1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chủ đề 1-Triết học mác lê nin và vai trò của nó trong đời sống xã hội và hoạt động quân sự

176 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Triết Học Mác - Lênin Và Vai Trò Của Nó Trong Đời Sống Xã Hội Và Trong Hoạt Động Quân Sự
Thể loại bài tiểu luận
Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 666,5 KB
File đính kèm CD1-TRIET HOC MAC LE NIN VA VAI TRO CUA NO.rar (104 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chñ ®Ò 10 PAGE 1 Chủ đề 1 TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VÀ TRONG HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ 1 Mục đính yêu cầu Làm rõ đối tượng, chức năng của triết học Mác Lênin Giới thiệu kết c.

Trang 1

TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VÀ TRONG HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ

1 Mục đính yêu cầu

- Làm rõ đối tượng, chức năng của triết học Mác - Lênin

Giới thiệu kết cấu và những nội dung có liên quan trong của triết học Mác Lênin

Làm rõ những điều kiện lịch sử quy định vai trò của triết học Mác Lêninngày càng tăng trong đời sống xã hội

- Phân tích, làm rõ vai trò của triết học Mác - Lênin trong giải quyết nhữngnhiệm vụ cấp thiết của lý luận và thực tiễn quân sự

- Định hướng một số vấn đề đối với người cán bộ quân đội vận dụng có hiệuquả triết học Mác - Lênin trong thực tiễn quân sự

2 Nội dung bố cục

I Triết học Mác - Lênin: khái niệm, đối tượng và kết cấu (40’’)

II Chức năng của triết học Mác - Lênin (20’)

III Vai trò của triết học Mác - Lênin trong đời sống xã hội và trong hoạt độngquân sự (60’)

3 Thời gian: 3 tiết (120’).

4 Phương pháp

- Phương pháp thuyết trình kết hợp gợi mở nêu vấn đề và sử dụng sơ đồ đềnchiếu

- Có thể trình chiếu Power Point

5 Tài liệu nghiên cứu

1 “Chống Đuyrinh”, C Mác và Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG,

H 1994

Trang 2

2 “L Phoiơbắc và…”, C Mác và Ph Ăngghen toàn tập, tập 21, NxbCTQG, H 1995.

3 V I Lênin toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, M 1980

4 Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nxb CTQG, H 1999

5 CNDVBC lý luận và vận dụng, Nxb SGK Mác - Lênin, H.1985

6 Triết học Mác Lênin (Phần II), Nxb QĐND, H 1995

7 Câu hỏi và bài tập triết học, tập 1, 2 , Nxb SGK Mác - Lênin, H.1986

8 “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX”, Nxb CTQG, H 2001

9 Văn kiện Hội nghị lần thứ năm BCHTƯ (khoá IX), Nxb CTQG, H 2001

10 LSTH, Nxb QĐND, H 1995

Trang 3

MỞ ĐẦU

Chủ nghĩa Mác – Lênin là một học thuyết hoàn chỉnh gồm ba bộ phận hợpthành và có liên hệ nội tại khăng khít với nhau CNDVBC và CNDVLS là cơ sởtriết học có tính lý luận chung của chủ nghĩa Mác – Lênin và các bộ phận hợpthành của nó Tính cân đối nội tại, tính hoàn chỉnh, tính lôgíc chặt chẽ và tínhtriệt để của chủ nghĩa Mác – Lênin là kết quả của việc áp dụng một phương phápthống nhất, một TGQ thống nhất trong tất cả các bộ phận hợp thành của nó.CNDVBC và CNDVLS là TGQ của giai cấp công nhân, của các đảng cộngsản, đảng công nhân, đảng mácxít chân chính Do đó, không thấm nhuần triếthọc Mác – Lênin thì không thể hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin Vậy triết học Mác –Lênin là gì? Đối tượng nghiên cứucủa nó là gì, kết cấu của nó như thế nào? Quan

hệ của nó với các môn khoa học khác như thế nào?

I I Triết học Mác - Lênin: khái niệm, đối tượng và kết cấu (40’)

II 1 Khái niệm triết học Mác - Lênin

Triết học Mác - Lênin là hệ thống TGQ, PPL khoa học và cách mạng, là

vũ khí tinh thần của GCCN và NDLĐ để nhận thức và cải tạo thế giới.

- Triết học Mác - Lênin là hệ thống TGQ, PPL khoa học và cách mạng.

Đó là hệ thống quan điểm DVBC về TN, XH và TD con người Trong hệthống đó:

+ Lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với nhau: CNDV thống nhất

hữu cơ với PBC tạo ra hình thức cao nhất của CNDV là CNDVBC và hìnhthức cao nhất của PBC là PBCDV

Nhờ hệ thống ấy mà CNDV trở thành triệt để, PBC trở thành lý luận khoahọc; và triết học Mác - Lênin có khả năng nhận thức đúng đắn cả giới tựnhiên, đời sống xã hội và tư duy con người

+ TGQ và PPL thống nhất hữu cơ với nhau:

Trang 4

Vì PBCDV là lý luận khoa học phản ánh khái quát sự vận động, phát triểncủa hiện thực, do đó, nó không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn là lýluận về TGQ- nghĩa là nó diễn tả quan niệm của con người về thế giới.

Do tính đúng đắn của hệ thống các quan điểm của mình, CNDV mácxít đãtrở thành nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn, trở thànhnhững nguyên tắc PPL

- Triết học Mác - Lênin là vũ khí tinh thần của giai cấp công nhân và nhân

dân lao động để nhận thức và cải tạo thế giới

+ Triết học Mác - Lênin là một quá trình hợp quy luật, là nhu cầu kháchquan của lịch sử, trước hết và trực tiếp là lịch sử phong trào đấu tranh củaGCCN

+ Sự hình thành TGQDV khoa học của triết học Mác - Lênin là kết quảcủa sự kế thừa những thành tựu quan trọng nhất của tư duy triết học trong lịch

2 Đối tượng nghiên cứu của triết học Mác - Lênin

Đối tượng nghiên cứu của triết học Mác - Lênin là giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường DVBC và nghiên cứu những quy luật chung nhất của TN, XH và TD.

- Triết học Mác - Lênin giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để.

Trang 5

+ Mối quan hệ vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học Mọi triết học

dù trực tiếp hay gián tiếp, suy đến cùng, đều nghiên cứu mối quan hệ này nhằmtìm ra bản chất của chúng

+ Triết học Mác - Lênin cũng nghiên cứu mối quan hệ giữa vật chất và ý thức,nhưng xem xét, giải quyết khoa học và triệt để trên cả hai mặt và hai cấp độ lớncủa nó trên lập trường DVBC

- Triết học Mác - Lênin nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên,

xã hội và tư duy, vạch ra sự thống nhất giữa BCKQ và BCCQ.

+ Do giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vậttriệt để Triết học Mác - Lênin đã chỉ ra các quy luật chung nhất của sự vậnđộng, phát triển của thế giới: cả thế giới khách quan, nhận thức và tư duy củacon người đều tuân theo những quy luật biện chứng

+ Là một thể thống nhất giữa CNDVBC và CNDVLS, triết học Mác - Lêninnghiên cứu những quy luật chung nhất của cả tự nhiên và lịch sử xã hội

+ Con người, với tính cách vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của hoàn cảnh củalịch sử xã hội, cũng là đối tượng của triết học Mác - Lênin

Triết học Mác - Lênin xuất phát từ con người, từ thực tiễn, vạch ra những quyluật của sự vận động phát triển của xã hội và của tư duy con người trong quátrình nhận thức và hoạt động thực tiễn (Phê phán quan điểm sai trái)

+ Với tính cách là CNDV triệt để, hoàn bị, triết học Mác - Lênin chứa đựng

sự thống nhất giữa P B C, LLNT và lôgíc học Trong triết học Mác - Lênin, những quy luật chung nhất của TN, XH và TD là thể hiện sự đồng nhất biện

chứng của thế giới với biện chứng của quá trình nhận thức và biện chứng của tưduy

- Với việc xác định đối tượng nghiên cứu nêu trên, mối quan hệ giữa triết học với các khoa học cụ thể đã được triết học Mác - Lênin giải quyết khoa học và triệt để.

