Muốn nâng cao chất lượng của quá trình dạy học, tất nhiên, GV cần nắm vững nội dung bộ môn giảng dạy, phải nhuần nhuyễn về phương pháp, nghệ thuật truyền đạt, đặc điểm tâm lý của HS nhằm
Trang 11 Lý do chọn đề tài
Nhằm thực hiện mục tiêu của ngành giáo dục là đào tạo thế hệ trẻ trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước những con người “vừa hồng vừa chuyên” Bản thân là một giáo viên đứng lớp giảng dạy bộ môn Hóa học nhận thấy rằng: Hoá học là bộ môn khoa học rất quan trọng trong nhà trường phổ thông nói chung
và trường THCS nói riêng Môn hoá học THCS cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hoá học, là giáo viên bộ môn hoá học thì cần hình thành ở các em học sinh một kỹ năng cơ bản, phổ thông, thói quen học tập và làm việc khoa học để làm nền tảng cho việc giáo dục xã hội chủ nghĩa, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động Có những phẩm chất cần thiết như cẩn thận, kiên trì, trung thực, tỉ mỉ, chính xác, yêu chân lí khoa học,
có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội có thể hoà hợp với môi trường thiên nhiên, chuẩn bị cho học sinh học lên cao và đi vào cuộc sống lao động.
Hóa học như một bức tranh luôn biến động của tự nhiên với đầy đủ những màu sắc, âm thanh của dáng vẻ bề ngoài, với các qui luật nghiêm khắc của thế giới vi mô được ẩn dấu bên trong Hóa học lại là một ngành khoa học thực nghiệm, có vai trò quan trọng trong cuộc sống và cần thiết đối với các ngành khoa học công nghệ khác Thật khó mà kể hết các thành tựu mà hóa học có đóng góp cho cuộc sống của chúng ta Thế nhưng, phần lớn HS vẫn chưa nhận thức được bản chất và tầm quan trọng của hóa học trong cuộc sống dù sự đổi mới trong giáo dục nói chung và trong dạy học hóa học nói riêng đã được đẩy mạnh trong những năm gần đây Đối với các em, hóa học là môn học trừu tượng, khô khan và xa rời thực tế Trong tình thế toàn cầu hóa hiện nay, nền giáo dục đã được đầu tư nhiều hơn Nâng cao chất lượng đào tạo là vấn đề được các nhà giáo quan tâm, nghiên cứu để tìm ra các biện pháp giúp đem lại hiệu quả tốt nhất Muốn nâng cao chất lượng của quá trình dạy học, tất nhiên, GV cần nắm vững nội dung bộ môn giảng dạy, phải nhuần nhuyễn về phương pháp, nghệ thuật truyền đạt, đặc điểm tâm lý của HS nhằm kích thích hoạt động sáng tạo, độc lập của HS, phát huy được trí thông minh, lòng ham học hỏi của các em, mặt khác phải làm thế nào gây hứng thú học tập cho các em Từ đó, các em có thể tự tìm hiểu những điều mới lạ về cuộc sống và thế giới xung quanh cho mình
"Hãy làm những gì bản thân yêu thích, và yêu thích những gì bản thân đang làm" là phương châm đang được giới trẻ trên thế giới hiện nay áp dụng phổ biến
và biến thành quan điểm học tập, làm việc của mình
Trong thực tế hiện nay, nhiều học sinh bước vào bàn học với tâm trạng ngao ngán, cố gắng nghiền ngẫm với mục đích "nuốt vào bụng" mớ công thức hóa học, phương trình hóa học đầy số và chữ cái Latinh – ký hiệu Đó là một cách học tập rất tiêu cực, bị động khi các em không có hứng thú với nó và thành
ra dễ chán và mau quên các kiến thức hóa học đó.
Trang 2Kết quả học tập chỉ đạt được tối đa khi học sinh thực sự có hứng thú học môn học này, chủ động tham gia vào các hoạt động, tự lực giải quyết các nhiệm
vụ học tập theo yêu cầu của giáo viên Để đạt được điều đó mỗi người giáo viên trong ngành đã trăn trở, tìm tòi, từng bước thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo yêu cầu của ngành giáo dục đề ra Có thể tiến hành theo nhiều hướng khác nhau, nhưng các hướng đều đi đến mục đích chung, đó là làm thế nào để có thể có những giờ dạy thật tốt, nhằm giúp học sinh yêu thích bộ môn, nắm vững kiến thức, vận dụng kiến thức vào thực tế, có hứng thú học tập bộ môn ngay từ những tiết học đầu tiên Có câu nói: “Nếu không khêu gợi được hứng thú cho HS thì cũng như búa thợ rèn đập trên sắt nguội mà thôi” Nếu xây dựng được hứng thú học tập nơi HS thì mỗi kiến thức hóa học là một thế giới vui nhộn, bổ ích; mỗi tiết học là một trải nghiệm thoải mái Bằng cách nào? Các biện pháp gây hứng thú học tập khá nhiều, điều quan trọng là những biện pháp nào là hiệu quả và phù hợp với thực tế hiện nay.
