TƯ TƯỞNG CỦA NGUYỄN DỮ QUA HÌNH TƯỢNG NHO SĨ TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC (Nguyễn Hùng Vĩ – Lớp Sư phạm Ngữ văn K38) Nguyễn Dữ là người thuộc dòng dõi khoa hoạn, từng ôm ấp lý tưởng hành đạo Ông từ đi thi.
Trang 1TƯ TƯỞNG CỦA NGUYỄN DỮ QUA HÌNH TƯỢNG NHO SĨ TRONG
TRUYỀN KỲ MẠN LỤC
(Nguyễn Hùng Vĩ – Lớp Sư phạm Ngữ văn K38)
Nguyễn Dữ là người thuộc dòng dõi khoa hoạn, từng ôm ấp lý tưởng hành đạo Ông từ đi thi Hương, đậu Hương tiến (cử nhân), sau thi Hội, trúng Tam trường
và có ra làm tri huyện Thanh Toàn (nay là huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc) Được một năm, sau vì bất mãn với thời cuộc, cáo quan về ẩn cư ở núi rừng Thanh Hóa
lấy lý do phải phụng dưỡng mẹ già cho tròn đạo hiếu, từ đó “trải mấy mươi sương, chân không bước đến thị thành” Sống vào một triều đại suy loạn, kỷ cương đổ nát,
phong hóa suy đồi, Nguyễn Dữ đã kịch liệt đả kích những cái xấu, đề cao đạo đức, công lý, dụng ý của tác giả là răn đe người xấu, khích lệ người tốt Do đó, hình tượng nhân vật nho sĩ mang nội dung giáo dục sâu sắc
1 Tư tưởng xây dựng một xã hội lý tưởng của Nguyễn Dữ qua hìnhh tượng nho sĩ là nhân vật chính diện.
Trong “Truyền kỳ mạn lục” nhân vật nho sĩ chính diện không mang đặc
điểm của người anh hùng ôm ấp lý tưởng, lưu danh sử sách mà là những con người đời thường, con người gần gũi Hình tượng nho sĩ là nhân vật chính diện mang phẩm chất của nhà nho chính thống, lấy giá trị đạo đức làm thước đo của con người Họ không màng vật chất, không ham lợi danh Họ là những người theo học sách Thánh hiền có thể ra làm quan hoặc không làm quan nhưng đều là những con người vì dân, vì nước đứng ra đấu tranh từ gian ác, đem lại cuộc sống bình an cho nhân dân… Ấy là những phẩm chất đẹp đẽ của nhà nho chân chính mà các nhà văn thế kỷ trước còn ít miêu tả Đó cũng là mong muốn, lý tưởng cao đẹp của Nguyễn
Dữ ước mơ một xã hội lý tưởng “vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn”, “vua sáng tôi hiền” trăm dân hạnh phúc, bình an Đó còn là vấn đề nhân văn cao cả đặt
Trang 2ra cho thời đạo của ông và mai sau nên “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ xứng
đáng đặt ở vị trí áng văn muôn đời
Hồ Tôn Thốc trong “Câu chuyện ở đền Hạng Vương” là một vị quan Thừa
chỉ cuối đời trần phụng lệnh sang Trung Quốc đi sứ Tác giả miêu tả đảm phí của một sứ thần Đại Việt trên đất nước người, đi qua đền Hạng Vương làm thơ giễu cợt Câu chuyện được miêu tả bằng giấc mộng, nhân vật Hồ Tôn Thốc đã bày tỏ tính cách thẳng thắn, cứng cỏi phê phán chính sách bạo lực của Hạng Vũ, nhưng