Trang 6

+ Thời cổ đại, triết học không có đối tượng nghiên cứu riêng, nó nghiên cứu

toàn bộ tri thức của nhân loại và đóng vai trò “khoa học của các khoa học”

+ Thời trung đại, do sự thống trị của thần học, triết học đã không còn là một

khoa học độc lập mà trở thành một bộ phận của thần học; nền triết học tự nhiênthời cổ đại đã được thay thế bởi triết học kinh viện

+ Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học ở thế kỷ XV-XVI đã tạo một cơ sở trithức vững chắc cho sự phục hưng của triết học Triết học duy vật dựa trên cơ sởtri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng trong cuộc đấutranh chống CNDT, tôn giáo và đã đạt được những thành tựu mới trong CNDVthế kỷ XVII-XVIII ở Anh, Pháp, Hà Lan với các đại biểu như: Ph Bêcơn, T.Hốpxơ (Anh); Điđơrô, Henvêtiúyt (Pháp); Xpinôda (Hà Lan)…

+ Mặt khác, tư duy triết học cũng được phát triển mạnh trong các học thuyếtduy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen Triết học Hêghen là học thuyết triếthọc cuối cùng mang tham vọng “là khoa học của các khoa học” Hêghen xemtriết học của mình là một hệ thống phổ biến của nhận thức, trong đó nhữngngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học

+ Sự phát triển độc lập của các bộ môn khoa học chuyên ngành đã từng bướclàm phá sản tham vọng của triết học cũ, song đối tượng của triết học không bịmất đi Giờ đây, triết học là một môn khoa học bình đẳng như các môn khoa họckhác, cùng nghiên cứu thế giới vật chất Nhưng triết học nghiên cứu những quyluật chung nhất của TN, XH và TD, còn các khoa học cụ thể nghiên cứu các quyluật riêng trong từng lĩnh vực

3 3 Kết cấu của triết học Mác - Lênin

Triết học Mác - Lênin kết cấu gồm hai bộ phận: CNDVBC và CNDVLS có

quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời nhau, “là hai mặt đúc thành một khối thépduy nhất”

Trang 7

- Trong đó, CNDVBC là môn chuyên ngành mang tính chất triết học đại

cương; là khoa học về bản chất và những quy luật chung nhất của thế giới vậtchất

- Còn CNDVLS là sự mở rộng, sự vận dụng quan điểm DVBC vào nhận thức

LSXH; là khoa học về bản chất và những quy luật chung nhất của xã hội, làmcho CNDVBC thêm sâu sắc, hoàn thiện và triệt để

Ngoài ra, triết học Mác - Lênin còn có các nội dung khác như:

- LSTH, là khoa học về những quy luật chung nhất của mọi tri thức triết học

được hình thành, tồn tại và phát triển mang tính lịch sử - cụ thể trong quá trìnhlịch sử của xã hội loài người

- Lôgíc học, là khoa học nghiên cứu các hình thức và quy luật của tư duy.

- Đạo đức học, là khoa học nghiên cứu lĩnh vực đạo đức nói chung, những

vấn đề có tính quy luật trong sự hình thành, thay đổi và phát triển của ý thức đạođức, quan hệ đạo đức và hành vi đạo đức trong lịch sử phát triển của xã hội

- Chủ nghĩa vô thần khoa học, là khoa học nghiên cứu tính quy luật của sự

phát sinh, phát triển và khắc phục tôn giáo, lịch sử của các học thuyết vô thần,tính quy luật của sự quá độ từ TGQ tôn giáo sang TGQDV và hình thành niềmtin vô thần

- Mỹ học Mác - Lênin, là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất về

quan hệ thẩm mỹ của con người trong hiện thực, trong đó cái đẹp là phạm trùtrung tâm, hình tượng là đặc trưng cơ bản và nghệ thuật là biểu hiện cao nhất

- Học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội, là hệ thống quan điểm

lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề bản chất của chiến tranh, các tổchức vũ trang, các quy luật phổ biến trong sự vận động, phát triển của nó

II Chức năng của triết học Mác - Lênin (20’)

Triết học Mác - Lênin có nhiều chức năng, trong đó có hai chức năng cơ bản

nhất là chức năng TGQ và chức năng PPL

Trang 8

1 Chức năng thế giới quan

- Thế giới quan là gì?

+ Theo nghĩa hẹp, TGQ là hệ thống các quan niệm, quan điểm chung nhất của

con người về thế giới, về vai trò, vị trí của con người trong thế giới đó và vềchính bản thân con người

+ Theo nghĩa rộng, TGQ là tổng hợp các quan điểm, tư tưởng, niềm tin, lý

tưởng về chính trị xã hội, về kinh tế-chính trị, đạo đức, mỹ học, các KHTN,KHXH và nhân văn

- Kết cấu của TGQ gồm: tri thức, niềm tin, lý tưởng gắn bó chặt chẽ và tác

động lẫn nhau

+ Tri thức là cơ sở trực tiếp hình thành TGQ, song tri thức chỉ gia nhập TGQ

khi đã trở thành niềm tin của con người qua thể nghiệm lâu dài trong cuộc sống

+ Niềm tin là thành phần quan trọng nhất, là “hạt nhân” của TGQ, không có

niềm tin thì TGQ không tồn tại

+ Lý tưởng là trình độ phát triển cao của TGQ.

- Vai trò của triết học Mác - Lênin đối với việc hình thành TGQ DVBC

Triết học Mác - Lênin là cơ sở lý luận, là “hạt nhân” TGQ khoa học, chi phối các phẩm chất cụ thể của con người Biểu hiện:

+ Cung cấp cơ sở lý luận trực tiếp hình thành TGQ khoa học của con người.+ Là nhân tố định hướng cho con người trong quá trình nhận thức thế giới.+ Giúp con người hình thành quan điểm, định hướng cho hoạt động của conngười, từ đó xác định thái độ và phương pháp hoạt động

+ Nâng cao vai trò tích cực, sáng tạo của con người trong hoạt động nhậnthức và thực tiễn

+ Làm cho TGQ khoa học phát triển như một quá trình tự giác (khác TGQ

DT, TGQ tôn giáo)

+ Làm cơ sở khoa học để đấu tranh với các loại TGQ DT, tôn giáo, v.v

Trang 9

+ Là hạt nhân của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và các lực lượng tiến

bộ, cách mạng; là cơ sở lý luận trong cuộc đấu tranh với các tư tưởng đối lập,phản động

2 Chức năng phương pháp luận

- Phương pháp luận là gì?

PPL là lý luận về phương pháp; là hệ thống các quan điểm chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.

- Vai trò của triết học Mác - Lênin trong việc hình thành PPL khoa học:

+ Thực hiện chức năng PPL chung nhất của toàn bộ nhận thức khoa học:trang bị hệ thống PPL chung, những nguyên lý, những yêu cầu, chỉ thị của hoạtđộng nhận thức và thực tiễn

+ Là cơ sở để xác định các phương pháp cụ thể

+ Triết học Mác - Lênin trang bị cho con người hệ thống các nguyên lý, kháiniệm, quy luật, phạm trù làm công cụ nhận thức khoa học; giúp cho tư duy conngười phát triển, đó là tư duy ở cấp phạm trù, quy luật

3 Mối quan hệ giữa chức năng TGQ và chức năng PPL

Các chức năng của triết học Mác - Lênin nói chung, đặc biệt chức năng TGQ

và chức năng PPL có quan hệ chặt chẽ thống nhất, nhằm giúp cho con người

nhận thức đúng và cải tạo thế giới có hiệu quả

Biểu hiện:

- TGQ là cơ sở cho PPLL, còn PPL góp phần củng cố và hoàn thiện TGQ, là

sự thể hiện TGQ trong hành động

Nghĩa là, PPL triển khai TGQ thành các nguyên tắc chỉ đạo nhận thức và

hành động Trong triết học Mác - Lênin, mỗi quan điểm lý luận đồng thời là mộtnguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là lý luận về phương pháp

Trang 10

- TGQ chính là giải thích thế giới, sự giải thích ấy được khái quát trong nội dung các nguyên lý, còn khi vận dụng các nguyên lý, lý luận vào nhận thức và cải tạo thực tiễn thì nó trở thành PLL.

Ví dụ:

+ Giải thích mối quan hệ vật chất và ý thức là biểu hiện của TGQ; còn vậndụng cách giải thích (TGQ) ấy vào cải tạo thực tiễn đó là PPL (nguyên tắc kháchquan)

+ Giải thích nội dung hai nguyên lý đó là TGQ; nguyên tắc toàn diện vànguyên tắc phát triển là PPL rút ra từ nội dung của hai nguyên lý

- Ngoài hai chức năng TGQ và PPL, triết học Mác - Lênin còn các chức năng khác như: nhận thức- giáo dục, dự báo khoa học, đánh giá - phê phán, v.v

+ Chức năng nhận thức-giáo dục: từ việc trang bị hệ thống tri thức, triết học

Mác - Lênin thực hiện vai trò giáo dục con người, hướng con người đến các giátrị Chân – Thiện - Mỹ và trên cơ sở một TGQ khoa học, sẽ hình thành ở conngười một nhân sinh quan tiến bộ

+ Chức năng dự báo khoa học: các quy luật của triết học Mác - Lênin là

những quy luật chung nhất, phổ biến nhất của thế giới vật chất, được khái quáttrên cơ sở những tri thức của khoa học cụ thể Do vậy, các quy luật của triết học

Mác - Lênin mang trong mình chức năng dự báo khoa học, chỉ đạo, định hướng

cho các khoa học cụ thể tiếp tục đi sâu khám phá bản chất của thế giới

+ Chức năng đánh giá phê phán: với TGQ, PPL DVBC, triết học Mác Lênin là chuẩn mực khoa học để phê phán mọi TGQ DT, sai lầm và PPSH.

Những chức năng nói trên được thực hiện trong nội dung của triết học Mác Lênin tạo nên khả năng cải tạo thế giới của triết học Mác - Lênin, trở thành mộtcông cụ hữu hiệu trong hoạt động chế ngự giới tự nhiên và sự nghiệp giải phóngcon người của những lực lượng xã hội tiến bộ

Trang 11

-III Vai trò của triết học Mác - Lênin trong đời sống xã hội và trong hoạt động quân sự (60’)

1 Những nhân tố quy định vai trò của triết học Mác - Lênin ngày càng tăng

- Xuất phát từ bản chất khoa học và cách mạng của triết học Mác - Lênin: là một triết học hoàn bị và triệt để, khác hoàn toàn về chất so với triết học trước đó

và đương thời.

