1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu kỹ điểm du lịch với hệ thống các tuyến, điểm du lịch phục vụ hoạt động tham quan của du khách. Xác định các đối tượng chính tại điểm tham quan khu đại nội Huế.

59 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Kỹ Điểm Du Lịch Với Hệ Thống Các Tuyến, Điểm Du Lịch Phục Vụ Hoạt Động Tham Quan Của Du Khách. Xác Định Các Đối Tượng Chính Tại Điểm Tham Quan Khu Đại Nội Huế.
Trường học Trường Đại Học Huế
Chuyên ngành Du Lịch
Thể loại bài làm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 20,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đại Nội Huế là tên gọi chung của Hoàng Thành vòng thành thứ hai bên trong Kinh thành Huế và Tử Cấm Thành vòng thành thứ ba và cũng là vòng thành trong cùng, là nơi ăn ở và sinh hoạt của vua và hoàng gia. Tọa lạc ở bờ Bắc sông Hương, Đại Nội Huế không chỉ là cơ quan đầu não của Việt Nam trong thời phong kiến nhà Nguyễn mà ngày nay, khu vực này còn là một điểm tham quan nổi tiếng của xứ Huế. Lịch sử Đại Nội Huế: Với vị trí thuận lợi nằm hai bên bờ hạ lưu sông Hương và tựa lưng vào dãy Trường Sơn nên từ rất sớm, Huế đã được chọn làm thủ phủ dưới các đời chúa Nguyễn. • Năm 1802, sau khi lên ngôi, vua Gia Long chọn Huế làm nơi đóng đô. • Để xây dựng quần thể kinh thành làm nơi hội họp triều đình và sinh hoạt hoàng gia, năm 1803, vua Gia Long đích thân tiến hành khảo sát chọn ví trí xây thành mới. Là người có hiểu biết rộng nên vua Gia Long đã rất cân nhắc trong việc chọn vị trí xây dựng kinh thành để làm bền long mạch. Và vùng đất rộng bên bờ Bắc sông hương, gồm các làng Phú Xuân, Vạn Xuân, An Hòa, An Mỹ, An Vân, Diễn Phái, An Bảo, Thế Lại cùng một phần của sông Bạch Mã và Kim Long được chọn. • Năm 1804, kinh thành (kinh thành là khu vực rộng lớn gồm nhà dân, nhà quan lại và phần quan trọng nhất là Đại Nội) bắt đầu được xây dựng với mặt chính hướng về núi Ngự bình cao hơn 100m, hai bên là cồn Hến và cồn Dã Viên tạo thế tả thanh long và hữu bạch hổ, minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng. Do quy mô khá rộng lớn, khoảng 520ha nên đến năm 1833, dưới triều vua Minh Mạng, kinh thành Huế mới hoàn thành. Kiến trúc Đại Nội Huế Đại Nội Huế bao gồm hai phần là Hoàng Thành và Tử Cấm Thành. Hoàng Thành gồm khoảng 147 công trình được xây dựng trên một khu đất gần như vuông với mỗi cạnh dài khoảng 600m. Xây bằng gạch, cao 4m, dày 1m, xung quanh có hào bảo vệ vệ, có 4 cửa được bố trí ở 4 mặt, trong đó Cửa chính của Hoàng Thành là Ngọ Môn quay mặt về hướng Nam, ba cửa còn lại là Hiển Nhơn (phía Đông), Chương Đức (phía Tây) và Hòa Bình (phía Bắc). Hầu hết các công trình bên trong Hoàng Thành đều được xây dựng trên trục đối xứng theo nguyên tắc (tính từ trong ra) tả nam hữu nữ và tả văn hữu võ, riêng trục chính giữa là các cung điện dành cho vua. Điểm ấn tượng của các công trình này là được xây dựng hài hòa với thiên nhiên. Phần lớn các cung điện đều có hồ nước, vườn hoa, cầu đá, các hòn đảo và những loại cây lâu năm để giữ sinh khí.

Trang 1

Nghiên cứu kỹ điểm du lịch với hệ thống các tuyến, điểm du lịch phục

vụ hoạt động tham quan của du khách Xác định các đối tượng chính tại điểm tham quan khu đại nội Huế.

Bài làm

I Giới thiệu chung

Đại Nội Huế là tên gọi chung của Hoàng Thành - vòng thành thứ hai bên trongKinh thành Huế và Tử Cấm Thành - vòng thành thứ ba và cũng là vòng thànhtrong cùng, là nơi ăn ở và sinh hoạt của vua và hoàng gia Tọa lạc ở bờ Bắc sôngHương, Đại Nội Huế không chỉ là cơ quan đầu não của Việt Nam trong thời phongkiến nhà Nguyễn mà ngày nay, khu vực này còn là một điểm tham quan nổi tiếngcủa xứ Huế

*Lịch sử Đại Nội Huế:

Với vị trí thuận lợi nằm hai bên bờ hạ lưu sông Hương và tựa lưng vào dãyTrường Sơn nên từ rất sớm, Huế đã được chọn làm thủ phủ dưới các đời chúaNguyễn

 Năm 1802, sau khi lên ngôi, vua Gia Long chọn Huế làm nơi đóng đô

 Để xây dựng quần thể kinh thành làm nơi hội họp triều đình và sinh hoạthoàng gia, năm 1803, vua Gia Long đích thân tiến hành khảo sát chọn ví tríxây thành mới Là người có hiểu biết rộng nên vua Gia Long đã rất cân nhắctrong việc chọn vị trí xây dựng kinh thành để làm bền long mạch Và vùngđất rộng bên bờ Bắc sông hương, gồm các làng Phú Xuân, Vạn Xuân, AnHòa, An Mỹ, An Vân, Diễn Phái, An Bảo, Thế Lại cùng một phần của sôngBạch Mã và Kim Long được chọn

 Năm 1804, kinh thành (kinh thành là khu vực rộng lớn gồm nhà dân, nhàquan lại và phần quan trọng nhất là Đại Nội) bắt đầu được xây dựng với mặtchính hướng về núi Ngự bình cao hơn 100m, hai bên là cồn Hến và cồn DãViên tạo thế tả thanh long và hữu bạch hổ, minh đường thủy tụ là khúc sôngHương rộng

Do quy mô khá rộng lớn, khoảng 520ha nên đến năm 1833, dưới triều vua MinhMạng, kinh thành Huế mới hoàn thành

* Kiến trúc Đại Nội Huế

Trang 2

Đại Nội Huế bao gồm hai phần là Hoàng Thành và Tử Cấm Thành Hoàng Thànhgồm khoảng 147 công trình được xây dựng trên một khu đất gần như vuông vớimỗi cạnh dài khoảng 600m Xây bằng gạch, cao 4m, dày 1m, xung quanh có hàobảo vệ vệ, có 4 cửa được bố trí ở 4 mặt, trong đó Cửa chính của Hoàng Thành làNgọ Môn quay mặt về hướng Nam, ba cửa còn lại là Hiển Nhơn (phía Đông),Chương Đức (phía Tây) và Hòa Bình (phía Bắc).

