình ý thức không đồng nhất, cũng không tách
rời, độc lập hay song song với quá trình sinh lý Đây là hai mặt của một quá trình,- quá trình sinh lý thần kinh trong bộ óc người mang nội dung ý thức, cũng giống như tín hiệu vật chất mang nội dung thông tin3
+ Phản ánh của ý thức là hình thức cao nhất của thế giới vật chất, là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của các hệ thống vật chất, các tổ chức vật chất cùng sự phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của các hình thức phản ánh
1
V I Lênin toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, M 1981, tr 104.
2
Trái đất có cáh đây 5-7 tỷ năm Tế bào sống đầu tiên xuất hiện cách đây 2,5 tỷ năm; con người mới xuất hiện khoảng 1 triệu năm nay Não người gồm 14-16 tỷ tế bào, được chia thành 52 vùng khác nhau Mỗi vùng có chức năng riêng (còn nhiều vùng tối) Trong đó, vùng viết ngôn ngữ, vùng nghe ngôn ngữ, vùng nói ngôn ngữ, vùng nhìn và hiểu chữ viết,…chỉ riêng có ở con người.
3
Thuy ết Tâm-Vật song hành (tâm lý-vật lý học) đem đối lập tuyệt đối giữa quá trình tâm lý với
quá trình vật chất (quá trình sinh lý), cho hai quá trình này song hành với nhau (nhị nguyên luận) Páplốp đã chứng minh: đây chỉ là một quá trình gồm hai mặt thống nhất với nhau Tâm
lý, ý thức chỉ là trạng thái bên trong của quá trình thống nhất đó Song hai mặt không đồng nhất với nhau (về triết học, nếu đồng nhất sẽ rơi vào CNDV tầm thường) Thực tế cho thấy, não
bị tổn thương thì hoạt động của ý thức bị rối loạn Cho nên không thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động của bộ não ý thức là chức năng của não.
Trang 6Điều này được V I Lênin trình bày trong học thuyết phản ánh, nội dung như sau: Thứ nhất, mọi hệ thống vật chất đều có sự phản ánh1: đó là năng lực giữ lại, tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác
trong quá trình tác động qua lại giữa chúng
Ví dụ: vết chân in trên cát; sắt gỉ.
Thứ hai, sự tác động giữa hai hệ thống vật chất bao giờ cũng gây ra một sự
biến đổi nhất định, sự biến đổi này phụ thuộc cả vào vật tác động và vật bị tác động (Điều này có ý nghĩa khi giải quyết tính độc lập tương đối của ý thức).
Ví dụ: khi soi gương, phụ thuộc vào cả cấu tạo của gương (phẳng, lồi, lõm, cầu,
hài…), phụ thuộc cả vào người (tư thế) soi và môi trường (ánh sáng, mầu sắc), v.v
Thứ ba, quá trình phản ánh bao gồm quá trình thông tin Nghĩa là vật nhận tác động
bao giờ cũng mang thông tin (dấu vết) của vật tác động (Điều này có ý nghĩa khi khẳng định ý thức là phản ánh của thế giới vật chất, mang nội dung vật chất khách quan)
Ví dụ: nhìn thớ gỗ biết được tuổi cây; nhìn rễ cây biết được nguồn nước; nhìn
dấu vết tìm ra tội phạm
Thứ tư, cùng với tiến hoá của thế giới vật chất là sự phát triển của các hình thức
phản ánh tương ứng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Trong đó, ý thức là hình
thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất (xem sơ đồ đèn chiếu).
ý thức là thuộc tính của bộ nào người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào
óc người Bộ não người (cơ quan phản ánh thế giới xung quanh) và thế giới bên
ngoài tác động lên bộ não - đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
* Xét về mặt xã hội
Để ý thức ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu được, song chưa đủ; điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là những tiền đề, nguồn gốc xã hội ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ
óc người nhờ lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội
- Vai trò của lao động đối với sự hình thành ý thức.
1
V I Lênin toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, M 1981, tr 104.