+ Nó khắc phục được những thiếu sót của mọi CNDV cũ (máy móc, siêu

hình; phi lịch sử, không biện chứng; chỉ giải thích thế giới mà không cải tạo thếgiới); khắc phục được tính phiến diện hoặc tách rời giữa các bộ phận triết học cóliên hệ hữu cơ với nhau

+ Nó duy vật cả trong tự nhiên và trong xã hội Đó là sự thống nhất giữa

CNDVBC và CNDVLS; giữa CNDV, PBC và LLNT; giữa TGQ khoa học vàPPL đúng đắn

+ Hiện nay triết học Mác- Lênin vẫn là triết học hoàn bị, cách mạng và khoahọc hơn mọi thứ triết học khác (duy tâm, phản động về chính trị, không khoahọc,- mặc dù có thể có những nội dung hợp lý)

- Từ những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế và trong nước đòi hỏi phải có TGQ khoa học, PPL đúng đắn mới nhận thức và giải quyết được những vấn đề thực tiễn đặt ra.

+ Sau sự sụp đổ của CNXH hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô, thế giới từ haicực chuyển sang một cực; xuất hiện chủ nghĩa can thiệp mới, xu hướng diều hâutrong quan hệ quốc tế, v.v cần phải có một TGQ KH và một PPL đúng đắn mớinhận thức và giải quyết được các mâu thuẫn của thời đại

+ Xu hướng quốc tế hoá và toàn cầu hoá đời sống kinh tế đang đặt ra nhiềuvấn đề: tính chỉnh thể của thế giới tăng lên, hội nhập, hợp tác và đấu tranh trong

Trang 12

xu thế cùng tồn tại hoà bình, chống toàn cầu hoá, v.v cần phải có tư duy biệnchứng (mềm dẻo, linh hoạt) mới giải quyết được.

- Cuộc cách mạng KH - CN hiện đại đang phát triển mạnh mẽ (giải mã bộ gen người, sinh sản vô tính, công nghệ thông tin, v.v.); sự phát triển phong phú của các ngành KHTN, KHXH và nhân văn đòi hỏi phải có những sự khái quát mới về triết học và phải có trình độ tư duy biện chứng cao mới có thể sử dụng

được những thành tựu của KH - CN hiện đại

+ Bản chất của cuộc cách mạng KH - CN hiện đại là sự cải biến về chất các

lực lượng sản xuất trên cơ sở biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp

Đặc điểm nổi bật là sự tăng lên mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hoá, khu vực

hoá nền sản xuất vật chất và các lĩnh vực đời sống xã hội, tạo thời cơ, thách thứccho các quốc gia, dân tộc trên con đường phát triển

+ Do kết quả của cuộc cách mạng KH - CN hiện đại, loài người bước vào thế

kỷ XXI với giới hạn nhận thức mới rất cơ bản và sâu sắc Cuộc đấu tranh giữaCNDV và CNDT không bị thủ tiêu mà tiếp tục diễn ra với những nội dung vàhình thức biểu hiện mới

Trước những tình hình đó, triết học Mác- Lênin đóng vai trò rất quan

trọng, là cơ sở cho các phát minh khoa học, cho sự tích hợp và truyền bá những

tri thức khoa học hiện đại

Thực tế cho thấy, nếu không đứng vững trên lập trường duy vật khoa học vàthiếu tư duy biện chứng thì dễ mất phương hướng, thậm chí trượt sang CNDT, savào dị đoan, thần linh học1 trước những phát hiện mới của khoa học

- Cuộc đấu tranh dân tộc, giai cấp gay gắt và quyết liệt trong điều kiện mới, dưới hình thức mới.

+ Hiện nay, tương quan so sánh lực lượng đang bất lợi cho các lực lượng cáchmạng tiến bộ CNĐQ đang tạm thời thắng thế Đế quốc Mỹ đang thực hiện ráoriết âm mưu lãnh đạo thế giới Phong trào công nhân, phong trào XHCN và1

Bi n ch ng c a t nhiên, C Mác v Ph ngghen to n t p, t p 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 à Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 à Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508.

Trang 13

phong trào ĐLDT vẫn tồn tại và phục hồi dần, đang tập hợp, phát triển lựclượng, tìm tòi các phương thức và phương pháp đấu tranh mới Sự thực hiệnnhững nhiệm vụ to lớn nhằm mục tiêu tiến bộ xã hội do thời đại đặt ra đang đòihỏi ở con người một TGQ KH vững chắc và một năng lực tư duy sáng tạo Việcnắm vững triết học Mác - Lênin sẽ giúp chúng ta tự giác trong quá trình trau dồiphẩm chất chính trị tinh thần và năng lực tư duy sáng tạo của mình.

+ Mặt khác, các mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn đang tồn tại mang nhữngđặc điểm, hình thức mới bên cạnh những mâu thuẫn khác mang tính toàn cầu

đang nổi lên gay gắt Mâu thuẫn chủ yếu nổi lên hiện nay là mâu thuẫn giữa lợi

ích của giai cấp tư sản với lợi ích của tuyệt đại đa số loài người đang hướng tớimục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Để thực hiện mụctiêu đó, loài người cần phải có lý luận cách mạng và khoa học soi đường

- Yêu cầu của công cuộc xây dựng CNXH trên thế giới và công cuộc đổi mới toàn diện theo định hướng XHCN ở Việt Nam.

+ Từ thực trạng khủng hoảng của CNXH hiện thực, cần có một cơ sở TGQ,PPL cách mạng và khoa học để lý giải, phân tích sự khủng hoảng ấy, tìm ra xuthế phát triển của CNXH thế giới và phương hướng khắc phục để phát triển.+ Yêu cầu khách quan của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam là phải dựa vào cơ

sở lý luận khoa học, trong đó hạt nhân là PBCDV Sự nghiệp đổi mới đó được

mở đường trước hết bằng đổi mới tư duy lý luận, trong đó triết học Mác - Lêninđóng vai trò đặc biệt quan trọng

Khẳng định vai trò của triết học Mác - Lênin (và chủ nghĩa Mác - Lênin), Văn

kiện Đại hội IX của Đảng chỉ rõ: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” 1

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H 2001, tr 20.

Trang 14

Do đó, yêu cầu triết học phải tham gia tìm lời giải đáp cho con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; đồng thời góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho

Đảng tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối, tư duy lý luận

- Từ yêu cầu đổi mới nhận thức triết học Mác - Lênin hiện nay.

Bên cạnh những đóng góp không thể phủ nhận, cũng còn nhiều vấn đề lý luậnchưa được làm sáng tỏ do hạn chế của những điều kiện xã hội - lịch sử mà cácnhà sáng lập chủ nghĩa Mác chưa dự báo hết Điều đó đòi hỏi những người kếtục sự nghiệp của Mác - Lênin phải bảo vệ, phát triển triết học Mác - Lênin nóiriêng, chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung một cách trung thành và sáng tạo

2 Vai trò của triết học Mác - Lênin ngày càng tăng trong giải quyết những nhiệm vụ cấp thiết của lý luận và thực tiễn quân sự

+ Hệ thống phương pháp, PPL của KHQS là sự biểu hiện, sự chứng thực vàlàm phong phú cho triết học

- Xuất phát từ tình hình biến động sâu sắc về mọi mặt có liên quan đến LVQS, đặc biệt là yêu cầu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.

+ Sự thay đổi chiến lược của CNĐQ từ chiến lược vũ trang sang chiến lượcphi vũ trang Từ đó đặt ra yêu cầu mới trong xây dựng quân đội và trong chuẩn

bị chiến tranh

Trang 15

+ Sự thay đổi chiến lược chống phá cách mạng của CNĐQ và các thế lực thùđịch đang đòi hỏi phải có tư duy mới về quốc phòng, về bảo vệ Tổ quốc ViệtNam XHCN

- Từ sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng mới trong LVQS hiện đại;

và của sự nghiệp xây dựng QĐND Việt Nam.

+ Do sự phát triển của KH KTQS , KHNTQS, sự thay đổi nhanh chóng củaphương thức tác chiến, v.v đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ tư duy về quốc phòng,quân sự, trong đó không thể thiếu được tư duy biện chứng

+ Thực tiễn xây dựng nền QPTD, xây dựng QĐND trong giai đoạn mới củacách mạng đòi hỏi phải đổi mới tư duy lý luận nói chung, tư duy triết học nóiriêng

* Biểu hiện vai trò triết học ngày càng tăng

- Triết học Mác - Lênin cung cấp cơ sở lý luận khoa học để nhận diện bảnchất các cuộc chiến tranh trong thời đại ngày nay và bản chất cuộc chiến tranhbảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; là cơ sở lý luận khoa học của tư duy mới bảo

vệ Tổ quốc, về xây dựng nền QPTD, xây dựng QĐND trong tình hình hiện nay

- Về mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong SMCĐ của quân đội ta hiệnnay; về nhân tố tinh thần trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và trong chiến tranhcông nghệ cao

-Về vấn đề xây dựng quân đội về chính trị; vấn đề phân tích sự chuyển hoátrong so sánh lực lượng: thời, thế, lực trong điều kiện hiện nay; vấn đề hoànthiện cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội, v.v

3 Một số yêu cầu đối với người cán bộ quân đội khi vận dụng triết học Mác - Lênin vào trong nhận thức và thực tiễn quân sự

- Nắm vững các nguyên lý, quy luật, phạm trù và hiểu thực chất tính cáchmạng và khoa học của triết học Mác - Lênin, chống tư tưởng giáo điều, duy ýchí

Trang 16

- Vận dụng sáng tạo các nguyên lý, lý luận của triết học Mác - Lênin vào điềukiện cụ thể của thực tiễn quân sự.