Hầu hết các công trình bên trong Hoàng Thành đều được xây dựng trên trục đốixứng theo nguyên tắc (tính từ trong ra) tả nam hữu nữ và tả văn hữu võ, riêng trụcchính giữa là các cung điện dành cho vua Điểm ấn tượng của các công trình này làđược xây dựng hài hòa với thiên nhiên Phần lớn các cung điện đều có hồ nước,vườn hoa, cầu đá, các hòn đảo và những loại cây lâu năm để giữ sinh khí

Tử Cấm Thành nằm trong lòng Hoàng Thành, nguyên gọi là Cung Thành, đượckhởi công xây dựng từ năm Gia Long thứ 2 (1803), năm Minh Mạng thứ 2 (1821)đổi tên thành Tử Cấm Thành Tử Cấm Thành có chu vi 324m×290, 68m và cũng

Trang 3

được xây dựng đối xứng qua trục chính, kéo dài từ Ngọ Môn đến lầu Tứ Phương

Vô Sự Tử Cấm Thành có 7 cửa và hàng chục công trình kiến trúc lớn nhỏ Trong

đó, đáng chú y nhất là điện Cần Chánh, nơi vua làm việc và thiết triều Ngoài ra,còn có nơi sinh hoạt của vua, hoàng tộc, các công trình phục vụ ăn uống, chăm sócsức khỏe, giải trí Là một công trình có quy mô đồ sộ nhất trong lịch sử Việt Nam,

Di tích Đại Nội Huế có quá trình xây dựng kéo dài tới 30 năm với hàng vạn ngườithi công cùng hàng loạt các công việc như lấp sông, đào hào, đắp thành, dời mộ…cùng khối lượng đất đá khổng lồ lên đến hàng triệu mét khối

II Các tuyến điểm du lịch tại Đại nội Huế

1 Tuyến lăng Minh Mạng - lăng Khải Định - lăng Tự Đức - Đại Nội (Hoàng Thành Huế) – Chùa Thiên Mụ.

Sơ đồ tuyến

+Lăng Minh Mạng:

Lăng Minh Mạng hay còn gọi là Hiếu Lăng, là nơi an nghỉ của vị vua thứ 2 dướitriều Nguyễn – vua Minh MạngLăng Minh Mạng mang dáng vẻ đường bệ, uynghiêm nhưng vẫn hài hòa giữa các công trình kiến trúc và thiên nhiên Sau khi lênngôi được 7 năm, vua Minh Mạng đã lên kế hoạch xây dựng lăng tẩm cho mình.Địa điểm vua Minh Mạng chọn xây lăng là ở địa phận núi Cẩm Khê, gần ngã ba

Trang 4

Bằng Lãng, nơi hợp lưu của hai con sông Tả Trạch và Hữu Trạch để tạo thànhdòng sông Hương thơ mộng.

Lăng Minh Mạng được khởi công xây dựng vào năm 1840 và hoàn thành 3 nămsau đó Công trình này huy động tới 13.000 thợ và lính để xây dựng Năm 1841,vua Minh Mạng qua đời, vua Thiệu Trị lên ngôi và tiếp tục hoàn thành công trìnhcủa vua cha Về tổng thể, lăng Minh Mạng gồm khoảng 40 công trình lớn, nhỏ

Trang 5

được xây dựng kiên cố, tỉ mỉ và bắt mắt Tất cả các công trình được bố trí cân đốitrên một trục dọc, kéo dài từ Đại Hồng Môn đến chân tường La Thành sau mộ vua.+Lăng Khải Định:

Vua Khải Định lên ngôi năm 1916, là vị vua thứ 12 của truyền Nguyễn Ông đãcho xây dựng nhiều cung điện, dinh thự, lăng tẩm cho bản thân và hoàng tộc, đặcbiệt là Ứng Lăng Lăng Khải Định ở Huế được xây dựng trên triền núi Châu Chữ,nằm bên ngoài Kinh thành, cách khoảng 11km về phía nam Lăng Khải Định (ỨngLăng) đã trở thành biểu tượng, đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình sành sứ và thủytinh

Trang 6

Lăng được khởi công ngày 4 tháng 9 năm 1920, và kéo dài suốt 11 năm ròng rãmới hoàn tất Có thể, so về diện tích, lăng Khải Định có quy mô bé hơn với nhữnglăng khác ở Huế rất nhiều nhưng lại cực kỳ công phu Lăng lấy một quả đồi chữthập phía trước làm tiên án, lấy núi Chóp Vung và Kim Sơn châu trước mặt để làm

Tả thanh long và Hữu bạch hổ Từ trái qua phải còn có khe Châu E chảy qua làm

“thủy tụ” Núi Châu Chữ được vua đổi tên thành Ứng Sơn Vì lẽ đó mà lăng KhảiĐịnh còn có một tên gọi khác là Ứng Lăng, dựa theo tên của núi

Ứng Lăng kết hợp và dung hòa những trường phái kiến trúc khác nhau như Phậtgiáo, Ấn Độ giáo, Roman, Gothique… biểu hiện trên những trụ cổng hình thápmang phong cách Ấn Độ, trụ biểu dạng stuopa Phật Giáo, hàng rào như cây thánhgiá, nhà bia với những cột bát giác và vòm cửa biến thể theo phong cách Roman

+ Lăng Tự Đức:

Trang 7

Đây là một trong những công trình đẹp nhất của kiến trúc thời Nguyễn Ông vuathi sĩ Tự Đức (1848-1883) đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ xứng đáng với ngôi

vị của mình, phù hợp với sở thích và nguyện vọng của con người có học vấn uyênthâm và lãng tử bậc nhất trong hàng vua chúa nhà Nguyễn