Tuy nhiên việc lĩnh hội kiến thức hoá học của học sinh là hết sức khó khăn Mặt khác, Hóa học là một môn học hoàn toàn mới lạ đối với HS ở THCS, mà khối lượng kiến thức học sinh cần lĩnh hội tương đối nhiều Phần lớn các bài gồm những khái niệm mới, rất trừu tượng, khó hiểu Do đó, giáo viên cần tìm ra phương pháp dạy học gây được hứng thú học tập bộ môn giúp các em chủ động lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, không gượng ép là điều cần quan tâm Khi HS có hứng thú, niềm say mê với môn Hóa sẽ giúp HS phát huy được năng lực tư duy, khả năng tự học và óc sáng tạo Để từ đó nâng cao chất lượng bộ môn nói riêng và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung là vấn đề hết sức quan trọng trong quá trình dạy học của giáo viên Cũng như hầu hết các thầy cô giáo khác, trong các năm học vừa qua để thực hiện chủ trương của ngành Giáo dục Đào tạo về: Đổi mới toàn diện phương pháp giảng dạy và học Bản thân tôi là một giáo viên dạy Hóa Học trường THCS, tôi cũng đã tìm tòi, từng bước thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo yêu cầu của ngành giáo dục đề ra Phương pháp giảng dạy phù hợp sẽ là con đường giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả, phát huy trí lực của người học Đây cũng chính là một trong
những lý do quyết định giúp tôi viết sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong giảng dạy bộ môn Hóa học 8 tại trường PTDTBT TH&THCS Thanh Sơn”.
3 Thời gian, địa điểm
- Thời gian: Trong năm học 2021 – 2022
Địa điểm: Khối lớp 8 – Trường PTDTBT TH&THCS Thanh Sơn – Ba Chẽ Quảng Ninh.
Trang 3-4 Đóng góp mới về mặt thực tiễn
Sáng kiến đưa ra nhiều cách tạo hứng thú đa dạng, giáo viên có thể áp dụng với nhiều đối tượng học sinh Tạo hứng thú và lòng yêu thích cho học sinh khi học bộ môn Ngoài ra, sáng kiến cũng góp phần phát huy được năng lực cá nhân
và rèn luyện nhiều kỹ năng của học sinh như:
+ Kỹ năng hoạt động nhóm: học sinh biết hợp tác và chia sẻ.
+ Kỹ năng sống: Rèn luyện phong cách độc lập, sáng tạo, linh hoạt trong nhận thức và hành động Biết mềm hóa tư duy và tuy cơ ứng biến.
+ Kỹ năng thực hành thí nghiệm
+ Kỹ năng liên hệ tới vấn đề thực tế: Học sinh biết cách thức đi tới sự hiểu biết, coi trọng sự khám phá và khai phá trong học tập bộ môn, luôn liên hệ với thực tiễn đang thay đổi
Phát huy được tính năng động sáng tạo, ham học hỏi của học sinh, học sinh biết tự học, tự vận dụng.
Phát huy kiến thức xã hội, kiến thức thực tế, khả năng giảng dạy hữu hiệu,
sự sáng tạo, cá tính,lòng nhiệt thành và đức tính thân mật của giáo viên.
Giúp cho HS hiểu rõ được mối quan hệ giữa các kiến thức hóa học với thực tiễn đời sống, với xu hướng phát triển của xã hội.
Về mặt sư phạm đề tài còn góp phần hỗ trợ, phát triển cái hay và mới cho
HS, thu hút các đối tượng học sinh cả yếu kém tới khá giỏi Học sinh yêu thích
bộ môn nhiều hơn đáng kể Số học sinh tự học bài về nhà tăng cao, đã có tinh thần tự tìm tòi say mê với bộ môn.
II NỘI DUNG
- Theo A V Daparogiet “Hứng thú là khuynh hướng của sự chú ý tới những đối tượng nhất định, là nguyện vọng tìm hiểu chúng càng tỉ mỉ càng hay”
- Theo A G Côvaliôv định nghĩa: “Hứng thú là thái độ đặc thù của cá nhân đối với một đối tượng nào đó, do ý nghĩa của nó trong đời sống và sự hấp dẫn về tình cảm của nó”.
- Tâm lý học hiện đại có khuynh hướng nghiên cứu hứng thú trong mối quan hệ với toàn bộ cấu trúc tâm lý của cá nhân và đã đưa ra định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về hứng thú: “Hứng thú là thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với một đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả
Trang 4năng mang lại xúc cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động" Ở đây hứng thú thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể với thế giới khách quan, giữa đối tượng với nhu cầu và xúc cảm, tình cảm của chủ thể hoạt động
- Các nhà tâm lý học đã nghiên cứu hứng thú theo quan điểm duy vật biện chứng và chỉ ra tính chất phức tạp của hứng thú, xem xét hứng thú trong mối tương quan với các thuộc tính khác của nhân cách (nhu cầu, xúc cảm, ý chí,…) Như vậy, hứng thú là “Hứng thú là thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với một đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại xúc cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động"
1.1.2 Hứng thú học tập:
* Khái niệm: Từ định nghĩa về hứng thú của tâm lí học hiện đại thì “hứng
thú học tập là sự ham thích của HS đối với một môn học nào đó, do thấy được ý nghĩa của môn học này đối với cuộc sống và đối với bản thân, đem lại sự hấp dẫn, lôi cuốn trong quá trình học tập bộ môn và kích thích HS hoạt động tích cực hơn.” Có hai loại hứng thú trong học tập là hứng thú trực tiếp và hứng thú gián tiếp Hứng thú trực tiếp trong học tập là hứng thú đối với nội dung tri thức, quá trình học tập, và những phương pháp tiếp thu, vận dụng những tri thức đó Như vậy, hứng thú trực tiếp được hình thành dựa trên sự say mê của HS đối với môn học, cũng như cách thức chiếm lĩnh các tri thức và vận dụng tri thức đó Hứng thú gián tiếp trong học tập là hứng thú đối với những yếu tố tác động bên ngoài như được GV khen thưởng, được điểm cộng, đạt điểm cao trong học tập,
GV giảng vui, dễ hiểu, do ảnh hưởng của bạn bè … và sẽ biến mất khi những yếu tố này không còn nữa Hứng thú gián tiếp xuất hiện theo phản ứng có thể rất mạnh nhưng cũng thường ngắn ngủi.