cũng vạch trần thủ đoạn xảo trá của Lưu Bang “Sở đã đành trái với nhân nghĩa nhưng Hán chỉ giống với nhân nghĩa Họ Hạng nước Sở không được là hạng bá giả mà vua Cao Tổ nhà Hán cũng là tạp nhạp”[1,18-19] Và “so sở với Hán thì Hán hơn, nhưng sánh Hán với bậc vương giả thì Hán còn xa lắm”[1,18]… Đánh
giá Lưu Bang và Hạng Vũ như vậy quả là táo bạo, trái hẳn với lời tán tụng sứ giả
Tư Mã Thiên
Văn Tư Lập trong “Chuyện cái chùa hoang ở Đông Trào” đến tri huyện Đông Trào thấy cảnh chùa chiềng hoang tàn, đổ nát đã lo lắng “dóng dả dân binh các xã đánh tranh kên nứa và sửa chữa lại”[1,182] Thấy dân quanh huyện khổ vì
nạn trộm cắp của bọn gian tà, những bọn đội lốt nhà Phật hoành hành, Văn Tư Lập
tự thấy đó là trách nhiệm của mình “Ta ở vào địa vị một viên ấp tể, không có cái minh để xét ra kẻ gian, cái cứng để chế phục kẻ, vì nhân nhu mà hỏng việc, chính
là cái lỗi ở ta”[1,182] Ông đã đứng ra cùng nhân dân trừ gian, cắt cử cho các thôn
đêm ngày canh phòng cẩn mật, đi mời thầy phù thủy cao tay, xin bùa yểm chân đốt hương lễ bái chùa chiền… Cuối cùng vạch ra mặt thật của kẻ gian đứng sau nhà Phật để cướp bóc nhân dân Văn Tư Lập là một ông quan liêm chính vì dân vì nước, luôn có trách nhiệm trước cuộc sống nhân dân, đưa lại quyền sống, hạnh phúc, bình an cho dân
Những nhà nho chính nghĩa luôn lo lắng đến số phận của cuộc sống nhân
dân “Chuyện tướng dạ xoa” cho thấy cảnh tượng thê thảm của nhân dân “sống
Trang 3chẳng gặp thời, chết không phải số Đói không có thứ gì cấp dưỡng, lui không có chỗ nào tựa nương Trong gò xương trắng rầu sĩ cỏ rêu, trên đống cát vàng lạnh lùng sương gió”[1,271-272] Cho nên có tình trạng “chết chóc nhiều, những oan hồn không chỗ tựa nương thường họp lại thành từng đàn lũ ”[1,270] Trước nạn
ma quỷ “hoành hành ở đồng nội không biết kiêng sợ gì cả”[1,270] Văn Dĩ
Thành không chịu để ma quỷ mê hoặc Phàm những hoa yêu nguyệt quái, và dâm thần lệ quỷ không được liệt vào từ điển, chàng đều coi thường không sợ hãi gì Văn Dĩ thành là một ông quan vì dân, luôn đặt chính nghĩa lên trên tất
cả Ông luôn được dân tin yêu, kính phục, làm quan rất uy nghiêm, đề ra những
việc đúng đắn nghiêm khắc: “ không được coi khinh mệnh lệnh, không được quen thói dâm ô, không được quấy quắc để làm hại mạng của dân, không cướp bóc và phải cứu nạn cho dân, ban ngày không được giả hình, ban đêm không được kết đảng Nghe lệnh ta thì ta làm tướng các ngời, trái lệnh ta thì ta trị tội các ngời
”[1,273].
