1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

nội soi phế quản áp dụng mitomycin c tạo chỗ điều trị hẹp đường thở lành tính

6 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 281,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word MMC s?o lành tính 1 NỘI SOI PHẾ QUẢN ÁP DỤNG MITOMYCIN C TẠI CHỖ ĐIỀU TRỊ HẸP ĐƯỜNG THỞ LÀNH TÍNH PGS TS BSCKII Nguyễn Chi Lăng Bệnh viện Phổi Trung ương TÓM TẮT Hẹp đường thở trung tâm.

Trang 1

NỘI SOI PHẾ QUẢN ÁP DỤNG MITOMYCIN C TẠI CHỖ ĐIỀU TRỊ HẸP ĐƯỜNG THỞ LÀNH TÍNH

PGS.TS.BSCKII Nguyễn Chi Lăng

Bệnh viện Phổi Trung ương

TÓM TẮT

Hẹp đường thở trung tâm lành tính ( Benign central airway stenosis / BTS) được định nghĩa là một quá trình bệnh không ác tính dẫn đến thu hẹp khí quản và phế quản gốc

Có vô số các bệnh lý lành tính có thể dẫn đến hẹp đường thở nghiêm trọng gây tình trạng đe doạ tính mạng người bệnh.Việc xử lý BTS lành tính, đòi hỏi một cách tiếp cận

đa mô thức, thường bao gồm bác sĩ phổi can thiệp, bác sĩ phẫu thuật lồng ngực, bác sĩ tai mũi họng, bác sĩ thấp khớp, bác sĩ chuyên khoa bệnh truyền nhiễm và bác sĩ gây

mê Các mục tiêu chính của xử lý BTS lành tính bao gồm ổn định đường thở, giải quyết các triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống thông qua cải thiện sự thông thoáng đường thở

Hiện nay phương pháp nội soi phế quản đa mô thức có sẵn để điều trị hẹp nghẽn đường thở bao gồm các liệu pháp nóng (laser Nd: YAG, đốt điện, đông huyết tương argon), các liệu pháp lạnh (áp lạnh, cryodebridement, cryospray), microdebrider, nong bóng và đặt stent đường thở Mặc dù một loạt các kỹ thuật nội soi can thiệp gần đây đã được phát triển để làm giảm tắc nghẽn đường thở ngay lập tức, nhưng chúng có thể gây ra tổn thương cho cấu trúc đường thở, dẫn đến mô hạt quá mức và hình thành sẹo trong quá trình chữa lành vết thương và cuối cùng là tái hẹp

Trong bài viết tổng quan này chúng tôi trình bày một số báo cáo về áp dụng mitomycin

C tại chỗ trong khi nội soi phế quản can thiệp để hạn chế tái phát hẹp đường thở.lành tính

SUMMARY

Benign central airway stenosis (BTS) is defined as a non-malignant disease process that results in narrowing of the trachea and main bronchus The treatment of benign BTS requires a multimodal approach, often including interventional pulmonologist, thoracic surgeon, otolaryngologist, rheumatologist, infectious disease specialist and anesthesiologist.The main goals of management of benign BTS include stabilizing the airway, resolving symptoms, and improving quality of life through improved airway patency

Currently, multimodal bronchoscopy is available for the treatment of airway obstruction including hot therapies (Nd:YAG laser, electrocoagulation, argon plasma coagulation), cryotherapy (cryotherapy, cryodebridement , cryospray), microdebrider, balloon dilation and airway stenting Although a variety of interventional endoscopic techniques have recently been developed to provide immediate relief of airway obstruction, but they can cause damage to airway structures, resulting in excessive granulation tissue and formation scarring during wound healing and finally re-narrowing

In this review, we present several reports on topical application of mitomycin C during interventional bronchoscopy to limit recurrence of benign airway stenosis

Trang 2

  VILA  I  2

1 Cơ sở áp dụng mitomycin C tại chỗ điều trị sẹo hẹp

Mitomycin là một loại kháng sinh được sản xuất bởi Streptomyces caespitosus Nó lần đầu tiên được phân lập bởi Wakaki và các cộng sự vào năm 1958 [1] Nó có đặc tính

chống ung thư và chống tăng sinh Hoạt động chống ung thư của Mitomycin tương tự như hoạt động của các chất alkyl hóa, gây ra sự phá vỡ băng đơn và liên kết chéo của DNA tại các phân tử adenosine và guanine, do đó ức chế sự tổng hợp RNA và protein Là một chất chống tăng sinh, nó có thể ức chế sự tăng sinh nguyên bào sợi do đó giảm sự hình thành sẹo