Lăng tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng CưChánh (nay là thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân, thành phố Huế) Khi mới khởi côngxây dựng, vua Tự Đức lấy tên Vạn Niên Cơ đặt cho công trình Nhưng sau khởinghĩa Chày Vôi do anh em Đoàn Hữu Trưng khởi xướng, vua cho đổi tên thànhKhiêm Cung, sau khi vua mất gọi là Khiêm Lăng

Bố cục khu lăng gồm 2 phần chính, bố trí trên 2 trục dọc song song với nhau, cùnglấy núi Giáng Khiêm ở phía trước làm tiền án, núi Dương Xuân làm hậu chẩm, hồLưu Khiêm làm yếu tố minh đường

Trang 8

+Các điểm Hoàng thành Huế:

Tham quan nhiều công trình kiến trúc đặc sắc như: Ngọ Môn, Điện Thái Hoà,Cung Diên Thọ, Cung Trường Sanh, Hưng Tổ Miếu, Thế Tổ Miếu, Triệu Tổ Miếu,Thái Tổ Miếu, Hiển Lâm Các, Cửu Đỉnh, Cửu Vị Thần Công

+ Chùa Thiên Mụ:

Chùa Thiên Mụ (còn gọi là chùa Linh Mụ) nằm ở đồi Hà Khê, trên bờ bắc sôngHương, phường Kim Long và cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km về phíatây Được xây dựng vào năm 1601 bởi chúa Tiên Nguyễn Hoàng - vị chúa Nguyễnđầu tiên ở Đàng Trong, chùa Thiên Mụ có thể được coi là ngôi chùa cổ nhất ở Huế.Năm 1862, vì mong có con nối dõi, vua Tự Đức - vị vua thứ 4 của triều Nguyễn đãđổi tên chùa thành Linh Mụ, có nghĩa là Bà mụ linh thiêng vì sợ tên Thiên Mụphạm đến Trời (Thiên có nghĩa là Trời) Tuy nhiên, sau năm 1869, người dân được

sử dụng cả hai tên Thiên Mụ và Linh Mụ để gọi ngôi chùa

Trang 9

Dưới các đời chúa Nguyễn, chùa Thiên Mụ Huế đã trải qua nhiều lần tu sửa lớn.Với sự đầu tư lớn, Thiên Mụ trở thành ngôi chùa đẹp nhất xứ Đàng trong thời đó

và là một trong những địa điểm du lịch Huế vô cùng nổi tiếng Đến đây, du khách

sẽ tham quan chùa Thiên Mụ Huế với Tháp Phước Duyên, Điện Đại Hùng, ĐiệnĐịa Tạng, Điện Quan Âm cùng bia đá, chuông đồng và phía sau cùng là vườnthông tĩnh mịch Đứng trên tòa tháp du khách có thể nhìn dòng sông Hương phẳnglặng và ngắm những du thuyền nhẹ trôi trên sông Chùa còn có bức tượng của mộtcon rùa bằng đá cẩm thạch lớn, biểu tượng của sự trường thọ

Không chỉ nổi tiếng bởi kiến trúc cổ kính, uy nghiêm, chùa Thiên Mụ còn gắn liềnvới những câu chuyện tâm linh huyền bí

2 Tuyến lăng Minh Mạng - lăng Khải Định – Trung tâm Văn hóa Huyền Trân – Đại Nội (Tử Cấm Thành Huế) – Lăng Tự Đức

Cùng với tham quan các điểm lăng Minh Mạng, lăng Khải Định, lăng Tự Đức; dukhách sẽ tham quan các điểm trong Tử Cấm Thành Huế ( thuộc Đại Nội Huế): Tả

vu, Hữu vu, Duyệt Thị Đường, Thái Bình Lâu

Trang 10

Sơ đồ tuyến

- Trung tâm văn hóa Huyền Trân: Nằm cách thành phố Huế khoảng 7km về phía

tây, Trung tâm Văn hóa Huyền Trân tọa lạc trên diện tích rộng hơn 28ha Nơi đâykhông chỉ là điểm du lịch văn hoá, tâm linh, mà còn là điểm du lịch lịch sử, đưa dukhách trở về sự kiện lịch sử trọng đại trong việc bảo vệ và mở mang bờ cõi của đấtnước vào thời nhà Trần, thế kỷ 14

Trang 11

3 Tuyến chùa Thiên Mụ - Đại Nội – Chợ Đông Ba – biển Thuận An – nhà vườn An Hiên.

Sơ đồ tuyến

+ Tham quan chùa thiên Mụ

+ Tham quan Đại Nội các điểm: Ngọ Môn, Điện Thái Hòa, Tử Cấm Thành, Hồ

Tĩnh Tâm, Thế Miếu, Hiển Lâm Các, Cửu Đỉnh

+ Chợ Đông Ba:

Trang 12

Chợ Đông Ba là trung tâm thương mại lớn nhất của tỉnh Thừa Thiên – Huế vàcác vùng lân cận, nằm dọc theo bờ bắc sông Hương, trên đường Trần Hưng Đạocủa thành phố Huế và kéo dài từ cầu Tràng Tiền đến cầu Gia Hội Trong có có tất

cả các món quà mang văn hóa, quà lưu niệm của Huế như nón lá bài thơ từ làngPhù Cẩm, được làm bằng lá, bánh kẹo, trà Tuấn, tôm chua (tôm sú Huế), hạt senlấy từ hồ Tịnh Tâm, các món ăn truyền thống như cơm, vại bò, bánh lá…

Người ta nói rằng chợ Đông Ba là nơi bạn có thể tìm được hầu hết các món ăn Huếngon miệng, khu ẩm thực sôi động và chất lượng cao Đừng bỏ qua những món ănđường phố

Ngày nay, chợ Đông Ba vẫn giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế và thươngmại của thành phố, mặc dù nhiều siêu thị hiện đại mở ra nhiều Ngoài việc cungcấp thực phẩm và hàng hoá khác cho các thành phố, đó cũng là một điểm dừngchân của du khách để khám phá các phương thức kinh doanh điển hình cũng nhưmua một số món đặc sản của người dân địa phương

+ Tắm biển Thuận An:

Bãi biển Thuận An thuộc thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, biển nằm ngay bên cạnh cửa biển Thuận An Đây chính là nơi sông Hương

Trang 13

-xuôi dòng hướng phá Tam Giang rồi đổ ra biển Đông, hòa cùng đại dương mênhmang Do vậy mà bãi biển Thuận An mang một vẻ đẹp riêng giữa ánh sắc của dòngsông hiền hòa và biển cả rộng lớn Chẳng thế mà nhà vua Thiệu Trị đã xếp bãi biểnThuận An là danh thắng thứ 10 trong Thần kinh nhị thập cảnh.