* Cấu trúc của hứng thú học tập: Bao gồm 3 thành phần chủ yếu sau:
- Xúc cảm: Là sự rung động được tạo ra do các em có những tình cảm nhất định khi tiếp xúc với môn hóa học Như vậy, thành tố xúc cảm trước hết tham gia vào việc chuẩn bị tạo nên một thái độ đúng đắn đối với môn học Đây là tiền
đề tâm lý để hình thành hứng thú học tập môn hóa học cho HS Những xúc cảm khác sẽ xuất hiện trong quá trình hoạt động tìm tòi như niềm vui nhận thức là thành tố cơ bản và dấu hiệu của hứng thú học tập; niềm vui đạt thành tích, giải thưởng, lời khen của GV, sự ngưỡng mộ của bạn bè sẽ giúp hình thành hứng thú học tập
- Nhận thức: Là HS nhận biết tại sao mình thích môn hóa học Như vậy, thành tố nhận thức giữ vai trò rất lớn trong việc duy trì hứng thú học tập HS hiểu giá trị và ý nghĩa của môn học từ đó xuất hiện thái độ tự giác trong học tập, giúp củng cố hứng thú học tập ở các em
Trang 5+ Động cơ học tập sẽ thôi thúc HS suy nghĩ và hành động, giúp kích thích
và duy trì hứng thú học tập ở HS
+ Tính tích cực nghĩa là sự hăng hái, năng nổ với công việc Tính tích cực tạo điều kiện cho việc tìm tòi và làm xuất hiện niềm vui trong hoạt động học tập Khi hứng thú học tập xuất hiện sẽ nâng cao tính tích cực và hiệu quả lĩnh hội tri thức, kỹ năng và kỹ xảo.
* Sự hình thành và phát triển hứng thú học tập:
Theo N G Marôzôva, trong quá trình phát triển cá thể, hứng thú học tập được hình thành và phát triển qua 3 giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1: Kích thích hứng thú học tập cho HS Ở giai đoạn này các em
bị cuốn hút bởi nội dung vấn đề GV trình bày HS chú ý lắng nghe, trực tiếp thể hiện niềm vui khi nhận ra cái mới Những niềm vui đó có thể mất đi khi giờ học kết thúc, nhưng cũng có thể trên cơ sở đó hứng thú được phát triển Ở giai đoạn này HS chưa có hứng thú thật sự Hứng thú chỉ xuất hiện khi HS mong muốn hiểu biết nhiều hơn, các em đặt ra câu hỏi và vui mừng khi được trả lời.
- Giai đoạn 2: Hứng thú học tập được duy trì Ở giai đoạn này HS thường xuyên bị lôi cuốn vào tiết học một cách thường xuyên hơn, nhờ đó các em có xúc cảm tích cực với môn học tức là hứng thú được duy trì Thái độ nhận thức xúc cảm với môn học sẽ thúc đẩy HS quan tâm tới những vấn đề đặt ra ở cả trong giờ học, lẫn sau khi giờ học đã kết thúc Nói cách khác, ở các em đã có sự nảy sinh nhu cầu nhận thức, tìm tòi và phát hiện.
- Giai đoạn 3: Hứng thú học tập trở nên bền vững Nếu thái độ tích cực đó được duy trì củng cố, khả năng tìm tòi độc lập ở các em thường xuyên được khơi dậy thì các em dành nhiều thời gian rảnh rỗi của mình vào việc tìm tòi thêm những kiến thức có liên quan đến vấn đề mình yêu thích, tham gia hoạt động ngoại khóa, đọc thêm sách, tìm gặp những người cùng quan tâm tới những vấn đề của mình Hứng thú bền vững là giai đoạn cao nhất của sự phát triển hứng thú học tập Để hình thành hứng thú học tập, việc tổ chức hoạt động nhận thức phải thường xuyên chủ động, gắn liền với các mức độ phát triển của nó Do
đó các nhà sư phạm phải hiểu rõ các giai đoạn phát triển của loại hứng thú này
- Hứng thú học tập dần có được tính bền vững và có tính không bão hòa
- Hứng thú học tập là động lực thúc đẩy HS tích cực nghiên cứu đối tượng trong phạm vi của nó
+ Ở ngoài lớp và ở nhà: Độc lập và tự giác trong việc học tập; Học bài, làm bài đầy đủ; Tự giác làm thêm nhiều bài tập (ngoài yêu cầu của GV); Tự sưu tầm, đọc thêm nhiều tài liệu, sách tham khảo có liên quan đến môn học; Tự tổng kết
Trang 6những phần, những chương mục đã học và tìm ra mối liên hệ bên trong giữa chúng; Từng bước tập vận dụng những kiến thức môn học vào thực tiễn; Cố gắng giải nhanh và tìm nhiều cách giải các bài tập…
+ Trong giờ lên lớp: Say mê học tập, chăm chú nghe giảng; Ghi chép bài đầy đủ, cẩn thận; Tích cực suy nghĩ, hăng hái phát biểu xây dựng bài, trao đổi ý kiến với bạn bè và với GV; Tích cực làm việc cùng nhóm để hoàn thành nhiệm
vụ
* Các biểu hiện của hứng thú học tập:
Hứng thú học tập được biểu hiện thông qua các dấu hiệu, các chỉ số cụ thể trong hoạt động học tập, trong cuộc sống của các em Nhà giáo dục có thể quan sát và nhận biết được chúng Những biểu hiện này khá phong phú, đa dạng và nhiều khi còn phức tạp, chúng có thể đan xen vào nhau Đó là:
- Biểu hiện về mặt xúc cảm: HS có xúc cảm tích cực (yêu thích, say mê, ) đối với môn học như có niềm vui trong quá trình lĩnh hội kiến thức, mong chờ tiết học và luyến tiếc khi tiết học kết thúc, …
- Biểu hiện về mặt nhận thức: HS nhận thức đầy đủ, rõ ràng những nguyên nhân của sự yêu thích môn học như nội dung môn học hấp dẫn, phương pháp khám phá kiến thức hấp dẫn, vai trò của môn học có ý nghĩa trong cuộc sống, …
- Biểu hiện về mặt hành động: HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo không chỉ trong giờ lên lớp mà còn ở cả ngoài lớp hàng ngày, như: Biểu hiện về mặt kết quả học tập (Kết quả học tập đạt loại khá, giỏi)
Quy luật của quá trình nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Song quá trình nhận thức đạt hiệu quả cao hay không, có bền vững hay không còn phụ thuộc vào tính tích cực, chủ động sáng tạo của chủ thể.