Năm 1963, Kunitomo và Mori [2] trình bày ứng dụng lâm sàng đầu tiên của

mitomycin để điều trị mộng thịt Đặc tính chống tăng sinh của Mitomycin trên nguyên bào sợi

đã được thể hiện trong cơ thể sống và trong ống nghiệm [3] Kể từ những năm 1980,

mitomycin đã được chấp nhận rộng rãi như một chất chống sẹo trong lĩnh vực nhãn khoa và

đã được sử dụng thành công như một phương pháp điều trị hỗ trợ trong phẫu thuật tăng nhãn

áp, phẫu thuật cắt u nang bìu và cắt dây thần kinh thị giác [4] , Ward và April [5] đã chỉ ra rằng mitomycin có thể có hiệu quả trong việc giảm sẹo hẹp khí quản và mô hạt Rahbar và các cộng sự [6,7], đã báo cáo việc sử dụng lâm sàng đầu tiên việc sử dụng mitomycin tại chỗ

như một phương pháp điều trị bổ trợ để điều trị bằng laser carbon dioxide qua nội soi đối với chứng hẹp thanh quản và khí quản ở trẻ em và người lớn.Trong thập kỷ qua, mitomycin đã được chú ý rộng rãi trong việc ngăn ngừa sự hình thành sẹo vì khả năng ức chế mạnh sự tăng sinh nguyên bào sợi của nó

2 Hẹp thanh quản

Reza Rahbar và cộng sự[8], Nghiên cứu thử nghiệm để khảo sát các ứng dụng của mitomycin-C tại chỗ trong phẫu thuật, để điều trị và phòng ngừa hẹp thanh môn và dưới thanh môn Tám bệnh nhân bị hẹp thanh môn sau và / hoặc hẹp dưới thanh môn được điều trị bằng phương pháp cắt bỏ bằng laser CO2 qua nội soi, sau đó bôi 0,5 mml mitomycin-C 0,4 mg cho mỗi ml nước muối trong 4 phút tại vết mổ Sau thời gian theo dõi trung bình 15 tháng (10-20) tất cả bệnh nhân đã cải thiện lâm sàng đường thở và giải quyết các triệu chứng trước phẫu thuật của họ Không có biến chứng nào được ghi nhận trong nghiên cứu này

Nội soi điều trị hẹp thanh quản bằng cách nong đường thở, mặc dù cải thiện trong thời gian ngắn, nhưng thường tái phát Ứng dụng bôi MMC tại thời điểm cắt đốt nội soi và phẫu thuật laser đã được đề xuất để cải thiện kết quả, nhưng điều này chưa được nghiên cứu một cách chặt chẽ

Marshall E Smith và cộng sự [9], nghiên cứu: hai lần bôi MMC tại chỗ cách nhau 3-6

tuần sẽ làm giảm sẹo / tái hẹp đường thở và so sánh với một lần bôi MMC duy nhất Thiết kế nghiên cứu: Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, tiền cứu, mù đôi, có đối chứng với giả dược: 26 bệnh nhân bị hẹp khí quản do hẹp dưới thanh quản vô căn, hẹp khí quản sau đặt nội khí quản, hoặc u hạt Wegener Tất cả bệnh nhân được điều trị theo một qui trình 3 giai đoạn Giai đoạn đầu tiên, sau khi rạch xuyên tâm chỗ hẹp bằng laser CO2 và nong đường thở, tất cả bệnh nhân được bôi MMC (0,5 mg / mL) tại chỗ vào tổn thương đường thở Giai đoạn thứ hai, sau một tháng tất cả bệnh nhân được nội soi lại, thực hiện rạch xuyên tâm và nong chỗ rạch Ở giai thứ hai này các bệnh nhân được ngẫu nhiên sử dụng lần thứ hai của mitomycin-C hoặc áp dụng giả dược nước muối Giai đoạn ba, sau giai đoạn thứ hai 2 tháng tháng tất cả