Bãi biển Thuận An có chiều dài khoảng 12km, nổi tiếng với những con sóng hiềnhòa và không khí trong lành Bờ cát mịn màng trắng tinh hoàn toàn không có vỏ

sò, ốc như người ta vẫn hay thấy ở các bãi biển miền Trung khác

+ Nhà vườn An Hiên:

Tọa lạc tại vị trí đắc địa (58 đường Nguyễn Phúc Nguyên, thôn Xuân Hòa, xãHương Long, thành phố Huế) nằm quay mặt về phía dòng sông Hương thơ mộng,nhà vườn An Hiên được xem là khu nhà vườn đẹp nhất đến nay ở cố đô Huế

Trang 14

Là một trong những nhà vườn nổi tiếng nhất ở Huế, An Hiên được xây dựng vàocuối thế kỷ thứ 19 Ban đầu, ngôi nhà thuộc về công chúa thứ 18 của vua Dục Ðức.Mặc dù đã trải qua hơn một thế kỷ tồn tại, nhưng không gian kiến trúc của ngôinhà vẫn giữ được đặc tính cổ xưa của nó cho đến nay Khuôn viên nhà vườn AnHiên hiện nay có hình gần như vuông và có diện tích 4.608 m2, mặt nhìn về hướngNam, phía trước có sông Hương chảy ngang, bao gồm nhiều kiến trúc dân dụnglớn nhỏ, được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống của Việt Nam và của xứHuế Khám phá nhà vườn An Hiên chắc chắn sẽ là một trong những điều khó quênnhất khi trở về với xứ Huế mộng mơ.

Trang 15

III Các đối tượng tham quan chính tại điểm tham quan khu Đại Nội Huế

1 Ngọ Môn

Ngọ Môn là một công trình kiến trúc bề thế dài 58m, rộng 27,5m và cao 17mgồm 3 tầng, là một trong 4 cổng dẫn vào Hoàng Thành Ngọ Môn nằm ở phía nam

so với vị trí trung tâm là ngai vàng ở điện Thái Hòa trong Hoàng Thành Về quy

mô, Ngọ Môn cũng là cổng thành lớn nhất trong 4 cổng Hoàng Thành Căn cứ trên

la kinh (la bàn) của địa lý phong thủy Đông phương, thì phía nam thuộc hướng

“ngọ” trên trục “tý - ngọ” (Bắc - Nam) Cái tên Ngọ Môn xuất phát từ đó, mang ýnghĩa về không gian, phương hướng; chứ không phải nghĩa về thời gian

Ngọ Môn vừa là cổng chính vừa là bộ mặt của Hoàng Thành, được xây dựngvào năm 1833 dưới triều vua Minh Mạng Ngọ Môn chỉ được mở khi vua ra vàoHoàng thành và có đoàn ngự đạo theo hầu hoặc khi tiếp kiến các sứ thần ngoạiquốc

Kiến trúc Ngọ Môn gồm có 2 phần là phần Đài - Cổng và phần Lầu Ngũ Phụng

Đài - cổng: có bình diện hình chữ U vuông góc với diện tích hơn 1560m2, gồm

5 cửa Cửa chính giữa là Ngọ Môn chỉ dành cho vua đi, cao 4,2m, rộng 3,7m;hai cửa liền kề là Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn dành cho các quan Hai cửangoài cùng là Tả Dịch Môn và Hữu Dịch Môn dành cho lính hầu và đoàn tùytùng

Trang 16

Ngọ Môn có 5 cửa ra vào Tổng thể được chia làm hai phần chính là phần nền đài phía dưới và lầu Ngũ Phụng bên trên Từ trong Hoàng Thành có cầu thang hai phía lộ thiên đi lên lầu Ngũ Phụng.

Phần Lầu Ngũ Phụng: Là công trình kiến trúc đẹp nhất trong quần thể Hoàng

Thành Huế được xây dựng trên nền đài của cửa Ngọ Môn Lầu Ngũ Phụng đặtphía trên đài - cổng, chạy dọc theo thân đài hình chữ U Lầu có hai tầng vớikhung được xây dựng bằng 100 cây cột gỗ lim tượng trưng cho Bách tính trăm

họ trong thiên hạ, trong đó có 48 cây cột xuyên xuốt 2 tầng lầu và nhiều đườngnét thiết kế tinh xảo

Để miêu tả ngắn gọn về kiến trúc của Ngọ Môn, ca dao xưa có câu:

"Ngọ Môn năm cửa chín lầu, Một lầu vàng, tám lầu xanh, ba cửa thẳng, hai cửa quanh."

Lầu ở đây chính là để nói đến lầu Ngũ Phụng - tòa nhà này được ví như 5 conchim phụng hoàng đang đậu liền nhau Tất nhiên đây chỉ là cách gọi hình tượng lấy

từ điển tích xưa, còn trên thực tế lầu Ngũ Phụng là cả một tổ hợp kiến trúc gồm 9chiếc lầu được ghép nối tiếp liền mạch với nhau Chín ngôi lầu này đều gồm haitầng, kết cấu bộ khung hoàn toàn bằng gỗ lim với chẳn 100 cây cột kiểu thức kháđồng nhất dù quy mô khác nhau Xét về thực chất, Ngũ Phụng Lâu gồm 5 toà lầuchính và 4 toà lầu phụ, chia thành 3 dãy xếp thẳng góc với nhau trong đó dãy chính

là phần giữa, tức nằm ngay đáy chữ U Trong 9 toà lầu này chỉ duy nhất có toà lầuchính giữa lợp ngói Hoàng lưu ly (màu vàng) vì đây là nơi dành cho vua ngồi dự

lễ, tám bộ còn lại lợp ngói Thanh lưu ly (màu xanh), đây là vị trí của các quan Các

bờ nóc, bờ quyết, hồi mái được trang trí bằng nhiều chi tiết hoa văn tinh xảo

Trang 17

Nơi đây ngày xưa vẫn thường diễn ra các lễ lạc quan trọng nhất của triều Nguyễnnhư lễ Ban sóc (ban lịch mới), Truyền Lô (tuyên đọc tên tiến sĩ tân khoa), lễ Duyệtbinh,… Và một sự kiện rất quan trọng đó là ngày 30 tháng 8 năm 1945, tại NgọMôn, vua Bảo Đại - vị vua cuối cùng của Việt Nam, đã thoái vị và trao chínhquyền lại cho chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Tại đây, vua Bảo Đại đã có một câu nói nổi tiếng “Trẫm thà làm dân một nước tự

do độc lập còn hơn làm vua của một nước nô lệ”