- Thường xuyên học tập để nâng cao trình độ mọi mặt cả về lý luận chung và

lý luận quân sự, biết vận dụng PPL chung và phương pháp riêng trong giải quyếtnhững vấn đề thực tiễn quân sự đặt ra

- Thường xuyên tổng kết kinh nghiệm, bổ sung, phát triển lý luận quân sự,qua đó nâng cao hiệu quả của sự vận dụng triết học Mác - Lênin vào thực tiễnquân sự

Trang 17

Chủ đề 2 PHẠM TRÙ VẬT CHẤT VÀ PHẠM TRÙ Ý THỨC

1 Mục đích yêu cầu

- Phân tích làm rõ nội dung hai phạm trù cơ bản của triết học là vật chất và ýthức, làm rõ nguồn gốc, bản chất của ý thức; đồng thời phê phán những nhậnthức sai trái về hai phạm trù này

- Giới thiệu và định hướng nghiên cứu các hình thức tồn tại của vật chất, tínhthống nhất vật chất của thế giới; kết cấu của ý thức

- Rút ra ý nghĩa PPL chỉ đạo hoạt động nhận thức và thực tiễn và ý nghĩa vậndụng trong nhận thức lý luận và thực tiễn quân sự

- Có thể sử dụng trình chiếu Power Point

5 Tài liệu tham khảo

1 C Mác và Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, H.1994

2 V I Lênin toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ, M 1980

3 Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nxb CTQG, H 1999

4 CNDVBC lý luận và vận dụng, Nxb SGK Mác - Lênin, H 1985

5 Triết học Mác - Lênin (Phần II), Nxb QĐND, H 1995

6 Câu hỏi và bài tập triết học, tập 1, 2 , Nxb SGK Mác - Lênin, H 1986

7 Lê Hữu Tầng, Bàn thêm về phạm trù vật chất, Triết học, 12-1988

Trang 18

8 Tô Xuân Thảo, Tìm hiểu nội dung định nghĩa vật chất của Lênin, Tạp chíGDLL, số 11 (12-2000).

Mở đầu: Vật chất và ý thức là hai phạm trù cơ bản, hai

phạm trù xuất phát điểm của triết học Đây là hai phạm trù

có nội hàm rộng đến cùng cực Việc nắm vững nội dung của hai phạm trù có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết vấn đề

cơ bản của triết học, làm cơ sở cho giải quyết các vấn đề khác có liên quan.

Trong tư tưởng nhân loại nói chung tư tưởng triết học nói

riêng đã có nhiều quan điểm lý giải khác nhau về vấn sđề vậtchất và ý thức Song tựu chung lại có hai quan điểm đại diệncho hai đường lối triết học đó là duy vật và duy tâm

I Phạm trù vật chất (90’)

Đây là phạm trù xuất phát điểm của CNDV, cho nên ngay từ khi xuất hiện nó

đã trở thành tiêu điểm của cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT trong LSTH.

1 Quan niệm của triết học trước Mác về phạm trù vật chất

* Quan niệm của CNDT

- CNDT nói chung, phủ nhận sự tồn tại khách quan của vật chất; vật chất chỉ

là hình ảnh, là cái bóng của ý niệm, là sản phẩm phức hợp của các cảm giác + Platôn (427-347 TCN): vật chất bắt nguồn từ “ý niệm”; sự vật cảm tính là

cái bóng của “ý niệm” Hêghen (1770-1831): vật chất là do “ý niệm tuyệt đối”

sinh ra; giới tự nhiên là kết quả của sự tha hoá của “ý niệm tuyệt đối”, là hình

thức tồn tại khác của “ý niệm tuyệt đối”

+ Béccơli (1684-1753): “vật thể trong thế giới quanh ta là sự phức hợp của

cảm giác”; và “tồn tại nghĩa là được cảm biết”

Trang 19

+ Makhơ (1838-1916): sự vật chỉ là sự “phức hợp của những yếu tố” E.Makhơ viết: “Đối với chúng tôi, vật chất không phải là cái có trước Nói cho

đúng ra, cái có trước chính là những yếu tố (mà người ta thường gọi là cảm giác

theo một nghĩa nào đó)”1

- Thực chất quan niệm của CNDT là phủ nhận CNDV một cách tinh vi: phủ

nhận phạm trù nền tảng của nó là phạm trù vật chất

TGQ DT rất gần với TGQ tôn giáo và tất yếu dẫn họ đến với thần học.

Trên thực tế, quan niệm của CNDT đã bị sự phát triển của khoa học và thực tiễnbác bỏ

* Quan niệm của CNDV trước Mác

- Thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất, giải thích sự vận động, phát triển của thế giới vật chất như một hiện tượng tự thân, bác bỏ vai trò sáng thế của tinh thần, thượng đế.

+ Thời cổ đại: đồng nhất vật chất với những dạng cụ thể của nó, tức là những

sự vật hữu hình, cảm tính đang tồn tại ở thế giới bên ngoài

Chẳng hạn:

Talét (624-547 TCN): vật chất là nước;

Anaximen (585-525 TCN): vật chất là không khí;

Hêraclít (520-460 TCN): vật chất là lửa;

Anaximăngđrơ (610-546 TCN): vật chất là apeiron (apei’ron);

Lơxíp (500-440 TCN) và Đêmôcrít (460-370 TCN): vật chất là nguyên tử;Empêđôcơlơ (483-423 TCN): vật chất là đất, nước, lửa, không khí;

Phái Ngũ hành (Trung Quốc): vật chất là kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ; v.v

1

V I Lênin to n t p, t p18, Nxb Ti n b , M 1981, tr 43 à Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ến bộ, M 1981, tr 43 ộ, M 1981, tr 43.

Trang 20

+ Thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XV-XVI) và thời kỳ cận đại (thế kỷ

XVII-XVIIII): do sự thống trị của quan điểm siêu hình và cơ học cổ điển Niutơn, khiến

các nhà khoa học đồng nhất vật chất với khối lượng; coi vận động của vật chất chỉ là biểu hiện của vận động cơ học; nguồn gốc vận động nằm ngoài vật chất.

Kế thừa quan điểm nguyên tử luận cổ đại, các nhà duy vật cận đại vẫn coi

nguyên tử là phần tử nhỏ nhất, không thể phân chia được, tách rời nguyên tử với

vận động, không gian và thời gian

+ Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: khi xuất hiện các phát minh mới trong

KHTN, con người có được hiểu biết căn bản hơn, sâu sắc hơn về nguyên tử: Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X, một loại sóng điện từ có bước sóng từ0,01 - 100.10-8 cm

Năm 1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ, đã bác bỏ quan niệm

về sự bất biến của nguyên tử.

Năm 1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử (êléctrôn) và chứng minh được nó là

một trong những thành phần cấu tạo nên nguyên tử Nhờ phát minh này, lần đầu

tiên trong khoa học, sự tồn tại hiện thực của nguyên tử được chứng minh bằngthực nghiệm

Năm 1901, Kaufman đã chứng minh được khối lượng của điện tử không phải

là bất biến, mà thay đổi phụ thuộc vào tốc độ vận động của nó

Năm 1905, Anhxtanh phát minh ra thuyết tương đối hẹp và năm 1916, ông đưa ra thuyết tương đối tổng quát, chứng minh được không gian, thời gian, khối lượng không phải là bất biến, đặc trưng chung cho vật chất.

- Những quan niệm đương thời về giới hạn cuối cùng của vật chất là nguyên

tử hay khối lượng đã sụp đổ trước khoa học Đây chính là cơ hội để CNDT lợidụng, cho rằng “vật chất” của CNDV đã tiêu tan, nền tảng của CNDV đã sụp đổ

Trang 21

- Chính trong hoàn cảnh như vậy V I Lênin đã xuất hiện đáp ứng nhu cầukhái quát mới về triết học những thành tựu của KHTN để giải phóng nó ra khỏi

“thời kỳ ốm đau ngắn ngủi”; chống CNDT, bảo vệ và phát triển CNDV

V I Lênin chỉ rõ:

+ Thực chất của cuộc khủng hoảng vật lý học là cuộc khủng hoảng TGQ: làm

đảo lộn những quan niệm cũ của KHTN về thế giới

+ Nguyên nhân của sự khủng hoảng nằm ngay trong bước nhảy vọt của nhận thức con người khi chuyển từ nhận thức thế giới vĩ mô sang nhận thức thế giới vi mô,- đó là quan niệm siêu hình, máy móc.

+ Con đường thoát ra khỏi khủng hoảng là phải thay CNDVSH bằng CNDVBC.

Như vậy, đến đây đã có đủ điều kiện chín muồi để khắc phục cuộc khủng

- Ba là, con người có thể nhận thức được thế giới vật chất thông qua sự phản

ánh của các giác quan về các SVHT cụ thể cảm tính 5

- Bốn là, về tính vô hạn, vô tận và tính không thể sáng tạo, không thể tiêu diệt

Trang 22

- Năm là, tính thống nhất vật chất của thế giới 6

- Sáu là, các hình thức tồn tại của vật chất: không gian, thời gian, vận động.

Những tư tưởng thiên tài trên đây đã có ý nghĩa rất quan trọng đối với khoahọc đương thời, và là cơ sở trực tiếp để V I Lênin kế thừa, phát triển học thuyếtDVBC về vật chất sau này

* Thời kỳ V I Lênin

Kế thừa những tư tưởng thiên tài của Mác-Ăng ghen, tổng kết toàn diệnnhững thành tựu mới nhất của KHTN; đấu tranh phê phán quan điểm duy tâm,siêu hình, thuyết không thể biết về vật chất; bảo vệ và phát triển quan niệm củaMác - Ăngghen về phạm trù vật chất, V I Lênin đã đưa ra định nghĩa kinh điển

về vật chất:

“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” 1

Cần nắm những vấn đề cơ bản sau:

- Vật chất là một phạm trù triết học.