Trang 3

bệnh nhân được nội soi nong bóng mà không dùng MMC Bệnh nhân được theo dõi đến 5

năm vì tái phát hẹp đường thở với các triệu chứng lâm sàng đủ để yêu cầu một thủ thuật tiếp theo Các kết quả: Tỷ lệ tái phát ở giai đoạn 1, 3 và 5 năm là 7%, 36% và 69% đối với bệnh nhân được điều trị với hai lần ứng dụng MMC so với 33%, 58% và 70%, đối với bệnh nhân được điều trị với một lần bôi MMC Khoảng thời gian trung bình để tái phát là 3,8 năm ở nhóm hai lần bôi MMC, so với 2,4 năm ở nhóm một lần bôi MMC Tac giả kết luận: Thử nghiệm mù đôi ngẫu nhiên ngẫu nhiên có đối chứng giả dược này cho thấy rằng, trong điều trị nội soi của hẹp khí quản, hai lần áp dụng MMC cách nhau 3-4 tuần sau khi rạch xuyên tâm đường thở và giãn nở làm giảm tỷ lệ tái hẹp trong 2 đến 3 năm sau khi điều trị so với một ứng dụng bôi MMC duy nhất Tuy nhiên, sự tái phát triệu chứng chậm lại và tái phát hẹp vẫn tiếp tục và sau 5 năm tỷ lệ tái phát là như nhau Do đó, MMC có thể làm chậm quá trình hẹp, nhưng không ngăn cản tái hẹp

3 Hẹp thanh - khí quản

Hẹp thanh, khí quản lành tính (LTS) là một thực thể khó điều trị, với nhiều bệnh nhân

quả của việc áp dụng mitomycin C (MMC) tại chỗ trong phẫu thuật hẹp thanh, khí quản

Nhóm tác giả xem xét biểu đồ lâm sàng của những bệnh nhân được phẫu thuật LTS từ tháng

1 năm 2005 đến tháng 5 năm 2013 71 bệnh nhân được chia hai nhóm: 30 bệnh nhân phẫu thuật có dùng MMC và 41 bênh nhân không dùng MMC Kết quả được đánh giá số lần thủ

thuật nội soi bôi MMC và khoảng cách thời gian giữa các lần làm thủ thuật Kết quả: 71 bệnh

nhân được đưa vào nghiên cứu (30 dùng MMC, 41 không dùng MMC) Số lượng thủ thuật trung bình nhóm dùng và không dùng MMC tương tự (2,3 , 2,0 , p> 0,05) Thời gian trung bình giữa các thủ thuật là 360 ngày ở bệnh nhân dùng MMC và 178 ngày ở bệnh nhân không dùng MMC với (p = 0,015) Số bệnh nhân suy hô hấp ở nhóm dùng mitomycin ít hơn nhóm không dùng MMC (6,6 so với 19,5%, p> 0,05) Sử dụng Mitomycin làm tăng thời gian giữa các thủ thuật ở những bệnh nhân LTS, đặc biệt cho chứng hẹp dưới thanh môn (375 so với

186 ngày, p> 0,05) Tác giả kết luận: kết quả và kinh nghiệm của tác giả với mitomycin

chứng minh nó là một tác nhân hiệu quả để điều trị bổ trợ LTS Việc sử dụng nó làm kéo dài thời gian không có triệu chứng

Hẹp khí quản lành tính đã nổi lên như một thách thức điều trị cho các bác sĩ liên quan đến việc chăm sóc những người sống sót tại các đơn vị chăm sóc quan trọng Mặc dù phương pháp điều trị tái tạo phẫu thuật mở truyền thống vẫn được coi là tiêu chuẩn vàng, các liệu pháp nội soi như cắt đốt tổn thương bằng laser, nong bóng hoặc đặt stent thường được thực hiện trong bệnh lý phế quản xâm lấn gây chít hẹp Các u hạt gây tắc nghẽn tái phát là một thách thức đối với các bác sĩ nội soi Mitomycin C (MyC) là một chất gây độc tế bào được phân lập từ Streptomyces caespitosus và hoạt động bằng cách ức chế tổng hợp DNA và RNA

phương pháp tiêm MMC dưới niêm mạc qua nội soi phế quản ống mềm như một phương pháp điều trị tái phát hẹp khí quản Các tác giả báo cáo kinh nghiệm thành công của họ với phương pháp tiêm MMC dưới niêm mạc trong điều trị u hạt tắc nghẽn / hẹp tái phát bằng cách sử dụng ống nội soi phế quản mềm trên một loạt 10 bệnh nhân từ năm 2005 đến 2019