Tầng lầu bên dưới của Ngũ Phụng Lâu phần lớn đều để trống, chỉ trừ tòa nhàchính giữa là có hệ thống cửa - kiểu “thượng kính hạ bản” ở mặt trước và che vánvách ở các mặt còn lại để bảo đảm cho sự kín đáo của nơi thiết ngự tọa mỗi khi vuangồi dự lễ Ở hai cánh hai bên, theo nguyên tắc truyền thống “tả chung, hữu cổ”,gian ở góc bên trái cánh chữ U đặt chuông, gian ở góc bên phải đặt trống Chiếctrống hiện nay là chiếc trống đã được phục chế, còn chiếc chuông hiện còn vẫn làchiếc chuông nguyên thuỷ, cao gần 4 thước (1,8m), nặng 1.359 cân (815kg), dovua Minh Mạng sai đúc vào năm 1822 Trái lại ở tầng trên thì che chắn kín, mặttrước lầu giữa dựng cửa lá sách, chung quanh dựng ván, nhưng có trổ nhiều cửa sổvới kiểu dạng khá phong phú, như hình tròn, hình rẻ quạt, hình chiếc khánh

Chính hệ thống các cửa sổ này cùng với hệ thống lan can con tiện bằng gỗ ở tầnglầu trên và lan can bằng gạch hoa đúc rỗng ở nữ tường quanh nền đài làm cho tổngthể kiến trúc Ngọ Môn trở nên nhẹ nhàng, thanh tú

Trên hệ thống mái của lầu Ngũ Phụng cũng được trang trí rất công phu và tinh

tế Ở bờ nóc và bờ quyết đều trang trí hình rồng, giao đắp bằng vôi vữa và sành sứ;cũng như ở mái Điện Thái Hòa, có thể xem đây là giang sơn của các loài rồng (dùtên công trình là lầu Ngũ Phụng) Chính giữa bờ nóc toà lầu giữa là bình hồng lô

Trang 18

bằng pháp lam sắc vàng rực rỡ; dải bờ nóc ngay bên dưới được trang trí các ô thơ

và các vật quý trong bát bửu, hoặc hoa lá biểu trưng tứ quý, tứ thời theo kiểu “nhấtthi nhất hoạ”.Ở các ô hộc khác thuộc bờ nóc, bờ quyết và các đầu hồi của mái lầucòn được trang trí nhiều hình ảnh rồng, giao, dơi ngậm kim tiền, hoa lá càng làmcho phần mái công trình có vẻ nhẹ nhàng và duyên dáng

Nhìn chung, với cách cấu trúc và trang trí độc đáo, Ngọ Môn tuy là một côngtrình kiến trúc đồ sộ, có chiều cao đáng kể nhưng người xưa đã tạo cho nó một vẻđẹp thanh nhã và duyên dáng rất đặc biệt Điều đáng nói nhất là công trình này rấthoà hợp với cảnh quan xung quanh, với sông Hương, núi Ngự Với giá trị ấy, cóthể xếp Ngọ Môn vào hàng những công trình kiến trúc nghệ thuật xuất sắc nhất củatriều Nguyễn nói riêng và kiến trúc cổ Việt Nam nói chung

2 Cầu Trung Đạo

Từ Ngọ Môn tiến vào sân Đại Triều Nghi, đường thẳng chính giữa qua hồ TháiDịch còn gọi là cẩu Trung Đạo ( cầu Trung Đạo nối Ngọ Môn với sân Đại TriềuNghi) Hồ Thái Dịch nằm hai bên cầu, cầu có lan can che chắn

Hồ Thái Dịch đào năm 1833 (thời vua Minh Mạng) Trong hổ Thái Dịch thả hoasúng, hoa sen Xung quanh hồ trồng những cây đại, nay đã thành cổ thụ, trầm tĩnhsoi mình trên mặt nước, toả hương thơm ngát quanh năm

Sen trồng ở Hồ Thái Dịch

Trang 19

Cầu Trung Đạo đường vào Điện Thái Hòa

Cầu Trung Đạo được xây dựng từ đầu đời Gia Long, đến năm Minh Mạng 14thì được tu sửa và mở rộng hơn trong đợt tái thiết Hoàng Thành Cầu được xâybằng gạch, mặt dưới gồm nhiều vòm cuốn Hai đầu cầu có hai cổng dựng bằng 4cột đồng Trên cột đồng trang trí hoa sen Điều này mang ý nghĩa hoa sen tượngtrưng cho những ngọn đuốc soi sáng cho nhà vua Hai cột giữa cao chạm trổ rồng 5móng Tuy hai trụ đối xứng nhau nhưng một bên được tạo hình rồng vươn lên, mộtbên tạo hình rồng lao xuống tạo sự sinh động, hấp dẫn Phía trên các trụ có nhữngkhung hình chữ nhật trang trí bằng pháp lam rực rỡ và có gắn chữ nổi khá lớn

"Trung hòa vị đục" theo ý nghĩa "trung" là cái gốc lớn của thiên hạ, "hòa" là đạtđạo của thiên hạ Khi thực hiện được sự trung hòa thì trời đất yên ổn, vạn vật sinhsôi nảy nở Câu này phù hợp với ý nghĩa của chữ "thái hoà" ở quẻ Càn trong Kinhdịch)

Cầu Trung Đạo dẫn đến sân chầu trước điện Thái Hòa Cầu là công trình kiếntrúc nằm trên trục chính của Hoàng thành, dành cho vua đi Đối xứng hai bên cầu

là hai công trình kiến trúc khác được xây dựng theo nguyên tắc "tả nam hữu nữ",

"tả văn hữu võ"

3 Sân Đại Triều Nghi và Điện Thái Hòa

Trang 20

* Sân Đại Triều Nghi:

Là khoảng sân rộng trước Điện Thái Hòa nơi các quan đứng chầu trong cácbuổi đại thiết triều của triều đình nhà Nguyễn Là nơi diễn ra các lễ Đăng Quang,sinh nhật vua, những buổi đón tiếp sứ thần chính thức và các buổi đại triều được tổchức 2 lần vào ngày mồng 1 và 15 âm lịch hàng tháng Vào dịp này, nhà vua mặchoàng bào, lưng đeo đai, tay cầm hốt trầm quế, chân đi hia, ngồi uy nghiêm trênngai vàng trong Điện Thái Hòa Chỉ các quan Tứ trụ và những hoàng thân quốcthích của nhà vua mới được phép vào điện diện kiến Các quan khác có mặt đông