Đây là lời răn lũ quỷ cũng là lời răn những kẻ quyền hành, lộng hành cướp bóc nhân dân Lời răn cho những quan lại phải
có trách nhiệm với dân với nước Đó cũng là lời tố cáo với kẻ cường hào, ác bá quan lại lộng quyền hà hiếp dân lành Văn Dĩ Thành luôn lấy dân làm gốc đặt chính nghiã nhân nghĩa lên trên nên làm việc gì cũng thành công và được ủng hộ Bởi vậy, công việc của Văn Dĩ Thành ngày càng tốt đẹp, oai vọng lẫy lừng, được tiến cử vào chức quan lớn là Tướng Dạ Xoa Qua hình tượng Văn Dĩ Thành, Nguyễn Dữ muốn nói những ngời giữ quyền bính đứng trên muôn dân nếu chính trực, công bằng, lấy nhân nghĩa, chính nghĩa làm đầu chắc chắn sẽđược lòng dân, được dân tin tưởng ủng hộ, làm việc gì cũng thành công Xã hội
có nhiều ông quan lo cho dân cho nước như thế sẽ luôn thái bình
Trang 4thịnh trị Đó cũng là lý tưởng của Nguyễn Dữ muốn xây dựng một xã hội lý tưởng, vua sáng tôi hiền, vua Nghiêu Thuấn dân Nghiêu Thuấn Đó là vấn đề mang tính thời đại, mang giá trị nhân văn cao cả
Đến “Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên” phẩm chất người nho sĩ chính diện Ngô Tử Văn được Nguyễn Dữ giới thiệu là khảng khái, cương phương “thấy
sự gian tà thì không thể chịu được ”[1,115] Tức giận vì hồn ma của một tướng
giặc ẩn náu trong toà đền làm yêu làm quái đánh đuổi một vị Thổ thần để chiếm phần hương lửa, rồi bức hại cả dân lành Tử Văn đã dũng cảm châm lửa đốt đền, bất chấp cả cái chết có thể đến với mình để chống lại tà gian trị tên ác quỷ ấy Đây
là một chi tiết tiêu biểu, độc đáo, điển hình, thể hiện phẩm chất nổi bật khí tiết, cứng cỏi, thẳng thắn, tự tin, ngoan cường không biết sợ hãi gì trớc thần quyền gian
ác trái ngang Tính cách ấy còn thể hiện ở việc dưới âm phủ chàng kiên quyết chống chọi với yêu quỷ làm sao cho chính nghĩa phải thắng gian tà, người tốt được đền bù xứng đáng, kẻ xấu bị trừng trị đích đáng Sau đó chàng cùng Thổ thần vạch được mặt giả mạo đội lốt đền chùa mà hại dân lành của tên tướng giặc bại trận Bắc triều cho Diêm Vương trị tội, trả lại miếu cho Thổ thần và Tử Văn không bệnh mà
chết được lĩnh chức Phán sự đền Tản Viên Qua “Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên” Nguyễn Dữ đã ca ngợi phẩm chất đẹp đẽ của Ngô Tử Văn.
Đó là nét tính cách cương trực, lòng nghĩa khí, khí phách táo bạo, tựtin, không sợ gian tà, bằng sự chính nghĩa mà đem lại quyền lợi cho dân Nguyễn
Dữ khẳng định chính nghĩa thắng gian tà, thiện thắng ác Ngô TửVăn đại diện cho công lý đó là mong muốn của dân cũng là lý tưởng thẩm mỹ và tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Dữ
Đứng trước tình hình xã hội phong kiến thế kỷ XVI đang đi vào rạn nứt bắt đầu suy thoái nhân dân lâm vào cảnh đói khổ, lầm than, xã hội đầy rẫy những sự bất công nên qua những nhân
Trang 5vật chính diện trên Nguyễn Dữ mong muốn có những ông quan thanh liêm, chính trực vì dân vì nước đểđứng ra bảo vệ cuộc sống cho nhân dân và lo cho vận mệnh đất nước Trong bước suy thoái của chế độ phong kiến, trước những thăng trầm khôn lờng của một xã hội hỗn loạn, kinh truyện Nho gia không đủ giúp Nguyễn Dữgiảiđáp những vấn đề đặt ra trong cuộc sống Ông tìm cách giải đáp những vấnđề đó và một phần đã tìm thấy được ở những tưtưởng của Đạo giáo, Phật giáo Dương Thiên Tích trong
“Chuyện gã trà đồng giáng sinh”chất vấn một đạo nhân: “Tôi nghe đạo trời công minh như cái cân cái gương, có thần minh để gây dấu vết, có tạo hoá để giữ công bằng gương tất soi suốt mà không riêng, lới tuy tha thướt mà không lọt Phép thuật chí nghiêm mà chí mật, người nên không oán cũng không hờn Cớ sao những sự khuyên răn lại thấy lắm điều lộn xộn Làm sự lợi vật, chưa nghe thấy được phúc, làm sự hại dân, chưa nghe thấy mắc nàn Kẻ nghèo có chí cũng thành không, người có muốn gì cũng không được nấy Có ngời chăm học mà suốt đời không đỗ, có nhà xa hoa mà luỹ thế vẫn giàu Ai bảo rằng trao quỳnh giả mận, thế mà vẫn trồng dưa được đậu Đó là những sự
mà tôi rất nghi ngờ không hiểu ”[1,55-56].