+ Đây là sự xác định “góc độ” của việc xem xét để phân biệt vật chất với tưcách là phạm trù triết học với các quan niệm của KHTN về cấu tạo và nhữngthuộc tính cụ thể của các đối tượng và các dạng vật chất khác nhau:

Vật chất với tư cách là phạm trù triết học nó chỉ vật chất nói chung, vô hạn,

vô tận, không sinh ra, không mất đi; còn các đối tượng, các dạng vật chất KH cụthể nghiên cứu đều có giới hạn, nó sinh ra và mất đi để chuyển hoá thành cái

khác Vì thế, không thể quy vật chất nói chung về vật thể, cũng không thể đồng nhất vật chất nói chung với vật thể cụ thể như các nhà triết học cổ đại và cận đại

Trang 23

+ Với tư cách là phạm trù triết học, phạm trù vật chất phải thể hiện TGQ vàhướng đến sự giải quyết vấn đề cơ bản của triết học.

Khác với phạm trù triết học, phạm trù của các khoa học cụ thể chỉ phản ánhmột sự vật, một đối tượng cụ thể, giới hạn trong phạm vi một ngành khoa họcnhất định (Ví dụ, các phạm trù khối lượng, năng lượng của vật lý học; các phạmtrù biến di, di truyền của sinh vật học; các phạm trù hoá hợp và phân giải của hoá

học, v.v ) Cho nên, các phạm trù của khoa học cụ thể chỉ có chức năng bản thể luận.

Khi cho vật chất là một phạm trù triết học, V I Lênin muốn khẳng định đây là

một phạm trù rộng và khái quát nhất, khác với khái niệm vật chất theo nghĩa

hẹp, thường dùng trong KH cụ thể và trong đời sống hàng ngày; đồng thời muốn

khẳng định vật chất không phải là vật thể cụ thể, nó chỉ là một khái niệm, là kết

quả của sự trừu tượng hoá, khái quát hoá những đặc trưng cơ bản nhất của các

đối tượng, của khách thể thành tên gọi là thực tại khách quan để chỉ ra bản chất của vật chất Do đó, phạm trù vật chất có chức năng nhận thức luận.

+ Với tư cách là phạm trù triết học, phương pháp định nghĩa duy nhất đúng về vật chất là bằng cách đặt nó trong quan hệ với mặt đối lập (là ý thức), tìm ra được một thuộc tính thoả mãn cả hai điều kiện: một là, có ở mọi dạng vật chất; hai là, có ý nghĩa phân biệt vật chất với ý thức (cái nào có trước, cái nào quyết

định cái nào)

Vì có nhiều cách để định nghĩa khái niệm:

Cách định nghĩa thông thường trong lôgíc học, đem quy khái niệm cần định nghĩa vào một khái niệm rộng hơn và chỉ ra những đặc điểm khác biệt Ví dụ,

định nghĩa hình chữ nhật thông qua khái niệm hình bình hành, rút ra đặc điểmkhác biệt: có hai đường chéo bằng nhau Vật chất là phạm trù “rộng đến cùngcực, rộng nhất” 1, nên không thể định nghĩa bằng cách này

1

V I Lênin to n t p, t p 18, Nxb Ti n b , M 19 81, tr 172 à Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ến bộ, M 1981, tr 43 ộ, M 1981, tr 43.

Trang 24

Cách định nghĩa theo phương pháp phát sinh của đối tượng, nhằm chỉ ra nguồn gốc của đối tượng Vật chất có nguồn gốc tự nó, cho nên, cách định nghĩa

này cũng không áp dụng được đối với phạm trù vật chất

Với phương pháp định nghĩa nêu trên, V I Lênin đã tìm ra được thuộc tính phổ biến thoả mãn cả hai điều kiện đặt ra Nội dung của thuộc tính ấy chính là

nội dung thứ hai của định nghĩa vật chất:

- Thuộc tính chung của vật chất là “thực tại khách quan ở ngoài và độc lập với ý thức của con người”.

+ Thực tại khách quan là một thuộc tính của thế giới vật chất, phản ánh khả

năng tự thân tồn tại, ở ngoài và độc lập với ý thức của loài người.

+ Thực tại khách quan, được V I Lênin dùng để chỉ vật chất (hay vật chất là

thực tại khách quan) chủ yếu là chỉ tất cả những gì tồn tại ở bên ngoài và độc lập với ý thức của loài người Ở đây V I Lênin đã quy giản khái niệm vật chất về

khái niệm thực tại khách quan

+ Thực tại khách quan ấy là cái “được đem lại cho con người trong cảm giác”.Nghĩa là những khách thể của thực tại khách quan, trong quan hệ với chủ thể, khi

tác động vào giác quan của chủ thể thì đem lại cho chủ thể những cảm giác về

chúng

Như vậy có hai điểm cần chú ý:

Một là, vật chất tác động vào giác quan gây nên cảm giác, nhờ cảm giác mà

ta biết được vật chất Do đó, muốn có cảm giác, trước hết phải có vật chất (thực tại khách quan) tác động Điều này đồng nghĩa với khẳng định vật chất có trước, cảm giác (ý thức) có sau

Hai là, tất cả những gì mà cảm giác đem lại cho ta đều do thực tại khách quan quy định; tất cả những gì thông qua giác quan chúng ta cảm biết được đều là những cái phải có trong thực tại khách quan, và chính chúng quy định nội dung

Trang 25

của cảm giác, ý thức Điều này đồng nghĩa với khẳng định vật chất quyết định ý

+ Thực tại khách quan (vật chất) không tồn tại trừu tượng, mà được biểu hiện

thông qua các dạng cụ thể; bằng cảm giác (ý thức), con người có thể nhận thức được vật chất với những phương pháp khác nhau: chép lại, chụp lại, phản ánh + Thực tại khách quan (vật chất) vừa là nguồn gốc, vừa là đối tượng của cảm

giác, của ý thức; có trước ý thức và quyết định nội dung khách quan của ý thức

Như vậy, với nội dung này, V I Lênin đã giải quyết mặt thứ hai trong vấn đề

cơ bản của triết học; vừa chứng minh được khả năng nhận thức của con người,vừa bác bỏ “thuyết không thể biết” phủ nhận khả năng nhận thức của con người

Tóm lại, nội dung định nghĩa vật chất của V I Lênin chỉ ra rằng, những khách

thể nào hội tụ đầy đủ ba đặc trưng bản chất trên đây mới thuộc về hiện tượng vậtchất Tổng hợp cả ba đặc trưng bản chất đó, V I Lênin biểu đạt bằng thuật ngữ

“thực tại khách quan” và gọi nó là vật chất Như vậy, lần đầu tiên trong LSTH,

V I Lênin đã đưa ra một định nghĩa kinh điển mang tính cách mạng, khoa học

về phạm trù nền tảng của CNDV

* Ý nghĩa của định nghĩa vật chất của Lênin

+ Nó đã khắc phục triệt để thiếu sót chủ yếu của CNDV cũ và những biếntướng của nó trong quan niệm về vật chất của các nhà triết học tư sản hiện đại;tạo cơ sở khoa học cho quan niệm duy vật về xã hội, cho sự thống nhất giữaCNDVBC và CNDVLS

Trang 26

+ Nó là cơ sở khoa học, là vũ khí tư tưởng để đấu tranh chống CNDT và

“thuyết không thể biết” một cách hiệu quả, bảo đảm sự đứng vững của CNDVtrước sự phát triển mới của KHTN

+ Nó trang bị TGQ và PPL khoa học cho các nhà khoa học trong nghiên cứu

về thế giới vật chất; động viên, cổ vũ họ tin vào khả năng nhận thức của con

người tiếp tục đi sâu khám phá những thuộc tính mới của vật chất Do vậy, nó cótác dụng thúc đẩy KHTN và nhất là vật lý học thoát khỏi cuộc khủng hoảng vàocuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX để tiến lên

+ Đến nay, định nghĩa vật chất vẫn còn nguyên giá trị, là tiêu chuẩn căn bảnnhất để phân biệt TGQDV và TGQDT

3 Các hình thức tồn tại của vật chất

a Vận động của vật chất

* Vận động là gì?

- Vận động, theo định nghĩa chung nhất là mọi sự biến đổi nói chung.

Ph Ăngghen viết: “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu làphương thức tồn tại của vật chất, một thuộc tính cố hữu của vật chất,- thì baogồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể cả từ sự thayđổi vị trí giản đơn cho đến tư duy”1

Như vậy, vận động, trong triết học được hiểu là mọi sự biến đổi nói chung,không phải chỉ là sự di chuyển vị trí giản đơn, cơ giới như trong quan niệmthông thường (ví dụ)

- Vận động là phương thức tồn tại của vật chất.

+ Nghĩa là, vật chất chỉ tồn tại bằng vận động; trong vận động và thông quavận động vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình; và chỉ rõ mình là cái gì thôngqua vận động dưới hình thức này hay hình thức khác Vì thế, vật chất không táchrời vận động bất kỳ dạng vật chất cụ thể nào cũng luôn luôn vận động dưới một

1

Bi n ch ng c a t nhên, C Mác v Ph ngghen to n t p, t p 20, Nxb CTQG, H 19 94, tr 519 à Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 à Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508.

Trang 27

hình thức nào đó Không bao giờ có vật chất không vận động Theo Ph.