Đặc điểm của lứa tuổi thiếu niên là đang có xu hướng vươn lên làm người lớn, muốn tự mình tìm hiểu, khám phá trong quá trình nhận thức Ở lứa tuổi học sinh THCS có điều kiện thuận lợi cho khả năng tự điều chỉnh hoạt động học tập và tự sẵn sàng tham gia vào các hoạt động khác nhau Các em có nguyện vọng muốn
có các hình thức học tập mang tính chất “Người lớn” Tuy nhiên nhược điểm của các em là chưa biết cách thực hiện nguyện vọng của mình, chưa nắm được cách thức học tập mới cho bộ môn mà mình được tiếp cận năm học lớp 8.
Vì vậy, cần có sự hướng dẫn, điều hành một cách khoa học và nghệ thuật sư phạm của thầy cô Trong lí luận về phương pháp dạy học cho thấy, sự thống nhất giữa sự hướng dẫn của thầy và hoạt động học tập của trò có thể thực hiện được bằng cách quán triệt quan điểm hoạt động Dạy học theo phương pháp mới phải làm cho học sinh chủ động suy nghĩ nhiều hơn, thực hành nhiều hơn trong quá trình chiếm lĩnh tri thức hóa Quan điểm dạy Hóa học là phải dạy suy nghĩ, dạy khả năng quan sát thí nghiệm và các hiện tượng trong tự nhiên để từ đó phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa Trong đó phân tích tổng hợp có vai trò trung tâm, tự mình phát hiện và phát biểu vấn đề dự đoán được các kết quả và chứng minh được dự đoán đó.
Trang 71.2 Cơ sở thực tiễn
Hiện nay trong nhà trường phổ thông nói chung còn nhiều học sinh lười học, lười tư duy trong quá trình học tập Học sinh chưa hứng thú khi học tập đối với bộ môn được tiếp cận muộn và kiến thức khá trừu tượng Học sinh hầu như quen với phương pháp nghe, chép, học thuộc, ít được hoạt động, ít được suy luận, động não Phương pháp học của HS là thụ động, ít tư duy, sáng tạo và HS thường gặp khó khăn khi giải quyết những bài tập liên quan đến thực tế đời sống xã hội Các hình thức hoạt động của thầy và các phương pháp dạy mà thầy sử dụng chưa nhằm vào yêu cầu tổ chức cho học trò hoạt động, chưa chú trọng vào việc hình
thành phương pháp tư duy, rèn luyện cho HS năng lực sáng tạo Các hiện tượng
được giải thích chưa đúng nhận thức khoa học bộ môn.
Vấn đề thực hiện các thao tác làm thí nghiệm hóa học và vận dụng vào thực tiễn nhằm tăng khả năng tư duy của học sinh sau khi học xong lí thuyết là hết sức khó
Thời gian dành cho HS hoạt động trong một tiết học là quá ít, kể cả hoạt động tay chân và hoạt động tư duy Một số giáo viên còn bó buộc bởi lối dạy truyền thống, bởi các tiêu chuẩn đánh giá một tiết dạy, số kiến thức bắt buộc trong thời lượng ít ỏi 45 phút nên chưa truyền tải hết những ý tưởng dự định thực hiện trong bài dạy.
Để thực hiện được sáng kiến yêu cầu mỗi giáo viên và học sinh phải có kiến thức sâu rộng ở nhiều bộ môn có liên quan, các vấn đề xã hội cũng như dụng cụ dạy học phải đa dạng linh hoạt trong các tiết khác nhau đòi hỏi nhiều thời gian công sức trước và sau mỗi tiết học Điều này khiến cho việc thực hiện sáng kiến chưa diễn ra một cách thường xuyên Một số học sinh chưa có khả năng hoạt động nhóm, đối tượng học sinh phong phú, tâm lý phức tạp nên diễn
ra nhiều tình huống mà giáo viên khi mới thực hiện chưa lường trước được Qua thực tế giảng dạy tại nhà trường và trao đổi với đồng nghiệp, tôi nhận thấy ý thức học tập bộ môn của học sinh chưa cao, đa số HS chưa hứng thú tham gia xây dựng bài, thậm chí không xem lại bài khi về nhà Nhiều HS tỏ ra lúng túng, không tìm ra cách xử lí, ngay cả những vấn đề tưởng chừng hết sức cơ bản trong cuộc sống hàng ngày.