đủ và đứng xếp hàng ở sân Đại triều theo cấp bậc và thứ hạng Sân này chia làm babậc đều lót bằng đá thanh:

 Bậc trên hết dành cho các quan văn võ từ tam phẩm trở lên

 Bậc dưới dành cho các quan từ tứ phẩm trở xuống đến cửu phẩm

 Bên dưới cùng gần cầu Trung Đạo dùng cho các kỳ cựu hương lão được vuamời đến chầu trong những dịp đại lễ

Quan văn đứng bên trái, quan võ đứng bên phải Tất cả các vị trí đều được đánhdấu trên hai dãy đá đặt trước sân chầu

Trang 21

Hai hàng trụ đá đề phẩm trật (từ Chính nhất phẩm đến Tòng tam phẩm của các

quan văn võ chầu hầu tại sân Đại Triều Nghi (hoàng thành Huế).

Giữa sân Đại Triều Nghi từ cửa Ngọ Môn đi vào có một con đường gọi là Dũngđạo Hai góc hai bên có đúc hai con kỳ lân rất lớn bằng đồng thếp vàng được đặttrong lồng gương bằng gỗ sơn vàng Hai con Kỳ Lân được trang trí ở hai góc sân

có ý nghĩa là đời thái bình, đồng thời nó cũng là một biểu tượng nhắc nhở sựnghiêm chỉnh giữa chốn triều nghi

Sân Đại Triều Nghi không mang giá trị về mặt kiến trúc trừ kỳ lân phía trướcsân Tuy nhiên, xét về mặt vai trò lịch sử, sân là nơi chứng kiến sự hưng thịnh vàsuy vong của 13 đời vua triều Nguyễn Ngày nay, sân là sân khấu ngoài trời đểbiễu diễn nhã nhạc cung đình Huế mỗi lần có chương trình “đêm Hoàng Cung”, lànơi diễn ra các hoạt động văn hóa của kinh thành Huế

* Điện Thái Hòa:

Điện Thái Hòa là điểm đến quen thuộc của khách du lịch trong những tour dulịch Huế Điện được xây dựng năm 1805, theo thể thức chung của các cung điện,miếu tẩm ở kinh thành Huế thế kỷ XIX Năm 1833, khi quy hoạch lại hệ thốngkiến trúc cung đình ở Đại Nội, vua Minh Mạng cho dời điện về phía Nam và làm

Trang 22

lại đồ sộ hơn Trải qua các đời vua Nguyễn, điện Thái Hòa đã nhiều lần tu sửa và

có phần thay đổi so với kiến trúc ban đầu Tuy vậy, nơi đây vẫn là một di tích quantrọng trong quần thế Kinh thành Huế

Mặt bằng kiến trúc của điện Thái Hòa khoảng 1360m2 Căn nhà chính dài43,3m, rộng 30,3m Điện gồm 2 nhà ghép lại, phía trước là tiền điện, nhà sau làchính điện, nơi đặt ngai vàng của vua

Trang 23

Ngai vàng của nhà vua trong Điện Thái Hoà

So với tất cả các cung điện khác ở Huế xưa nay, điện Thái Hòa là công trìnhkiến trúc quan trọng nhất bởi đây là nơi đặt ngai vàng của nhà vua – tượng trưngcho quyền lực của nhà nước phong kiến, là nơi tổ chức các buổi lễ thiết triều Cung điện được xây theo lối trùng thiềm điệp ốc và được chống đỡ bằng 80 cột

gỗ lim được sơn thếp và trang trí hình rồng vờn mây - một biểu tượng về sự gặp gỡgiữa hoàng đế và quần thần đúng như chức năng vốn có của ngôi điện

Nhà trước và nhà sau của điện được nối với nhau bằng một hệ thống trần vòmmai cua dưới máng nước nối của hai mái nhà (thuật ngữ kiến trúc gọi là máng thừalưu) Chính trần mai cua này nối với nửa trong tạo ra một không gian nội thất liêntục, thống nhất, rộng rãi, không còn cảm giác ghép nối hai tòa nhà Việc ứng dụngmáng thừa lưu là một sáng tạo của người xây dựng điện, nó chẳng những che kínđược sự lõm xuỗng của nơi nối hai mái mà còn tạo nên nhịp điệu kiến trúc Đâycũng là một dụng ý của kiến trúc sư Do thời tiết và kiến trúc cổ truyền Việt Nam

mà điện không thể xây cao như của Trung Quốc, vì vậy nửa ngoài mái cao hơn,nửa trong mài thấp hơn Mục đích là tạo cảm giác "cao" cho gian ngoài- nơi báquan hành lễ, bên trong thấp vừa làm nổi bật gian ngoài vừa là nơi vua ngồi nênkín đáo, uy nghiêm

Hệ thống vì kèo nóc nhà sau tương đối đơn giản, chỉ làm theo kiểu "vì kèo cánhác", nhưng hệ thống vì kèo nóc nhà trước thì thuộc loại vì kèo "chồng rường - giảthủ" được cấu trúc tinh xảo Toàn bộ hệ thống vì kèo, rường cột, ở đây đều liên kếtvới nhau một cách chặt chẽ bằng hệ thống mộng chắc chắn

Mái điện lợp ngói hoàng lưu ly, nhưng không phải là một dải liên kết mà đượcchia làm ba tầng chồng mí lên nhau theo thứ tự từ cao xuống thấp, gọi là mái

"chồng diêm", mục đích là để tránh đi sự nặng nề của một tòa nhà quá lớn đồngthời để tôn cao ngôi điện bằng cách tạo ra ảo giác chiều cao cho tòa nhà Giữa haitầng mái trên là dải cổ diêm chạy quanh bốn mặt của tòa nhà Dải cổ diêm đượcphân khoảng ra thành từng ô hộc để trang trí hình vẽ và thơ văn (197 bài thơ) trênnhững tấm pháp lam theo lối nhất thi nhất họa

Trang trí cũng như kiến trúc của điện Thái Hòa nói chung, có một khái niệmđặc biệt đáng chú ý là con số 5, và nhất là con số 9 Hai con số này chẳng nhữngxuất hiện ở trang trí nội ngoại thất của tòa nhà mà còn ở trên các bậc thềm củađiện Từ phía Đại Cung Môn của Tử Cấm Thành đi ra điện Thái Hòa, vua phảibước lên một hệ thống bậc thềm ở tầng nền dưới là 9 cấp và ở tầng nền trên là 5