Ăngghen, vật chất mà không vận động là điều không thể quan niệm được

+ Khẳng định trên đã bác bỏ quan niệm vận động thuần tuý không có vật chất;quan niệm về vận động của lực lượng phi vật chất của CNDT, tôn giáo và quan

niệm của chủ nghĩa duy năng về vận động, muốn hoà tan vật chất vào năng

lượng

V I Lênin viết: Không thể đồng nhất cái mang vận động với cái vận động vìvận động chỉ là một thuộc tính của vật chất, là phương thức tồn tại của vật chất 1

- Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất.

+ Nó gắn liền với vật chất, là cái vốn có của vật chất Các dạng vật chất có thểkhông có một thuộc tính nào đó, nhưng không thể thiếu thuộc tính vận động.Vận động, do đó là thuộc tính chung, vốn có của mọi dạng vật chất

+ Khoa học đã chứng minh: nguồn gốc sinh ra vận động của vật chất là do sự

tác động qua lại của các yếu tố, các bộ phận khác nhau ở bên trong sự vật và

giữa các sự vật với nhau

Như vậy, vận động của vật chất là tự thân vận động, là thuộc tính cố hữu của

vật chất; nguyên nhân sinh ra vận động nằm trong bản thân nó, chứ không phải

từ bên ngoài như quan niệm siêu hình (của Niutơn)

+ Thực tiễn chứng minh, trong thế giới vật chất, không có một SVHT nàokhông vận động: từ giới TN, XH đến TD

+ Vì thế, vận động là khách quan, không lệ thuộc vào một lượng siêu tự nhiênnào, cũng không lệ thuộc vào ý thức của loài người

- Vận động là vĩnh viễn và bất diệt, được bảo toàn cả về số lượng và chất lượng.

+ Bảo toàn về số lượng: tổng số vận động của thế giới vật chất là một hằng số

không đổi Lượng vận động được truyền từ vật này sang vật khác (từ hình thứcnay sang hình thức khác) luôn bằng nhau giữa vật truyền và vật nhận vận động.1

V I Lênin to n t p, t p 18, Nxb Ti n b , M 1980, tr 334 à Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ến bộ, M 1981, tr 43 ộ, M 1981, tr 43.

Trang 28

+ Bảo toàn về chất lượng: tức là bảo toàn mọi hình thức vận động và mọi khả năng chuyển hoá lẫn nhau giữa các hình thức vận động.

Điều này đã được định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng chứng minh từgiữa thế kỷ XIX

Ph Ăngghen viết: “Cần phải hiểu tính bất diệt của vận động không chỉ đơnthuần về mặt số lượng mà cần phải hiểu cả về mặt chất lượng nữa”1

* Các hình thức cơ bản của vận động

- Cách phân loại phổ biến nhất là chia vận động thành 5 hình thức cơ bản: + Vận động cơ học: sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian.

+ Vận động vật lý: vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động điện

tử, các quá trình nhiệt, điện

+ Vận động hoá học: các quá trình hoá hợp và phân giải các chất, vận động

của nguyên tử

+ Vận động sinh học: trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường.

+ Vận động xã hội: sự thay đổi, thay thế các quá trình xã hội của các hình thái

KT-XH

- Mối quan hệ giữa các hình thức vận động

Các hình thức vận động trên có quan hệ với nhau theo những nguyên tắc nhất định:

+ Các hình thức vận động nói trên khác nhau về chất: mỗi hình thức vận động

là một trình độ của vận động; những hình trình độ này tương ứng với trình độcủa các kết cấu vật chất

+ Các hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở hình thức vận động thấp,bao hàm trong nó tất cả các hình thức vận động thấp hơn Trong khi các hìnhthức vận động thấp không có khả năng bao hàm các hình thức vận động ở trình

độ cao hơn Vì thế, mọi sự quy giản về hình thức vận động thấp đều sai lầm(thuyết Đácuyn xã hội)

1

Bi n ch ng c a t nhiên, C Mác v Ph ngghen to n t p, t p 20, Nxb CTQG, H 1994, tr 497 à Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 à Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508.

Trang 29

+ Trong mỗi sự tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể gắn liền với nhiều hìnhthức vận động khác nhau nhưng bao giờ cũng có một hình thức vận động cơ bảnđặc trưng cho sự vật ấy (thường là hình thức vận động cao nhất của nó).

Ví dụ: trong cơ thể sinh vật, hình thức vận động đặc trưng là vận động sinh

học Vận động xã hội là vận động đặc trưng cho con người

- Việc phân loại các hình thức vận động cơ bản trên đây đã đặt cơ sở cho việcphân loại các ngành khoa học tương ứng với đối tượng nghiên cứu của chúng, vàchỉ ra cơ sở cho sự phân ngành và hợp ngành của các khoa học

* Hiện tượng “đứng im”tương đối

- Triết học Mác - Lênin khẳng định vận động của thế giới vật chất là tuyệt đối, song mặt khác cũng thừa nhận sự đứng im tương đối của các SVHT Bởi vì, vật

chất tồn tại thông qua sự tồn tại của các SVHT cụ thể cảm tính, do đó trong sựtồn tại của vật chất tất yếu phải có sự đứng im, tức trạng thái tĩnh của mỗi SVHT

cụ thể khi nó đang còn là nó chưa chuyển sang cái khác

- Đứng im là một trạng thái ổn định tương đối về chất (hay cân bằng tạm thời)

của SVHT trong vận động ở một thời điểm và trong một quan hệ xác định Nó

quy định sự tồn tại của sự vật và không mâu thuẫn với vận động mà còn là điềukiện của sự vận động 1

- Đứng im chỉ tương đối vì:

+ Nó chỉ xảy ra trong một quan hệ xác định, ngoài quan hệ đó thì sự vật vẫn

đang vận động

Ví dụ: con tàu đứng im là trong quan hệ với sân ga, còn so với mặt trời, các

thiên thể khác thì nó đang vận động theo vận động của trái đất (với v = 30 km/s) + Đứng im chỉ xảy ra đối với một hình thức vận động nhất định, còn các hình

thức vận động khác trong sự vật vẫn tiếp tục thực hiện

Ví dụ: nói con tàu đứng im là nói vận động cơ học, còn vận động vật lý, vận

động hoá học vẫn đang diễn ra trong bản thân nó

1

Bi n ch ng c a t nhiên, C Mác v Ph ngghen to n t p, t p 20, Nxb CTQG, H 1994, tr 740 à Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 à Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508.

Trang 30

+ Đứng im chỉ là biểu hiện một trạng thái đặc thù của vận động: vận động trong cân bằng, trong sự ổn định tương đối, trong một thời gian nhất định, vẫn

còn bảo toàn cấu trúc hệ thống và bảo toàn chất của sự vật

Chính nhờ trạng thái ổn định đó mà sự vật thực hiện bước chuyển hoá tiếptheo Không có sự đứng im tương đối thì không có sự vật nào tồn tại

+ Vận động cá biệt có xu hướng hình thành SVHT ổn định nào đó, còn vậnđộng nói chung, tức sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các SVHT, làm cho tất cả

không ngừng biến đổi Vì thế đứng im chỉ là một hiện tượng tạm thời.

Ph Ăngghen viết: “Vận động nói riêng có xu hướng chuyển thành cân bằng,vận động toàn bộ lại phá hoại sự cân bằng cá biệt”1; và “Mọi sự cân bằng chỉ là

tương đối và tạm thời” 2

Tóm lại, mọi sự cân bằng chỉ là tương đối và tạm thời trong sự vận động tuyệt

đối và vĩnh viễn của thế giới vật chất

b Không gian và thời gian

* Khái niệm không gian và thời gian

- Không gian là phạm trù dùng để chỉ hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt

quảng tính, vị trí, kết cấu, sự cùng tồn tại, sự tác động lẫn nhau

- Thời gian là phạm trù dùng để chỉ hình thức tồn tại của vật chất về mặt độ

dài diễn biến, sự kế tiếp nhau của các quá trình

* Các tính chất chung của không gian và thời gian

- Tính khách quan: không gian và thời gian là thuộc tính của vật chất tồn tại

gắn liền với nhau và gắn liền với vật chất Vật chất tồn tại khách quan, do đókhông gian và thời gian tồn tại khách quan

Trang 31

+ Makhơ cho không gian, thời gian là hệ thống liên kết cảm giác, phụ thuộcvào con người, do cảm giác con người tạo ra.

+ Niutơn, cho không gian, thời gian là những thực thể ở ngoài vật chất vàkhông có liên hệ với nhau

V I Lênin viết: “Đó là một điều vô lý duy tâm rõ rệt nảy sinh một cách tấtyếu từ học thuyết nói rằng vật thể là những phức hợp cảm giác” 1

- Tính vĩnh cửu và vô tận: nghĩa là không có tận cùng về một phía nào, cả về

quá khứ lẫn tương lai, cả về đằng trước lẫn đằng sau, cả về bên phải lẫn bên trái,

cả về phía trên lẫn phía dưới

- Không gian luôn có ba chiều (dài, rộng, cao); còn thời gian chỉ có một chiều (từ quá khứ đến tương lai).