Mặt khác, tôi cũng nhận thấy sự tiếp thu của học sinh còn phụ thuộc vào nhiều môi trường khách quan, nhất là ở những học sinh có nhân cách chưa ổn định, chưa có mục đích sống đúng đắn, cho nên môi trường khách quan cần có những điều kiện thuận lợi, là mảnh đất màu mỡ để ươm mầm cho hứng thú phát triển: thư viện phong phú các đầu sách, phòng thí nghiệm, thực hành đầy đủ, những kỳ vọng, sự động viên của thầy cô và gia đình
Hứng thú học tập của học sinh được tăng cường phần lớn chịu sự ảnh hưởng bởi giáo viên Do vậy muốn nâng cao hứng thú trước hết phải hình thành, giáo dục động cơ học tập, nhu cầu học tập đúng đắn Động cơ học tập tốt không
tự dưng có mà cần phải được xây dựng, hình thành trong quá trình học sinh đi sâu chiếm lĩnh tri thức với sự hướng dẫn của thầy cô giáo Động cơ học tập là
Trang 8muôn hình muôn vẻ, muốn phát động động cơ học tập đúng đắn, động cơ chiếm lĩnh tri thức thì trước hết cần phải khơi dậy ở các em nhu cầu nhận thức, nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng học tập vì nhu cầu chính là nơi khơi nguồn của tính tự giác, tính tích cực học tập.
2 Chương 2: Nội dung vấn đề nghiên cứu
2.1 Thực trạng
2.1.1 Thuận lợi
Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm và chỉ đạo sát sao đến việc sử
dụng, bảo quản đồ dùng dạy học, đặc biệt là dụng cụ thí nghiệm Hàng năm trang bị thêm những đồ dùng cần thiết, đảm bảo cho công tác dạy và học.
Cơ sở vật chất tương đối đảm bảo cho công tác thí nghiệm, có phòng thí nghiệm hoá học riêng phục vụ nhu cầu thí nghiệm thực hành.
Nhà trường đã tổ chức cử giáo viên tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng phương pháp dạy học tích cực do Sở giáo dục và Phòng giáo dục tổ chức.
Đa số giáo viên trong nhà trường đã nhận thức được sự quan trọng và tính cấp thiết về việc đổi mới phương pháp dạy học.
Sau khi được trang bị kiến thức về phương pháp dạy học tích cực, đa số giáo viên đã áp dụng phương pháp dạy học tích cực vào quá trình soạn bài và lên lớp.
Ngoài những phương tiện dạy học truyền thống, giáo viên đã tích cực sử dụng các phương tiện dạy học mới nhằm nâng cao chất lượng cho bài giảng (máy vi tính, projecto, tài liệu phát tay, …).
Có thể nói, những thuận lợi trên đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh nhà trường.
ở trên xã Thanh Sơn nói riêng lười học, lười tư duy trong quá trình học tập Học sinh chưa hứng thú khi học tập đối với bộ môn được tiếp cận muộn và kiến thức khá trừu tượng Do đó, chưa định hướng phương pháp học tập hợp lí
để chiếm lĩnh tri thức một cách chủ động Trong những năm gần đây các trường THCS đã có những chuyển đổi tích cực trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy Học sinh cũng đã chủ động nghiên cứu tìm tòi khám phá kiến thức xong chỉ dừng lại ở việc hoàn thành nhiệm vụ của môn học chứ chưa thực sự yêu thích, đam mê môn học.
Trang 9Để áp dụng đề tài vào trong giảng dạy tôi đã thực hiện một số hoạt động sau:
- Điều tra về mức độ, thái độ của học sinh về nội dung của đề tài: điều kiện học tập của học sinh Cho học sinh mượn tài liệu để photo và hướng dẫn học sinh tìm hiểu.
- Xác định mục tiêu, chọn lọc các trường hợp cần nhận biết, xây dựng nguyên tắc áp dụng cho mỗi trường hợp, lựa chọn các câu hỏi cần thiết liên quan đến từng nội dung bài và dự đoán các tình huống có thể xảy ra khi thực hiện.
- Sưu tầm tài liệu và trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp.
* Số liệu điều tra đầu năm học 2021 -2022 tại khối lớp 8 khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này vào giảng dạy.
Lớp Sĩ số Số em không yêu
thích môn học
Số em xem đó như một môn phụ
Số em yêu thích môn học
Số lượng
2.2 Các giải pháp
Để cải thiện tình hình trên đây, nhằm mục đích giúp học sinh có hứng thú học tập bộ môn cũng như nâng cao chất lượng bộ môn, tôi nhận thấy giáo viên cần chú trọng làm tốt những công việc sau đây:
2.2.1 Bồi dưỡng nâng cao nhận thức.
Sau khi nghiên cứu vấn đề này bằng kinh nghiệm và năng lực của bản thân, tôi xin đưa ra một số giải pháp sau đây:
Để tạo được hứng thú cho học sinh trong việc chủ động tiếp cận bộ môn Hóa học lớp 8 thì trước tiên giáo viên phải tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực tự giác của học sinh - lấy học sinh làm trung tâm Tích cực chủ động trong việc tìm hiểu kiến thức, trò chơi, hoạt động nhóm, thí nghiệm vui, …
Mặt khác giáo viên cần chủ động đầu tư nghiên cứu, thiết kế bài dạy, sưu tầm các hoạt động tạo hứng thú cho tiết dạy Cần đưa ra những định hướng,
Trang 10những hoạt động cơ bản nhất đối với một tiết học, từ đó có cơ sở cho việc sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh trong lớp Đối với học sinh cần phải tích cực chủ động học tập theo sự hướng dẫn của giáo viên Có ý thức chuẩn bị bài đầy đủ, tham gia nhiệt tình vào các hoạt động giáo viên đưa ra cũng như thực hiện theo đúng sự hướng dẫn, có như vậy mới dần tạo được sự yêu thích môn học.
Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờ, có thể là một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng ngày học sinh vẫn gặp
có liên quan tới kiến thức, tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình học tập.
BÀI 1: MỞ ĐẦU MÔN HÓA HỌC - HÓA 8
GV: Yêu cầu HS đọc bài thơ, HS lắng nghe đưa ra ý kiến.
Hóa học là gì?
Là hoá học nghĩa là chai với lọ
Là bình to bình nhỏ đủ thứ bình
Là ống dài, ống ngắn xếp linh tinh
Là ống nghiệm, bình cầu xếp bên nhau như hình với bóng
***
Là Hoá học nghĩa là làm phản ứng cho bay hơi, ngưng tụ, thăng hoa Nào là đun, gạn, lọc, trung hoà Ôxi hóa, chuẩn độ, kết tủa
***
Nhà Hoá học là chấp nhận "đau khổ"
Đứng run chân, tay mỏi lắc, mắt mờ Nhưng tìm ra được triệu chất bất ngờ Khiến cuộc đời nghiêng mình bên Hoá học GV: Qua bài thơ trên, e hình dung học hóa học là học như thế nào?
HS: Hoạt động cá nhân suy nghĩ câu hỏi.
HS: Trả lời theo ý hiểu HS khác nhận xét, đóng góp ý kiến.
GV: Năm học lớp 8 các em sẽ học thêm một bộ môn mới đó là môn Hoá học Vậy Hoá học là gì? Hoá học có vai trò như thế nào trong cuộc sống của chúng ta? Phải làm gì để có thể học tốt môn Hoá học? Bài học hôm nay sẽ giúp các em.
Trang 11* Ví dụ 2: Bài 5 – Nguyên tố hóa học – Hóa học 8
Các em có biết một hộp sữa bột có giá từ 15 đôla trở lên, bao gồm rất nhiều thành phần dinh dưỡng ghi trên bao bì Vậy các em có biết cơ thể chúng ta đáng giá khoảng bao nhiêu tiền không? Cơ thể chúng ta gồm một lượng P đủ để sản xuất 2200 đầu que diêm Lượng S đủ để giết chết 1 con bọ chét Cộng cả lại
kể các các nguyên tố khác như Mg, Cu, K… Theo các nhà bác học tính ra thì với một người nặng 65kg, giá trị của chúng chỉ đáng giá chưa tới 3 đôla Bài học ngày hôm nay giúp chúng ta hiểu thêm về các nguyên tố hóa học.
Biện pháp 2: Tạo hứng thú bằng thí nghiệm vui trong các bài học
Thí nghiệm là một phương pháp đặc trưng không thể thiếu của bộ môn Hóa học Thí nghiệm là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa hiện tượng tự nhiên và nhận thức của con người, là tiêu chuẩn đánh giá tính chân thật của kiến thức, hỗ trợ đắc lực cho tư duy sáng tạo, là nền tảng của việc dạy học Hoá học
và việc rèn luyện các kỹ năng thực hành Thí nghiệm hóa học không những tạo được hứng thú cho HS mà còn rèn luyện cho các em kĩ năng thí nghiệm cơ bản, khả năng vận dụng kiến thức đã biết, tìm tòi kiến thức mới để tìm ra bản chất sự vật, hiện tượng Để đạt được kết quả trên, thí nghiệm biểu diễn phải đảm bảo một số yêu cầu sau:
+ Thí nghiệm phải an toàn
+ Thí nghiệm phải thành công, hiện tượng bắt mắt, dễ quan sát
+ Thí nghiệm đơn giản, dễ thực hiện và kinh tế
+ Thí nghiệm ít tốn thời gian
+ Nội dung thí nghiệm phải gắn với nội dung bài học và phù hợp với mục đích
Bên cạnh đó, GV cũng nên khai thác các thí nghiệm vừa mang tính giáo dục, vừa chứng minh cho những điều các em đã học, vừa pha vào đó chút hài hước những câu chuyện gần gũi hấp dẫn giúp các em mau nhớ bài, cảm thấy thích thú với những điều tưởng như không thể làm được nhưng thực ra lại rất gần gũi và đơn giản Đồng thời, GV có thể kết hợp hệ thống lời dẫn dắt vui nhộn, hấp dẫn cùng các câu hỏi kích thích, tò mò Qua đó, làm cho các em ngày càng yêu thích bộ môn hơn, không còn cảm thấy quá nặng nề, mệt mỏi hay quá khô khan, nhàm chán Các thí nghiệm này không những gây hứng thú, bất ngờ cho HS mà còn kích thích các em vận dụng các điều đã học để giải thích hiện tượng Khi tự mình tìm được lời giải, các em sẽ thích thú khắc ghi và được dịp củng cố những kiến thức đã biết Với thí nghiệm hóa học được xây dựng từ những kiến thức nâng cao, mới lạ sẽ gây sự chú ý, tò mò cho HS Khi biết được lời giải, các em sẽ thích thú, say mê tìm hiểu tri thức để mở rộng tầm hiểu biết của mình.
Ví dụ: Trong SGK hóa học 8: Chương IV - Bài 36 – Nước Sau khi học
xong nội dung bài, giáo viên có thể kiểm tra mức độ nắm kiến thức trong bài của
Trang 12các em như thế nào, bằng cách làm thí nghiệm vui “Ðiệu vũ natri” Giáo viên
yêu cầu học sinh quan sát và giải thích hiện tượng.