Trang 24

cấp Trước mặt điện số bậc cấp bước lên Đệ nhị Bái đình và Đệ nhất Bái đình cộnglại là 9 Tiếp đó, hệ thống bậc thềm ở nền điện cũng có 5 cấp Đứng ở sân Đại triềunhìn vào hay từ phía Tử Cấm Thành nhìn ra người ta đều thấy trên mỗi mái điệnđều được đắp nổi 9 con rồng ở trong các tư thế khác nhau: lưỡng long chầu hổ phùđội bầu rượu, lưỡng long triều nhật, hồi long (rồng quay đầu lại), rồng ngang v.v…

Ở nội điện cũng thế, từ ngai vàng, bửu tán, các mặt diềm gỗ chung quanh cho đếnmỗi mặt của ba tầng bệ mỗi nơi đều trang trí một bộ 9 con rồng Có thể nói điệnThái Hòa là giang sơn để cho loài rồng bay lượn

Nhìn chung, trong gian điện này một hình ảnh nổi bật đó là con rồng Ở đây conrồng được sử dụng đủ kích cỡ, đủ hình thái, mỗi con một dáng vẻ riêng tạo cho tacái cảm giác đang bước vào một nơi mà ở đó là giang sơn của loài rồng Trên 80cây cột gỗ lim trong điện đều được vẽ hình rồng vờn mây nước màu vàng son rựcrỡ

4 Tử Cấm Thành

Khu vực Tử Cấm Thành

6 Đại cung môn

7 Tả vu và Hữu vu

8 Điện Cần Chánh: 8a Điện Võ Hiển; 8b Điện Văn Minh

9a Điện Trinh Minh; 9b Điện Quang Minh

Trang 25

10 Điện Càn Thành

11 Điện Khôn Thái: 11a Viện Thuận Huy; 11b Viện Dưỡng Tâm

12 Lầu Kiến Trung 13 Thái Bình Lâu

14 Vườn Ngự Uyển 29 Ngự Tiền Văn phòng

30 Lục Viện 31 Nhật Thành Lâu

Tử Cấm thành thuộc quần thể di tích cố đô Huế là trung tâm sinh hoạt hàng ngàycủa vua và hoàng gia triều Nguyễn Tử Cấm thành có vị trí sau lưng điện TháiHòa, được khởi xây năm Gia Long thứ 3 (1804) gọi là Cung thành và các vua triềuNguyễn xây dựng thêm Đến năm Minh Mạng thứ 3 (1822), vua đổi tên là TửCấm thành, nghĩa là thành cấm màu tía Theo nghĩa hán tự, chữ Tử có nghĩa làmàu tím, lấy ý theo thần thoại: Tử Vi Viên ở trên trời là nơi ở của Trời, Vua là conTrời nên nơi ở của Vua cũng gọi là Tử, Cấm Thành là khu thành cấm dân thường

ra vào Trong Tử Cấm Thành có khoảng 50 công trình kiến trúc với qui mô lớn nhỏkhác nhau được phân chia làm nhiều khu vực, tổng số công trình đó biến động quacác thời kỳ lịch sử

Không gian kiến trúc Hoàng thành và Tử Cấm thành có mối liên quan chặt chẽvới nhau về sự phân bố vị trí của các công trình dựa theo chức năng sử dụng TửCấm thành nằm trong lòng Hoàng thành, cả hai vòng thành này với một hệ thốngcung điện ở bên trong thường được gọi chung là Hoàng cung hay Đại Nội

Xét về bình diện, Tử Cấm thành là một hình chữ nhật có cạnh là 324 x290,68m, chu vi là 1.229,36m, thành cao 3,72m, dày 0,72m xây hoàn toàn bằnggạch vồ Về kiến trúc, Tử Cấm thành cũng như Đại Nội có những điểm chính sau:

Bố cục mặt bằng của hệ thống kiến trúc chặt chẽ và đăng đối Các công trìnhđều đối xứng từng cặp qua trục chính (từ Ngọ Môn đến lầu Tứ Phương Vô Sự) và

ở những vị trí tiền, hậu; thượng, hạ; tả , hữu; luôn nhất quán (tả văn hữu võ, tả namhữu nữ, tả chiêu hữu mục) Con số 9 và 5 được sử dụng nhiều trong kiến trúc vìtheo Dịch lý, con số ấy ứng với mạng thiên tử

Bố cục của hệ thống Hoàng cung biểu hiện rõ tư tưởng độc tôn quân quyền TửCấm thành là một tiểu vũ trụ của hoàng gia, trong đó đầy đủ mọi tiện nghi sinhhoạt: ăn ở, làm việc, học tập, nghỉ ngơi, giải trí, điện Càn Thành là nơi vua ăn ngủtọa lạc tại trung tâm của vũ trụ đó

Trang 26

Tử Cấm thành có 7 cửa: nam là Đại cung (Đại Cung môn) kết cấu hoàn toànbằng gỗ, lợp ngói hoàng lưu ly; đông là của Hưng Khánh và cửa Đông An, về saulấp cửa Đông An, mở thêm cửa Duyệt Thị ở phía đông Duyệt Thị Đường, ở mặtnày cũng mở thêm cửa Cấm Uyển nhưng rồi lại lấp; tây là cửa Gia Tường và TâyAn; bắc là cửa Tường Loan và Nghi Phụng (trước năm 1821 mang tên TườngLân), dưới thời Bảo Đại, sau khi xây lầu Ngự Tiền Văn Phòng mở thêm cửa VănPhòng

Bên trong Tử Cấm thành bao gồm các công trình kiến trúc với qui mô lớn nhỏkhác nhau, phân chia làm nhiều khu vực

Đại Cung môn là cửa chính vào Tử Cấm thành được xây vào năm 1833 Sau

Đại Cung môn là một sân rộng rồi đến điện Cần Chánh, là nơi vua làm việc vàthiết triều Cách bố trí, sắp đặt trong điện Cần Chánh cũng tương tự điện Thái Hòa,gian giữa đặt ngai vua, tả hữu treo bản đồ thành trì các tỉnh