Trang 4

  VILA  I  4

Các kết quả cho thấy tiêm MMC qua đường nội soi bằng ống soi mềm sau khi điều trị nội soi

có tác dụng phụ

Để đánh giá hiệu quả của mitomycin C (MMC) trong điều trị nội soi hẹp thanh khí quản,

Daniele Cristina Cataneo và cộng sự [12], nghiên cứu nong và bôi MMC tại chỗ cho 22 bệnh

nhân hẹp thanh khí quản (15 nam và 7 nữ) được điều trị từ năm 2003 đến 2010 Nguyên nhân hẹp do đặt nội khí quản ở 15 bệnh nhân và phẫu thuật ở 8 Hẹp khí quản đơn thuần gặp ở 13 bệnh nhân, hẹp dưới thanh quản gặp ở 4, hẹp khí quản gặp ở 3 và hẹp phức tạp gặp ở 2 Chiều dài của hẹp từ 0,5 cm đến 2,5 cm, và tỷ lệ hẹp dao động từ 40% đến 100% Chín bệnh nhân đã được phẫu thuật mở khí quản và đặt ống Montgomery T có bôi MMC tại chỗ Điều trị thành công ở 14 bệnh nhân, những người không có triệu chứng trong ít nhất 12 tháng Số lần bôi MMC tại chỗ từ 1 đến 5 lần Các biến chứng bao gồm nhiễm nấm, sẹo lồi, u hạt và khí

thũng trung thất Tác giả kết luận: MMC tỏ ra có hiệu quả trong điều trị nội soi hẹp khí quản

Hẹp khí quản sau đặt nội khí quản (PITS) tiếp tục là thách thức về chẩn đoán, xử trí và phòng ngừa Tình trạng tái phát là phổ biến do sự hình thành mô hạt quá mức và quá trình hình thành sẹo từ từ Ứng dụng tại chỗ mitomycin-C như một điều trị bổ trợ để xử trí hẹp ống nội soi đã cho kết quả tốt Các tác giả nhằm đánh giá kết quả của việc bôi MMC tại chỗ sau

[13], hồi cứu những bệnh nhân PITS đã được nong phế quản ống cứng sau đó bôi MMC tại chỗ bổ trợ cho điều trị nội soi MMC ở nồng độ 0,4 mg / ml được bôi bằng que bông quanh vùng tổn thương chít hẹp và mô hạt trong 3 phút Kết quả: 11 bệnh nhân PITS được điều trị nong bằng soi phế quản ống cứng bội MMC tại chỗ Mức độ hẹp khí quản ban đầu trước khi tiến hành thủ thuật trung bình 75% đường kính Số lần bôi MMC trung bình được thực hiện lại là 3,5 lần Đáp ứng tốt và kéo dài thời gian hình thành mô hạt ở 55% trường hợp, trung bình ở 18% và tái phát ở 27% Cải thiện tình trạng hẹp trung bình là 34% Kết luận: Sử dụng MMC tại chỗ ở nồng độ 0,4 mg / ml dường như có kết quả tốt như một chất bổ trợ trong quản

lý PITS với việc giảm mô hạt và cải thiện bền vững đường kính khí quản

Asad Anwar và cộng sự 2020[14 ] nghiên cứu đánh giá tác dụng của việc bôi

Mitomycin C tại chỗ qua nội soi phế quản cứng ở bệnh nhân hẹp khí quản và mô hạt quá mức Bảy bệnh nhân được chọn cả hồi cứu và hồi cứu Dung dịch Mitomycin C nồng độ cao 0,4mg / ml được bôi lên miếng gạc (2mls) và đưa dưới tầm nhìn trực tiếp qua ống soi phế quản cứng theo 4 góc phần tư chu vi, mỗi góc 2 phút Kết quả: Có 2 nam và 5 nữ với độ tuổi trung bình

là 64 tuổi Sáu bệnh nhân trước đó đã được triển khai đặt stent khí quản để điều trị hẹp khí quản thứ phát: sau đặt nội khí quản / mở khí quản (2), chèn ép khí quản thứ phát sau ung thư hạch (3) và rách khí quản (1) Một bệnh nhân bị hẹp khí quản vô căn Năm bệnh nhân thu được kết quả tuyệt vời sau khi bôi Mitomycin C mà không có hoặc ít mô hạt được quan sát thấy khi nội soi phế quản theo dõi Giảm tần suất can thiệp cũng được quan sát thấy ở 5 bệnh nhân này Mô hạt vẫn tồn tại ở 2 bệnh nhân mặc dù tốc độ tiến triển đã giảm khi nội soi phế quản cách quãng Không có biến chứng nào gặp phải Tác giả kết luận: Sử dụng Mitomycin C tại chỗ dường như có kết quả tốt trong xử trí hẹp khí quản với giảm mô hạt, giảm tiến triển và cải thiện bền vững đường kính lòng khí quản