Trang 7+ Lao động là hoạt động có mục đích của con người sáng tạo ra công cụ và sử
dụng công cụ đó tác động vào tự nhiên để sản xuất ra của cải vật chất làm cho xã hội tồn tại và phát triển
+ Vai trò của lao động được thể hiện:
Một là, lao động là hoạt động riêng có của con người làm cho con người khác
căn bản với các loài động vật khác
Hai là, lao động của con người là hoạt động có mục đích, có kế hoạch và
được hoạch định trước,- tác động vào thế giới vật chất khách quan làm biến đổi thế giới để thoả mãn nhu cầu của con người
Ba là, trong quá trình lao động, bộ não người được phát triển và ngày càng hoàn thiện,
làm cho khả năng tư duy trừu tượng của con người ngày càng phát triển
Nhờ lao động mà thức ăn dồi dào phong phú làm cho cơ thể, óc và các giác quan hoàn thiện
Lao động còn chế tạo ra công cụ trợ giúp, “nối dài” giác quan của con người làm cho con người hiểu biết thế giới sâu sắc hơn, trên cả hai chiều vĩ mô và vi mô
Nhờ lao động, năng lực tư duy trừu tượng, phương pháp tư duy khoa học được hình thành và ngày càng phát triển, giúp ý thức ngày càng phản ánh năng động, sáng tạo thế giới
Bốn là, lao động còn là cơ sở hình thành và phát triển ngôn ngữ.
Sự ra đời của ngôn ngữ là một tất yếu do nhu cầu giao tiếp và trao đổi kinh nghiệm trong lao động Vì vậy, ngôn ngữ ra đời và phát triển cùng với lao động
- Vai trò của ngôn ngữ đối với sự hình thành ý thức
+ Ngôn ngữ (hiểu khái quát) là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong
não người, bằng những dấu hiệu, tín hiệu, là phương tiện mã hoá và truyền đạt thông tin
+ Ngôn ngữ gồm: ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, ngôn ngữ thầm, v.v
+ Vai trò của ngôn ngữ:
Một là, ngôn ngữ đóng vai trò hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái “vỏ vật chất”
của tư duy, làm nhiệm vụ chứa đựng, chuyên chở những tri thức, và là hiện thực trực tiếp của ý thức (tư tưởng)
Trang 8Hệ thống tín hiệu thứ nhất là hệ thống tác động của hiện thực cụ thể (trừ ngôn ngữ).
Ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết) là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái thay thế cho hệ thống tín hiệu thứ nhất Song cả hai hệ thống này quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau
Thế giới khách quan được phản ánh vào óc người dưới dạng tín hiệu, đó là ngôn ngữ Kết quả của tư duy, nội dung của tư duy được tín hiệu hoá, được giữ
lại, đọng lại trong “cái vỏ vật chất” (âm thanh) là ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng (ý thức): ý thức (tư tưởng) là
phản ánh hiện thực khách quan, còn ngôn ngữ là phương pháp diễn đạt, củng cố
ý thức (tư tưởng) và là phương tiện để truyền đạt tư tưởng cho người khác Do
đó, ngôn ngữ chính là ý thức hiện thực, thực tiễn tồn tại cả cho những người
khác và chỉ có như vậy mới tồn tại cho tôi nữa (C Mác)
Như vậy, ý thức được hình thành như là thuộc tính của cá thể người, có mối
liên hệ thường xuyên với những người khác qua ngôn ngữ
Hai là, ngôn ngữ là công cụ, phương tiện vật chất để con người giao tiếp
trong xã hội, đồng thời là công cụ tư duy nhằm khái quát hiện thực Nhờ ngôn ngữ con người tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, trao đổi thông tin cho nhau, trao đổi tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác
Nhờ ngôn ngữ mà con người có thể khái quát hoá, trừu tượng hoá, mới có thể
tư duy, không cần có sự vật trực quan Nhờ ngôn ngữ mà kinh nghiệm, hiểu biết của người này được truyền cho người kia, thế hệ này được truyền cho thế hệ khác
Do đó, ý thức không phải là hiện tượng thuần tuý cá nhân, mà là một hiện
tượng có tính chất xã hội; không có phương tiện xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý
thức không thể hình thành và phát triển được (ví dụ: thí nghiệm của Hítle)
Tóm lại, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự hình thành và
phát triển ý thức là lao động (thực tiễn xã hội) và ngôn ngữ ý thức phản ánh hiện thực khách quan vào trong óc người thông qua lao động và ngôn ngữ và các quan hệ xã hội ý thức là sản phẩm của xã hội, là một hiện tượng xã hội
Trang 9Ph Ăngghen viết: “Trước hết là lao động; sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc của con người”1
II Bản chất của ý thức
CNDVBC dựa trên cơ sở lý luận phản ánh khẳng định:
ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người một cách năng động, sáng tạo thế giới vật chất.
- ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
+ Trước hết, cần thấy cả vật chất và ý thức đều là hiện thực (đều tồn tại) Song ý
thức là sự phản ánh, là cái phản ánh; còn vật chất là cái được phản ánh Cái được phản
ánh (vật chất) tồn tại khách quan, ở ngoài và độc lập với cái phản ánh (ý thức) Cái phản ánh (ý thức) là hiện thực chủ quan, là hình ảnh tinh thần của sự vật khách quan, lấy cái khách quan làm tiền đề, bị cái khách quan quy định, không có tính vật chất.
Do đó, không được đồng nhất hay tách rời cái được phản ánh (vật chất) với
cái phản ánh (ý thức) Nếu đồng nhất cái phản ánh với cái được phản ánh sẽ rơi vào quan niệm duy vật tầm thường; nếu tách rời sẽ rơi vào siêu hình
+ Hai là, khi nói ý thức (cái phản ánh) là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan còn có nghĩa ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo lại hiện thực
theo nhu cầu thực tiễn xã hội
- Phản ánh của ý thức là sáng tạo, vì nhu cầu thực tiễn quy định Nhu cầu đó
đòi hỏi chủ thể phải nhận thức cái được phản ánh Trên cơ sở đó hình thành nên hình ảnh tinh thần và hình ảnh đó ngày càng phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan Song, sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở phản ánh
- Phản ánh của ý thức là sáng tạo, vì nó dựa trên hoạt động thực tiễn và là sản phẩm của các quan hệ xã hội ý thức chịu sự chi phối chủ yếu của các quy luật
xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện hiện thực của con người quy định Do đó, ý thức mang bản chất xã hội
1
Biện chứng của tự nhên, C Mác và Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, H 1994, tr 646.
Trang 10- Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện rất phong phú: một là, trên cơ sở
những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, tưởng tượng ra cái không có trong thực tế, có thể tiên đoán, dự báo xu hướng vận động, phát triển
của sự vật Hai là, thông qua hoạt động thực tiễn để chế tạo ra công cụ, phương
tiện (cả của tư duy) “nối dài” giác quan, giúp con người ngày càng nhận thức sâu sắc bản chất của thế giới (Ví dụ)
V I Lênin viết: “… thế giới không thoả mãn con người, và con người quyết định biến đổi thế giới bằng hành động của mình” 1
- Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức sinh ra vật chất Sáng tạo của ý
thức là sáng tạo trên cơ sở sự phản ánh, trong khuôn khổ, theo tính chất, quy luật của sự phản ánh, và kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần.
+ Cần thấy: sáng tạo và phản ánh là hai mặt thuộc bản chất ý thức ý thức là
sự phản ánh, song chính hoạt động thực tiễn xã hội của con người tạo ra sự phản ánh năng động, sáng tạo của con người
V I Lênin viết: “ý thức con người không phải chỉ phản ánh thế giới khách quan, mà còn tạo ra thế giới khách quan” 2
+ Chú ý: hoạt động có ý thức của con người khác với hoạt động bản năng của
động vật và hoạt động của người máy (rô bốt)
Rôbốt do con người tạo ra nhằm thay thế một phần lao động trí óc của con người Nhưng rôbốt là một kết cấu kỹ thuật, còn con người là một thực thể xã hội Nên nó không thể thay thế cho hoạt động trí tuệ của con người, không sáng
tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần trong bản thân nó như con người
Hoạt động của con người Hoạt động của động vật
- Do nhu cầu thực tiễn xã hội quy
định
- Theo nhu cầu bản năng sinh vật
- Sản xuất ra của cải, vật phẩm, cải
tạo tự nhiên để thoả mãn nhu cầu của
mình thông qua lao động
- Tồn tại dựa vào những vật phẩm có sẵn trong tự nhiên dưới dạng trực tiếp
1
V I Lênin toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ, M 1981 , tr 229.
2
V I Lênin toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ, M 1981 , tr 228.