Chú ý: không gian thực chỉ có ba chiều, khác với không gian trừu tượng,

“không gian nhiều chiều” trong toán học

Rút ra: Cần có quan điểm lịch sử - cụ thể trong phân tích không gian và thời

gian của sự vật, của chiến tranh

4 Tính thống nhất vật chất của thế giới

* Quan niệm của CNDT, tôn giáo

- CNDT: bản chất thế giới “ý niệm tuyệt đối” hoặc ở ý thức con người, cho

nên thế giới thống nhất là vì nó được người ta nghĩ về nó như cái thống nhất

Ph Ăngghen khi phê phán Đuyrinh, đã chỉ rõ: chỉ khi nào các sự vật đã thốngnhất với nhau rồi thì người ta mới nghĩ về nó như cái thống nhất

Đuyrinh cho rằng thế giới thống nhất ở tồn tại Điều đó không đúng vì CNDTcũng thừa nhận sự tồn tại “khách quan” của Thượng đế, tức thừa nhận sự tồn tại

“khách quan” của thế giới bên kia

Ph Ăngghen chỉ rõ: “Tính thống nhất của thế giới không phải ở sự tồn tại của

nó, mặc dù sự tồn tại là tiền đề của sự thống nhất của nó, vì trước khi thế giới có1

V I Lênin to n t p, t p 18, Nxb Ti n b , M 1981, tr 212 à Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ến bộ, M 1981, tr 43 ộ, M 1981, tr 43.

Trang 32

thể là một thể thống nhất thì trước hết thế giới phải tồn tại đã” “Tính thống nhấtthật sự của thế giới là ở tính vật chất của nó” 1

- Tôn giáo chia thế giới thành ba bộ phận: thiên đường, địa ngục, trần gian.

Các bộ phận của thế giới thống nhất ở chúa, Thượng đế,- những đấng sáng thế

* Quan niệm của CNDV trước Mác

CNDV trước Mác thừa nhận sự thống nhất vật chất của thế giới, song khác

nhau trong cách giải thích:

- Các nhà triết học duy vật cổ đại và thời Phục hưng đã luận chứng nguyên tắc

thống nhất vật chất của thế giới bằng cách quy giản nó về một bản nguyên cụ thể

cảm tính

- Các nhà triết học duy vật thời cận đại đã chứng minh sự thống nhất vật chất

của thế giới phù hợp với nguyên tắc nhất nguyên duy vật bằng những thành tựu

của KHTN thời đó

* Quan niệm của triết học Mác - Lênin

Bằng sự phát triển lâu dài của bản thân triết học và sự phát triển của khoa học,

CNDVBC cho rằng: bản chất của thế là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất

- Thể hiện ở những điểm cơ bản sau đây:

+ Một là, chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất Thế

giới vật chất tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức con người

+ Hai là, trong sự thống nhất ấy, mọi SVHT của thế giới vật chất đều có mối

liên hệ thống nhất với nhau, biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể củavật chất, là những kết cấu vật chất, hoặc có nguồn gốc vật chất, do vật chất sinh

ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan phổ biến của thế giớivật chất

+ Ba là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận, không được sinh

ra và không bị mất đi Trong thế giới không có gì khác ngoài những quá trình vật1

C Mác v Ph ngghen to n t p, t p 20, Nxb CTQG, H 1994, tr 67 à Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 à Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508.

Trang 33

chất đang biến đổi và chuyển hoá lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kếtquả của nhau.

- Những căn cứ khoa học cho luận điểm trên

+ Căn cứ vào những thành tựu của KHTN: thiên văn học, hoá học, sinh vật

học, khảo cổ học, khoa học về vũ trụ, khoa học về sự sống (những vấn đề PPLtrong giải mã bản đồ gen người), v.v Những thành tựu của KHTN đã giúpCNDVBC có cơ sở khẳng định rằng các SVHT đều có cùng bản chất vật chất,thế giới thống nhất ở tính vật chất và thông qua tính vật chất

+ Căn cứ vào đời sống thực tiễn của con người: con người không thể sáng tạo

ra vật chất bằng ý thức mà chỉ có thể cải biến thế giới vật chất theo những quy

luật vốn có của nó

Tóm lại, thế giới về bản chất là vật chất, thống nhất ở tính vật chất của nó Thế

giới vật chất có nguyên nhân tự nó, vĩnh hằng và vô tận với vô số những SVHTcủa nó

* Ý nghĩa phương pháp luận

Cần khẳng định nguyên tắc về một thế giới có thể nhận thức được; chốnghoài nghi, bi quan, định mệnh, và thái độ thụ động, tiêu cực trước hiện thực, thựctiễn

II Phạm trù ý thức

1 Khái niệm ý thức

*Quan niệm của CNDT

- CNDT nói chung phủ nhận nội dung khách quan của ý thức đem đối lập một

cách tuyệt đối giữa vật chất và ý thức, tuyệt đối hoá ý thức và thần bí hoá nó nhưmột lực lượng siêu tự nhiên nằm ngoài khả năng nhận thức của con người

Theo họ, ý thức là một thực thể duy nhất, có trước, tồn tại vĩnh viễn và lànguyên nhân sinh ra vật chất, chi phối sự tồn tại và biến đổi của thế giới vật chất

Trang 34

+ CNDT khách quan: cái tồn tại trước, khách quan là “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối”, “tinh thần thế giới” Ý thức của con người chỉ là sự “hồi tưởng” hoặc “tự ý thức” của “ý niệm, “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới”.

+ CNDT chủ quan: ý thức là do cảm giác sinh ra Cảm giác, theo họ, là cái

vốn có, tách biệt với thế giới bên ngoài, chứ không phải là sự phản ánh thế giớibên ngoài vào trong đầu óc con người

- Thực chất của quan niệm duy tâm trong vấn đề này là tách ý thức ra khỏi vật chất, phủ nhận sự tồn tại khách quan của vật chất, lấy ý thức làm xuất phát điểm

để giải thích thế giới Tiêu biểu là: Platôn, Khổng Tử, Béccơli, Hêghen

* Quan niệm CNDV trước Mác

- Nhiều nhà triết học duy vật bác bỏ tính chất thần bí, siêu tự nhiên của ý thức,thừa nhận nội dung khách quan của ý thức Song ở họ còn lẫn lộn, đồng nhất vậtchất với ý thức, lẫn lộn CNDV với CNDT (CNDV tầm thường)

+ Đê môcrít: ý thức là do các nguyên tử đặc biệt (hình cầu, nhẹ, linh động…)cấu thành

+ Phôgơtơ: óc tiết ra ý thức như gan tiết ra mật, thận tiết ra nước tiểu

+ Phoiơbắc (1804-1872): thừa nhận ý thức là sản phẩm đặc biệt của óc người.Song do không thấy được bản chất xã hội của con người, nên ông không thấyđược yế tố xã hội - lịch sử của ý thức Ông hiểu ý thức một cách chung chung,trừu tượng, không thấy được bản chất xã hội của ý thức

+ Vật hoạt luận đem đồng nhất ý thức với một thuộc tính của nó,- thuộc tính

phản ánh Họ cho rằng, mọi SVHT đều có ý thức, ý thức là thuộc tính của mọidạng vật chất, từ giới vô cơ đến con người

Việt Nam có thuyết “vạn vật hữu linh”(vạn vật hữu thần) tương tự thuyết trên

- Nguyên nhân của những hạn chế của CNDV trước Mác, một mặt, do cáckhoa học lúc đó còn kém phát triển, mặt khác, do sự chi phối của phương phápsiêu hình

Trang 35

- Những hạn chế của CNDV trước Mác và những sai lầm của CNDT đều đượccác giâi cấp thống trị bóc lột lợi dụng làm công cụ nô dịch đời sống tinh thầnquần chúng nhân dân.

* Quan niệm của triết học Mác- Lênin

- Mác: ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý

thức1 Điều đó có nghĩa, ý thức là sự phản ánh tồn tại

- V I Lênin: cảm giác (ý thức) là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan 1.Nghĩa là, ý thức được nảy sinh trong mối quan hệ tác động qua lại giữa conngười và thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn

- Từ điển triết học 1986: Ý thức là hình ảnh cao cấp, riêng có ở con người, đối

với hiện thực khách quan Ý thức là toàn bộ quá trình tâm lý tích cực tham giavào sự hiểu biết của con người đối với thế giới khách quan và sự tồn tại thực sựcủa nó (tr 711)

- Câu hỏi và bài tập triết học: Ý thức con người là phạm trù triết học dùng để

chỉ một hình thức phản ánh thế giới khách quan của dạng vật chất có tổ chức caonhất là óc người 2

Tóm lại, các định nghĩa trên đều khẳng định: một là, ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong óc người; hai là, ý thức tồn tại chủ quan trong óc

người; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

Từ đó có thể hiểu:

Ý thức là phạm trù triết học dùng để chỉ hình thức phản ánh cao nhất, riêng

có của óc người về hiện thực khách quan trên cơ sở thực tiễn.

2 Nguồn gốc của ý thức

CNDVBC khẳng định: ý thức của con người là sản phẩm của quá trình pháttriển tự nhiên và lịch sử- xã hội Do đó, để hiểu nguồn gốc, bản chất ý thức cầnxét trên hai mặt tự nhiên và xã hội

1 H t t ư tưởng Đức, C Mác và Ph ư tưởng Đức, C Mác và Ph ởng Đức, C Mác và Ph ng c, C Mác v Ph à Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ngghen to n t p, t p 3, Nxb CTQG, H 1995, tr 37 à Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508.

Trang 36

* Xét về mặt tự nhiên

- Ý thức là thuộc tính (đặc tính) riêng của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc người, được hình thành từ thuộc tính phản ánh có ở mọi dạng vật chất.