Trang 5

Hẹp phế quản là một biến chứng đường thở đáng kể ở những bệnh nhân sau ghép phổi Xử trí hiện tại với nong phế quản bằng bóng và đặt stent là chưa thật hoàn hảo vì một số

ít bệnh nhân đòi hỏi phải làm thủ thuật nhiều lần để duy trì sự thông thoáng của đường thở Mitomycin C đã được sử dụng vì đặc tính chống xơ hóa của nó trong bệnh hẹp khí quản không ác tính nhưng ứng dụng của nó chưa được nghiên cứu kỹ trong bệnh hẹp đường thở sau ghép phổi Davidson và cộng sự, 2019 [15] thực hiện nghiên cứu để đánh giá xem ứng dụng MMC có làm giảm nhu cầu nong phế quản bằng bóng lặp đi lặp lại trong trường hợp hẹp đường thở sau ghép phổi hay không Một nghiên cứu thuần tập hồi cứu về tất cả những người ghép phổi bị chứng hẹp đường thở và những người đã được điều trị MMC trên 4 năm MMC được tiêm dưới niêm mạc chỗ hẹp đường thở Để đánh giá kết quả tác, giả so sánh tỷ lệ giãn

phế quản trong khoảng thời gian 3 và 6 tháng trước và sau khi điều trị MMC Kết quả: Mười

một người ghép phổi, bị hẹp đường thở đã được đưa vào nghiên cứu, những người yêu cầu nong bóng tái đi tái lại nhiều lần, mặc dù đã đặt stent đường thở ở 73% số bệnh nhân này Đánh giá kết quả ở thời điểm 3 tháng sau khi điều trị MMC, giảm độ hẹp phế quản từ độ

3 xuống 1 ( P = 0,023), và ở tháng thứ 6, giám độ hẹp phế quản từ độ 3 đến độ 2 ( P=

0,004) Đo chức năng hô hấp có xu hướng cải thiện thể tích thở ra cưỡng bức trong một giây ( FEV1) và dung tích sống cưỡng bức (FVC) Không có tác dụng phụ nào liên quan đến điều trị

MMC Tác giả kết luận: Ứng dụng MMC là an toàn và có liên quan đến việc giảm tần suất

phải soi phế quản nong bóng giãn khí phế quản ở bệnh nhân hẹp đường thở sau ghép phổi

Đánh giá liệu việc bổ sung mitomycin-C tại chỗ vào vết thương sau khi điều trị nội soi hẹp thanh khí quản (LTS) có dẫn đến cải thiện kết quả lâm sàng hay không, C Blake Simpson

và cộng sự, 2006 [16], nghiên cứu hồi cứu những bệnh nhân bị LTS được điều trị trong khoảng thời gian 6 năm Các bệnh nhân được phân chia thành hai nhóm, nhóm 1: bệnh nhân được điều trị nội soi đơn thuần và nhóm 2: điều trị nội soi + MMC tại chỗ Khoảng thời gian

"không có triệu chứng" được xác định (tính bằng tháng) cho mỗi đối tượng bằng cách sử dụng thuật toán kiểm định T test, để phân tích thống kê của các nhóm 1 và nhóm 2 Sáu mươi bảy thủ thuật nội soi đã được thực hiện cho 36 bệnh nhân bị LTS (trung bình là 1,86 lần soi cho mỗi bệnh nhân) Thời gian trung bình của khoảng thời gian không có triệu chứng sau khi điều trị nội soi đối với LTS là 4,9 tháng ở nhóm chỉ điều trị nội soi đơn thuần và 23,2 tháng ở nhóm nội soi được áp dụng MMC tại chỗ Khoảng thời gian không có triệu chứng quan sát được ở nhóm có MMC dài hơn đáng kể so với nhóm không có MMC (P = 1 x 10) Kết quả của nghiên cứu này cung cấp bằng chứng rõ ràng rằng: MMC tại chỗ là một chất bổ trợ hiệu quả trong điều trị hẹp thanh khí phế quản