Đạo nhân trả lời: “Thiện ác tuy nhỏ cũng rõ rệt, báo ứng dù chậm nhưng lớn lao Âm công khi rõ ràng ra, phải đợi quả thiện được tròn trặn, dương phúc khi tiêu tan mất, phải chờ mầm ác đã cao dài Có khi sắp duỗi mà tạm co,
có khi muốn đè mà thử nống Có hạnh mà nghèo, hoặc bởi tội khiên kiếp trước bất nhân mà khá, hoặc bởi phúc thiện đời xa Tuy rằng khó biết sâu xa, nhưng thực không sai tơ tóc Cho nên không nên lập luận một bề mà xem trời một mặt”[1,56] Đoạn văn đối đáp trên đây đã phản ánh mộtsự thực: để lý giải những
Trang 6vấn đề của cuộc sống trong lúc trật tự đảo điên, cương thường đổ nát, thì nhà văn Nguyễn Dữ đã phải mượn đến những quan niệm nghiệp duyên quả báo, hoạ phúc của Phật giáo Chính vì vậy mà Nguyễn Dữ xây dựng những ông quan
có phẩm chất đẹp đẽ như Dương Đức Công, Dương Thiên Tích là những ông
quan thanh liêm chính trực, công bằng và nhân hậu trong “Chuyện gã trà đồng giáng sinh” Dương Đức Công làm quan coi việc hình án trấn Tuyên Quang “Xét
rõ mọi điều oan khuất khiến các vụ án đều được công bằng”[1,47]ưlại là một vị
quan nhân từ phúc hậu nên được mọi người gọi là Đức Công Vì là ông quan liêm chính, công bằng, nhân nghĩa, tốt bụng nên đợc sống thêm hai kỷ nữa và được Thượng đế ban cho một ngời con trai tốt là Dương Thiên Tích Dương Thiên Tích văn chương thông thái, sớm hôm lo học hành không hề biếng trễ, về sau trải hai
mươi năm làm đến vị quan lớn Ông là ngời “thờ vua thì trung, giữ mình thì liêm, trải thờ hai triều chốn miếu đường lấy làm ỷ trọng ”[1,52] Về sau người ta
ngờ rằng ông đắc đạo thành tiên
Như vậy qua hình tượng nho sĩ là nhân vật chính diện mang phẩm chất đẹp đẽ của những nhà nho chân chính, nhân nghĩa xử phạt công minh, vì dân vì nước; đó là mong ước của nhân dân cũng như của tác giả Quađó ông đã bộc lộ tâm tư, khát vọng hoài bão lớn lao về một xã hội lý tưởng và đặt ra nhiều vấn đề nhân sinh của con ngời và thời đại đó là đa lại quyền sống quyền làm ngời, thái bình cho đất nớc cho nhân dân
Và khẳngđịnh lý tưởng “ở hiền gặp lành”,“chính nghĩa thắng gian tà”, “thiện thắng ác” là mong ước thực tại xã hội, là tiếng
nói của Nguyễn Dữ cất lên thay cho khao khát của nhân dân bấy giờ
2 Tư tởng chính trị xã hội của Nguyễn Dữ qua hình tượng nho sĩ là nhân vật phản diện
Trang 7Bên cạnh hình tượng nho sĩ hành đạo là nhân vậtchính diện thì có những hình tượng kẻ sĩ quên hết mọi nhiệm vụ cao quý, mọi lời răn dạy củaThánh nhân Đó là hình tượng nho sĩ phản diện mang tư tởng hành động ứng xử không xứng đáng với
tư cách nhà nho là bộ phận tiêu cực trong tầng lớp trí thức phong kiến