Ðổ 30ml nước cùng vài giọt phenolphtalein vào một cốc dung dịch 100ml và rót 50ml dầu hỏa lên trên mặt nước Lấy một miếng natri cạo sạch nhỏ bằng hạt đậu đặt cẩn thận lên lớp dầu hỏa Natri chìm xuống, nổi lên rồi lại chìm xuống, cứ như thế khoảng 10 – 12 lần cho đến khi miếng natri tan hết Trong khi đó lớp nước phía dưới từ trong suốt trở thành đỏ hồng.
Khi chưa thực hiện chuyên đề này, tôi yêu cầu học sinh giải quyết vấn đề thì thấy kết quả như sau: 100% học sinh rất thích thú khi quan sát thí nghiệm, nhưng chưa biết giải thích hiện tượng Sau đó, tôi gợi ý “Thí nghiệm có liên quan đến chất nào? Tính chất của chất đó là gì? ” lúc này đã có khoảng 20% học sinh nghĩ đến việc dùng tính chất hóa học của nước với một số kim loại kiềm để giải thích Nhưng các em vẫn chưa giải thích đựơc vì sao nước lại chuyển sang màu hồng.
Sau đó tôi nghiên cứu, hướng dẫn học sinh theo chuyên đề này thì hơn 70% số học sinh trong lớp đã xác định được ngay hướng giải thích hiện tượng
và viết được phương trình hóa học minh họa, từ đó phát triển tư duy hóa học để vận dụng trong đời sống và giải thích một số hiện tượng trong tự nhiên.
Giải thích:
Natri nặng hơn dầu hỏa nên chìm xuống Nhưng khi tiếp xúc với nước nó lập tức tác dụng với nước giải phóng khí H2 Bọt khí H2 bao bọc mẩu natri và đệm khí đó đẩy nó nổi lên lớp dầu hỏa Tại đây, các bọt khí tách ra và mẩu natri
bị chìm xuống Dung dịch trở nên màu đỏ hồng là sau phản ứng tạo ra dung dịch kiềm đã làm biến đổi dd phenolphtalelin ko màu thành màu hồng đỏ
Dùng loại giấy thấm nước để gấp một cái tàu chiến Bỏ vào trong tàu một
mẩu kim loại natri to bằng hạt đậu rồi thả vào chậu nước đã được nhỏ thêm vài giọt phenoltalein không màu Sau vài phút, tàu sẽ tự bốc cháy và nước trong chậu có loang màu hồng từ chỗ con tàu cháy, giống như cảnh tàu chiến địch bị bắn cháy.
Giải thích:
Nước thấm qua giấy, tác dụng với natri theo phương trình hóa học sau:
2Na + 2H2O → 2NaOH + H2
Trang 13Phản ứng trên tỏa nhiều nhiệt, làm cho khí hidro thoát ra tự bốc cháy, đồng thời NaOH tạo thành làm cho phenoltalein không màu chuyển sang màu hồng.
Chú ý: Trong thí nghiệm này, mẩu natri hoặc kali nhất thiết chỉ được lấy to
bằng hạt đậu Nếu lấy to hơn, phản ứng xảy ra mãnh liệt sẽ nổ gây nguy hiểm.
Kiến thức vận dụng: Tính khử mạnh của kim loại kiềm khi tác dụng với
nước.
Bài 43: Pha chế dung dịch Thí nghiệm: Ly nước sắc màu
Cách làm:
Bước 1: Sắp xếp 4 cốc thủy tinh (cốc nhựa) theo trật tự
Cho 1 muỗng (15g) đường vào ly thứ 1 và ly thứ 2
4 muỗng (45g) đường vào ly thứ 3 và ly thứ 4
Bước 2: Cho 3 muỗng (45ml) nước lọc vào 4 ly thủy tinh Khuấy đều dung dịch Nếu đường trong 4 ly khó tan, thêm 1 muỗng (15ml) nước lọc vào mỗi 4 ly.
Bước 3: Dùng phẩm màu thực phẩm cho 2-3 giọt theo thứ tự:
Ly 1: Nhỏ màu đỏ
Ly 2: Nhỏ màu vàng
Ly 3: Nhỏ màu Xanh lá
Ly 4: Nhỏ màu xanh da trời
Khuấy đều dung dịch.
Lúc này ta được 4 cốc nước đường với 4 màu sắc khác nhau Tiếp theo cô giáo hướng dẫn HS bắt tay vào làm ly nước cầu vồng sử dụng dung dịch ở các nồng độ khác nhau ở trên:
- Cho khoảng 1/2 dung dịch màu xanh da trời vào ly thứ 5 Sau đó cẩn thận rót ly dung dịch màu đỏ trên lớp dung dịch màu xanh da trời Cho dd dịch vào đến đầy ly
- Cho 1/2 dung dịch màu xanh lá cây vào ly thứ 6 sau đó rót dung dịch màu vàng lên trên lớp dung dịch màu xanh lá cây Cho dung dịch vào đến khi đầy ly.
Giải thích: Bởi vì cột dung dịch này là ở các nồng độ khác nhau của cùng
1 chất (đường) việc khuấy sẽ làm dung dịch trộn lẫn với nhau Nhưng không làm thành hỗn hợp, giống như dầu và nước Các dung dịch sẽ làm thành các lớp,
từ lớp có nồng độ thấp nhất ở trên đỉnh, đến lớp có nồng độ cao nhất ở đáy ly.
GD HS: Việc sử dụng hợp lí chất tạo màu trong thực phẩm, đồ ăn và
nước uống.