KẾT LUẬN

Với tác dụng ức chế mạnh tăng sinh nguyên bào sợi, mitomycin C được áp dụng tại chỗ, bôi hoặc tiêm dưới niêm mạc trong khi nôi soi phế quản can thiệp cho bệnh nhân sẹo hẹp đường thở lành tính, MMC chứng tỏ có hiệu quả làm giảm mức độ sẹo hẹp, tăng khoảng

Trang 6

  VILA  I  6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ghabner BAAllegra CJCurt GACalabresi P Antineoplastic agents In: Goodman LS, Gilman A, Harman JG, Limbrid LE, eds The Pharmacological Basis of Therapeutics 9th ed New York, NY: McGraw-Hill; 1996:1233-1287

2 Kunitomo NMori S Studies on the pterygium, IV: a treatment of the pterygium by mitomycin-C instillation Acta Soc Ophthalmol Jpn.1963;67:601-607

3 Lee DALee TCCortes AEKitada S Effects of mithramycin, mitomycin, daunorubicin, and bleomycin on human subconjunctival fibroblast attachment and proliferation Invest Ophthalmol Vis Sci.1990;31:2136-2144

trabeculectomy Ophthalmology.1991;98:317-321

5.Ward RFApril MM Mitomycin-C in the treatment of tracheal cicatrix after tracheal reconstruction Int J Pediatr Otorhinolaryngol.1998;44:221-226

6 Rahbar RValdez TAShapshay SM Preliminary results of intraoperative mitomycin C in the treatment and prevention of glottic and subglottic stenosis J

Voice.2000;14:282-286

7 Rahbar RShapshay SMHealy GB Mitomycin: effects on laryngeal and tracheal stenosis: benefits and complications Ann Otol Rhinol Laryngol.2001;110:1-6

8 Reza Rahbar et al Preliminary Results of Intraoperative Mitomycin-C in the Treatment and Prevention of Glottic and Subglottic Stenosis Journal of Voice 14(2):282-6.July

2000

9 Marshall E Smith, Mark Elstad Mitomycin C and the Endoscopic Treatment of Laryngotracheal Stenosis: Are Two Applications Better Than One? February 2009.The Laryngoscope 119(2):272-83

10 Lara K Reichert 1 , Alice S Zhao, Lisa T Galati, Stanley M Shapshay.The Efficacy of Mitomycin C in the Treatment of Laryngotracheal Stenosis: Results and Experiences with a Difficult Disease Entity Otorhinolaryngol Relat Spec 2015;77(6):351-8

11 Boaz Tiran, Tal Parluk , et al Fiberoptic, Bronchoscopic Submucosal Injection of Mitomycin C for Recurrent Bening Tracheal Stenosis: A Case Series sr Med Assoc J

2020 Dec;22(12):757-760

12 Daniele Cristina Cataneo, 1 Aglaia Moreira Garcia Ximenes Mitomycin C in the endoscop treatment of tracheal stenosis: A prospect cohort study J Bras Pneumol 2018 Nov-Dec; 44(6): 486–490

13 F Viveiros , J Gomes, A Oliveira, S Neves, J Almeida Topical application of

mitomycin-C as an adjuvant treatment to bronchoscopic procedures in post-intubation tracheal stenosis Rev Port Pneumol 2013 Nov-Dec;19(6):276-80

14.Asad Anwar, NorditaRamos Bascon, Natalie Barnes, Brendan

Patrick Madden.Usefulness of topical Mitomycin C application via rigid bronchoscopy in the management of tracheal stenosis.European Respiratory Journal 2020 56: 1196

15 Davidson, Kevin R 1 ; Elmasri, Mary et al Management of Lung Transplant Bronchial Stenosis With Mitomycin C Journal of Bronchology & Interventional Pulmonology, Volume 26, Number 2 2019 Apr;26(2):124-128.

16 C Blake Simpson, C Blake Simpson The Efficacy of Mitomycin-C in the Treatment of Laryngotracheal Stenosis The Laryngoscope November 2006 116(10):1923-5

Ngày đăng: 18/10/2022, 15:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w