+ Ý thức không phải là bản thân vật chất, cũng không phải là một hiện tượngthần bí, mà chỉ là một thuộc tính đặc biệt của vật chất: thuộc tính phản ánh

Khẳng định trên khắc phục được sai lầm của CNDV tầm thường đồng nhất vật

chất với ý thức; đồng thời chỉ ra nguồn gốc vật chất của ý thức: ý thức là một

thuộc tính của vật chất, phản ánh vật chất,- do đó, có ý nghĩa chống CNDT, tôngiáo

V I Lênin viết: Hết thảy mọi vật chất đều có một đặc tính gần giống với cảmgiác, đặc tính phản ánh 1

+ Song không phải mọi dạng vật chất đều có ý thức, chỉ có óc người với tư các

là sản phẩm có tổ chức cao nhất của vật chất sống mới có khả năng phản ánh ýthức

Khoa học đã chứng minh và rút ra kết luận:

Thứ nhất, bộ não người là sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài của thế giới vật

chất, có cấu tạo rất phức tạp và đặc biệt Sự cấu tạo đặc biệt của óc người là tiền

đề tạo ra khả năng có sự phản ánh ý thức

Thứ hai, trong óc người, quá trình ý thức không đồng nhất, cũng không tách

rời, độc lập hay song song với quá trình sinh lý Đây là hai mặt của một quátrình,- quá trình sinh lý thần kinh trong bộ óc người mang nội dung ý thức, cũnggiống như tín hiệu vật chất mang nội dung thông tin

+ Phản ánh của ý thức là hình thức cao nhất của thế giới vật chất là kết quảcủa quá trình tiến hoá lâu dài của các hệ thống, các tổ chức vật chất cùng sự pháttriển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của các hình thức phản ánh

1

V I Lênin to n t p, t p 18, Nxb Ti n b , M 1981, tr 104 à Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ến bộ, M 1981, tr 43 ộ, M 1981, tr 43.

Trang 37

Điều này được V I Lênin trình bày trong học thuyết phản ánh, nội dung nhưsau:

Thứ nhất, mọi hệ thống vật chất đều có sự phản ánh (tr 104): đó là năng lực giữ lại, tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất

khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng

Ví dụ: vết chân in trên cát; sắt gỉ.

Thứ hai, sự tác động giữa hai hệ thống vật chất bao giờ cũng gây ra một sự biến đổi nhất định, sự biến đổi này phụ thuộc cả vào vật tác động và vật bị tác động ( Điều này có ý nghĩa khi giải quyết tính độc lập tương đối của ý thức ).

Ví dụ: khi soi gương, phụ thuộc vào cả cấu tạo của gương (phẳng, lồi, lõm,

cầu, hài…), phụ thuộc cả vào người soi (tư thế) và môi trường (ánh sáng, mầusắc)

Thứ ba, quá trình phản ánh bao gồm quá trình thông tin Nghĩa là vật nhận

tác động bao giờ cũng mang thông tin (dấu vết) của vật tác động (Điều này có ýnghĩa khi khẳng định ý thức là phản ánh của thế giới vật chất, mang nội dung vậtchất khách quan)

Ví dụ: nhìn thớ gỗ biết được tuổi cây; nhìn rễ cây biết được nguồn nước; nhìn

dấu vết tìm ra tội phạm

Thứ tư, cùng với tiến hoá của thế giới vật chất là sự phát triển của các hình

thức phản ánh tương ứng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Trong đó ýthức là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất (xem sơ đồ đèn chiếu)

Ý thức là thuộc tính của bộ nào người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào

óc người Bộ não người (cơ quan phản ánh thế giới xung quanh) và thế giới bênngoài tác động lên bộ não - đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức

* Xét về mặt xã hội

Để ý thức ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, khôngthể thiếu được, song chưa đủ; điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là

Trang 38

những tiền đề, nguồn gốc xã hội Ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ

óc người nhờ lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội

- Vai trò của lao động đối với sự hình thành ý thức.

+ Lao động: là hoạt động có mục đích của con người sáng tạo ra công cụ và

sử dụng công cụ đó tác động vào tự nhiên để sản xuất ra của cải vật chất làm cho

xã hội tồn tại và phát triển

+ Vai trò của lao động được thể hiện:

Một là, lao động là hoạt động riêng có của con người làm cho con người khác

căn bản với các loài động vật khác

Hai là, lao động của con người là hoạt động có mục đích, có kế hoạch và được

hoạch định trước,- tác động vào thế giới vật chất khách quan làm biến đổi thếgiới để thoả mãn nhu cầu của con người

Ba là, trong quá trình lao động, bộ não người được phát triển và ngày càng

hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trừu tượng của con người ngày càng pháttriển

Nhờ lao động mà thức ăn dồi dào phong phú làm cho cơ thể, óc và các giácquan hoàn thiện

Lao động còn chế tạo ra công cụ trợ giúp, “nối dài” giác quan của con ngườilàm cho con người hiểu biết thế giới sâu sắc hơn, trên cả hai chiều vĩ mô và vimô

Nhờ lao động, năng lực tư duy trừu tượng, phương pháp tư duy khoa học đượchình thành và ngày càng phát triển, giúp ý thức ngày càng phản ánh năng động,sáng tạo thế giới

Bốn là, lao động còn là cơ sở hình thành và phát triển ngôn ngữ.

Sự ra đời của ngôn ngữ là một tất yếu do nhu cầu giao tiếp và trao đổi kinhnghiệm trong lao động Vì vậy, ngôn ngữ ra đời và phát triển cùng với lao động

- Vai trò của ngôn ngữ đối với sự hình thành ý thức

Trang 39

+ Ngôn ngữ (hiểu khái quát): là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong

não người, bằng những dấu hiệu, tín hiệu, là phương tiện mã hoá và truyền đạtthông tin

+ Ngôn ngữ gồm: ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, ngôn ngữ thầm, v.v

+ Vai trò của ngôn ngữ:

Một là, ngôn ngữ đóng vai trò hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái “vỏ vật chất”

của tư duy, làm nhiệm vụ chứa đựng, chuyên chở những tri thức, và là hiện thựctrực tiếp của ý thức (tư tưởng)

Hệ thống tín hiệu thứ nhất là hệ thống tác động của hiện thực cụ thể (trừ ngôn

ngữ) Ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết) là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái thay thếcho hệ thống tín hiệu thứ nhất Song cả hai hệ thống này quan hệ chặt chẽ vớinhau, không tách rời nhau

Thế giới khách quan được phản ánh vào óc người dưới dạng tín hiệu, đó làngôn ngữ Kết quả của tư duy, nội dung của tư duy được tín hiệu hoá, được giữ

lại, đọng lại trong “cái vỏ vật chất” (âm thanh) là ngôn ngữ.

Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng (ý thức): ý thức (tư tưởng) là

phản ánh hiện thực khách quan, còn ngôn ngữ là phương pháp diễn đạt, củng cố

ý thức (tư tưởng) và là phương tiện để truyền đạt tư tưởng cho người khác Do

đó, ngôn ngữ chính là ý thức hiện thực, thực tiễn tồn tại cả cho những người

khác và chỉ có như vậy mới tồn tại cho tôi nữa (C Mác)

Như vậy, ý thức được hình thành như là thuộc tính của cá thể người, có mối

liên hệ thường xuyên với những người khác qua ngôn ngữ

Hai là, ngôn ngữ là công cụ, phương tiện vật chất để con người giao tiếp trong

xã hội, đồng thời là công cụ tư duy nhằm khái quát hiện thực Nhờ ngôn ngữ conngười tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, trao đổi thông tin cho nhau, trao đổi trithức từ thế hệ này sang thế hệ khác

Trang 40

Nhờ ngôn ngữ mà con người có thể khái quát hoá, trừu tượng hoá, mới có thể

tư duy, không cần có sự vật trực quan Nhờ ngôn ngữ mà kinh nghiệm, hiểu biếtcủa người này được truyền cho người kia, thế hệ này được truyền cho thế hệkhác

Do đó, ý thức không phải là hiện tượng thuần tuý cá nhân, mà là một hiện

tượng có tính chất xã hội; không có phương tiện xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý

thức không thể hình thành và phát triển được (ví dụ: thí nghiệm của Hítle)

Tóm lại, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự hình thành và

phát triển ý thức là lao động (thực tiễn xã hội) và ngôn ngữ Ý thức phản ánhhiện thực khách quan vào trong óc người thông qua lao động và ngôn ngữ và cácquan hệ xã hội Ý thức là sản phẩm của xã hội, là một hiện tượng xã hội

Ph Ăngghen viết: “Trước hết là lao động; sau lao động và đồng thời với laođộng là ngôn ngữ; đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc củacon vượn, làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc của con người”1

3 Bản chất của ý thức

CNDVBC dựa trên cơ sở lý luận phản ánh khẳng định:

Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người một cách năng động, sáng tạo thế giới vật chất.

- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.

+ Trước hết, cần thấy cả vật chất và ý thức đều là hiện thực (đều tồn tại) Song

ý thức là sự phản ánh, là cái phản ánh; còn vật chất là cái được phản ánh Cái

được phản ánh (vật chất) tồn tại khách quan, ở ngoài và độc lập với cái phản ánh (ý thức) Cái phản ánh (ý thức) là hiện thực chủ quan, là hình ảnh tinh thần của

sự vật khách quan, lấy cái khách quan làm tiền đề, bị cái khách quan quy định,

không có tính vật chất.

1

Bi n ch ng c a t nhên, C Mác v Ph ngghen to n t p, t p 20, Nxb CTQG, H 1994, tr 646 à Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 à Ph Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508 ập, tập 20, Nxb CTQG, h 1994, tr 508.

Ngày đăng: 18/10/2022, 21:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w