Quan Trụ quốc họ Thân trong “Chuyện nàng Tuý Tiêu” nham hiểm và thâm độc là “đồ hèn yếu mà làm đến bậc Vệ, Hoắc kêu xin chạy chọt, lúc nào ở cửa cũng rộn rập những ngời ra vào, vàng bạc châu báu trong nhà, chồng chất đầy rẫy”
[1,198] Dư Nhuận Chi là thư sinh nổi tiếng hay thơ, người vợ là Túy Tiêu vào hạng sắc nớc hương trời Nàng theo chồng vào kinh khảo thí, bị quan Trụ quốc bắt đem về Tuý Tiêu căm uất và thương nhớ chồng định tự tử, tên quan háo sắc buộc lòng phải hứa hẹn sẽ cho nàng về với chồng cũ Nhưng khi gọi Nhuận Chi đến,
y giữ Chi trong nhà mà chẳng bao giờ cho đôi bên gặp nhau Về sau nhờ người lão bộc giúp sức, Tuý Tiêuđược giải thoát, cùng Nhuận Chi bí mật trốn đi nơi khác sống.Tên quan Trụ quốc này vừa tàn ác, trắng trợn vừa nham hiểm thâm độc, quyết
chia rẽ lứađôi tự nguyện Vì hắn có “uy thế rất lớn, các toà, các sở đều tránh
kẻ quyền hào, gác bút không dám xét xử ”, vì hắn “làm quan đến ngôi thợng công, quyền cao lộc hậu, việc khoản đãi khách khứa, mỗi ngày tốn phí đến hàng chuông thóc”[1,191] Nguyễn Dữ đã nhìn thấy sự thật: bọn quan lại trong
thời ông, nhiều kẻ không hề có lý tưởng hành đạo vì dân vì nước, mà lại dùng thủ đoạn xấu xa cốt đạt danh vọng để vinh thân phì gia, điều đó thật trái với đạo lý, quay lưng với những lễ sống vốn được rèn đúc theo giáo lý Khổng Mạnh
Ngoài ra “Chuyện đối tụng ở Long cung” đã kịch liệt tố cáo bọn quyền thần:
“như nhà ngươi trớc có công lao, nên ta cho coi giữ một phương, vì dân che chở Vậy mà ngươi dở thói dâm ngợc, như thế là trừ tai ngữ hoạn cho dân đấy ”; “Nay nhà người vốn do luân phiệt, lạm giữ phương ngung, lẽ nên linh hiển, để tỏ đức
Trang 8rồng, sao đ ợc tà dâm, làm theo nết rắn ”[1,87-88], dã tâm cướp vợ người của
bọn quan lại quyền thế Viên quan họ Trịnh đời Trầnxuống Thuỷ cung đòi
vợ bị thần Thuồng luồng cướp Bộ mặt xấu xa của thần Thuồng luồng này gợi đến
bộ mặt xấu xa của bọn quan lại gian ác dưới chế độ phong kiến Với sự giúp đỡ của Long hầu, chuyện đối tụng ở Long cung giữa người và quỷ thần đã chứng tỏ một điều: công lý bao giờ cũng thắng Thần Thuồng luồng dùng sức mạnh thế quan chiếm vợ người, chia rẽ hạnh phúc vợ chồng người cuối cùng đã phải chịu lưu đày Sự đấu tranh quyết liệt của con người bao giờ cũng thắng
Qua hình tượng nho sĩ, chúng ta thấy rằng Nguyễn Dữ đã khéo léo bày
tỏ lý tưởng của mình Hình tượng nho sĩ có thể trực tiếp nói lên tư tưởng, quan niệm của tác giả, nhưng trước hết nó là một sự khái quát hoá nghệ thuật Hơn nữa, khuynh hướng tư tưởng của tác phẩm không phải chỉ thể hiện thông qua những tuyên bố của nhân vật chính mà thông qua của ngôn ngữ, hành động, tình tiết của câu chuyện trong xu hướng giải quyết những mâu thuẫn mà tác phẩm phản ánh Những hình tượng nghệ thuật của Nguyễn Dữ cho chúng ta thấy rằng chính ông