Trang 14Biện pháp 3: Tạo hướng thú cho học sinh bằng cách liên hệ các hiện
tượng, sự việc xuất hiện trong cuộc sống
Giáo viên tìm, tiếp cận kênh thông tin và các chương trình truyền hình luôn
được các em nhỏ và các bậc phụ huynh ưa thích, sau đó dựa vào các hiện tượng xuất hiện để đặt câu hỏi nghi vấn cho các em.
Cách này kích thích học sinh dù học hay chơi, xem phim nghe nhạc cũng sẽ
tự mình phát hiện ra những vấn đề hóa học lý thú.
Bài 24: Tính chất của Oxi
Ví dụ 1: Vì sao cuốc, xẻng và các dụng cụ bằng sắt để lâu ngày trong
không khí sẽ có màu nâu?
Giải thích: Vì trong không khí có chứa khí oxi trong một thời gian
dài oxi đã oxi hóa các dụng cụ bằng sắt thành Fe3O4
Áp dụng: phần 2 tác dụng với kim loại.
Ví dụ 2: Liên hệ thực tế em hãy cho biết oxi có ở đâu? Nó có tính
chất vật lý gì?
HS trả lời GV nhận xét bổ sung.
Tính chất vật lý: oxi là chất khí, không màu, không mùi, ít tan trong nước, nặng hơn không khí.
Áp dụng: phần tính chất vật lý của oxi
Ví dụ 3: Khí oxi có vai trò quan trọng trong đời sống con người và
sinh vật vì khí oxi cần cho sự hô hấp hàng ngày của sinh vật và mọi hoạt động sống của con người Vậy khí oxi có tính chất gì?
Giải thích: Tính chất vật lý: oxi là chất khí, không màu, không mùi, ít
tan trong nước, nặng hơn không khí.
Tính chất hóa học: khí oxi là một đơn chất phi kim rất hoạt động, đặc biệt ở nhiệt độ cao, dễ dàng tham gia phản ứng hóa học vớ nhiều phi kim, nhiều kim loại và hợp chất Trong các hợp chất hóa học, nguyên tố oxi có hóa trị II.
Áp dụng: phần nêu vấn đề khi vào bài mới.
Ví dụ 4: Vì sao oxi có thể duy trì sự sống của con người và động vật?
Giải thích: Oxi có khả năng kết hợp với chất hêmôloobin trong máu,
nhờ thế nó có thể đi nuôi cơ thể người và động vật Oxi oxi hóa các chất trong thực phẩm ở trong cơ thể tạo ra năng lượng cho cơ thể hoạt động.
Áp dụng: phần ứng dụng.
Ví dụ 5: giải thích câu: “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”
Giải thích: Lấy lửa để thử, để kiểm tra vàng, xem tuổi vàng, biết là
vàng mười, hay vàng thau lẫn lộn vì vàng không phản ứng với oxi.
Trang 15Gian nan thử sức” Gian nan nghĩa là gian khổ, khó khăn, vất vả Gian nan
là điều kiện, là hoàn cảnh, là thử thách để thử, để đo sức của mỗi người Sức là sức mạnh, là ý chí, là trí tuệ sáng suốt, là lòng kiên nhẫn, là tinh thần quyết tâm vươn lên, trước mọi khó khăn, gian khổ.
Áp dụng: phần tính chất hóa học ở phần lưu ý oxi không phản ứng với Au.
Bài 25: Sự oxi hóa- phản ứng hóa hợp ứng dụng của oxi.
Ví dụ 1: Từ tính chất hóa học của oxi hãy kể những ứng dụng của
oxi trong thực tế hiện nay mà em biết?
Đây là câu hỏi mở cho học sinh tự trả lời GV bổ sung và cò thể đưa
ra một số hình ảnh minh họa
Áp dụng: phần liên hệ thực tế.
Ví dụ 2: Nếu oxi cần cho sự cháy, sự hô hấp các em hãy liên hệ khi
nằm ngủ có nên đóng cửa hoặc đốt than trong phòng hay để hoa trong phòng không? Vì sao?
Giải thích: Không vì Khi đưa một bếp than vào phòng rồi đóng kín
cửa, lượng CO tăng cao khi đó CO sẽ chiếm oxi trong phòng do đó phòng thiếu oxi do oxi đã cung cấp cho sự cháy hoàn toàn, lượng ôxy bị suy giảm nghiêm trọng do đó ảnh hưởng tới khả năng hô hấp làm ngạt thở và có thể
tử vong Còn khi để hoa trong phòng ngủ ban đêm khi cây hô hấp sẽ lấy khí oxi trong phòng làm phòng thiếu õ cần cho sự hô hấp nên có hại cho sức khỏe.
Áp dụng: phần mở rộng ứng dụng oxi.
Bài 27: Điều chế khí oxi phản ứng phân hủy
Ví dụ 1: Oxi nhân tạo được tạo ra từ đâu?
Giải thích:
-Trong phòng thí nghiệm, khí oxi được điều chế bằng cách đun nóng những hợp chất giàu oxi và dễ bị phân hủy ở nhiệt độ cao như KMnO4 và KClO3.
- Trong công nghiệp:
1 Sản xuất khí oxi từ không khí Bằng cách hạ không khí xuống dưới
- 2000
C, sau đó nâng dần dần nhiệt độ lên -1830
C ta thu được khí N2, hạ -1500
C ta thu được khí oxi.
2 Sản xuất khí oxi từ nước Người ta điện phân nước.
Áp dụng: phần nêu vấn đề khi vào bài mới.
Bài 28: Không khí- sự cháy
Ví dụ 1: ( Mục I – Thành phần không khí)