Điện Cần Chánh là nơi vua tổ chức lễ thiết triều vào các ngày mùng 5, 10, 20

và 25 âm lịch hàng tháng Ngoài ra điện còn là nơi vua Nguyễn tiếp đón các sứ bộquan trọng, nơi tổ chức các buổi tiệc tùng trong những dịp khánh hỷ Điện CầnChánh còn là nơi trưng bày nhiều báu vật của triều Nguyễn như các đồ sứ quýhiếm của Trung Hoa, các hòm tượng bảo ấn bằng vàng và bằng ngọc của triều đại

Hai bên điện Cần Chánh có nhà Tả Vu, Hữu Vu Tả Vu là toà nhà dành cho các

quan văn, còn Hữu Vu là toà nhà dành cho các quan võ, đây là nơi các quan chuẩn

bị nghi thức trước khi thiết triều, nơi làm việc của cơ mật viện, nơi tổ chức thi đình

và yến tiệc Tả Vu và Hữu Vu đều được xây dựng vào đầu thế kỷ 19 Chái bắc Tả

Từ Vu là viện Cơ Mật, chái nam là phòng Nội Các, nơi đây tập trung phiến tấu củacác Bộ, nha trình vua ngự lãm Sau lưng điện Cần Chánh trở về bắc là phần NộiĐình là khu vực ăn ở, sinh hoạt của vua và gia đình cùng những người phục vụ.Điện Càn Thành là nơi vua ở, trước điện có cái sân rộng, ao sen và bức bình phongchắn điện Càn Thành và điện Cần Chánh

Trang 27

Tả Vu

Hữu vu

Điện Càn Thành là nơi ăn ở, lưu trú của các vua nhà Nguyễn Trước năm 1811,

điện Càn Thành còn có tên là điện Trung Hòa nằm trong Tử Cấm thành (Huế) Tuynhiên hiện nay công trình này đã trở thành phế tích sau năm 1945

Trang 28

Điện Càn Thành

Cung Khôn Thái nằm ở phía bắc điện Càn Thành, bao gồm điện Khôn Thái,

điện Trinh Minh… là nơi ăn ở sinh hoạt của Hoàng Quí Phi và các phi tần mỹ nữthuộc Nội Cung Nguyên dưới triều Gia Long tên là cung Khôn Đức, đến triềuMinh Mạng thứ 14 (1833), vua đổi tên là Khôn Thái

Trang 29

Di tích cung Khôn Thái

Sau cung Khôn Thái là lầu Kiến Trung, trước đây là lầu Minh Viễn do Minh

Mạng làm năm 1827, lầu có 3 tầng cao 10.8m, lợp ngói hoàng lưu ly, trên lầu cókính viễn vọng để vua quan sát cảnh từ xa Năm Tự Đức thứ 29, lầu Minh Viễn bịtriệt giải, đến năm 1913, vua Duy Tân cho làm lại lầu khác theo kiểu mới gọi là lầu

Du Cửu Năm Khải Định thứ nhất (1916), cải tên lại là lầu Kiến Trung

Ngày đăng: 18/10/2022, 17:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Nhìn chung, trong gian điện này một hình ảnh nổi bật đó là con rồng .Ở đây con rồng được sử dụng đủ kích cỡ, đủ hình thái, mỗi con một dáng vẻ riêng tạo cho ta cái cảm giác đang bước vào một nơi mà ở đó là giang sơn của loài rồng - Nghiên cứu kỹ điểm du lịch với hệ thống các tuyến, điểm du lịch phục vụ hoạt động tham quan của du khách. Xác định các đối tượng chính tại điểm tham quan khu đại nội Huế.
h ìn chung, trong gian điện này một hình ảnh nổi bật đó là con rồng .Ở đây con rồng được sử dụng đủ kích cỡ, đủ hình thái, mỗi con một dáng vẻ riêng tạo cho ta cái cảm giác đang bước vào một nơi mà ở đó là giang sơn của loài rồng (Trang 24)
Thái Bình Lâu là một tòa nhà hai tầng bằng gỗ nằm giữa một khn viên hình chữ nhật rộng 32m, dài 58m - Nghiên cứu kỹ điểm du lịch với hệ thống các tuyến, điểm du lịch phục vụ hoạt động tham quan của du khách. Xác định các đối tượng chính tại điểm tham quan khu đại nội Huế.
h ái Bình Lâu là một tòa nhà hai tầng bằng gỗ nằm giữa một khn viên hình chữ nhật rộng 32m, dài 58m (Trang 32)
Thổ Cơng Từ và Canh Y điện đều là những tịa nhà hình vng nằm đối xứng với nhau theo chiều đông-tây của Thế Tổ Miếu (điện Canh Y nằm ở phía đơng đã bị hủy hoại từ lâu), ở sát thần phía tây của miếu cịn có một cây thơng cổ thụ, có hình dáng uốn lượn rất đẹp - Nghiên cứu kỹ điểm du lịch với hệ thống các tuyến, điểm du lịch phục vụ hoạt động tham quan của du khách. Xác định các đối tượng chính tại điểm tham quan khu đại nội Huế.
h ổ Cơng Từ và Canh Y điện đều là những tịa nhà hình vng nằm đối xứng với nhau theo chiều đông-tây của Thế Tổ Miếu (điện Canh Y nằm ở phía đơng đã bị hủy hoại từ lâu), ở sát thần phía tây của miếu cịn có một cây thơng cổ thụ, có hình dáng uốn lượn rất đẹp (Trang 45)
Tòa nhà Cung Diên Thọ được xây hình chữ nhật, rộng 27,5m, dài 34,7m, gồm bảy gian, hai chái, hai hiên trước và sau - Nghiên cứu kỹ điểm du lịch với hệ thống các tuyến, điểm du lịch phục vụ hoạt động tham quan của du khách. Xác định các đối tượng chính tại điểm tham quan khu đại nội Huế.
a nhà Cung Diên Thọ được xây hình chữ nhật, rộng 27,5m, dài 34,7m, gồm bảy gian, hai chái, hai hiên trước và sau (Trang 48)
Kết cấu tạ Trường Du kiểu nhà rường truyền thống Huế với hình thức vng (phương đình), một gian bốn chái, 16 cột trụ, mái lợp ngói lưu ly men xanh - Nghiên cứu kỹ điểm du lịch với hệ thống các tuyến, điểm du lịch phục vụ hoạt động tham quan của du khách. Xác định các đối tượng chính tại điểm tham quan khu đại nội Huế.
t cấu tạ Trường Du kiểu nhà rường truyền thống Huế với hình thức vng (phương đình), một gian bốn chái, 16 cột trụ, mái lợp ngói lưu ly men xanh (Trang 49)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w