đang nghi ngờ vai trò của một bộ phận giai cấp thống trị Trong “Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu” nói đến tình cảnh những bề tôi, những nho sĩ khảng khái vì: “nói thẳng mà bị người ta ghen ghét không để lại nơi khu yếu, bề ngoài vờ tiến cử đến chỗ hùng phiên, bề trong thực dồn đuổi vào nơi tử địa ”[1,21] Bản chất xấu xa của bọn quyền thần được phản ánh trong “Truyền kỳ mạn lục” qua
hình tượng nho sĩ là nhân vật phản diện như một tình trạng phổ biến thời bấy giờ
“Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên tào” thì lại qua ý kiến trao đổi giữa Tử Hư
và thầy học của mình mà tóm tắt tình trạng thối nát của quan lại nói chung: “ông
mỗ ở ngôi trọng thần mà tham lam không chán, ông mỗ coi lễ mà lễ nhiều nhiếu thốn, ông mỗ chăn dân mà dân bị tai hại, ông mỗ chấm văn mà lấy
đỗ thiên vị, ông mỗ trị ngục mà buộc tội oan uổng; lại còn những lúc thường bàn nói thì mồm mép bẻo lẻo, đến lúc trù tính, quyết định kế lớn của quốc gia thì mờ
Trang 9mịt như ngồi trong đám mây mù, thậm chí không noi theo danh không xét thực, không trung với đấng quân thượng lớn thì làm việc bán nước, nhỏ thì làm việc dối vua ”[1,145] Vua quan thì như thế, còn sĩ phu thì không ít kẻ cũng bị truỵ lạc, hư hỏng Dương Trạm nói với học trò: “ngày nay những người mặc áo nhà nho, đeo dải nhà nho thì khác hẳn Họ thường đổi họ để đi học, thay thế tên để đi thi: hễ trượt đỗ thì đổ lỗi mờ quáng cho quan chấm trờng, hơi thành danh thì hợm hĩnh tài giỏi hơn cả tiền bối, chí khí ngông ngạo tính tình tráo trở, thấy thầy nghèo thì lảng tránh, gặp bạn nghèo thì làm ngơ, không biết rằng ngày thường dắt dẫn rèn cặp phần nhiều là cái công đức của thầy bạn”[1,144-145] Tình hình Nho học
suy đồi, cương thờng đạo lý bị đảo lộn, việc học, việc thi trở thành bậc thang công danh bám đầy bùn nhơ Kẻ sĩ chỉ chuộng hư văn, bo bo mưu lợi ích cho mình
Tư tưởng của Nguyễn Dữ trong Truyền kỳ mạn lục trước hết thể hiện ở lý tưởng chính trị, xã hội của ông Nguyễn Dữ phủ định triều đại mục nát đương thời
để khẳng định một vương triều lý tưởng trong tương lai, lên án bọn “bá giả” để ca ngợi “đạo thuần vơng” Cho rằng sự hưng thịnh của một triều đại không phải do mệnh trời mà do người, Nguyễn Dữ vạch rõ rằng “bỏ việc ngời mà đi bàn lẽ trời”, thì “đến táng hại cũng không tỉnh ngộ” và ông nêu ra nguyên tắc đối với
kẻ cầm quyền: “phàm xoay cái thế thiên hạ ở trí chứ không phải ở sức thu tấm lòng thiên hạ ở nhân chứ không phải ở sức; thu tấm lòng thiên hạ ở nhân chứ không phải ở bạo ”[1,147] Rằng kẻ trị dân nếu “chỉ lấy quát thét làm mai, lấy cơng cờng làm đức”, “đắp nền cho cao bằng những hờn oán của dân, chứa kho cho đầy bằng những máu mỡ cuả dân” thì sẽ “bỏ mình”, “mất nớc”,
“mất lòng ngời” Ông yêu cầu kẻ làm vua phải “giương cái cung thánh nhân, tuốt lỡi gươm thiên tử, lấy nhân nghĩa làm yên khấu, lấy nghĩa làm chèo lái, lấy hào kiệt làm nanh vuốt, lấy trung tín làm giáp trụ”, “mở lới vơ hiền, giăng chài vét sĩ ”, “khiến trong triều nhiều bậc lương tá ”[1,145-146] Ông đòi hỏi kẻ làm quan phải có “tiết cứng như tùng, lòng bền tựa đá”, “đem cái tài vuốt
Trang 10nanh, giữ cái trách phên giậu”, “sa cơ không chịu sống mà nhục, liều mình giữ được thác là vinh”[1,237] Lý tưởng chính trị, xã hội của Nguyễn Dữ chỉ là một chế độ phong kiến có “vua sáng tôi lành” để “ban ân trạch cho dân sinh, đa tẩt cả cuộc đời vào cõi nhân thọ” Có điều là, tiếp thu đợc truyền thống của những nhà
chính trị, những nhà văn yêu nước thời trước, lại là người quan tâmđến vận mệnh đất nước, đến đời sống nhân dân, Nguyễn Dữ thường nhấn mạnh đến cơ sở nhân nghĩa và nêu cao tác dụng của lòng dân Trước hiện trạng của chế độ phong kiến
đang suy, Nguyễn Dữ không dám hành độngđể thực hiện lý tưởng “an nguy trị loạn” song ông vẫn hy vọng có thể xây dựng lại kỷ cương của chế độ phong
kiến Lý tưởng chính trị, xã hội của Nguyễn Dữ tất nhiên cha thoát ly ý thức
hệ phong kiến, cha thể vợt ra ngoài cương thường của Nho giáo: “làm chính trị không ngoài cương thường để dựng nước”,“giữ thiên hạ không ở quy mô rộng lớn mà ở việc đến tế ở Khúc Phụ mở nền nương tựa cho đời sau ”[1,31] Những tư
tưởng trên đây rõ ràng là của Nho giáo Nhưng hiện thực mà Nguyễn Dữ đồng tình hoặc phê phán trong tác phẩm thì lại có phần thích hợp ở đời sống dân tộc, với nguyện vọng của nhân dân Tái hiện hiện thực và thể hiện mong ước đó, Nguyễn Dữđã đưa nhân vật của mình vào những thế giới khác nhau để thoả mãn chí nguyện Hiện thực xã hội phong kiến bắt đầu rối ren, suy yếu, cương thườngđạo lý
bị đảo lộn, Nguyễn Dữ đã xây dựng một xã hội lý tưởng ở cõi khácđể đền đáp cho những nho sĩ có những phẩm chất tốt đẹp mà cuộc sống đương thời không có
được Dương Trạm trong “Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên Tào” lúc ở trần
gian là người tín nghĩa được đền đáp ở chốn Thiên tào, nơi có khung cảnh tươi
đẹp lộng lẫy: “một khu có những bức tường bao quanh, có cửa lớn khảm trai lộng lẫy, hai bên có những toà lầu chậu, điện ngọc vằng vặc sáng như ban ngày, sông Ngân bến Sao, ôm ấp lấy đằng trước, gió thơm phưng phức, đợm mát quanh hiên hơi lạnh thấu da, ánh sáng chói mắt, trông xuống cõi trần thấy mọi vật đều
bé nhỏ tủn mủn Và ở đó mọi toà lầu có cuộc sống thần tiên hạnh phúc dành cho